NỘI DUNG ĐỀ TÀI Trong phạm vi giới hạn của đề tài và thời gian, các công việc sau đây cần được thực hiện: 1 Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá rủi ro liên vùng, các nguy cơ rủi ro môi
Trang 1MỤC LỤC
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
NHẬN XÉT CỬA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 2
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI THỰC HIỆN 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Những vấn đề liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường 4
1.1.3 Mô hình đánh giá rủi ro môi trường 12
1.1.4 Giới hạn của đánh giá rủi ro môi trường 14
1.1.5 Cơ sở pháp lý của đánh giá rủi ro môi trường 15
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 16
1.2.1 Ngoài nước 16
1.2.2 Trong nước 18
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 20
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỒ TRỊ AN VÀ TỈNH ĐỒNG NAI 20
2.1.1 Sơ lược về tỉnh Đồng Nai 20
2.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn 21
Trang 22.1.4 Chế độ công tác của hồ 27
2.1.5 Một số lợi ích của hồ 34
2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐÁNH GIÁ RỦI RO LIÊN VÙNG TẠI HỒ TRỊ AN ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35
2.2.1 Các cấp độ rủi ro thiên tai 35
2.2.2 Cơ sở pháp lý xác định rủi ro liên vùng do lũ lụt 38
2.2.3 Cơ sở pháp lý xác định rủi ro liên vùng do hạn hán 38
CHƯƠNG 3 XÁC ĐỊNH CÁC RỦI RO LIÊN VÙNG CỦA HỒ TRỊ AN ĐẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
3.1 CHẾ ĐỘ VẬN HÀNH HỒ TRỊ AN 40
3.2 LỊCH SỬ CÁC NGUY CƠ RỦI RO LIÊN VÙNG ĐẾN HỒ 41
3.3 ĐÁNH GIÁ CÁC NGUY CƠ RỦI RO TẠI HỒ CHỨA 41
3.3.1 Nguy cơ rủi ro liên quan đến trữ lượng nước 41
3.3.2 Nguy cơ rủi ro liên quan đến chất lượng nước 44
3.3.3 Nguy cơ rủi ro liên quan đến công trình 45
3.4 XEM XÉT ĐẶC TÍNH RỦI RO HỒ TRỊ AN 45
3.5 PHÂN TÍCH CÂY SAI LẦM – CÂY HIỆN TƯỢNG 49
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO LIÊN VÙNG CỦA HỒ TRỊ AN ĐẾN TP.HCM 53
4.1 ĐỀ XUẤT KHUNG NHẬN DIỆN RỦI RO LIÊN VÙNG ĐỐI VỚI HỒ CHỨA 53 4.1.1 Khung nhận diện rủi ro liên vùng đối với hồ chứa 53
4.1.2 Khung nhận diện rủi ro c ủa hồ Trị An đến TP.HCM 57
4.2 THỪA NƯỚC/ LŨ LỤT 58
4.2.1 Giải pháp ngăn ngừa rủi ro liên vùng 58
4.2.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro liên vùng 59
4.2.3 Giải pháp chia sẻ rủi ro liên vùng 60
4.2.4 Giải pháp phòng ngừa ứng phó sự cố lũ lụt 60
4.3 THIẾU NƯỚC/ HẠN HÁN 72
4.3.1 Giải pháp ngăn ngừa rủi ro liên vùng 72
4.3.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro liên vùng 72
4.3.3 Giải pháp chia sẻ rủi ro liên vùng 73
4.3.4 Giải pháp phòng ngừa ứng phó sự cố hạn hán 74
Trang 3KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC 80
Trang 4Emergency Preparedness Plan – Kế hoạch ứng phó khẩn cấp
Chủ đập Phòng chống lụt bão Phòng chống thiên tai & Tìm kiếm cứu nạn
Lũ cực hạn – Lũ lớn nhất có khả năng xảy ra Quy chuẩn Việt Nam
Relative Risk Model Rủi ro môi trường
Sự cố môi trường Trách nhiệm hữu hạn Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy ban nhân dân
Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ Hướng dẫn đánh giá rủi ro sinh thái của Mỹ
Dự án hỗ trợ thủy lợi Việt Nam
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các sự kiện thay đổi trong lịch sử ĐRM ở Mỹ: Trường hợp Dioxin 8
Bảng 1.2 Các trường hợp về rủi ro môi trường thường gặp ở một số quốc gia 9
Bảng 1.3 Một số ví dụ rủi ro môi trường và các thảm họa trong lịch sử, các nghiên cứu phơi nhiễm của con người đến mối nguy hại là kết quả từ sự cô ô nhiễm môi trường 10 Bảng 2.1 Các thông số chính của hồ Trị An 25
Bảng 2.2 Thông số kỹ thuật chính của Nhà máy thủy điện Trị An 27
Bảng 2.3 Mực nước cao nhất trước lũ của hồ Trị An trong mùa lũ 28
Bảng 2.4 Mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ 28
Bảng 2.5 Mực nước tại các trạm thủy văn để quyết định vận hành các hồ giảm lũ 29
Bảng 2.6 Các cấp độ rủi ro thiên tai 35
Bảng 2.7 Các cấp độ lũ lụt 35
Bảng 3.1 Chế độ thủy văn của hồ Trị An 40
Bảng 3.2 Thống kê lịch sử rủi ro hồ Trị An (1998 đến nay) .41
Bảng 3.3 Các tiêu chí xác định có lũ ở hồ Trị An 42
Bảng 3.4 Trắc dọc sông Đồng Nai đoạn từ Trị An đến Nhà Bè tương ứng với các lưu lượng lũ 3000m3/s, 6700m3/s, 13800m3/s 42
Bảng 3.5 Bảng tra nguy cơ rủi ro liên quan đến trữ lượng nước 43
Bảng 3.6 Các cấp độ tác động 46
Bảng 3.7 Thang đo tần suất xảy ra 46
Bảng 3.8 Điểm rủi ro của các nguy cơ tiềm năng 47
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá rủi ro dựa vào mức độ nghiêm trọng và tần suất 48
Bảng 3.10 Phân loại mức độ rủi ro .49
Bảng 4.1 Khung đánh giá r ủi ro liên vùng từ hồ chứa 53
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Biểu đồ minh họa sự hiện diện của rủi ro 5
Hình 1.2 Mô hình đánh giá rủi ro môi trường dự báo .13
Hình 1.3 Mô hình đánh giá rủi ro hồi cố .14
Hình 2.1 Bản đồ hồ Trị An .24
Hình 2.2 Nhà máy thủy điện Trị An .26
Hình 3.1 Cây sai lầm – Cây hiện tượng về lũ lụt .50
Hình 4.1 Sơ đồ thông tin liên lạc khi xảy ra báo động cấp 1 61
Hình 4.2 Sơ đồ thông tin liên lạc khi xảy ra báo động cấp 2 62
Hình 4.3 Sơ đồ thông tin liên lạc khi xảy ra báo động cấp 3 63
Hình 4.4 Sơ đồ thông tin liên lạc khi xảy ra báo động cấp 4 64
Trang 7đã ảnh hưởng nhiều đến công tác vận hành, độ an toàn của hồ Từ đầu năm 2016 đến nay, lưu lượng nước về hồ Trị An bị suy giảm Tổng lượng nước về hồ trong 3 tháng đầu năm chỉ đạt 480 triệu m3, bằng 53% cùng kỳ năm 2015 và bằng 64% trung bình nhiều năm Mức nước hồ chứa Trị An ngày 22-3 ở cao trình 56,6m, thấp hơn 4,5m so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng dung tích nước còn trong hồ là 1,05 tỷ m3
(http://www.baomoi.com, 29/03/2016)
Nếu các nguy cơ tiềm ẩn này không được xem xét một cách cụ thể và sâu sắc thì một khi sự cố xảy ra chúng ta sẽ mất tính chủ động và khó có thể kiểm soát được tình huống, gây những hậu quả nghiêm trọng mang tính chất liên vùng
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, việc nhận diện các rủi ro môi trường và xây dựng nên các phương pháp nhận diện, giải pháp quản lý rủi ro sẽ giúp ích cho các cơ quan chức năng kiểm soát những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp ứng phó, quản lý và bảo vệ môi trường nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Việc triển khai thực hiện những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả sẽ là một trong những vấn đề cần phải đặt ra đối với các cấp quản lý
Các nghiên cứu theo hướng này không chỉ mang tính cấp thiết mà còn mang đến các hiệu quả to lớn trong công tác quản lý môi trường liên vùng cũng như góp phần giảm các rủi ro ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân khu vực hạ du trong tương lai
Do đó, đề tài “Nhận diện và đề xuất quản lý rủi ro liên vùng của hồ Trị An đến thành
phố Hồ Chí Minh” được đề ra để đánh giá hiện trạng quản lý rủi ro liên vùng của hồ Trị
An đến thành phố Hồ Chí Minh là rất cần thiết để đưa ra biện pháp giảm thiểu thiệt hại rủi ro khi khai thác sử dụng hồ nhằm đảm bảo an sinh xã hội mà vẫn giữ an toàn cho hồ
Trang 82 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đề xuất quy trình đánh giá rủi ro liên vùng của hồ Trị An ảnh hưởng đến thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ công tác quản lý và giảm thiểu rủi ro bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển bền vững lâu dài
3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Trong phạm vi giới hạn của đề tài và thời gian, các công việc sau đây cần được thực hiện:
(1) Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá rủi ro liên vùng, các nguy cơ rủi ro môi trường liên quan đến hồ chứa
(2) Tìm hiểu và điều tra về các nguy cơ rủi ro đã xuất hiện tại hồ Trị An
(3) Nhận diện và phân loại rủi ro liên quan đến hồ Trị An
(4) Xây dựng phương pháp đánh giá rủi ro môi trường liên vùng từ các hoạt động của hồ chứa
(5) Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro môi trường liên vùng của hồ Trị An đến thành phố Hồ Chí Minh
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
(1) Phương pháp thu thập thông tin: Tổng hợp tài liệu, đánh giá tổng quan các nghiên
cứu liên quan ở trong nước và trên thế giới:
- Mô hình đánh giá rủi ro, quản lý rủi ro đối với hệ sinh thái;
- Mô hình đánh giá rủi ro với quy mô khu vực lớn, một số nghiên cứu liên quan về
rủi ro môi trường liên vùng trên thế giới;
- Hồ chứa và các vấn đề được quan tâm : vận hành an toàn đập; hư hỏng thường gặp, ô nhiễm nguồn nước, tuổi thọ công trình giảm, kém hiệu quả trong công tác
Trang 9(2) Phương pháp đánh giá rủi ro, xác định cây sai lầm và cây hiện tượng;
(3) Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin về các sự cố rủi ro của hồ Trị An thông qua khảo sát thực tế bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn điều tra Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin về hiện trạng quản lý môi trường và vận hành an toàn đập tại hồ Trị
An, trong đó tập trung khai thác thông tin về lịch sử các sự cố môi trường đã xảy ra, những hư hỏng thường gặp, diễn biến chất lượng nước lòng hồ, điều tiết nước trong mùa
lũ và mùa cạn,… Việc điều tra, khảo sát được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp, điều tra ý kiến chuyên gia Đối tượng tiến hành điều tra, khảo sát là ông Nguyễn Hữu Khánh Ngọc (Trưởng phòng Kỹ thuật – An toàn) của Nhà máy thủy điện Trị An Ngày
đi thực địa 23/11/2016
(4) Phương pháp thống kê toán – lý để phân tích, đánh giá chuỗi số liệu;
(5) Kỹ thuật khai thác thông tin từ internet (dữ liệu, phần mềm kỹ thuật, hình ảnh ) để cập nhật thông tin đề tài;
(6) Phương pháp tham khảo các ý kiến đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường thông qua các cuộc trao đổi
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI THỰC HIỆN
Đối tượng nghiên cứu là các sự cố rủi ro liên vùng của hồ Trị An và mức độ ảnh hưởng đến TP.HCM
Phạm vi nghiên cứu ứng dụng là Đồng Nai và vùng hạ lưu đập Trị An
Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 09/2016 đến tháng 12/2016
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm
Rủi ro (Risk) là xác suất của một tác động bất lợi lên con người và môi trường do tiếp xúc với mối nguy hại Rủi ro thường biểu diễn xác suất xảy ra tác động có hại khi hậu quả của sự thiệt hại tính toán được
Rủi ro = Xác suất của biến cố (P) x mức độ thiệt hại (S)
Trong đó: P: Tần suất (Probability or Likelihood)
S: Mức độ thiệt hại (Severity occurrence)
Rủi ro môi trường (Environmental Risk) là khả năng mà điều kiện môi trường khi bị thay đổi bởi hoạt động của con người, có thể gây ra các tác động có hại cho một đối tượng nào đó (tính mạng con người, sức khỏe, hệ sinh thái, xã hội)
Đánh giá rủi ro môi trường – ĐRM (Environmental Risk Assessment – ERA) là liên quan đến việc đánh giá định tính và định lượng của rủi ro đến sức khỏe con người và môi trường do sự hiện diện hoặc sử dụng các chất gây ô nhiễm Đánh giá rủi ro môi trường là một công cụ được sử dụng để dự báo các mối nguy hại đến sức khỏe con người
và môi trường
Đánh giá rủi ro liên vùng (Regional Risk Assessment) là một thỏa thuận đánh giá
rủi ro ở một quy mô không gian chứa nhiều môi trường sống với nhiều nguồn tài nguyên của rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến vô số kết quả và các đặc điểm của cảnh quan ảnh hưởng đến các dự báo rủi ro Mặc dù chỉ có thể là một tác nhân liên quan, ở quy mô khu vực các tác nhân khác hoạt động dựa vào việc đánh giá nhiều kết quả cũng được
xem xét (Landis, 2005)
1.1.2 Những vấn đề liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường
a Phân loại rủi ro
Rủi ro có chủ ý (Voluntary Risk) là rủi ro do các chủ tâm cố ý mang tính chất cá nhân,
là kết quả của các quyết định đã được biết rõ
Rủi ro không có chủ ý (Involuntary Risk) là các rủi ro ngoài tầm kiểm soát của con người, là các đáp ứng cá nhân tiếp xúc với mối nguy hại có thể được kiểm soát nhưng rủi ro không thể giảm đến bằng không
Rủi ro môi trường được phân thành 5 loại chính như sau:
- Rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng
- Rủi ro đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Rủi ro do sự phát triển kinh tế
- Rủi ro do thiên tai
Trang 11- Rủi ro do phát triển công nghệ mới và sản phẩm mới
Các rủi ro môi trường quan trọng mà thế giới đang có các hoạt động quan trắc:
- Rủi ro về sinh thái
- Rủi ro về sinh quyển
- Rủi ro từ các chất gây ô nhiễm
b Sự hiện diện rủi ro môi trường
Hình 1.1 Biểu đồ minh họa sự hiện diện của rủi ro
Trong một môi trường cụ thể, khi có sự hiện diện của mối nguy hại, việc tiến hành đánh giá sẽ được thực hiện, dựa trên 3 yếu tố: mối nguy hại, con đường phơi nhiễm và tiềm năng đe dọa cộng đồng Khi cả 3 yếu tố nằm trong một đối tượng, khi đó vấn đề rủi ro được xác định là tồn tại Ngược lại, khi trong đối tượng được đánh giá chỉ mang
2 yếu tố, tức là đối tượng này chứa rủi ro tiềm tàng Khi yếu tố thứ 3 xen vào thì khi đó rủi ro sẽ xuất hiện Sau cùng, nếu các yếu tố nàu đứng một mình riêng lẻ, khi đó có thể rủi ro không xuất hiện hay không thấy rủi ro
Mức độ rủi ro có thể chia ra làm 3 mức độ cơ bản:
Trang 12Khu vực rủi ro thấp: đây là khu vực không có tác nhân ô nhiễm và đánh giá môi
trường chỉ ra rằng các vật chất độc hại trong khu vực này không có trong bất kỳ giai đoạn của chu trình sống
Khu vực rủi ro trung bình: là khu vực có tác nhân ô nhiễm nhưng rất giới hạn, bao
gồm các khu vực được đánh giá là không có một sự phản ứng hay đáp trả lại Khu vực này đòi hỏi cần thiết phải có các giải pháp bảo vệ môi trường và bảo vệ sực khỏe con người
Khu vực rủi ro cao: là khu vực ô nhiễm cao và có xuất hiện các nguyên vật liệu,
nguồn thải độc hại hay các tác nhân gây hại Khu vực này đòi hỏi phải có các biện pháp
để ngăn ngừa, đáp trả lại và các giải pháp bảo vệ sức khỏe của con người và môi trường
c Mục đích của Đánh giá rủi ro môi trường
Là ước lượng mối nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường ĐRM đóng vai trò quan trọng khi đưa ra quyết định về khắc phục ô nhiễm bằng cách xác định một mức rủi ro bằng con số có thể chấp nhận được, rồi định ra được mức độ ô nhiễm nào sẽ tạo
ra mức rủi ro có thể chấp nhận đó Từ đó thiết lập các tiêu chuẩn môi trường để kiểm soát ô nhiễm một cách có hiệu quả, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại
ĐRM là công cụ có hiệu quả, giúp các nhà quản lý tài nguyên và môi trường đưa ra các quyết định hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và loại trừ các tác động có hại gây
ra đối với con người, môi trường và xã hội nói chung, đồng thời đảm bảo mức sản xuất hợp lý; có nghĩa là tạo ra cơ sở giúp cho các nhà quản lý môi trường cân bằng giữa trách nhiệm bảo vệ con người và môi trường với sự phát triển kinh tế Phương pháp ĐRM giới thiệu ở đây chỉ hạn chế đối với tác động do con người gây ra, rủi ro có chủ ý Ngoài
ra, ĐRM còn cung cấp các giải pháp sau:
- Xác định các trường hợp nguy hiểm tồn tại những tiềm năng rủi ro, xác định rủi
ro nền và có thể cần thiết cho những kế hoạch hành động đúng
- Cung cấp các tiến trình đánh giá và tài liệu hóa về mối đe dọa đối với sức khỏe môi trường có liên hệ với kịch bản có tiềm năng rủi ro
- Đánh giá tiềm năng mối đe dọa với sức khỏe con người liên quan đến trường hợp phơi nhiễm với mối nguy hại như việc sử dụng hóa chất và các sản phẩm,
để đảm bảo phát triển và thực thi những chính sách sức khỏe cộng đồng có thể chấp nhận được
- Xác định mối liên hệ kích cỡ và mức độ của những trường hợp có rủi ro khác nhau, xác định các ưu tiên lựa chọn cần thiết
- Xác định đâu là hành động cần thiết đáp ứng lại khi có rủi ro
Trang 13- Cung cấp cho nhà quản lý rủi ro những thông tin cần thiết
- Đưa ra các ước lượng đã được tính toán làm nền tảng cho việc ra quyết định khi quản lý rủi ro
d Quá trình lịch sử phát triển của ĐRM
Các rủi ro về kỹ thuật vận hành bắt đầu được phân tích một cách chuyên sâu trong nghiên cứu các hoạt động vận hành quân đội trong chiến tranh thế giới thứ 2 và sau đó trong các lĩnh vực năng lượng hạt nhân và khám phá vũ trụ Tiếp theo đó một số lượng lớn các vụ tai nạn công nghiệp đã lên đến mức độ đáng kể và tiếp tục gia tăng Cũng trong thời gian này, các vấn đề quan tâm đến môi trường đã trở thành trung tâm chủ đề bàn luận về chính sách cộng đồng, các ngành khai thác, các sự cố tràn dầu, trật bánh xe chở hóa chất, các vụ cháy các sản phẩm sản xuất dầu mỏ đã gia tăng liên tịc và đòi hỏi chính phủ các nước phải có kế hoạch ngăn ngừa rủi ro, quan tâm sâu sắc đến các nạn nhân và các vấn đề hiểm họa đến môi trường tự nhiên
Năm 1980 ở châu Âu đề xuất khung phương pháp luận của ngành công nghiệp hạt nhân được áp dụng trong công nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu mỏ và nhiều quy định với chất nguy hại được hình thành Ở Anh những quy định này được thực hiện thông qua quy định CIMAH, ở châu Âu thông qua Seveso Cùng thời điểm này Hội đồng khoa học về các vấn đề môi trường (SCOPE) và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản báo cáo đánh giá rủi ro môi trường Tuy nhiên, từ những thập niên 70, phương pháp đánh giá định lượng rủi ro và hướng dẫn của Seveso (I và II) đã được sử dụng trong công nghiệp hóa chất SCOPE và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản báo cáo ĐRM
Vào năm 1982, Hội đồng kinh tế châu Âu đã ấn hành tài liệu trực tiếp về tiềm năng các mối nguy hại công nghiệp theo các tai nạn rò rỉ các Dioxit nguy hiểm ở Ý
Vào năm 1984, Ngân hàng thế giới đã ấn hành hướng dẫn và sổ tay giúp kiểm soát các tai nạn nguy hiểm chính trong công nghiệp sau sự kiện Ấn Độ gặp thảm họa về hóa chất (Metyl)
Năm 1987, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã hoàn tất báo cáo đánh giá rủi ro cho các nước này với các điều khoản cho công nghiệp hạt nhân, hóa chất, quy trình dầu khí, vận chuyển các vật liệu nguy hại, các dự án kho dự trữ vật chất, chất thải nguy hại Bên cạnh đó, Hội đồng quốc tế về môi trường và phát triển cũng đã đưa ra các
kỹ thuật phát triển sâu hơn, các phương pháp luận ĐRM và hướng đến phát triển bền vững
Năm 1990, Ngân hàng phát triển châu Á đã xuất bản đánh giá tác động môi trường (ĐTM) liên quan đến các vấn đề không chắc chắn trong ĐTM
Năm 1992, trên 50 ngân hàng thương mại đã ký các cam kết về các thủ tục để đánh giá cho dự án vay tiền mà người vay có thể bắt buộc thực hiện ĐTM và ĐRM
Ngoài ra, một loạt những sự kiện thay đổi trong đánh giá rủi ro trong trường hợp nhiễm Dioxin ở Mỹ cũng được xem như là mốc lịch sử trong phát triển ĐRM và sự kiện quan trong góp phần vào việc ứng dụng ĐRM để đánh giá các vấn đề môi trường
Trang 14Như đã biết, hợp chất hóa học dibenzo-p-dioxin được các nhà khoa học xem là hợp chất độc nhất trong các hợp chất nhân tạo Đây là một trong những chất ô nhiễm hiện diện cho việc di tản của cộng đồng dân cư ở kênh Tình Yêu (Love Canal) - New York năm 1980 và bãi biển Time – Missouri năm 1983; năm 1995 Hoa Kỳ đã xếp Dioxin là một trong những độc chất có khả năng tiềm tàng cao trong việc gây ung thư cho con người Theo thời gian, nhiều bằng chứng mới được xem như là đánh giá rủi ro khởi đầu
đi vào các câu hỏi, các giả thuyết cho tiến trình điều tra khoa học xa hơn Theo một khía cạnh rộng hơn, ước lượng đánh giá rủi ro là một tiến trình thay đổi Ký sự hiện đại của
11 sự kiện xung quanh việc đánh giá độc chất Dioxin là một trường hợp cụ thể tốt nhất
để nhận xét, quan sát tiến trình thay đổi các hoạt động Một tổng kết được đưa ra trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Các sự kiện thay đổi trong lịch sử ĐRM ở Mỹ: Trường hợp Dioxin Giai đoạn Hoạt động của EPA
1980-1985
Sau thảm họa ở kênh Tình Yêu (Love Canal), EPA bắt đầu đánh giá cho rủi ro tuyến phơi nhiễm với Dioxin Năm 1985, EPA kết luận rằng Dioxin có thể gây ung thư với con người
1988
Dựa trên các phán đoán khoa học, EPA đã viết bản thảo sửa đổi lại việc đánh giá ban đầu về những rủi ro của Dioxin Bản thảo đưa ra giả thuyết rằng Dioxin không thể có khả năng gây ung thư như những đánh giá ban đầu đã đưa ra năm 1985
1990
Một cuộc thảo luận của 30 chuyên gia khoa học đã đồng ý rằng những tác động đến sức khỏe con người của Dioxin có thể dự báo trước từ những ảnh hưởng đo được trên các đối tượng động vật nghiên cứu Họ thống nhất hơn trong việc đẩy mạnh nghiên cứu mô hình đánh giá rủi ro mới để có thể dàn xếp những chiều hướng quan niệm khác nhau về ảnh hưởng của Dioxin đối với cơ thể con người
1991
Tháng 1, Học viện Bảo vệ Nghề nghiệp và Sức khỏe Quốc gia (NIOSH)
đã đưa ra một số dữ liệu mới liên quan đến tỷ lệ tử vong vì ung thư của các công nhân bị phơi nhiễm Dioxin Tiếp theo đó vào tháng 4, EPA bắt đầu việc đánh giá tất cả rủi ro của Dioxin như một phần trong nhiệm vụ công việc, sự khẩn cấp bây giờ là phát triển mô hình liều lượng phản ứng trở lại với sức khỏe con người dựa trên nhưng điểm nổi bật bên ngoài EPA tôt chức những hội nghị để công bố với công chúng về tiến trình của nó và yêu cầu sự giải thích
1992
Tháng 8, EPA đã cung cấp một bản thảo về đánh giá phơi nhiễm và đánh giá sức khỏe con người Một phần của công việc này là EPA đã đính kèm bản danh mục về một chuỗi các nhóm hóa chất cùng gốc với Dioxin trong các buổi hội nghị công khai
Trang 151994
EPA đã đưa ra một bản thảo, bản báo cáo xác nhận lại những phát hiện
về sự phơi nhiễm của con người với Dioxin; ở mức độ cao có thể gây ung thư và ở mức độ thấp có thể dẫn đến hậu quả suy giảm sức khỏe nghiêm trọng Những hội nghị, hội thảo chuyên đề được tổ chức công khai để xác nhận lại các thảo luận
1995 Ủy ban Cố vấn Khoa học (SAB) xem xét lại bản thảo và đề nghị 2 nhóm
đánh giá cần được xem xét lại
1997 Sự xem xét tại thượng nghị viện và SAB về các nhóm duyệt đã được ghi
lại trong danh mục
(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)
e Các rủi ro môi trường thường gặp ở một số quốc gia trên thế giới
Thống kê các rủi ro môi trường chủ yếu ở 63 quốc gia trên thế giới và cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ Theo khảo sát của các nhà khoa học của viện Bảo tồn tự nhiên và nguồn tài nguyên quốc tế kết hợp với các Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã tiến hành khảo sát ở những quốc gia này về các trường hợp rủi ro môi trường thường gặp được thống kê theo bảng
Bảng 1.2 Các trường hợp về rủi ro môi trường thường gặp ở một số quốc gia Tên rủi ro môi trường Số quốc gia (63) %
Trang 16Cháy 20 31,7
(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)
Bảng 1.3 Một số ví dụ rủi ro môi trường và các thảm họa trong lịch sử, các nghiên cứu phơi nhiễm của con người đến mối nguy hại là kết quả từ sự cô ô
nhiễm môi trường
Địa điểm Nguồn gốc của vấn đề Các chất ô nhiễm
liên quan
Bản chất của phơi nhiễm
Các chất ung thư khác nhau và các hợp chất hóa học dễ bay hơi (VOCs): bao gồm dư lượng hợp chất hydrocacbon từ quá trình sản xuất phân bón
Con người có khả năng bị phơi nhiễm trực tiếp với các tuyến phơi nhiễm thông qua các lộ trình phơi nhiễm trong môi trường nước
Bloomington,
Indiana, Mỹ
Chất thải công nghiệp được trộn lẫn vào hệ thống nước thảo đô thị
Bùn thải được dùng như phân bón
PCBs (Polychloro biphenyl)
Con người phơi nhiễm trực tiếp và các tuyến phơi nhiễm cũng thông qua chuỗi thức ăn (như kết quả hấp thụ qua đường tiêu hóa thông qua thức ăn bị nhiễm độc)
Times,
Missouri, Mỹ
Dioxin (Tetrachlorinated dibenzo (p)dioxin-TCDD) trong chất thải dầu phun xịt trong khu vực lối vào các khu vực
Dioxin (TCDD) Phơi nhiễm trực tiếp
qua hít thở và có thể qua ăn uống từ ô nhiễm bụi và môi trường đất
Trang 17bãi biển trong việc kiểm soát bụi
Shernobyl,
Ukraine
Đun quá nhiệt từ lò phản ứng hạt nhân làm lạnh bằng nước vào tháng 4 năm 1986
1974
hydrocacbons
Các đám mây có chứa các hợp chất bay hơi
Lekkerkirk,
Hà Lan
Người dân đã nâng cao nền đất lên bằng cách chôn lấp chất thải xây dựng dưới nền móng nhà
và phủ lên trên một lớp cát mỏng Dự án nhà ở từ năm 1972-1975
Nhiều loại hóa chất khác nhau phần lớn
là sơn dễ bay hơi (Toluene,
Antimony, Cadium, kẽm,…)
Nước ngầm dâng cao mang theo các chất ô nhiễm từ lớp chất thải dưới nền móng lên Đây là nguyên nhân phá hủy lớp nhựa của
hệ thống nước cấp làm ô nhiễm nguồ n nước, mùi hôi trong nhà, nguồn nước ô nhiễm này dùng để tưới là nguyên nhân gây những dấu hiệu độc hại cho ngũ cốc
Seveco, Italy
Thải ra chất cực độc Dioxin
Dioxin và chất ăn da
Cacbonat)
Hầu hết các tuyến phơi nhiễm qua da, đặc biệt là từ các phân
tử khói chứa nhiều dioxin và bám vào da
nước ô nhiễm, việc ăn gạo bị ô nhiễm từ việc tưới tiêu sử dụng nguồn nước ô nhiễm này
Trang 18(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)
f Các sự cố rủi ro tiêu biểu ở Việt Nam
Công ty VEDAN gây ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải
Công ty sản xuất bột ngọt VEDAN được xây dựng trên bờ sông Thị Vải (Đồng Nai)
do nước ngoài đầu tư xây dựng trước khi có luật BVMT Tuy công ty đã có hệ thống xử
lý nước thải nhưng không đạt tiêu chuẩn môi trường, đã gây ra ô nhiễm môi trường nước sông Thị Vải, gây thiệt hại lớn đối với nhân dân các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Tân Thành, Cần Giờ, nên đã có nhiều đơn kiện bồi thường thiệt hại Ngày 18/11/1995, giám đốc Sở KH, CN & MT tỉnh Đồng Nai đã tổ chức cuộc họp với giám đốc công ty VEDAN và lãnh đạo của 4 huyện trên tiến hành thương lượng, tuy rất căng thẳng nhưng
đã đi đến thống nhất là công ty VEDAN đền bù thiệt hại với tổng số tiền là 15 tỷ đồng
(http://tuoitre.com.vn)
Khủng hoảng Formosa tại Vũng Áng, Hà Tĩnh
Ngày 4.6.2016, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tìm thấy một đường ống khổng lồ dài khoảng 1.5 km, đường kính khoảng 1.1 mét, chạy từ Formosa Vũng Áng ra biển Đặt trên bề mặt đáy biển và được che đậy bằng các bao cát
và đá hộc Chất lỏng bơm rất mạnh từ trong lòng ống vào lòng biển có màu vàng đục, sền sệt, nặng mùi Ông Thành báo cho Đồn Biên Phòng Đèo Ngang, thuộc Bộ Chỉ Huy Biên Phòng Hà Tĩnh Sau khi đưa tin trên, ngư dân Nguyễn Xuân Thành đã đột nhiên rời khỏi địa phương không thể liên lạc
Theo báo Giao Thông, từ đầu năm 2016, Formosa đã nhập 297 tấn hoá chất độc hại
để phục vụ thi công và súc rửa đường ống để chuẩn bị cho giai đoạn vận hành Một phóng sự khác của báo Tuổi Trẻ, cho biết, có hàng trăm tấn hoá chất cực độc phục vụ súc xả đường ống đã được Formosa nhập khẩu và sử dụng mà không hề thông báo cho
cơ quan quản lý tại địa phương theo luật định Formosa thừa nhận nhưng giải thích ngắn gọn là không thông báo vì không biết đến quy định đó
Những việc làm của Formosa đã đem lại những hậu quả rất nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và xã hội Sau 1 tháng khủng hoảng, cuối cùng thì Formosa đã thừa nhận, đứng ra xin lỗi và tiến hành bồi thường Tuy nhiên, những tàn dư của Formosa sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của đất nước ta nếu không có những kế hoạch, hành động giảm thiểu và ngăn ngừa thiết thực
Các sự cố tràn dầu ở Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, trong khoảng thời gian 20 năm gần đây, hàng năm có khoảng 10 vụ tràn dầu lớn được ghi nhận, đặc biệt có năm 2012 có tới 12 vụ tràn dầu, gây ô nhiễm diện rộng, ảnh hưởng
rất lớn đến môi trường vùng cửa sông và ven biển nước ta (Nguồn:
http://www.sggp.org.vn)
1.1.3 Mô hình đánh giá rủi ro môi trường
Đánh giá rủi ro môi trường đòi hỏi tổng hợp thu thập dữ liệu và tính toán về các tác nhân gây nguy hại, nồng độ của chúng trong môi trường và đường truyền tác động lên
Trang 19đối tượng Có hai cách tiếp cận để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Cách thứ nhất là loại trừ chất ô nhiễm hoặc ngừng các hoạt động phát sinh chất ô nhiễm Cách khác là ngăn không cho ô nhiễm vượt quá mức cho phép Việc giảm thiểu chất ô nhiễm đến nồng độ bằng “không” thường đòi hỏi đầu tư lớn hoặc đình chỉ các hoạt động kinh
tế Tuy nhiên cách làm này có thể gây trở ngại đến sản xuất, phân phối hàng hóa, cung cấp các dịch vụ đóng góp phúc lợi cho xã hội và phát triển kinh tế Cách tiếp cận thứ hai dựa trên quan điểm rủi ro, cho phép tồn tại mức độ ô nhiễn trong môi trường, gây rủi ro thấp nhất hoặc chấp nhận được đối với sức khỏe con người và môi trường Do đó, không nhất thiết phải đòi hỏi mức độ ô nhiễm đạt giá trị “không” Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, khi nồng độ ô nhiễm thấp hơn giá trị ngưỡng thì không xảy ra tác động có hại Có nghĩa là, phát triển kinh tế có thể được quản lý ở mức phù hợp, vừa cho phép bảo vệ sức khỏe con người và môi trường, vừa duy trì được các hoạt động đem lại lợi ích kinh tế Điều này cho thấy, phân tích chi phí – lợi ích có ý nghĩa rất quan trọng để hướng đến phát triển bền vững Có hai dạng ĐRM thường được sử dụng là Đánh giá rủi
ro môi trường dự báo (ĐRMDB) và Đánh giá rủi ro môi trường hồi cố (ĐRMHC)
Đánh giá rủi ro môi trường dự báo (ĐRMDB)
(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)
Hình 1.2 Mô hình đánh giá rủi ro môi trường dự báo
Đánh giá rủi ro môi trường hồi cố (ĐRMHC)
Nhận diện mối nguy hại
Ước lượng mối nguy hại
Đánh giá phơi nhiễm
Đặc tính của rủi ro
Quản lý rủi ro
Trang 20(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)
Hình 1.3 Mô hình đánh giá rủi ro hồi cố
Đánh giá rủi ro hồi cố (ĐGRRHC) là quá trình xác định các nguyên nhân gây rủi ro trên cơ sở các tác động đã xảy ra, qua đó xác định các tác nhân nghi ngờ và mối liên hệ giữa chúng với các tác động có hại, thể hiện qua chuỗi số liệu và bằng chứng liên quan thu thập được
ĐGRRHC là đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa các tác động sinh thái quan sát được và các tác nhân môi trường Đánh giá đề cập đến những rủi ro do các hoạt động diễn ra trong quá khứ và do đó nó dựa trên các số liệu đo đạc về hiện trạng môi trường Đánh giá rủi ro hồi cố trả lời câu hỏi: “Có những bằng chứng gì chứng tỏ mối nguy hại
đã xảy ra với đối tượng?” trong đánh giá hồi cố, điều quan trọng là xác định được các tác động chính và phân tích nguyên nhân của chúng Cách tiếp cận này cho phép rút ra kết luận và các nguyên nhân của những tác hại quan sát được và thường đòi hỏi phải so sánh các chuỗi số liệu thời gian và không gian Việc so sánh sẽ giúp xác định xem rủi
ro sinh ra từ nguồn cụ thể nào
1.1.4 Giới hạn của đánh giá rủi ro môi trường
Đánh giá rủi ro là một tiến trình không đưa ra kết quả chính xác hay câu trả lời cố định
Có thể xác định được nồng độ và phạm vi của chất ô nhiễm tại một vị trí địa lý nào
đó Nhưng nghiên cứu trên cơ thể vi sinh vật, thực vật, động vật và con người thường bị thất bại bởi các yếu tố sau:
Xác định các nguồn gây mối nguy
Trang 21 Sự chịu đựng chất ô nhiễm của các cá thể và các loài là khác nhau
Tính không chắc chắn trong việc ngoại suy dự liệu nghiên cứu giữa các loài (như
sử dụng kết quả thử nghiệm trên động vật để dự đoán cho con người) và trong cùng loài (sử dụng kết quả thử nghiệm trên nhóm công nhân để dự đoán cho con người)
Thiếu kiến thức về các tác động hỗn hợp của chất ô nhiễm: các tác động hỗn hợp kép, khuếch đại,…
Thiếu kiến thức về cơ chế và tiến trình tác động của các cơ quan trong cơ thể Điều tốt nhất là ta có thể xác định các thông tin cơ bản về các rủi ro gây ra tại một địa điểm như:
Các chất ô nhiễm hiện diện trong khu vực hay không và các loại chất ô nhiễm nào
Các chất ô nhiễm này tồn tại ở địa điểm này hay lan truyền đến nơi khác
Môi trường nào mà chất ô nhiễm bị tác động hay chất ô nhiễm thể hiện độc tính của nó: nước, đất, không khí hay sinh vật
Các chất ô nhiễm này có thể tác động đến: vi sinh vật, thực vật, động vật hay con người? Và kiểu tác động như thế nào?
Tuy nhiên, với cách thu thập thông tin cẩn thận, khả năng đo đạc, quan trắc hay vấn
đề xác định các chất ô nhiễm được tăng cường và cải thiện, hay dự báo khả năng dự đoán của chúng ta được nâng cao, cùng với các biện pháp quản lý thích hợp thì mức độ nguy hại của rủi ro có thể giảm xuống đáng kể
1.1.5 Cơ sở pháp lý của đánh giá rủi ro môi trường
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là công cụ pháp lý và kỹ thuật quan trọng để xác định, phân tích, dự báo tác động môi trường của các dự án, các kế hoạch, quy hoạch phát triển; cung cấp luận cứ khoa học cho chính quyền, cơ quan quản lý chuyên ngành
và doanh nghiệp cân nhắc trong quá trình ra quyết định đầu tư Các yêu cầu về ĐTM đã được luật hóa và quy định bởi Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam từ năm 1993 Hơn
20 năm thực hiện công tác ĐTM đã giúp Chính phủ Việt Nam từng bước cụ thể hóa và cải thiện hệ thống quy định ĐTM, tạo lập và phát triển năng lực đội ngũ thực hiện ĐTM,
và đã quyết định chấm dứt hoặc buộc điều chỉnh nhiều dự án có nguy cơ, rủi ro cao đối với môi trường Tuy nhiên, hoạt động ĐTM ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều bất cập và yếu kém về cả chất lượng cũng như việc tuân thủ quy trình ĐTM như pháp luật đã quy định Nhìn chung, ĐTM đã và đang bị hành xử như là một thủ tục nhằm hợp thức hóa quá trình thẩm định và phê duyệt các dự án và hoạt động đầu tư Bản thân quy định luật pháp hiện hành về ĐTM cũng chưa chặt chẽ Nhiều hậu quả nghiêm trọng về môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội đã xảy ra do các yêu cầu về ĐTM bị làm ngơ hoặc không được thực hiện nghiêm chỉnh, điển hình gần đây nhất là vụ xả thải ra biển của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa bị phát hiện năm 2016 ở Vũng Áng, Hà Tĩnh Trước thực trạng này, Việt Nam cần có những đánh giá và nhận thức lại về khía cạnh pháp lý
Trang 22xét kỹ lưỡng và thấu đáo, sẽ giúp cải thiện các quy định pháp luật cũng như cải thiện hiệu quả của công tác Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Việt Nam
Dưới đây là các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề đánh giá tác động môi trường hiện nay ở nước ta:
Luật Bảo vệ Môi trường của Nước CHXHCN Việt Nam 2014
Nghị định 19/2015/NĐ-CP qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường 2014
Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/04/2015
Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 81/2006/NĐ-CP với mức phạt
tăng lên nhiều lần có hiệu lực từ ngày 30/12/2013.
Thông tư 27/2015/TT-BTNMT hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 26/2011/TT-BTNMT
Thông tư 26/2015/TT-BTNMT quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký
đề án bảo vệ môi trường đơn giản có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 01/2012/TT-BTNMT
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
độ tin cậy rõ ràng Trong những năm 1960, phương pháp đánh giá xác xuất của rủi ro – Probabilistic Risk Assessement (PRA) đã phát triển trong ngành công nghiệp này Sau những sự cố công nghiệp vào những năm giữa thập niên 70 (đáng chú ý nhất là vụ nổ cyclohexane ở Flixborough (Anh) năm 1974 và vụ rò rỉ hơi dioxin tại Seveso (Italia) năm 1976, khung phương pháp luận của công nghiệp hạt nhân được áp dụng trong công nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu mỏ ở châu Âu những năm 1980 Có nhiều quy định đối với những chất nguy hại được hình thành như hướng dẫn Seveso ở châu Âu … Vào những năm 1970, phương pháp đánh giá định lượng rủi ro – Quantitative Risk Assessment (QRA) và hướng dẫn Seveso đã được sử dụng trong công nghiệp hóa chất
Từ những năm 1990, trong công nghiệp tàu biển đã áp dụng phương pháp đánh giá độ
an toàn – Formal Safety Assessement (FSA) Gần đây nhiều nghiên cứu tại các nước phát triển đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá rủi ro liên quan đến môi trường, bao gồm đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA), đánh giá rủi ro sinh thái (ERA) và đánh giá rủi ro
công nghiệp (IRA) (Arya, 2001)
Trang 23Một số nghiên cứu đánh giá rủi ro nổi bật trên thế giới là:
Đánh giá rủi ro môi trường do hóa chất với phương pháp đánh giá quan hệ liều
lượng - phản ứng (Daniel và Josep, 2001)
ĐGRRMT eo biển Malacca (eo biển thuộc chung của ba nước Singapore, Malaysia và Indonesia) năm 1999, đưa ra các kết luận quan trọng về khả năng rủi
ro do tràn dầu và các đề xuất liên quan cho ba quốc gia nói trên
ĐGRRSB vịnh Manila, Philippines, bước đầu xác định và lượng hóa được mức
độ của các rủi ro chính đối với môi trường nước của vịnh
Năm 2012, phương pháp đánh giá rủi ro môi trường liên vùng sử dụng Mô hình Rủi
ro Tương đối cho bề mặt nước ngọt các hệ sinh thái thủy sinh ở Nam Phi
(Regional-scale risk assessment methodology using the Relative Risk Model - RRM for surface freshwater aquatic ecosystems in South Africa ) của Water Research Group và Centre
for Aquatic Research đã đánh dấu một bước tiến mới cho công tác đánh giá rủi ro môi
trường trên thế giới lúc bấy giờ (Brien and Wepener, 2012)
Theo mô hình này, để tối đa hóa việc sử dụng lâu dài của các dịch vụ hệ sinh thái bị giới hạn tại Nam Phi, các nhà quản lý liên tục đòi hỏi cách tiếp cận để tối ưu hóa các thiết lập cân bằng giữa việc sử dụng và bảo vệ các hệ sinh thái hướng tới sự phát triển bền vững Bề mặt nước ngọt các hệ sinh thái thủy sinh là động lực học và rất khó để quản lý hiệu quả Các quyết định quản lý vững chắc có thể xác định và xếp hạng các mối đe dọa đến các hệ sinh thái đang được yêu cầu khẩn cấp Phương pháp đánh giá rủi
ro liên vùng được thực hiện trong quy mô không gian và cho phép xem xét từ nhiều nguồn nguyên nhân ảnh hưởng đến các thiết bị đầu cuối, bao gồm của hệ sinh thái địa phương về động lực học và các đặc điểm của cảnh quan có thể ảnh hưởng đến ước tính rủi ro Bài viết này trình bày phương pháp tiếp cận tổng hợp để thực hiện đánh giá rủi
ro sinh thái liên vùng sử dụng RRM phù hợp với điều kiện của Nam Phi Các RRM bao gồm 10 bước thủ tục được tương đối dễ dàng áp dụng
1 Lập danh sách những mục tiêu quản lý quan trọng trong khu vực Trả lời được câu hỏi: Bạn quan tâm điều gì và ở đâu?
2 Thiết kế một bản đồ bao gồm những nguồn tài nguyên tiềm năng và môi trường sống liên quan đến các mục tiêu quản lý đã làm ở Bước 1
3 Mở rộng bản đồ thành nhiều khu vực dựa vào sự kết hợp của các mục tiêu quản
lý, nguồn tài nguyên và môi trường sống
4 Xây dựng một mô hình lý thuyết liên kết các nguồn tác động đến các môi trường tiếp nhận và đến việc đánh giá điểm cuối (endpoints)
5 Quyết định một chương trình xếp hạng cho phép tính toán rủi ro tương đối đến việc đánh giá những điểm cuối
6 Tính toán những rủi ro tương đối
7 Đánh giá tính không chắc chắn và phân tích độ nhạy của bảng xếp hạng liên quan
Trang 248 Tạo ra các giả thiết có thể kiểm chứng hiệu quả trong tương lai và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để giảm thiểu tính không chắc chắn và xác nhận bảng xếp hạng rủi ro
9 Kiểm tra danh sách các giả thiết trong Bước 8
10 Truyền thông những kết quả trong một kiểu có thể mô tả được những hiệu quả của rủi ro tương đối và tính không chắc chắn để đáp ứng các mục tiêu quản lý Việc sử dụng và ứng dụng của RRM ở Nam Phi có khả năng cung cấp các nguồn sử dụng, bảo tồn tài nguyên và điều chỉnh bề mặt các hệ sinh thái thuỷ sinh đem lại rất nhiều lợi ích Những lợi ích này bao gồm việc hình thành một xác nhận, phương pháp cấu trúc nhạy cảm với sự năng động của các nghiên cứu trường hợp riêng biệt, rất nhiều thông tin, áp dụng tại địa phương và quốc tế có thể so sánh với những đánh giá RRM khác Việc sử dụng các phương pháp tiếp cận RRM ở Nam Phi có nhiều ưu điểm hơn nhược điểm Cách tiếp cận này có tiềm năng đóng góp đáng kể đối với sự quản lý được
dễ dàng và hiệu quả hơn làm cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ các hệ sinh thái thủy sinh
ở Nam Phi
1.2.2 Trong nước
Ở Việt Nam, đánh giá rủi ro môi trường ngày càng được quan tâm và tìm hiểu, nghiên cứu thông qua các văn bản pháp luật hiện hành, các tài liệu chuyên ngành như:
Những quy định chung về rủi ro môi trường và phòng ngừa rủi ro môi trường
(Luật Bảo vệ Môi trường, 2014)
Tổng quan về sự cố môi trường và phương pháp đánh giá sự cố môi trường (Lê
Hướng dẫn đánh giá rủi ro sinh thái và rủi ro sức khỏe (Lê Thị Hồng Trân, 2008)
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam ban hành các văn bản hướng dẫn giám sát an toàn lao động trong các hoạt động dầu khí, hướng dẫn quản lý rủi ro và ứng cứu khẩn cấp trong các hoạt động dầu khí, hướng dẫn quản lý an toàn lao động và vệ sinh lao động trong các hoạt động dầu khí đề cập chủ yếu tới công tác hướng dẫn
quản lý an toàn trong chế biến dầu khí (Tổng công ty dầu khí Việt Nam, 2002)
Tuy nhiên, đánh giá tác động môi trường được giới thiệu trong các văn bản nói trên hầu như chỉ mang tính chất định tính Một số báo cáo đánh giá rủi ro môi trường cho các dự án cụ thể đã được thực hiện như “Đánh giá rủi ro hồi cố môi trường vùng biển
ven bờ thành phố Đà Nẵng” (Lê Thị Hồng Trân, 2008) được thực hiện bởi nhóm chuyên
gia đa ngành với sự tham vấn của các chuyên gia của chương trình hợp tác khu vực trong
Trang 25quản lý môi trường biển Đông nhằm nâng cao năng lực của địa phương trong quản lý tài nguyên, môi trường vùng ven bờ, tạo cơ sở để hoàn thiện chương trình quan trắc môi trường và các kế hoạch, quy định về quản lý tài nguyên, môi trường liên quan và một số báo cáo khác Trong nền kinh tế phát triển như Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu đánh giá về rủi ro môi trường hiện có chưa đáp ứng yêu cầu BVMT với phát triển kinh tế Đã đến lúc, đánh giá rủi ro môi trường cần được nghiên cứu áp dụng rộng rãi hơn nữa nhằm
sử dụng hiệu quả hơn các cơ sở dữ liệu môi trường thu thập được trong những năm qua, hoàn thiện các chương trình quan trắc môi trường trên cơ sở các thông tin quan trọng được xác định, tập trung vào những vấn đề ưu tiên, có nguy cơ gây rủi ro cao, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho các đề xuất quản lý rủi ro môi trường
Một số vụ việc điển hình ở Việt Nam:
Trong vòng 10 thế kỷ (từ thế kỷ X - XIX), Việt Nam có 188 con lũ lớn làm vỡ
đê sông Hồng Riêng thế kỷ XIX, đã có 26 năm đê bị vỡ gây lũ lụt, điển hình là các năm 1814, 1824, 1835, 1872, 1893 Trận lụt năm 1893, mực nước đỉnh lũ tại
Hà Nội lên đến 13 mét Sang thế kỷ thứ XX, đã có 20 lần vỡ đê ở hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình
Trận lũ tháng 8/1945 đã làm vỡ 52 quãng đê với tổng chiều dài 4.180 mét, làm khoảng 2 triệu người chết lụt và chết đói, 312.100 ha hoa màu bị ngập
Trận lũ tháng 8/1971 là trận lũ lịch sử trên sông Hồng trong vòng 100 năm qua Hơn 400 km tuyến đê bị vỡ làm ngập hơn 250.000 ha, ảnh hưởng đến cuộc sống của gần 3 triệu người
Tháng 9/2016, mưa lớn liên tục đã làm sạt lở đất tại cống chặn dòng nhà máy thủy điện Sông Bung 2 tại Nam Giang, Quảng Nam khiến hai công nhân máy đào bị nước cuốn tử vong, nhiều nhà cửa bị cuốn trôi và ngập nước, thiệt hại lên đến hàng tỷ đồng
Tình hình hạn hán ở tỉnh Đồng Nai vào mùa khô 2015-2016: Đài Khí tượng - Thủy văn Đồng Nai cho biết, mùa khô 2015-2016, do ảnh hưởng của El Nino nên thời tiết tại Đồng Nai rất ít mưa, nền nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm và nắng nóng diễn ra nhiều hơn Đến đầu tháng 4, nắng nóng vẫn tiếp tục xảy ra và rất hiếm có mưa trái mùa, nước trên các sông hồ trên địa bàn tỉnh tiếp tục xuống dần, các dòng chảy kiệt hơn năm trước Nắng nóng, ít mưa, dòng chảy kiệt sẽ khiến mặn xâm nhập ngày càng sâu vào trong đất liền Do đó, độ mặn trong tháng 3-2016, có khả năng sẽ còn tiếp tục tăng cao trên sông Đồng Nai ảnh hưởng
nghiêm trọng đến cuộc sống người dân nơi đây
Trang 26CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ HỒ TRỊ AN VÀ TỈNH ĐỒNG NAI
2.1.1 Sơ lược về tỉnh Đồng Nai
a Vị trí địa lý
Tỉnh Đồng Nai nằm ở phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, có tọa độ địa lý:
- Từ 10o31’17 đến 11o34’49” vĩ độ Bắc
- Từ 106o44’45 đến 107o34’50” kinh độ Đông
Vị trí của tỉnh được giới hạn bởi:
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước và Lâm Đồng
- Phía Tây giáp tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh
- Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận
- Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đồng Nai có tổng diện tích tự nhiên 5.907,22 km2 , bao gồm 11 đơn vị hành chính là thành phố Biên Hoà và 10 huyện thị: Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Long Khánh, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch và Vĩnh Cửu Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 có 2.569.422 người (trong đó: thành thị 858.894 người và nông thôn 1.710.548 người) với mật độ 434,96 người/ km2
b Đặc điểm địa hình
Nhìn chung, địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có xu thế dốc từ Bắc xuống Nam; 78% diện tích của tỉnh có độ dốc nhỏ hơn 3o, 16% diện tích có độ dốc từ 3-8o Khoảng 6% diện tích có độ dốc trên 8o
c Đặc điểm thổ nhưỡng
Đồng Nai có tài nguyên đất khá đa dạng, có gần đủ các loại đất của Việt Nam Vùng đồng bằng có: đất cát, phù sa, mặn, phèn và vùng đồi núi có các loại đất đỏ, đen, xám Đồng Nai là tỉnh có diện tích đất đen lớn nhất nước (132.339 ha) và đây là loại đất tốt, rất thích hợp với các cây trồng cạn như ngô, đậu đỗ, bông, thuốc lá và các loạicây ăn quả
d Đặc điểm thảm phủ
Phân bố hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh cho thấy đất lâm nghiệp và đất cây lâu năm chiếm tỷ lệ cao nhất Trong đất cây lâu năm, đất điều, cao su, cà phê chiếm tỷ
lệ lớn với khoảng 8% ứng với mỗi loại Đất cao su phần lớn tập trung ở các huyện Cẩm
Mỹ, Long Thành, trong khi đất điều phần lớn tập trung ở Xuân Lộc Đất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở Tân Phú, Vĩnh Cửu, nơi có vườn Quốc Gia Cát Tiên và khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu Đất cây hàng năm chiếm tỷ lệ khá khoảng 24% Trong đất cây hàng năm, đất màu chiếm tỷ lệ lớn khoảng 12%
Trang 27e Hệ thống sông rạch
Tỉnh Đồng Nai nằm ở trung và hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai, các hoạt động phát triển liên quan đến tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đều luôn chịu sự tác động của các hoạt động liên quan trên các sông suối ở trên lưu vực này
2.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn
a Đặc điểm khí hậu
a1 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm toàn tỉnh khoảng 26oC, cao nhất tại vùng trung tâm và thấp nhất tại vùng cao tiếp giáp với tỉnh Lâm Đồng Nhiệt độ trung bình tháng biến thiên ít, tháng có nhiệt độ cao nhất và thấp nhất chênh nhau khoảng 3 - 4oC Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá lớn, tại vùng cao có thể lên tới 10 – 15oC và vùng ven biển không quá 10oC, mùa khô nhiệt độ dao động nhiều hơn mùa mưa Hàng năm, nhiệt độ thấp nhất rơi vào các tháng XII-I và nhiệt độ cao nhất thường rơi vào các tháng IV - V
a2 Chế độ gió
Tỉnh Đồng Nai nằm trong khu vực vừa chịu ảnh hưởng của hoàn lưu tín phong đặc trưng cho đới nội chí tuyến, lại vừa chịu sự chi phối ưu thế của hoàn lưu gió mùa khu vực Đông Nam bộ
Mùa đông, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Đông-Bắc ứng với không khí đã trở thành nhiệt đới hóa tương đối ổn định, một mùa đông ấm áp và khô hạn Mùa hạ, khu vực lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai luồng gió mùa Tây-Nam, từ vịnh Bengan vào đầu mùa và từ Nam Thái Bình Dương vào giữa và cuối mùa Những luồng gió mùa này phải đủ mạnh để chiếm ưu thế đối với tín phong Bắc Bán Cầu có hướng ngược lại Tốc độ gió bình quân biến đổi trong khoảng từ 1,1-1,9 m/s, có xu thế tăng dần khi ra biển và giảm dần khi vào sâu trong đất liền Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt đến 20-25 m/s, xuất hiện trong bão và xoáy lốc
Hàng năm, nhìn chung gió mạnh thường xuất hiện vào mùa khô, từ tháng XIIV và gió yếu hơn vào mùa mưa, từ tháng VI-X Tuy nhiên, do địa hình chi phối, cũng có các trường hợp ngoại lệ
a3 Chế độ bốc hơi
Bốc hơi tại các trạm khí tượng được quan trắc chủ yếu trên ống Piche (trong lều) Lượng bốc hơi giữa các vùng trong tỉnh chênh lệch không nhiều, vùng đồi núi lượng bốc hơi nhỏ và vùng thấp lượng bốc hơi lớn hơn Lượng bốc hơi giữa các tháng trong năm dao động mạnh Do có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, lượng bốc hơi trên toàn tỉnh nhìn chung khá lớn, đạt trên 1.100 mm, tùy nơi Hàng tháng, lượng bốc hơi đạt từ 110-
160 mm/tháng trong mùa khô và giảm còn 55-70 mm/tháng vào mùa mưa
a4 Chế độ ẩm
Độ ẩm trung bình năm của tỉnh đạt khoảng 82% Vùng đồng bằng và vùng đồi thấp
có độ ẩm thấp hơn vùng cao và vùng ven biển Trong năm, mùa mưa có độ ẩm cao hơn
Trang 28nhiều so với mùa khô (85-88% và 70- 75%) Độ ẩm tháng cao nhất tại Biên Hoà đạt 87,7% và độ ẩm tháng thấp nhất 72,2%
a5 Chế độ nắng
Nhìn chung, hàng năm, số giờ nắng cao, trung bình trên 2.000 giờ, tức 6 - 7 giờ/ngày Những nơi có độ ẩm thấp nhất lại cũng chính là nơi có số giờ nắng cao nhất; ngược lại, nơi có độ ẩm cao là nơi cho số giờ nắng thấp hơn Trong năm, số giờ nắng vào mùa khô rất cao, trung bình từ 200 - 260 giờ/tháng (8 - 9 giờ/ngày), thời gian mùa mưa có số giờ nắng thấp hơn hẳn, trung bình 158 - 180 giờ/tháng (5 - 6 giờ/ngày)
a6 Chế độ mưa
Về mặt không gian, thì sự khác biệt giữa lượng mưa các khu vực trong tỉnh là khá lớn Lượng mưa tăng dần từ Nam lên Bắc Sự phân hoá mưa theo không gian như vậy gắn rất chặt với sự chi phối của yếu tố địa hình
Vùng phía bắc tỉnh (Tân Phú, Định Quán, bắc Vĩnh Cửu): Có lượng mưa năm lớn nhất tỉnh (hơn 2300 mm), và số ngày mưa khoảng 150 – 160 ngày/năm
Vùng trung tâm tỉnh (thung lũng sông La Ngà, nam Vĩnh Cửu, huyện Thống Nhất, Bắc Xuân Lộc) có lượng mưa năm từ 2000 mm đến 2300 mm và số ngày mưa khoảng 130 – 150 ngày/ năm
Vùng phía nam tỉnh có lượng mưa năm 1700 – 2000 mm/năm và số ngày mưa
100 – 130 ngày/năm
Về mặt thời gian, do tác động của hai mùa gió, mưa được phân thành hai mùa có lượng mưa tách biệt Tổng lượng mưa trung bình năm sản sinh trên địa bàn tỉnh là 2.188mm Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng X chiếm 85% tổng lượng mưa trung bình cả năm, mùa khô thường bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau và chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa trung bình năm
b Đặc điểm thủy văn
b1 Đặc điểm dòng chảy mặt
Dòng chảy thường xuyên
Sự phân hóa chế độ mưa theo không gian đã kéo theo sự phân hóa dòng chảy khá sâu sắc trên địa bàn tỉnh Tỉnh Đồng Nai Lượng có mưa trung bình năm là 2.188 mm, có môđun dòng chảy vào khoảng 32,48 l/s/km2 , ứng với lớp dòng chảy vào khoảng 1.024 mm, đạt hệ số dòng chảy trung bình trên toàn tỉnh 0,47 (thuộc loại có dòng chảy lớn nhất miền Đông Nam bộ)
Theo sự phân bố tiểu vùng mưa, ta cũng có 3 tiểu vùng với đặc trưng dòng chảy khác nhau như: tiểu vùng phía Bắc có module dòng chảy bình quân lớn hơn 35 l/s/km2 nhưng tiểu vùng nam Quốc lộ 1 thì module dòng chảy chỉ khoảng 20 l/s/ km2 Theo thời gian dòng chảy cũng bị phân hóa mạnh mẽ Mùa
lũ từ tháng VII đến tháng XI xuất hiện sau mùa mưa khoảng 2 tháng, chiếm 79% tổng lượng dòng chảy năm Mùa kiệt thường bắt đầu từ tháng XII năm trước đến tháng V, VI năm sau chiếm 21% tổng lượng dòng chảy năm
Trang 29 Dòng chảy lũ
Ngoài sự phân hóa mạnh mẽ theo không gian, chế độ dòng chảy cũng có sự phân hóa theo thời gian và hình thành nên hai mùa lũ-kiệt đối lập nhau Mùa lũ trên đại bộ phận lưu vực sông tỉnh Đồng Nai bắt đầu vào khoảng VI-VII, nghĩa
là xuất hiện sau mùa mưa từ 1-2 tháng, do tổn thất sau một mùa khô khắc nghiệt kéo dài
Trong mùa lũ, đại bộ phận các khu vực cho lũ cao nhất vào tháng VIII, IX Khu vực phía bắc tỉnh Đồng Nai thường cho lũ cao nhất vào tháng X, XI Module dòng chảy lũ bình quân tháng vào khoảng 60-80 l/s.km2 cho các lưu vực lớn và 100- 150 l/s.km2 cho các lưu vực nhỏ Module đỉnh lũ trung bình vào khoảng 0,2-0,5 m 3 /s.km2 cho các lưu vực lớn và 0,8-1,2 m3 /s.km2 cho các lưu vực nhỏ
Dòng chảy kiệt
Nhìn chung các sông suối trên địa bàn tỉnh có mùa lũ kéo dài 5 tháng (VIIXI), mùa kiệt kéo dài 7 tháng (XII-VI), dòng chảy tháng kiệt nhất trung bình nhiều năm thường rơi vào tháng III hàng năm
b2 Đặc điểm thủy triều
Vùng phía Nam tỉnh nằm trong vùng hạ lưu sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng của chế
độ bán nhật triều biển Đông có biên độ lớn (3,5-4,0 m), lên xuống ngày 2 lần, với hai đỉnh xấp xỉ nhau và hai chân lệch nhau khá lớn Thời gian giữa hai chân và hai đỉnh vào khoảng 12,0-12,5 giờ và thời gian một chu kỳ triều ngày là 24,83 giờ
Hàng tháng, triều xuất hiện 2 lần nước cao (triều cường) và 2 lần nước thấp (triều kém) theo chu kỳ trăng Dạng triều lúc cường và lúc kém cũng khác nhau, và trị số trung bình của các chu kỳ ngày cũng tạo thành một sóng có chu kỳ 14,5 ngày với biên độ 0,30 -0,40 m
Trong năm, đỉnh triều có xu thế cao hơn trong thời gian từ tháng XII-I và chân triều
có xu thế thấp hơn trong khoảng từ tháng VII-VIII Đường trung bình của các chu kỳ nửa tháng cũng là một sóng có trị số thấp nhất vào tháng VII-VIII và cao nhất vào tháng XII-I
2.1.3 Các đặc điểm chính của hồ Trị An và nhà máy thủy điện Trị An
a Hồ Trị An
Trang 30(Nguồn: Google Earth, 2016)
Hình 2.1 Bản đồ hồ Trị An
Hồ Trị An được hình thành do việc đắp đập ngăn sông Đồng Nai, một trong những hạng mục chính của công trình thủy điện Trị An, nằm trên địa phận thị trấn Vĩnh An, xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, cách thành phố Hồ Chí Minh 111km
Nhiệm vụ chính của hồ Trị An:
Đảm bảo an toàn công trình: Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối thủy điện Trị An, chủ động đề phòng mọi bất trắc, với mọi trận lũ có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 5000 năm một lần không để mực nước hồ Trị An vượt mực nước gia cường ở cao trình +63,9m
Cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Cung cấp nước bổ sung phục vụ kinh tế, dân sinh cho các tỉnh hạ du sông Đồng Nai
(Nguồn:Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 2014)
Trang 31Bảng 2.1 Các thông số chính của hồ Trị An Các thông số chính Đơn vị Số lượng
1 Thủy văn
- Lưu lượng dòng chảy trung bình nhiều năm m3/s 506
- Lưu lượng đỉnh lũ kiểm tra (P = 0,02%) m3/s 23.500
2 Hồ chứa
Trang 32- Hình thức đóng mở cửa van Cẩu chân
dê
4 Đập chính
TKKT là cấp 2 với quy phạm Liên Xô
- Tiêu chuẩn thiết kế
(Nguồn: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 2014)
b Nhà máy thủy điện Trị An
(Nguồn: http://google.com)
Hình 2.2 Nhà máy thủy điện Trị An
Trang 33Khởi đầu từ Ban chuẩn bị sản xuất ( thành lập ngày 15/8/1985), Nhà máy Thủy điện Trị An được chính thức thành lập theo QĐ số 998/NL/TCCB của Bộ Năng lượng ký ngày 02/12/1987
Công trình được hoàn thành vào năm 1991 sau 7 năm xây dựng với sự đầu tư to lớn của nhà nước, sự hợp tác có hiệu quả của Liên Xô và công sức đóng góp quý báu của nhân dân các tỉnh thành phía Nam
Nhà máy là đơn vị sản xuất điện, hạch toán phụ thuộc, trước đây thuộc Công ty Điện lực II , nay trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Bảng 2.2 Thông số kỹ thuật chính của Nhà máy thủy điện Trị An
Thông số Đơn vị Số lượng
Lưu lượng tối đa qua nhà
An, Hàm Thuận, Đa Mi, Dầu Tiếng và đập dâng Tà Pao Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành Bãi bỏ Quyết định số 1892/QĐ-TTg ngày 20 tháng 10
Trang 34năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai trong mùa lũ hàng năm
a Vận hành hồ chứa trong mùa lũ (01/7 – 30/11)
Trong mùa lũ, đảm bảo cho hồ Trị An không để mực nước hồ chứa vượt cao trình mực nước lũ kiểm tra với mọi trận lũ có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 5.000 năm, góp phần giảm lũ cho hạ du, đảm bảo dòng chảy tối thiểu trên sông và nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du, đảm bảo hiệu quả phát điện
Nguyên tắc vận hành hồ giảm lũ cho hạ du:
Không cho phép sử dụng phần dung tích hồ từ cao trình mực nước dâng bình thường đến cao trình mực nước lũ kiểm tra hoặc mực nước dâng gia cường để điều tiết lũ khi các cửa van của công trình xả chưa ở trạng thái mở hoàn toàn
Khi vận hành giảm lũ cho hạ du phải tuân thủ theo quy định về trình tự, phương thức đóng, mở cửa van các công trình xả đã được cấp có thẩm quyền ban hành, đảm bảo không gây lũ nhân tạo đột ngột, bất thường đe dọa trực tiếp đến tính mạng và tài sản của nhân dân khu vực ven sông ở dưới hạ du bồn chứa
Trong quá trình vận hành phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình thời tiết, mưa, lũ; mực nước tại các trạm thủy văn, thời kỳ triều cường; mực nước, lưu lượng đến hồ và các bản tin dự báo tiếp theo để vận hành, điều tiết cho phù hợp với tình hình thực tế
Khi kết thúc quá trình giảm lũ cho hạ du phải đưa dần mực nước hồ về cao trình mực nước trước lũ quy định tại bảng 2.3
Bảng 2.3 Mực nước cao nhất trước lũ của hồ Trị An trong mùa lũ
Thời kỳ 01/7-31/7 01/8-31/8 01/9-30/9 01/10-31/10 01/11-30/11
Mực nước
(Nguồn: Quyết định 471/QĐ-TTg, 2016)
Bảng 2.4 Mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ
Sông Trạm thủy văn Báo động I
(m)
Báo động II (m)
Báo động III (m)
Trang 35Để đảm bảo các nguyên tắc trên, công tác vận hành phải tuân thủ các yêu cầu sau:
Khi mực nước đạt giá trị 1,6 m tại Trạm thủy văn Biên Hòa hoặc 1,3 m tại Trạm
thủy văn Phú An (Bảng 4, Điều 6, QĐ 471/QĐ-TTg về Quy trình vận hành liên
hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai), Trưởng ban Chỉ huy PCTT&TKCN thành
phố Hồ Chí Minh quyết định vận hành hồ với lưu lượng xả nhỏ hơn lưu lượng đến hồ nhằm giảm lũ cho hạ du, nhưng phải bảo đảm mực nước hồ không vượt quá cao công trình mực nước dâng bình thường Khi mực nước hồ đạt đến mực nước dâng bình thường, vận hành điều tiết với lưu lượng xả bằng lưu lượng đến
hồ
Khi mực nước tại Trạm thủy văn Biên Hòa xuống dưới mức giá trị 1,4m và Trạm thủy văn Phú An xuống dưới mức giá trị 1,2 m, Trưởng ban Chỉ huy PCTT&TKCN thành phố Hồ Chí Minh quyết định việc vận hành điều tiết với lưu lượng xả lớn hơn lưu lượng đến hồ trong khoảng thời gian từ 24 đến 72 giờ
để đưa dần mực nước hồ về giá trị quy định tại bảng 1 Khi mực nước tại Trạm thủy văn Biên Hòa đạt giá trị 1,4 m hoặc Trạm thủy văn Phú An đạt giá trị 1,2 m, vận hành điều tiết để duy trì mực nước hiện tại của hồ
Khi mực nước hồ Trị An đạt đến mực nước dâng bình thường, mà lũ đến hồ còn tiếp tục tăng và có khả năng ảnh hưởng đến an toàn của công trình, thực hiện chế
độ vận hành đảm bảo an toàn công trình theo Quy trình vận hành của hồ đã được cấp có thẩm quyền ban hành
Căn cứ nhận định xu thế diễn biến thời tiết, thủy văn của Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia nếu không xuất hiện thời tiết có khả năng gây mưa, lũ trên lưu vực, chủ hồ được phép chủ động tích nước để đưa dần mực nước hồ về mực nước dâng bình thường trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 10 đến ngày 30 tháng
11 hàng năm
b Vận hành hồ chứa trong mùa cạn (01/12 – 30/6 năm sau)
Trong mùa cạn, đảm bảo an toàn công trình, đảm bảo dòng chảy tối thiểu trên sông
và nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du, đảm bảo hiệu quả phát điện
Nguyên tắc vận hành:
Trang 36 Vận hành hồ theo các thời kỳ, theo thời đoạn 10 ngày:
+ Thời kỳ I: từ ngày 01 tháng 12 đến ngày 30 tháng 4 năm sau
+ Thời kỳ II: bao gồm thời gian còn lại của mùa cạn
Trong thời gian vận hành, căn cứ vào mực nước hồ hiện tại và dự báo dòng chảy đến hồ trung bình 10 ngày tới để điều chỉnh việc vận hành sao cho mực nước hồ tại các thời điểm tương ứng không nhỏ hơn giá trị quy định tại Phụ lục I
Trong quá trình vận hành với lưu lượng trung bình ngày không nhỏ hơn 130 m3/s (thời kỳ I) và 120 m3/s (thời kỳ II), nếu mực nước hồ giảm và có thể đạt giá trị mực nước quy định trong Phụ lục I tại thời điểm tiếp theo, thì phải điều chỉnh giảm lưu lượng xả
để đảm bảo mực hồ không nhỏ hơn giá trị mực nước tại thời điểm tiếp theo được quy định trong Phụ lục I
c Trách nhiệm tổ chức vận hành và cung cấp thông tin hồ Trị An
Trách nhiệm của Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh quyết định, chỉ đạo việc vận hành các hồ Trị An có trách nhiệm sau đây:
- Tổ chức thường trực, theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa, lũ, quyết định phương án điều tiết, ban hành lệnh vận hành các hồ theo quy định Việc ban hành lệnh vận
hành hồ phải trước ít nhất 04 giờ tính đến thời điểm thực hiện, trừ các trường
hợp khẩn cấp, bất thường;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện lệnh vận hành các hồ, chỉ đạo thực hiện các biện pháp ứng phó với lũ, lụt và xử lý các tình huống ảnh hưởng đến an toàn dân
cư ở hạ du khi các hồ xả nước;
- Khi ban hành lệnh vận hành hồ Trị An phải thông báo ngay tới Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai, Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có khả năng bị lũ, lụt do vận hành hồ; đồng thời thông báo cho Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh;
- Trong trường hợp xảy ra sự cố bất thường phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và Bộ Công Thương để kịp thời chỉ đạo biện pháp xử lý, đồng thời báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai để chỉ đạo, điều phối công tác phòng, chống lũ, lụt
Trách nhiệm của Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Đồng Nai:
- Khi nhận được thông báo lệnh vận hành từ Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai
và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh phải thông báo ngay tới Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có khả năng bị lũ, lụt do vận hành hồ Trị An; đồng thời phải Báo cáo ngay Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai;
Trang 37- Chỉ đạo thực hiện các biện pháp ứng phó với lũ, lụt và xử lý các tình huống ảnh hưởng đến an toàn dân cư ở hạ du trên địa bàn khi các hồ xả nước
Trách nhiệm của Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Dương
- Khi nhận được thông báo lệnh vận hành từ Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai
và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh phải thông báo ngay tới Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bình Dương có khả năng bị lũ, lụt do vận hành hồ Trị An; đồng thời phải báo cáo ngay Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương;
- Chỉ đạo thực hiện các biện pháp ứng phó với lũ, lụt và xử lý các tình huống ảnh hưởng đến an toàn dân cư ở hạ du trên địa bàn khi các hồ xả nước
Trách nhiệm Trưởng Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện: Khi nhận được thông báo lệnh vận hành từ Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai
và Tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh, Trưởng Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp huyện phải thông báo ngay đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã khu vực
hạ du bị ảnh hưởng, đồng thời chỉ đạo triển khai các biện pháp ứng phó phù hợp, hạn chế thiệt hại do lũ, lụt Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thông báo để nhân dân biết và triển khai các biện pháp ứng phó
Trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, giải thích công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống truyền thanh ở địa phương để các cơ quan và nhân dân trên địa bàn hiểu, chủ động phòng ngừa, ứng phó, hạn chế thiệt hại do lũ, lụt Chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này đối với các đơn vị quản lý, vận hành hồ trên địa bàn
- Chỉ đạo xây dựng phương án chủ động phòng, chống lũ, lụt và tổ chức thực hiện các biện pháp ứng phó với các tình huống lũ, lụt trên địa bàn
- Đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, còn có trách nhiệm chỉ đạo đơn vị quản lý, vận hành hồ thực hiện việc đảm bảo an toàn hồ trong suốt mùa lũ; thực hiện chế độ quan trắc, dự báo theo quy định và cung cấp số liệu, thông tin cho các cơ quan, đơn vị quy định; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai để chỉ đạo chống lũ cho hạ du trước khi hồ xả lũ khẩn cấp đảm bảo an toàn cho công trình đầu mối; quyết định theo thẩm quyền việc vận hành các hồ trong tình huống xảy ra lũ, lụt bất thường ở hạ du theo quy định, đồng thời chỉ đạo thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn dân cư, hạn chế thiệt hại cho hạ du
Trách nhiệm của Giám đốc Công ty Thủy điện Trị An
- Giám đốc đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An có trách nhiệm thực hiện lệnh vận hành công trình của Trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh và của các cơ quan nhà nước theo thẩm quyền quy định tại Quyết định số 1892/QĐ-TTg ngày 20 tháng 10 năm 2014 của Thủ tướng
Trang 38đúng lệnh vận hành, Giám đốc đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An phải báo cáo ngay với người ra lệnh vận hành; trường hợp mất thông tin liên lạc hoặc không nhận được lệnh vận hành của người có thẩm quyền ra lệnh và các tình huống bất thường khác, Giám đốc đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An quyết định việc vận hành hồ theo đúng quy định, đồng thời phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp ứng phó phù hợp
- Khi thực hiện lệnh vận hành các cửa xả, Giám đốc đơn vị quản lý vận hành hồ phải thông báo ngay tới người có thẩm quyền đã ban hành lệnh vận hành hồ của mình theo quy định, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương và Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ
- Khi vận hành đảm bảo an toàn công trình, phải báo cáo ngay tới Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai, trưởng Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền quyết định vận hành hồ và Bộ Công Thương
Chế độ quan trắc, dự báo
- Trong điều kiện thời tiết bình thường, khi chưa xuất hiện tình huống thời tiết có khả năng gây mưa lũ theo quy định, các cơ quan, đơn vị phải thực hiện chế độ quan trắc, dự báo như sau:
+ Hàng ngày, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ phải thực hiện 01 bản tin
dự báo thủy văn vào lúc 11 giờ đối với các Trạm thủy văn Biên Hòa và Phú An; + Hàng ngày, các đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An phải tổ chức quan trắc, tính toán mực nước hồ, lưu lượng đến hồ, lưu lượng xả qua đập tràn, qua nhà máy ít nhất 04 lần vào các thời điểm: 01 giờ, 07 giờ, 13 giờ, 19 giờ; thực hiện bản tin
dự báo 01 lần vào lúc 10 giờ Nội dung bản tin dự báo phải bao gồm lưu lượng đến hồ, mực nước hồ thời điểm hiện tại và các thời điểm 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ,
24 giờ tới; dự kiến tổng lưu lượng xả tại các thời điểm 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ và
24 giờ tới (nếu có)
- Khi có bão khẩn cấp, áp thấp nhiệt đới gần bờ hoặc có các hình thế thời tiết khác gây mưa lũ, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến các địa phương trên lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ thực hiện việc thu thập số liệu mưa, mực nước tại các trạm quan trắc khí tượng, thủy văn thuộc phạm vi, trách nhiệm quản lý trên hệ thống sông Đồng Nai Thực hiện bản tin cảnh báo lũ tại các Trạm thủy văn Biên Hòa và Phú An Tần suất thực hiện bản tin dự báo theo quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai tại Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phử; thực hiện các bản tin dự báo mực nước, tin lũ, tin lũ khẩn cấp tại Trạm thủy văn Biên Hòa
và Phú An Tần suất thực hiện bản tin dự báo theo quy định về dự báo, cảnh báo
và truyền tin thiên tai tại Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm
2014 của Thủ tướng Chính phủ; theo dõi, dự báo và phát hiện thời điểm mực nước tại các Trạm thủy văn Biên Hòa và Phú An đạt giá trị quy định
- Các đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An tổ chức quan trắc, tính toán mực nước hồ,
lưu lượng đến hồ, lưu lượng xả qua đập tràn, qua nhà máy ít nhất 15 phút một
lần; thực hiện bản tin dự báo lũ về hồ định kỳ 03 giờ 01 lần Nội dung bản tin dự
báo gồm mực nước hồ, lưu lượng đến hồ thời điểm hiện tại và các thời điểm 06
Trang 39giờ, 12 giờ, 18 giờ, 24 giờ tới, trong đó phải dự báo thời gian xuất hiện đỉnh lũ về hồ; dự kiến tổng lưu lượng xả tại các thời điểm 06 giờ, 12 giờ, 18 giờ, 24 giờ tới Trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo
- Trong điều kiện thời tiết bình thường, khi chưa xuất hiện tình huống thời tiết có khả năng gây mưa lũ, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ phải cung cấp bản tin dự báo quy định cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An trước 12 giờ hàng ngày; đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An phải cung cấp bản tin dự báo và
số liệu quan trắc, tính toán quy định cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, Đài Khí tượng
Thủy văn khu vực khu vực Nam Bộ trước 10 giờ hàng ngày
- Khi có bão khẩn cấp, áp thấp nhiệt đới gần bờ hoặc có các hình thế thời tiết khác gây mưa lũ, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến các địa phương trên lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ phải cung cấp ngay và liên tục các số liệu, bản tin cảnh báo, dự báo quy định cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An; khi mực nước tại các trạm thủy văn tại trạm Biên Hòa và trạm Phú An đạt mức quy định thì Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ phải thông báo ngay cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh, các đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An; đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An phải cung cấp ngay bản tin dự báo kèm theo số liệu quan trắc, tính toán quy định cho Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai
và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ
Trách nhiệm báo cáo
- Đơn vị quản lý, vận hành hồ Trị An có trách nhiệm báo cáo kết quả vận hành giảm lũ và trạng thái làm việc của công trình, việc báo cáo được thực hiện như sau:
- Chậm nhất 02 ngày sau khi kết thúc đợt lũ, các đơn vị quản lý, vận hành hồ phải báo cáo kết quả vận hành giảm lũ, trạng thái làm việc sau đợt lũ của hồ và các thông tin có liên quan đến Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai,
Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia, Cục Quản lý Tài nguyên nước và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh để theo dõi, chỉ đạo
- Hàng năm, chậm nhất 15 ngày sau khi kết thúc mùa lũ quy định, đơn vị quản lý, vận hành hồ phải báo cáo kết quả vận hành trong mùa lũ, trạng thái làm việc trong mùa lũ của hồ, các đề xuất, kiến nghị và các thông tin có liên quan đến Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai
và Tìm kiếm cứu nạn thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia, Cục Quản lý Tài nguyên nước và Bộ Công Thương
Trang 402.1.5 Một số lợi ích của hồ
Hồ Trị An được xây dựng có ý nghĩa rất quan trọng đối với môi trường, xã hội và kinh tế Ngoài những lợi ích chính như cung cấp điện năng, cung cấp nước tưới cho các diện tích canh tác ở hạ du, cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt v.v Hồ còn có nhiều tác dụng khác như cải thiện điều kiện môi trường, giảm độ mặn ở hạ lưu sông Đồng Nai, phát triển nghề cá, du lịch v.v
a Cung cấp điện năng
Công suất tổng cộng của 4 tổ máy của nhà máy là 400 MW, trung bình hàng năm nhà máy thủy điện Trị An cung cấp cho các tỉnh thành phía Nam một sản lượng 1.760 x
106 kW/h, đứng thứ hai trong cả nước, sau nhà máy thủy điện Hòa Bình (công suất: 1920
MW, sản lượng điện hàng năm 8.448 x 106 kW/h) và lớn hơn nhà máy thủy điện Thác
Mơ (công suất 150 MW sản lượng điện 660 x 106kW/h) Công suất của nhà máy Trị An còn được phát huy cao hơn vào những năm nước lớn, sản lượng điện có thể lên tới: 2.290x 106 kW/h/năm
b Nuôi trồng thủy sản
Hồ Trị An có mặt nước rộng trên 323 km2, hồ không sâu, đáy hồ tương đối bằng phẳng, chất lượng nước bảo đảm, hội đủ điều kiện cho nghề nuôi cá nước ngọt phát triển Cùng với việc thả hàng triệu cá giống các loại, hàng năm ngành thủy sản Đồng Nai khai thác được một khối lượng cá bình quân trên 1.000 tấn, có năm tới 1.500 – 1.700 tấn như các năm 1991, 1992 Đây là một nguồn lợi lớn, nếu được đầu tư đúng mức, quản lý và khai thác tốt, hiệu quả sẽ được nhân lên gấp bội
c Cải thiện môi trường
Sự xuất hiện hồ nước thay thế cho một vùng đất, rừng rộng lớn trước đây đã tạo nên một cảnh quan mới, kéo theo sự biến đổi các yếu tố tiểu khí hậu, mặc dù sự biến đổi này chưa nhiều
Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, quanh khu vực lòng hồ số lần có mưa nhỏ tăng, đồng thời với sự gia tăng của các hiện tượng có liên quan như: sương, sương mù, mây thấp v v Độ ẩm tương đối của không khí trong mùa khô cao hơn trước từ 3 - 4%, nhiệt độ tối thấp cũng cao hơn thời kỳ chưa có hồ từ 0,3 - 1,50C v.v
d Phát triển du lịch
Tiềm năng phát triển du lịch ở hồ Trị An rất lớn với những địa danh, cảnh đẹp vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính kinh tế như Chiến khu Đ, Đảo Ó, Đồng Trường, con đường bướm, Lòng hồ rộng lớn và có khoảng 40 hòn đảo nhỏ trong hồ nên từ lâu Trị
An đã trở thành điểm du lịch dã ngoại đầy hấp dẫn đối với du khách trong tỉnh cũng như các khu vực lân cận Đến với hồ Trị An, trải nghiệm tuyệt với nhất là được lênh đênh trên lòng hồ khi mặt trời còn chưa ló dạng hay khi hoàng hôn về để cảm nhận sự mênh mông, khung cảnh lãng mạn nên thơ của Trị An, khi đó tất cả những mệt mỏi, căng thẳng của đời thường sẽ được thả trôi theo con nước dưới hồ Tuy nhiên, mức độ đầu tư trong những năm qua chưa đúng cách đã dẫn đến du lịch nơi đây chưa được phát triển
mạnh và phù hợp với tiềm năng vốn có