1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng cơ sở dữ liệu không gian phục vụ công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố long xuyên

132 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 4,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo số liệu thống kê của Công ty Môi trường Đô thị An Giang hiện toàn thành phố mỗi ngày có đến 173 tấn rác thải sinh hoạt từ các hộ dân thải ra, đặc biệt vào các dịp lễ, tết lượng rác

Trang 1

Xuyên

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Giáo viên hướng dẫn

ThS Nguyễn Thanh Ngân

Trang 2

Xuyên

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Giáo viên phản biện

Trang 3

Xuyên

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát hộ gia đình về chất thải rắn sinh hoạt 34

Bảng 2.1 Bảng thuộc tính ranh giới huyện dạng đường 39

Bảng 2.2 Bảng thuộc tính ranh giới huyện dạng vùng 40

Bảng 2.3 Bảng thuộc tính ranh giới xã dạng đường 41

Bảng 2.4 Bảng thuộc tính ranh giới xã dạng vùng 42

Bảng 2.5 Bảng thuộc tính của ủy ban nhân dân dạng điểm 43

Bảng 2.6 Bảng thuộc tính đường đẳng cao 44

Bảng 2.7 Bảng thuộc tính điểm độ cao 45

Bảng 2.8 Bảng thuộc tính sông một nét dạng đường 47

Bảng 2.9 Bảng thuộc tính sông hai nét dạng vùng 48

Bảng 2.10 Bảng thuộc tính đường giao thông 50

Bảng 2.11 Bảng thuộc tính vị trí cầu, phà dạng điểm 51

Bảng 2.12 Bảng thuộc tính vị trí trường học dạng điểm 53

Bảng 2.13 Bảng thuộc tính vị trí các cơ sở y tế dạng điểm 54

Bảng 2.14 Bảng thuộc tính về sử dụng đất dạng vùng 57

Bảng 2.15 Bảng thuộc tính chất thải rắn phát sinh ở các xã, phường 59

Bảng 2.16 Bảng thuộc tính về vị trí bãi chôn lấp 60

Bảng 2.17 Bảng thuộc tính các thùng rác dạng điểm 61

Bảng 2.18 Bảng thuộc tính tuyến thu gom dạng đường 62

Bảng 2.19 Bảng thuộc tính vị trí các trạm trung chuyển dạng điểm 63

Bảng 2.20 Bảng thuộc tính vị trí điểm khảo sát nhà dân dạng vùng 64

Bảng 2.21 Bảng thuộc tính vị trí cơ quan quản lý dạng vùng 66

Bảng 2.22 Bảng thuộc tinh phân tích mạng lưới dạng đường 75

Bảng 2.23 Bảng thuộc tính của trạm trung chuyển xe số một dạng điểm 76

Bảng 2.24 Bảng thuộc tính của tuyến đường đi của xe số một 76

Bảng 2.25 Bảng thuộc tính của trạm trung chuyển xe số hai dạng điểm 76

Bảng 2.26 Bảng thuộc tính của tuyến đường đi của xe số hai 76

Trang 4

Xuyên

Bảng 2.27 Bảng thuộc tính của trạm trung chuyển xe số ba dạng điểm 77

Bảng 2.28 Bảng thuộc tính của tuyến đường đi của xe số ba 77

Bảng 2.29 Bảng thuộc tính của trạm trung chuyển xe số bốn dạng điểm 77

Bảng 2.30 Bảng thuộc tính của tuyến đường đi của xe số bốn 77

Bảng 2.31 Bảng thuộc tính trạm trung chuyển xe số năm dạng điểm 77

Bảng 2.32 Bảng thuộc tính của tuyến đường đi của xe số năm 78

Bảng 2.33 Bố trí số xe thu gom trên các phường 80

Trang 5

Xuyên

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các thành phần của GIS 4

Hình 1.2 Bản đồ thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang 11

Hình 1.3 Biểu đồ lượng chất thải rắn phát sinh qua các năm ở thành phố Long Xuyên năm 2016 15

Hình 1.4 Sơ đồ tính cân bằng vật chất 17

Hình 1.6 Thành phần chất thải rắn tại bãi rác Bình Đức năm 2016 26

Hình 1.7 Sơ đồ hệ thống quản lí của thành phố Long Xuyên 29

Hình 1.8 Sơ đồ hệ thống quản lí công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang 29

Hình 1.9 Sơ đồ quy trình thực hiện 30

Hình 2.1 Sơ đồ thu gom vận chuyển CTR trên địa bàn thành phố Long Xuyên 32

Hình 2.2 Hình các câu hỏi chủ yếu trong phiếu khảo sát được biểu diễn thành dạng biểu đồ 34

Hình 2.3 Cấu trúc bộ cơ sở dữ liệu 37

Hình 2.4 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt sinh ra mỗi ngày trên các phường theo dân số 66

Hình 2.5 Bản đồ các trạm trung chuyển 67

Hình 2.6 Tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các điểm hẹn và điểm dọc tuyến hiện đang hoạt động 68

Hình 2.7 Sự phân bố thùng rác công cộng 69

Hình 2.8 Sự phân bố các điểm khảo sát 70

Hình 2.9 Hệ thống quản lý tại các phường nội thành 71

Hình 2.10 Các con đường đựơc chọn theo điều kiện 74

Hình 2.11 Tuyến thu gom tối ưu về đoạn đường và thời gian của năm xe đề xuất 78

Hình 2.12 Biểu đồ thời gian và vận tốc của năm xe thu gom được đề xuất 79

Hình 2.13 Bố trí thùng rác công cộng gợi ý 82

Trang 6

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Geographic Information System (GIS): hệ thống thông tin địa lý

MTĐT: Môi trường Đô thị

PLRTN: Phân loại rác tại nguồn

Trang 7

Xuyên

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN II LỜI CAM ĐOAN III TÓM TẮT IV

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN VI

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN VII DANH MỤC BẢNG VIII DANH MỤC HÌNH X DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT XI MỤC LỤC XII

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 2

4 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 2

5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 2

6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3

CHƯƠNG 1 4

1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của GIS 4

1.1.2 Các ứng dụng của GIS trong quản lý môi trường 7

1.1.3 Vai trò của GIS trong công tác thu gom vận chuyển CTRSH tại các phường nội thành thành phố Long Xuyên 8

1.1.4 Các nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý CTRSH ở Việt Nam và trên Thế Giới 9

1.2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 11

1.2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 11

1.2.2 Nguồn gốc, thành phần 15

Trang 8

Xuyên

1.2.3 Tốc độ phát sinh chất thải rắn [6] 16

1.2.4 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn 18

1.2.5 Các nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn 19

1.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN 20

1.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên 20

1.3.2 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên 24

1.3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRSH 26

1.3.4 Hệ thống quản lý 29

1.4 QUY TRÌNH THỰC HIỆN 30

1.4.1 Sơ đồ quy trình thực hiện 30

1.4.2 Thuyết minh quy trình 30

CHƯƠNG 2 32

2.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH THU GOM-VẬN CHUYỂN CTR 32

2.1.1 Hình thức thu gom-vận chuyển 32

2.1.2 Kết quả phiếu khảo sát 32

2.2 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU 36

2.2.1 Lớp dữ liệu nền 37

2.2.2 Lớp chất thải rắn sinh hoạt 58

2.3 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ 66

2.4 VẠCH LỘ TRÌNH THU GOM 72

3.4.1 Nguyên tắc vạch tuyến 72

3.4.2 Các bước lập tuyến 72

3.4.3 Phương tiện và phương pháp vận chuyển 72

3.4.4 Chọn lọc các con đường thích hợp 73

3.4.5 Vạch tuyến thu gom tối ưu 75

2.5 BỐ TRÍ SỐ LƯỢNG XE THU GOM 79

2.6 BỐ TRÍ THÙNG COMPOSIT GỢI Ý 81

CHƯƠNG 3 83

Trang 9

Xuyên

3.1 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT 83

3.1.1 Phân loại chất thải rắn tại nguồn: 83

3.1.2 Ý thức cộng đồng: 84

3.2 GIẢI PHÁP XỬ LÝ 86

3.3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 86

3.3.1 Xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường: 86

3.3.2 Công cụ kinh tế: 87

3.3.3 Công cụ pháp lý: 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 KẾT LUẬN 90

2 KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

T ÀI LIỆU TIẾNG V IỆT 92

T ÀI LIỆU TIẾNG A NH 92

T ÀI LIỆU I NTERNET 92

PHỤ LỤC 1 93

PHỤ LỤC 2 97

PHỤ LỤC 3 120

PHỤ LỤC 4 122

Trang 10

Xuyên

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Môi trường nước ta vẫn bị xuống cấp nhanh có nơi có lúc đã đến lúc báo động, đất đai bị xói mòn, thoái hóa, chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh Ở nhiều đô thị, khu dân cư, không khí bị ô nhiễm nặng, khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng, điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch không bảo đảm Tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, gia tăng dân số đã gây áp lực lớn cho công tác bảo vệ môi trường, nhất là ở các đô thị Công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị

và khu công nghiệp vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém Lượng chất thải rắn thu gom chỉ mới đạt khoảng 70% và chủ yếu tập trung ở nội thị công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được chú trọng nghiên cứu và chưa hoàn thiện, còn phân tán, khép kín theo địa giới hành chính, việc đầu tư, quản lý còn kém hiệu quả [7]

Theo số liệu thống kê của Công ty Môi trường Đô thị An Giang hiện toàn thành phố mỗi ngày có đến 173 tấn rác thải sinh hoạt từ các hộ dân thải ra, đặc biệt vào các dịp lễ, tết lượng rác thải tăng vọt lên đến 300 tấn/ngày [1] Với lượng rác này, thành phố phải triển khai tám xe chuyên dùng tải trọng từ 2,5 đến 8,5 tấn và gần 100 xe thu gom tay cùng lực lượng công nhân của Ban Công trình đô thị thành phố và các Ban tự quản khóm, ấp lên đến trên 100 người để thực hiện hoạt động thu gom rác, thế nhưng cũng chỉ mới đảm bảo khoảng 70% lượng rác trên địa bàn [1] Còn lại một số khu vực vùng sâu, hẻm nhỏ xe thu gom không vào được nên chưa tập kết được lượng rác thải này mà chủ yếu rác ở đây là do dân “tự xử” do đó cần có công tác quản lý và thu gom thích hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố

Theo dự báo chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thành phố Long Xuyên năm 2014 đến năm 2020 sẽ tăng tới 150-329 tấn/ngày [7] Trước diễn biến trên thành phố Long Xuyên cần được tăng cường các thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển và quy trình

xử lý các loại chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thành phố phù hợp, đặc biệt là các chất thải độc hại, lây nhiễm cần được xử lý hữu hiệu, hợp vệ sinh để bảo vệ môi trường thành phố Xanh-Sạch-Đẹp góp phần thu hút đầu tư trong nước và quốc tế, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội, từ đó nâng cao điều kiện sống của người dân thúc đẩy quá trình hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế

Trong bối cảnh phát triển như Việt Nam hiện nay, việc từng bước ứng dụng GIS vào hoạt động quy hoạch, quản lý và giám sát trong các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, giao thông, du lịch…là rất cần thiết Nó giúp ta có được cái nhìn tổng thể cũng như nhận biết rất nhanh, rõ ràng và chính xác những thay đổi của đối tượng theo không gian

và thời gian nhằm hổ trợ các nhà hoạch định ra quyết định sau cùng

Nhận thấy được những lợi ích do các ứng dụng GIS đem lại, nhiều đơn vị đã bắt đầu đưa GIS vào hoạt động của mình và xem như đó là một phần quan trọng không thể thiếu Chính vì vậy, em chọn đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu không gian phục vụ trong

công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên” để hỗ trợ cho công

tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhanh chóng và nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin địa lý GIS vào công tác quản lý môi trường để nâng cao hiệu quả quản

Trang 11

Xuyên

Đề tài được thưc hiện với mong muốn sẽ góp phần tìm ra các giải pháp quản lý chất thải rắn thích hợp cho thành phố Long Xuyên nói riêng và Tỉnh An Giang nói chung

Nhưng do những hạn chế về dữ liệu và thời gian nên em chỉ tiến hành thí điểm trên các phường nội thành của thành phố Do vậy mà đề tài có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại và phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố Long Xuyên, một tỉnh đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa, nên đề tài có tính thực tiễn cao

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn bao gồm sáu mục tiêu chính sau:

- Đánh giá hiện trạng quản lý CTRSH tại thành phố Long Xuyên

- Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về quản lý chất thải rắn cho thành phố Long Xuyên Cung cấp địa điểm, thời gian, số tuyến, lượng CTR thu gom của các xe ép rác

- Có thể nghiên cứu sâu hơn để mở rộng mô hình cho toàn thành phố Long Xuyên

và các khu vực có đặc điểm về tuyến thu gom-vận chuyển gần giống với điều kiện của thành phố Long Xuyên

4 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài bao gồm bảy nội dung:

- Tìm hiểu đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội thành phố Long Xuyên

- Khảo sát hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại thành phố

- Khảo sát và phân tích hiện trạng hệ thống thu gom-vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên để tìm ra những bất cập trong công tác thu gom và vận chuyển để từ đó đưa ra hướng khắc phục

- Thiết kế mô hình dữ liệu bao gồm: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

- Ứng dụng chức năng phân tích mạng của ArcGis nhằm đề xuất lộ trình thu gom tối ưu cho công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các phường nội thành thành phố Long Xuyên và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp

- Tính toán bố trí xe thu gom và số công nhân cho các xã, phường

- Đề xuất nhiều hướng đi tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nhiên liệu trong quá trình thu gom và các giải pháp quản lý CTRSH nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và tăng cường tiết kiệm nguyên liệu thông qua việc phân loại CTR tại nguồn và tái chế

5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Trang 12

Xuyên

Sáu phương pháp được tác giả sử dụng trong bài báo cáo bao gồm:

- Phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp số liệu liên quan, tiến hành phân tích và đánh giá

- Phương pháp kế thừa: kế thừa và phát huy thêm các nghiên cứu đã được báo cáo trước đó

- Phương pháp chuyên gia và hội thảo: tham khảo ý kiến của cán bộ hướng dẫn

- Phương pháp ứng dụng GIS để tạo lập bản đồ

- Phương pháp đánh giá bằng phiếu khảo sát

- Phương pháp khảo sát thực địa

6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài mang lại hai ý nghĩa chính là: ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

- Giúp người quản lý có cái nhìn tổng thể về tình trạng phát sinh chất thải rắn

- Giúp người quản lý nhận biết rất nhanh, rõ ràng và chính xác những thay đổi của đối tượng theo không gian và thời gian

- Tìm kiếm tài liệu một cách nhanh chóng và chính xác

- Hạn chế được thời gian thống kê dữ liệu hằng ngày, hàng tháng, hàng năm

- Mang lại lợi ích kinh tế cao: tiết kiệm được không gian lưu trữ tài liệu, giảm chi phí thuê nhân công

- Thu gom hiệu quả, triệt để lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày

- Đề xuất nhiều hướng đi tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nhiên liệu trong quá trình thu gom

- Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương, góp phần cải thiện môi trường và sức khỏe cộng đồng

Trang 13

Xuyên

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS)

1.1.1 Cơ sở khoa học của GIS

a Định nghĩa [8]:

Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về GIS, dưới đây

là một số định nghĩa của một vài tác giả:

Theo Dueker (1979): GIS là một trường hợp đặc biệt của hệ thống thông tin với

cơ sở dữ liệu gồm những đối tượng, những hoạt động hay những sự kiện phân bố trong không gian được biểu diễn như những điểm, đường, vùng trong hệ thống máy tính GIS

xử lý, truy vấn dữ liệu theo điểm, đường, vùng, phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt

Theo Pavlidis (1982): GIS là một hệ thống có chức năng xử lý thông tin địa lý

nhằm phục vụ quy hoạch, trợ giúp quyết định trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định

Theo Burrough (1986): GIS là một hộp công cụ mạnh, dùng để lưu trữ, truy vấn

tùy ý, biến đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho những mục tiêu đặc biệt

Theo Calkins và Tomlinson (1977), Marble (1984) và Star and Ester (1990): GIS

là một hệ thống thông tin bao gồm một phụ hệ có khả năng biến đổi dữ liệu địa lý thành những thông tin có ích

Theo Gilbert H.Castle (1993): Hệ thống thông tin địa lý (HTTTĐL hay GIS) là

một hệ thống bao gồm các phần mềm, phần cứng máy tính và một cơ sở dữ liệu đủ lớn,

có chức năng thu thập, cập nhật, quản trị và phân tích, biểu diễn dữ liệu địa lý phục vụ giải quyết lớp rộng lớn các bài toán ứng dụng có liên quan tới vị trí địa lý trên bề mặt trái đất

b Thành phần của GIS [8]:

Một hệ GIS được hình thành bởi các thành phần chính sau:

Hình 1.1 Các thành phần của GIS

Trang 14

- Người phân tích giải quyết các vấn đề như tìm kiếm, xác định vị trí

- Người xây dựng dữ liệu là những người chuyên nhập dữ liệu bản đồ bằng các cách khác nhau như vẽ, chuyển đổi từ định dạng khác, truy nhập CSDL

- Người quản trị CSDL quản lý CSDL GIS và đảm bảo hệ thống vận hành tốt

- Người thiết kế CSDL xây dựng các mô hình dữ liệu lôgic và vật lý Người phát triển xây dựng hoặc cải tạo các phần mềm GIS để đáp ứng các nhu cầu cụ thể

 Dữ liệu:

Người ta chia dữ liệu trong GIS thành hai loại:

- Dữ liệu không gian (spatial) cho ta biết kích thước vật lý và vị trí địa lý của các đối tượng trên bề mặt trái đất

- Dữ liệu thuộc tính (non-spatial) là các dữ liệu ở dạng văn bản cho ta biết thêm thông tin thuộc tính của đối tượng

 Phương pháp:

Sự thành công trong các thao tác với GIS phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định phương pháp tiến hành công việc (đề cương chi tiết cho một dự án)

Trang 15

Xuyên

c Chức năng của GIS:

Mục đích chung của các hệ thống thông tin dữ liệu là thực hiện sáu chức năng sau:

 Nhập dữ liệu:

Trước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu này phải được chuyển sang dạng số thích hợp Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số được gọi là quá trình số hóa Dữ liệu là phần đắt tiền nhất (chiếm khoảng 80% kinh phí dự án) và tồn tại lâu đời của một hệ thống thông tin địa lý Việc thu thập dữ liệu để đưa vào sử dụng trong hệ thống là bước đầu quan trọng

có cùng giá trị thuộc tính trải rộng theo nhiều phương

Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định Công nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian như:

Trang 16

Xuyên

Khi đã có hệ GIS lưu giữ các thông tin địa lý, có thể tiến hành các câu hỏi đơn giản và câu hỏi phân tích GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản “chỉ và nhấn” và các công cụ phân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý

và phân tích Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả như:

- Rút số liệu, phân loại và đo lường

- Kết nối (tạo vùng đệm, mạng, lan truyền, hướng dòng, chiếu sáng và phép phối cảnh)

 Hiển thị:

Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ Bản đồ hiển thị còn có thể được kết hợp với các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác

 Xuất dữ liệu:

Việc chia sẻ kết quả đạt được là một ưu điểm và là một trong những tiêu chí chủ yếu khi sử dụng các nguồn tài nguyên trong GIS Dữ liệu GIS có thể được xuất ra dưới dạng khác nhau như trên giấy, xuất ra thành tập tin ảnh, đưa vào các báo cáo, chuyển tải lên internet

d Ứng dụng của GIS trong thành lập bản đồ:

GIS trong thành lập bản đồ có hai ứng dụng sau:

- Tự động hoá quá trình xây dựng bản đồ

- Sản xuất những bản đồ mới qua phân tích, xử lý dữ liệu

Ưu điểm của GIS trong thành lập bản đồ:

- Ưu điểm chính trong tự động hoá là sửa chửa dễ dàng

- Các đối tượng có thể thay đổi trong bản đồ số mà không cần vẽ lại

- Tỷ lệ và phép chiếu thay đổi dễ dàng

Sự khác biệt giữa tự động hoá và GIS là:

- Tạo bản đồ cần: hiểu biết về vị trí của đối tượng, giới hạn thuộc tính

- GIS cần: hiểu biết về vị trí của đối tượng và quan hệ giữa đối tượng và thuộc tính

1.1.2 Các ứng dụng của GIS trong quản lý môi trường

Trang 17

Xuyên

Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Vĩnh Phước, nếu thế kỷ XX được gọi là thế kỷ bùng nổ của công nghệ thông tin thì có thể nói thế kỷ XXI được nhận định là “Thế kỷ của Công nghệ thông tin địa lý” Với những đột phá về thành tựu trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển kỹ thuật, GIS ngày càng trở thành một công cụ hổ trợ đắc lực cho các nhà quản lý trong việc phát triển kinh tế, xã hội Một số nghiên cứu mới từ năm 2004 đến nay như:

- Dr David Fraser (RMIT) Mô hình hóa thủy học hệ thống nước tự nhiên của Việt Nam và Úc

- Dr David Fraser và Dr Trần Vĩnh Phước Mô hình hóa môi trường về khả năng duy trì nông nghiệp tại tỉnh Bến Tre

- Nguyễn Mạnh Hùng Ứng dụng công nghệ GIS và Viễn thám trong quản lý, phát triển nuôi trồng thuỷ sản

- Nguyễn Thị Hồng Điệp Ứng dụng phương pháp thống kê địa lý và thuật nội suy trong nghiên cứu Arsenic trong nước ngầm tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

- Nguyễn Minh Tùng Ứng dụng GIS phục vụ cho công tác điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

- Viện Điạ lý, viện KH & CNVN Hệ thống thông tin địa lý Những ứng dụng trong nghiên cứu tai biến thiên nhiên

- Ths Võ Khiếm trung tâm ứng dụng KHCN & Tin học Lâm Đồng Ứng dụng viễn thám trong nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

- Quản lý chất thải: GIS cho phép các nhà quản lý chất thải đánh giá hiện trạng chất thải hiện nay và dự đoán trong tương lai Ngoài ra, các nhà quản lý có thể chia sẻ thông tin giữa các tổ chức và kết hợp với các cơ quan điều chỉnh để cải thiện vấn đề kiểm soát, vận chuyển và chôn lấp CTR thải

Ví dụ: Sở Đo đạc Địa chất bang Georgia (GGS) đã dùng GIS để quản lý cơ sở dữ liệu về 118 bãi chôn lấp chất thải rắn cho phép Các thông tin trong cơ sở dữ liệu bao gồm tên bãi chôn lấp, vị trí, kinh độ, vĩ độ, đường vào bãi chôn lấp, dung tích bãi, vùng châu thổ sông chính và mã đơn vị thuỷ văn của vùng châu thổ này

- Hỗ trợ quản lý các sự cố môi trường: đánh giá chiến lược đối phó và nỗ lực chống chịu trước các sự cố môi trường

Ví dụ: khi xảy ra ô nhiễm do rò rỉ khí độc, bạn có thể xác định các vùng liền kề chịu ảnh hưởng, các vùng chịu ảnh hưởng do phát tán, và các vị trí bị ảnh hưởng nghiêm trọng

1.1.3 Vai trò của GIS trong công tác thu gom vận chuyển CTRSH tại các phường nội thành thành phố Long Xuyên

Hiện nay với mức gia tăng dân số hàng năm tại thành phố Long Xuyên (0.92%/năm) mục tiêu nâng cao hiệu quả thu gom CTRSH lên 100% của công ty Môi trường Đô thị An Giang, với giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc ứng dụng GIS vào công tác quản lý thu gom-vận chuyển CTRSH là rất cần thiết [7]

Trang 18

Xuyên

tính lẫn không gian phù hợp với nhiệm vụ của hệ thống thu gom-vận chuyển CTRSH của thành phố Một cách rõ ràng hơn, ta có thể so sánh hai hệ thống thu gom chất thải rắn như sau:

 Hệ thống thu gom-vận chuyển không ứng dụng GIS:

- Nhà quản lý muốn quản lý tốt và cập nhật thông tin nhanh chóng phải tiến hành xây dựng CSDL thuộc tính bằng phần mềm thông dụng như Excel hoặc Access Tuy nhiên các thông tin hiển thị chỉ là những dữ liệu thuộc tính, không quan sát được

- Bên cạnh đó để quan sát trực tiếp hệ thống thu gom thì nhà quản lý phải trực tiếp khảo sát thực tế

- Thêm vào đó, nếu nhà quản lý muốn tiến hành vạch tuyến thu gom, sau khi tính toán, lựa chọn con đường thích hợp, người quản lý phải trực tiếp chạy thử trên đoạn đường đó để có thể xác định khoảng thời gian, đó là chưa đề cập đến vận tốc của xe Điều này gây lãng phí thời gian và công sức cho người giám sát

- Hoặc khi phải báo cáo hay thể hiện tuyến thu gom lên bản đồ, người quản lý phải tiến hành vẽ tay lên các bản đồ du lịch hay khi chỉnh sửa một tuyến thu gom nào thì người quản lý phải vẽ bản mới bằng tay mà không thể chỉnh sửa, bôi xóa trên bản

đồ cũ Như vậy, nhà quản lý chưa thể quan sát hệ thống thu gom-vận chuyển CTRSH một cách trực quan được

 Hệ thống thu gom-vận chuyển có ứng dụng GIS:

- Nếu nhà quản lý quyết định ứng dụng GIS càng sớm thì họ chỉ tốn thời gian và công sức cho một lần nhập liệu vào máy tính tuy nhiên họ hoàn toàn có thể quản lý được các dữ liệu cả về thuộc tính lẫn không gian

- Khi cần thay đổi thông tin, người quản lý có thể ngồi tại văn phòng để điều chỉnh

mà không cần phải khảo sát thực tế Ví dụ như khi người quản lý muốn thay đổi một tuyến thu gom, GIS mà cụ thể là phần mềm ArcGis có những hổ trợ về phân tích mạng

để tìm ra con đường tối ưu nhất về đoạn đường hoặc thời gian cho công tác thu gom

- Hay GIS cũng có những hổ trợ tính toán để trả về chiều dài, tọa độ, diện tích của một đối tượng Như vậy sẽ giảm được thời gian và công sức cho người quản lý

- Hơn nữa, thông qua GIS người quản lý có thể nhìn được tổng thể hệ thống thu gom và xem được thông tin của bất kỳ điểm thu gom hay các tuyến vận chuyển hoặc chỉnh sửa, cập nhật các thông tin mới

1.1.4 Các nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý CTRSH ở Việt Nam và trên Thế Giới

Ở Việt Nam có một số nghiên cưu liên quan đến ứng dụng GIS trong quản lý CTR như:

- Trung tâm HCM GIS Ứng dụng GIS trong quản lý chất thải sinh hoạt Nhiệm

vụ là nghiên cứu quy trình nghiệp vụ trong công tác quản lý thu gom-vận chuyển rác, thiết kế và xây dựng mô hình, cài đặt và sử dụng chương trình Mô hình này được nghiên cứu để ứng dụng trong lĩnh vực thu gom-vận chuyển rác đô thị, nhằm nâng cao

Trang 19

Xuyên

hiệu quả công tác quản lý thông qua việc sáp lập các tuyến thu gom-vận chuyển một cách linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp nhất, góp phần vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài ra cũng có một số đề tài như sau:

- TS Nguyễn Văn Nhân cùng các cộng tác Ứng dụng GIS vào công tác quản lý

đô thị thành phố Phan Thiết

- Nguyễn Thị Yến Vi Ứng dụng công nghệ GIS thành lập bản đồ quản lý chất thải rắn sinh hoạt Quận 12

- Đặng Thị Phương Mai Ứng dụng GIS quản lý chất thải rắn cho thành phố Đồng Hới, Quảng Bình

- Nguyễn Hoài Thy Ứng dụng GIS vào công tác quản lý thu gom-vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Biên Hòa

- Trần Minh Hải Ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào công tác quản lý thu gom-vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Ngày nay, công tác quản lý CTR bằng công nghệ GIS được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới

Senthil Shanmugan, một trong những chuyên gia Ấn Độ nghiên cứu vấn đề này

đã đưa ra quan điểm ứng dụng GIS, hệ thống thông tin quản lý (MIS) và hệ thống định

vị toàn cầu trong quản lý CTR trong bài báo được đăng tải trên Internet Điểm đáng được chú ý nhất trong công trình của Senthil Shanmugan là kết hợp 3 module trong hệ thống quản lý CTR là: GIS, MIS (Management Information System), GPS (hệ thống định vị toàn cầu)

Tại nước Anh, hơn 90% rác thải đô thị được xử lí bằng chôn lấp Điều đó cho thấy, công tác quản lí việc xử lí rác thải là vấn đề hết sức quan trọng Nhiều hướng dẫn của

EC và pháp luật do UK ban hành cùng với nhiều vấn đề môi truờng liên quan đã tạo áp lực lên các nhà đầu tư để xây dựng những bãi chôn lấp lớn nhất nhưng giá thành lại rẻ nhất và hạn chế các tác động môi trường Bãi chôn lấp và các hoạt động chôn lấp trong thực tế có thể được cải tiến với khả năng điều khiển chính xác bằng việc ứng dụng GIS

Sự phân tích thành phần, độ chặt chẽ, tỷ trọng của rác thải với sự thay đổi thể tích trong suốt thời kì chôn lấp đảm bảo rằng hiệu quả của phương pháp lựa chọn sẽ đạt được và dung tích chứa là lớn nhất

GIS cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình quan trắc môi trường ở các bãi chôn lấp đã đóng cửa Damian C Green, chuyên viên môi trường thuộc Đại học Sunderland trong bài báo “GIS và ứng dụng nó trong quản lý chất thải rắn tại nước Anh” đã trình bày kinh nghiệm của nước Anh trong thiết kế, xây dựng các bãi chôn lấp chất thải

Using GIS in Solid Waste Management Planning A case study for Aurangabad, India by Shaikh Moiz Ahmed

Application of GIS in Solid Waste Management in Chanchaga Local Government Area of Niger State, Nigeria

Trang 20

Xuyên

1.2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

1.2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu

Hình 1.2 Bản đồ thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang

a Điều kiện tự nhiên [7]:

Thành phố Long Xuyên trực thuộc tỉnh An Giang có diện tích khoảng 115,231 km2, dân số 285.745 người năm 2015, tốc độ tăng dân số bình quân là 0,92%, là đô thị cấp hai trực thuộc tỉnh, nằm bên hữu ngạn sông Hậu [10] Thành phố Long Xuyên cách thủ đô

Hà Nội 1950 km về phía Nam, cách TP.HCM 189 km về phía Tây Nam, cách biên giới Campuchia 45 km đường chim bay Long Xuyên là đô thị sầm uất thứ hai sau thành phố Cần Thơ vùng Tây Nam Bộ Thành phố rất phát triển về kinh tế nông nghiệp và công nghiệp chế biến thủy sản với sáu nhà máy với hơn 10.000 công nhân

Thành phố Long Xuyên chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam và Đông Bắc Gió Tây Nam mát ẩm từ biển thổi vào gây mưa từ tháng năm đến tháng 11 hằng năm Gió mùa Đông Bắc xuất phát từ biển nhiệt đới với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn và hanh khô nắng nóng

 Nhiệt độ:

Nhiệt độ trung bình ở thành phố Long Xuyên không cao và rất ổn định Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng mùa khô chỉ hơn kém nhau từ 1,50 đến 30, còn các tháng

Trang 21

Xuyên

mùa mưa trên dưới 10 nhiệt độ cao nhất vào tháng tư từ 360 đến 380, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 10 trên dưới 180

 Bốc hơi:

Do độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân 110mm/ tháng (tháng

ba có tới 160mm), nhỏ nhất xuất hiện vào tháng chín hoặc tháng 10 khoảng 52mm/ tháng, vì đây là thời gian có cường độ mưa nhiều nhất

 Lượng mưa:

An Giang có mùa nắng nóng chói chang Địa phương có số giờ nắng trong năm đạt mức kỷ lục của cả nước Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ ngày Mùa mưa gần bảy giờ nắng/ ngày Tổng tích ôn cả năm lên trên 2.400 giờ 24

Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng năm và kết thúc vào tháng 11, lượng mưa trong năm dao động từ 1000-1300 mm/năm, tổng lượng mưa vào mùa mưa chiếm 83%-89% tổng lượng mưa năm lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa lũ từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về

 Đất đai và thổ nhưỡng:

An Giang có hai loại: đồng bằng phù sa châu thổ và đồng bằng ven núi

Đồng bằng phù sa châu thổ ở đây là một bộ phận của ĐBSCL có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mê Kông, với các đặc trưng cơ bản như sau:

Độ nghiêng nhỏ và theo hai hướng chính Hướng từ biên giới Việt Nam- Campuchia đến lộ Cái Sắn và hướng bờ sông Tiền đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang

Độ cao khá thấp và tương đối bằng phẳng, có thể chia thành ba cấp chính cao ba mét trở lên nằm ven sông Hậu, sông Tiền các khu vực đất thổ cư kênh đào Cao từ 1m50 đến ba mét nằm ở khu giữa sông Tiền và sông Hậu Cao dưới 1m50phổ biến ở phía hữu ngạn sông Hậu

Hình dạng đồng bằng phù sa ở An Giang có ba dạng chính và một dạng phụ: dạng cồn bãi (cù lao), dạng lòng chảo (ở hai bờ sông cao hơn và thấp dần vào trong đồng), dạng hơi nghiêng (cao từ bờ sông Hậu rồi thấp dần vào nội đồng đến tận ranh giới tỉnh Kiên Giang) và dạng gợn sóng (dạng phụ-gọi là xép và rạch tự nhiên bị bồi lấp) Đồng bằng ven núi ở An Giang chia làm hai kiểu: Deluvi (sườn tích) và kiểu đồng bằng phù sa cổ

Đồng bằng ven núi kiểu Deluvi hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực

Trang 22

Xuyên

các khe suối chuyển tải xuống các chân núi, tích tụ lâu ngày mà thành, có đặc tính hẹp, nghiêng từ hai độ đến năm độ và có độ cao từ năm mét đến mười mét

Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông Với đặc tính là

có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau Mỗi bậc thang khá bằng phẳng hầu như không có độ nghiệng Chênh lệch độ cao giữa các bậc thang thường dao động từ một mét đến năm mét

An giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng ĐBSCL Tổng diện tích đất nông nghiệp là 246.821

ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 82% Đất An Giang hình thành qua quá trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng Mỗi vùng trầm tích trong môi trường khác nhau sẽ tạo nên một nhóm đất khác nhau, với những thay đổi về chất đất, địa hình hệ sinh thái và tập quán canh tác

Có thể phân chia đất ở An Giang thành ba nhóm chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất đồi núi

b Điều kiện kinh tế-xã hội [7]:

Thành phố Long Xuyên nói riêng tỉnh An giang nói chung dựa trên nền kinh tế nông nghiệp lâu đời chuyên canh lúa nước và hoa màu Hiện nay, Thành Phố Long Xuyên có kế hoạch thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước chủ yếu là xây dựng thương hiệu các mặt hàng nông sản, thuỷ sản Những năm qua vùng Tứ Giác Long Xuyên được xem là vựa lúa của cả tỉnh Bên cạnh đó các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, lụa Tân Châu nổi tiếng với Lãnh Mỹ A, làng nghề nuôi các bè, mộc đang dần khôi phục

và phát triển gắn bó với loại hình dịch vụ du lịch sinh thái tạo bước tiến mới trên thị trường trong nước và quốc tế, lễ hội hằng năm cũng thu hút rất nhiều du khách bắt đầu

từ tháng ba cho đến tháng bảy

 Giáo dục:

Thành phố Long Xuyên là trung tâm văn hóa của Tỉnh An Giang Thành phố có chủ trương đào tạo tiến sĩ, thạch sĩ các ngành: nông nghiệp, kinh tế, tin học, môi trường…để phục vụ cho nhu cầu cần thiết trong giảng dạy và nghiên cứu, dự kiến kế hoạch đến năm 2020

Hệ thống giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể về cơ sở vật chất

Ngành giáo dục thành phố đã hoàn thành việc xóa mù chữ hoàn toàn đến bậc trung học cơ sở (THCS) Đến nay, trên địa bàn thành phố gồm 12 trường tiểu học, 10 trường THCS và năm trường phổ thông trung học (PTTH), bao gồm một trường PTTH dân lập, một trường PTTH bán công, ba trường PTTH công lập

 Y tế:

Những năm gần đây ngành y tế thành phố có chủ trương khuyến khích mở rộng

mô hình bệnh viện tư nhân nhầm tăng cường việc khám chữa bệnh cho người dân trong

và ngoại thành ngày càng tốt hơn Số lượng y, bác sĩ trên địa bàn thành phố 1.092 người

Có tổng cộng 61 trung tâm y Tế, bình quân một y, bác sĩ trên 60 người Cơ sở vật chất của ngành y tế trên địa bàn thành phố đã được củng cố và tăng cường đầu tư trên nhiều mặt

Trang 23

Xuyên

Cho đến hiện nay tất cả các tuyến y tế cơ sở điều có các Trạm y tế phường xã hoạt động, đã đạt được 98% các xã phường có trạm y tế Tuy vậy ngành y tế thành phố vẫn còn những khó khăn, phương tiện trang thiết bị còn thiếu và chưa nắm bắt kịp bước phát triển kỹ thuật mới trong y khoa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân và một số trạm y tế đã xuống cấp cần được khắc phục

 Văn hoá thông tin-thể thao và phát thanh truyền hình

Toàn thành phố hiện nay có 32 đội văn nghệ và điểm xem tivi công cộng, 156 loa truyền thành khắp các phường, xã và đài truyền thanh của tỉnh kết hợp đài truyền hình các tỉnh lân cận Ngày càng phát triển, nhiều cơ sở thể thao đã được đầu tư như: nhà luyện tập-thi đấu, bể bơi, bóng chuyền, quần vợt, cầu lông…phục vụ tốt cho các tầng lớp nhân dân trong thành phố Phong trào thể dục-thể thao, rèn luyện sức khoẻ vẫn được duy trì và phát triển kể cả với người lớn tuổi Đặc biệt một số môn thể thao mũi nhọn như: quần vợt, cầu lông, bơi lội, thể hình, bóng đá

 Cơ sở hạ tầng:

Điện: An Giang đã đầu tư phát triển đưa lưới điện quốc gia đến địa bàn 100% số

xã của tỉnh, với tổng chiều dài: 1.200 km đường dây trung thế, 1.300 km đường dây hạ thế và 1.410 trạm biến áp các loại tổng dung lượng 96.242 KVA

Nước Cấp: Công ty điện nước An Giang đã xây dựng, quản lý 53 hệ thống cung cấp nước sạch ở thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư…với tổng công suất 60.000

m3/ngày đêm Công ty cũng đang xây dựng nhà máy nước thành phố Long Xuyên công suất 34.000 m3/ ngày, chất lượng nước đạt tiêu chuẩn quốc gia

Bưu chính viễn thông: từ năm 1998, ngành bưu chính viễn thông An Giang đã đầu

tư khai thác mạng internet toàn cầu, khai thác tổng đài 1080 phục vụ các yêu cầu thông tin kinh tế xã hội nhanh chóng

Hệ Thống đường giao thông:

- Đường Bộ: An Giang là tỉnh có hệ thống đường giao thông bộ khá thuận tiện Quốc lộ 91 dài 91,3 km, nối với quốc lộ 02 của Camphuchia, Lào Thái Lan thông qua hai cửa khẩu Tịnh Biên và Vĩnh Xương Tỉnh lộ có 14 tuyến, dài 404 km được tráng nhựa 100%

- Đường Thủy: sông Tiền chảy qua địa phận tỉnh 87 km và sông Hậu 100 km, là hai con sông quan trong nối An Giang và ĐBSCL với các nước trong khu vực: campuchia, Lào Thái Mạng lưới kênh cấp hai, cấp ba bảo đảm các phương tiện từ 50-

100 tấn lưu thông trong tỉnh Cảng Mỹ Thới có khả năng tiếp nhận hàng hóa trên 0,5 triệu tấn/năm được xây dựng trên địa bàn thành phố Long Xuyên tạo thuận lợi cho các

dự án thành lập khu công nghiệp phát triển trong tương lai

Thuận lợi: Một khi trình độ văn hoá của người dân được nâng cao, cũng như các hoạt động văn hoá xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả thì đây cũng là một kênh tuyên truyền hiệu quả về công tác bảo vệ môi trường nói chung cũng như hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải rắn nói chung, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo chí…và phổ cập tới mọi thành phần người dân thông qua các cấp học cũng như các đoàn thể xã hội để từ đó nâng cao ý thức của người

Trang 24

Xuyên

lý của các cơ quan sẽ dễ hơn vì có được sự đồng thuận và hỗ trợ từ cộng đồng, đây là đều tất yếu để thực hiện một cách có hiệu quả các chương trình từ các cơ quan quản lý môi trường địa phương Đều này nó thể hiện qua kết quả khảo sát từ người dân

Khó khăn: Một khó khăn đặt ra cho công tác quản lý CTRSH trong vấn đề này là

sự tăng cơ học của dân số sự phát triển không theo một định hướng của các cơ sở văn hoá đã làm khó khăn trong vấn đề thu gom bởi vì khối lượng CTRSH được phát sinh ra không được thống kê một cách đầy đủ, do vậy vẫn còn một lượng CTRSH chưa được thu gom, do đó sẽ gây ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người

1.2.2 Nguồn gốc, thành phần

a Nguồn gốc phát sinh:

 Khối lượng:

Nguồn gốc phát sinh, thành phần, tính chất và tốc độ phát sinh của CTR là các cơ

sở quan trọng để thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản

lý CTR

Quá trình đô thị hoá đang diễn nhanh chóng trên địa bàn thành phố đồng thời do trong giai đoạn này thành phố đang trên đà phát triển về kinh tế, xây dựng và biến động dân số cơ học nên khối lượng CTRSH trên địa bàn ngày càng tăng

Tốc độ phát sinh chất thải của thành phố hiện nay là 0,605 kg/người/ngày

Hình 1.3 Biểu đồ lượng chất thải rắn phát sinh qua các năm ở thành phố Long

Xuyên năm 2016

Nhận xét:

- Khối lượng CTR hiện nay đã tăng lên từ 130 tấn/ngày năm 2010 lên đến khoảng

173 tấn/ngày năm 2015 [1] Khối lượng CTR phát sinh và được thu gom hàng ngày thay đổi theo các tháng khác nhau trong năm và đặc biệt tăng cao vào những ngày lễ, tết, hay

150 173

Trang 25

- Trên một số tuyến đường chính mặc dù đã được đặt các thùng 120L và 240L dọc tuyến tuy nhiên rác vẫn còn bị bỏ bừa bãi Thùng rác còn ít nên còn hiện tượng người dân phải để rác bên ngoài thùng

- Các trường học: nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học, phổ thông

- Khu vực công cộng (công viên Hai Bà Trưng, công viên Mỹ Thới, quảng trường Tôn Đức Thắng)

- Bệnh viện Đa khoa tỉnh, trung tâm Y tế thành phố Long Xuyên, các trạm Y tế phường xã và các cơ sở y tế tư nhân

- Chất thải rắn trong xây dựng

1.2.3 Tốc độ phát sinh chất thải rắn [6]

Việc tính toán tốc độ phát sinh CTR là một trong những yếu tố quan trọng trong việc quản lý CTR bởi vì từ đó người ta có thể xác định được lượng CTR phát sinh trong tương lai ở một khu vực cụ thể có kế hoạch quản lý từ khâu thu gom-vận chuyển tới quản lý Phương pháp xác định tốc độ phát sinh CTR cũng gần giống như phương pháp xác định tổng lượng rác

- Đo khối lượng

- Hệ số phát thải (kg/người ngày hoặc kg/tấn sản phẩm)

- Phân tích thống kê

- Dựa trên các đơn vị thu gom (ví dụ thùng chứa)

- Phương pháp xác định tỷ lệ chất thải

- Tính ân bằng vật chất

(Nguyên liệu + nhiêu liệu) Sản phẩm

Nhà máy

Xí nghiệp

Trang 26

Xuyên

Lượng chất thải rắn

Hình 1.4 Sơ đồ tính cân bằng vật chất

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh CTR:

- Sự phát triển kinh tế và xã hội: Các nghiên cứu cho thấy sự phát sinh CTR liên

hệ trực tiếp với sự phát triển kinh tế của một cộng đồng Lượng CTR đã được ghi nhận

là có giảm đi khi có sự suy giảm về kinh tế (rõ nhất là trong thời gian khủng hoảng ở thế kỷ 17) Phần trăm vật liệu đóng gói (đặc biệt là túi nylon) đã tăng lên trong ba thập

kỷ qua và tương ứng là tỷ trọng khối lượng (khi thu gom) của chất thải cũng giảm đi

- Mật độ dân số: Các nghiên cứu xác minh rằng khi mật độ dân số tăng, nhà chức trách sẽ phải thải bỏ nhiều rác thải hơn Nhưng không phải rằng dân số ở cộng đồng có mật độ cao hơn thì sản sinh ra nhiều rác thải hơn mà là dân số ở cộng động có mật độ thấp có các phương pháp thải rác khác chẳng hạn như làm phân compost trong vườn hoặc đốt rác sau vườn

- Sự thay đổi theo mùa: Trong những dịp như giáng sinh, tết âm lịch (tiêu thụ đỉnh điểm) và cuối năm tài chính (tiêu thụ thấp) thì sự thay đổi về lượng rác thải đã được ghi nhận

- Nhà ở: Có sự liên hệ trực tiếp giữa loại nhà ở và mật độ dân số Cũng không khó

để giải thích vì sao các hộ gia đình ở vùng nông thôn sản sinh ít chất thải hơn các hộ gia đỉnh ở thành phố

- Tần số và phương thức thu gom: Người ta phát hiện rằng nếu tần số thu gom CTR thải giảm đi thì lượng CTR sẽ giảm đi Với sự thay đổi từ các thùng 90L sang các thùng di động 120L và 240L, lượng CTR đã tăng lên, đặc biệt là rác thải vườn Do đó vấn đề quan trọng trong việc xác định lượng CTR phát sinh không chỉ từ lượng CTR được thu gom, mà còn xác định lượng CTR được vận chuyển thẳng ra khu chôn lắp, vì lượng rác thải vườn đã từng được xe vận chuyển đến nơi chôn lắp

- Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: dư luận, ý thức cộng đồng

Theo dự án môi trường Việt Nam Canada thì tốc độ phát sinh CTR đô thị Việt Nam như sau:

- Rác thải khu dân cư: 0,3-0,6 kg/người/ngày [7]

- Rác thải thương mại: 0,1-0,2 kg/người/ngày [7]

- Rác thải quét đường: 0,05-0,2 kg/người/ngày [7]

- Rác thải công sở: 0,05-0,2 kg/người/ngày [7]

Trang 27

Xuyên

1.2.4 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn

a Ô nhiễm đến môi trường nước [7]:

Hiện nay do việc quản lí môi trường không chặt chẽ dẫn tới tình trạng vứt rác bừa bãi xuống các kênh rạch, ao, hồ Lượng rác này chiếm chủ yếu là thành phần chất hữu

cơ nên sự phân hủy xảy ra rất nhanh làm ô nhiễm nguồn nước, mùi hôi thối và chuyển màu nước

Ngoài ra hiện tượng rác trên đường phố không thu gom, gặp trời mưa rác sẽ theo nước mưa chảy xuống các kênh rạch, cống thoát nước gây tắc nghẽn đường ống và ô nhiễm nước Ở các bãi chôn lấp rác nếu không quản lý chặt chẽ sẽ gây ra tình trạng nước rỉ rác chảy ra đất, sau đó ngấm xuống gây ô nhiễm tầng nước ngầm

Đối với các bãi rác thông thường (đáy bãi rác không có lớp chống thấm, sụt lún hoặc lớp chống thấm bị thủng…) các chất ô nhiễm sẽ thấm sâu vào nước ngầm gây ô nhiễm cho tầng nước ngầm và sẽ rất nguy hiểm khi con người sử dụng tầng nước này phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt Ngoài ra, chúng còn có khả năng di chuyển theo phương ngang, rỉ ra bên ngoài bãi rác gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đoạn lên men axit sẽ cao hơn với giai đoạn lên men metan Đó là do các axit béo mới hình thành tác dụng với kim loại tao thành phức kim loại Các hợp chất hydroxyt vòng thơm, axit humic và axit fulvic có thể tạo phức Fe, Pb, Cu, Mn, Zn…Vì vậy, khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm

Ngoài ra, nước rò rỉ có thề chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như: chất hữu cơ bị halogen hóa, các hydrocacbon đa vòng thơm…chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe, sinh mạng của con người hiện tại và cả thế hệ con cái mai sau

b Ô nhiễm đến môi trường không khí [7]:

Các CTR thường có một phần có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp, cũng có loại rác thải dễ phân hủy (thực phẩm, trái cây hỏng…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi trường đô thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người Kết quả quá trình là gây ô nhiễm không khí

Thành phần khí thải chủ yếu được tìm thấy ở các bãi chôn lắp rác được thể hiện ở

Bảng 1 của Phụ lục 1

c Ô nhiễm môi trường đất [7]:

CTR khi được vi sinh vật phân hủy trong môi trường hiếu khí hay kị khí sẽ gây ra hàng loạt các sản phẩm trung gian CO2, CH4 Với một lượng rác nhỏ có thể gây ra tác động tốt cho môi trường, nhưng khi vượt quá khả năng làm sạch của môi trường thì sẽ gây ô nhiễm và thoái hóa môi trường đất

Trang 28

Xuyên

Ngoài ra đối với một số loại CTR không có khả năng phân hủy như nhựa, cao su, túi nilon đã trở lên rất phổ biến ở mọi nơi Đây chính là thủ phạm gây ô nhiễm môi trường vì cấu tạo của chất nilon là nhựa PE, PP có thời gian phân hủy từ hơn 10 năm đến cả nghìn năm Khi lẫn vào đất nó cản trở quá trình sinh trưởng của cây cỏ dẫn đến xói mòn đất Túi nilon làm tắc các đường dẫn nước thải, gây ngập lụt cho đô thị Nếu không có giải pháp thích hợp sẽ gây thoái hóa nguồn nước ngầm và giảm độ phì nhiêu của đất

Hàm lượng kim loại nặng như Al, Fe, Zn, Cu, Cr…trong bùn cống rãnh theo nước thấm vào đất Nó có thể tích lũy cao trong đất và là một trong những nguyên nhân gây

ô nhiễm nặng môi trường đất và nguy hiểm cho tất cả vi sinh vật trong môi trường

d Cảnh quan và sức khỏe con người [7]:

Việc thu gom không triệt để chất thải rắn đã dẫn tới tình trạng tắc cống rãnh, rác thải bừa bãi ra đường gây ra các mùi hôi khó chịu, ẩm thấp tạo điều kiện cho các loại sinh vật vi sinh vật có hại phát triển…Bên cạnh đó việc thu gom vận chuyển trong từng khu vực chưa chuẩn xác về thời gian, nhiều khi diễn ra vào lúc mật độ giao thông cao dẫn tới tình trang tắc nghẽn giao thông gây ô nhiễm và mất mỹ quan đô thị

Thành phần chất thải rắn phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết…tạo điều kiện tốt cho muỗi, chuột, ruồi… sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành dịch

Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng…tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao

Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải rắn nguy hại từ y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh

Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bãi rác và cho cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho người

1.2.5 Các nguyên tắc kỹ thuật trong quản lý chất thải rắn

Thứ tự ưu tiên trong quản lý tổng hợp CTR là:

Phòng ngừa  Giảm thiểu  Tái sử dụngTái chế Thu hồi  Chôn lấp

a Quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn [6]:

Quản lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn bao gồm hoạt động nhặt, tập trung và phân loại chất thải rắn để lưu trữ, chế biến chất rắn trước khi được thu gom Trong quản

lý và phân loại chất thải rắn tại nguồn các loại nhà ở và công trình phân loại dựa vào số tầng Ba loại thường được sử dụng nhất là:

Nhà thấp tầng: dưới bốn tầng

Nhà trung tầng: từ bốn đến bảy tầng

Trang 29

Xuyên

Nhà cao tầng: trên bảy tầng

b Thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn [6]:

Thu gom CTR là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà máy, các công sở hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lắp

Dịch vụ thu gom rác thải thường có thể chia ra thành các dịch vụ” sơ cấp” và “thứ cấp” Việc thu gom phải đi qua một quá trình hai giai đoạn: thu gom rác từ các nhà ở

và thu gom rác tập trung về chỗ chứa trung gian rồi từ đó lại chuyển tiếp về trạm trung chuyển hay bãi chôn lắp Giai đoạn thu gom sơ cấp ảnh hưởng trực tiếp đối với người dân cũng như đối với mỹ quan đô thị và hiệu quả của các công đoạn sau đó

Do vậy, thu gom sơ cấp sẽ được cần đến trong mọi hệ thống quản lý thu gom và vận chuyển, còn thu gom thứ cấp lại phụ thuộc vào các loại xe cộ thu gom được lựa chọn hay có thể có được và vào hệ thống và các phương tiện vận chuyển tại chỗ Khi thu gom rác thải từ các nhà ở hay công sở thường ít chi phí hơn so với việc quét dọn chúng từ đường phố đồng thời cần phải có những điểm chứa ở những khoảng cách thuận tiện cho những người có rác và chúng cần được quy hoạch, thiết kế sao cho rác thải được đưa vào thùng chứa đựng đúng vị trí tạo điều kiện thuận lợi cho thu gom thứ cấp

Hệ thống thu gom và vận chuyển chất thải rắn được chia thành hai loại dựa theo kiểu vận hành gồm: hệ thống thùng di động, hệ thống xe thùng cố định

- Hệ thống xe thùng di động là hệ thống thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác được chuyên chở đến bãi thải rồi đưa thùng không về vị trí tập kết rác ban đầu Hệ thống này phù hợp để vận chuyển chất thải rắn từ các nguồn tạo ra nhiều chất thải rắn, cũng có thể nhắt thùng rác đã đầy lên xe và thay bằng thùng rỗng tại điểm tập kết

- Hệ thống xe thùng cố định là hệ thu gom trong đó các thùng chứa đầy rác vẫn

cố định đặc tại nơi tập kết rác, trừ một khoảng thời gian rất ngắn nhất lên đổ rác vào xe thu gom (xe có thùng xung quanh làm thùng)

1.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

1.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên

a Công tác thu gom vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên:

Theo quy định của Công ty Môi Trường Đô Thị thành phố An Giang tiến hành lấy rác sinh hoạt tại các hộ gia đình là hai lần/ ngày, đối với rác cơ quan, trường học, bệnh viện, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ là hai-ba lần/ngày [1]

Mỗi tổ có ba đội luân phiên nhau theo một chu trình khép kín nhằm tạo điều kiện cho các tổ hỗ trợ nhau khi cần thiết, các thành viên phải nắm rõ hết những tuyến đường trong khu vực Tổ quản lý để thực hiện công việc thuận tiện, chủ động [1]

Trang 30

Xuyên

b Quy trình thu gom rác hộ dân:

Công nhân thu gom rác hộ dân chủ yếu bằng xe kéo tay, mỗi xe có một công nhân đảm trách thu gom, các tuyến đường nhỏ hẹp, hẻm cụt được bố trí thùng rác chung tại

vị trí thuận lợi nhất cho người thu gom Các tuyến đường chính trong nội thành sẽ do các xe ép trực tiếp đi thu gom với ba công nhân và một tài xế Đối với trục đường Quốc

lộ 91 đi qua địa bàn thành phố là đường Trần Hưng Đạo thì do xe với một công nhân đi thu gom hai tuyến ngược chiều nhau về phía mỗi bên đường

Trung bình rác thải tại mỗi hộ gia đình trong ngày từ ba kg đến bốn kg, mức lệ phí thu gom rác hộ dân ở thành phố dao động từ 10.000-15.000 đồng/tháng hộ, các cá nhân kinh doanh tại chợ phải đóng một khoảng phí là 150.000 đồng/tháng Chi phí trên phụ thuộc vào lượng rác phát sinh cho từng loại hình kinh doanh những người buôn bán nhỏ đóng mức phí là 20.000 đồng/ngày Đối với các quán ăn, nhà hàng ở quy mô nhỏ, các

cơ quan, trường học thì chi phí thu gom dao động trong khoảng 30.000-70.000 đồng/tháng, còn đối với các nhà hàng, khách sạn với quy mô lớn, các nhà máy, xí nghiệp sản xuất kinh doanh chi phí từ 60.000-300.000 đồng/tháng [1]

Hiện nay, việc thu gom rác từng địa phương đang được UBND thành phố bàn giao cho tư nhân với phương thức hợp đồng tùy theo từng khu vực với mức giá hợp đồng khác nhau, tạo điều kiện cho mọi người cùng tham gia thu gom rác, tạo mỹ quan cho

đô thị

Tuyến đường thu gom vận chuyển rác: có 28 tuyến [1]

Đoạn đường thu gom vận chuyển rác từ 10 km-25 km [1]

Thời gian thu gom và vận chuyển rác: chia làm 2 giờ

- Sáng thu gom và vận chuyển rác từ: 4h30’ đến 9h

- Chiều thu gom và vận chuyển rác từ: 13h45’ đến 19h

Thời gian hoàn thành một tuyến đường thu gom từ : 1h30’ đến 4h30’ Tổ Thu gom rác chợ: 2-3 lần/ ngày, kết hợp với tổ thu gom

Bãi trung chuyển: có khoảng 74 bãi trung chuyển lớn nhỏ nằm rãi rác tại các điểm phường, xã chia làm nhiều giờ lấy rác khác nhau [1]

Đội Vệ sinh môi trường quét và thu gom rác:

- Tổng diện tích làm việc: 745.073 m2 [1]

- Tổng lượng rác thu gom: 120-213 tấn/ngày [1]

- Rác sinh hoạt: 173 tấn/ngày [1]

- Rác công nhiệp: 40 tấn/ngày [1]

- Tổng số công nhân: 51 người [1]

Hiện nay, việc thu gom chất thải rắn trên địa bàn thành phố Long Xuyên chủ yếu được thực hiện bởi Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang Tuy nhiên, các tuyến đường và hẻm nhỏ mà xe ép của Công ty không vận hành lấy rác trực tiếp được thì phường tự tổ chức lực lượng thu gom rác sau đó tập trung về các bãi tập kết rác do

Trang 31

Xuyên

phường, xã tự thành lập và hợp đồng với Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang hàng ngày đến lấy

Dụng cụ bảo hộ lao động công nhân trong từng đội môi trường được trang bị bảo

hộ lao động: đồng phục, găng tay, giày, nón, khẩu trang, áo phản quang, áo mưa…nhằm bảo vệ sức khoẻ cho người công nhân cũng như giúp cho công tác thu gom nhanh chóng

và hợp vệ sinh dụng cụ lao động: Chổi, xẻng, đèn bão

Tại các điểm hẹn thu gom vẫn còn ô nhiễm môi trường một phần do phương tiện vận chuyển còn thô sơ, xe kéo tay chưa có nắp đậy Tuyến thu gom chưa được xây dựng hợp lý nên vẫn còn nhiều hộ gia đình chưa được thu gom rác, điều này dẫn đến tình trạng nhiều hộ gia đình vứt túi rác thải xuống sông kênh, rạch gây ô nhiễm nguồn nước mặt, bốc mùi hôi thối

Một nguyên nhân khách quan gây khó khăn cho công tác thu gom là ý thức của người dân về thói quen gìn giữ vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố vẫn còn thấp

c Công tác thu gom rác chợ:

Trên địa bàn thành phố Long Xuyên hiện nay có tổng cộng 11 chợ Trong đó chợ Long xuyên là chợ trung tâm đều mối lớn nhất hoạt động hầu như 20 giờ/ngày, các chợ vừa như: chợ Mỹ Bình, chợ Mỹ Xuyên, Mỹ Thạnh, Mỹ Quí hoạt động từ 6h30 đến 17h30 chiều, các chợ nhỏ còn lại chỉ hoạt động từ sáng đến 12h trưa tan chợ [1] Cho thấy đa số các chợ chỉ nhóm hợp vào buổi sáng, nên việc thu gom rác thải do các tổ thu gom của mỗi phường phụ trách thu gom sau mỗi ngày từ 13h đến 14h cùng ngày Riêng các chợ hoạt động đến 17h30 sẽ được thu gom vào hai khung giờ: từ 12h30 đến 14h sau khi tan chợ buổi sáng và chiều từ 18h đến 19h30 Các đội quét rác và thu gom rác chợ chỉ thực hiện công việc quét và thu gom rác đến các vị trí nằm trên tuyến đường đi của xe ép rác sẽ được đội thu gom rác đường phố thu gom Các ngày lễ, tết số lần thu gom rác được tăng lên và phân công các đội tăng ca bảo đảm giữ cho chợ luôn thông thoáng nhưng không gây tắt nghẽn giao thông bằng xe kéo tay [1]

củ, các vựa trái cây, vựa cá…công việc thu gom rác gặp nhiều khó khăn do tiểu thương

có nhận thức kém về môi trường không nên khu vực này thường xuyên bị nước ngập

do các hộ kinh doanh thải ra ngoài lối đi, ngoài ra các loại rác thải hữu cơ cũng được

Trang 32

Xuyên

thải ra nay, nước và rác thực phầm thừa vức khắp nơi làm bốc mùi hôi thối ở nghiều nơi trong chợ thường xuyên Từ những việc làm trên chưa tạo được thiện cảm giữa công

nhân vệ sinh và các tiểu thương

d Công tác thu gom rác đường phố:

Công tác thu gom rác đường phố do hai tổ chuyên phụ trách luận phiên vào hai thời điểm buổi sáng và buổi tối Công nhân vệ sinh chịu trách nhiệm thu gom, quét dọn những tuyến đường chính trong điểm, các tuyến dân cư

Công ty chia đường ra làm ba cấp độ khác nhau để đảm bảo công việc đạt kết quả cũng như chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao nhất vì tính chất và số lượng rác của mỗi tuyến là khác nhau

Đường cấp một: Đường bêtông-nhựa nóng là những tuyến trọng điểm chính của thành phố bao gồm: đường Trần Hưng Đạo, đường Nguyễn Trãi, đường Hà Hoàng Hổ, Nguyễn Trường Tộ, các con đường quanh Quảng trường Tôn Đức Thắng

Đường cấp hai: Đường nhựa và xi măng chủ yếu là những tuyến đường nhỏ nằm trong khu dân cư, các con hẻm khu phố

Đường cấp ba: đường đất, đá dăm thuộc những con đường mới mở ở các khu dân

cư thuộc các phường xã ngoại thành

Đối với đường cấp một và hai được quét và thu gom rác nhiều lần trong ngày Buổi sáng bắt đầu từ 8h-11h30, buổi chiều từ 14h30-19h Tổ làm đêm phụ trách quét đường từ 23h-4h30 sáng ngày hôm sau

Chất lượng vệ sinh của quá trình thu gom đạt kết quả cao với các loại đường cấp một và hai Mặc dù quy trình thu gom được thực hiện liên tục trong ngày, thế nhưng sau khi quét xong chưa được bao lâu thì mặt đường lại xuất hiện rác do một số người dân không có ý thức quăng rác ra đường

Do đường cấp ba chưa hoàn thiện, những con đường chưa trải nhựa nên công việc quét đường ở đây rất mất nhiều thời gian do đường bị ngập nước, chất lượng vệ sinh ở đây chưa đạt

Nhận xét :

Các tuyến đường trên địa bàn thành phố Long Xuyên đa số dài, và một số có lề rộng, chỉ quét đường không quét đường chợ Đối với các đường cấp một, cấp hai được quét ít nhất là hai lần trong ngày Một số tuyến đường cấp ba, hay các tuyến đường hay

bị ngập nước, đường lồi lõm thì chất lượng vệ sinh chưa tốt

Nhìn chung các tuyến đường đều được bố trí quét và thu gom rác Tuy nhiên, tình trạng vệ sinh đường phố, chợ và nơi công cộng chưa đảm bảo do nhiều yếu tố khách quan như: ý thức người dân, thời tiết và cả ý thức và trách nhiệm của công nhân vệ sinh Bên cạnh đó vào giờ cao điểm gây khó khăn cho công nhân vệ sinh trong quy trình quét đường cũng như di chuyển và dùng xe đẩy hốt rác do đó chất lượng vệ sinh của các tuyến đường chưa được tốt

e Lộ trình lấy rác tại các điểm hẹn:

Hệ thống vận chuyển :

Trang 33

Xuyên

Công việc vận chuyển khối lượng rác thu gom ở địa bàn thành phố đều do Công

ty Môi Trường Đô Thị An Giang đảm nhận thực hiện Bao gồm tám xe tải lớn tiến hành thu theo tuyến đường quy định chia làm hai ca thu gom: ca sáng một chuyến/ngày, ca chiều hai đến ba chuyến/ngày và vận chuyển về bãi rác Bình Đức để tiến hành chôn lấp Lao động và phương tiện :

Tổng số cán bộ và nhân viên của đội gồm 40 người, đa số là nam Phương tiện vận chuyển gồm 10 đầu xe cơ giới gồm: xe ép, xe tưới nước, xe tải ben Cũng giống như công nhân ở các đội môi trường, thì các công nhân ở đội vận chuyển cũng có đầy

đủ đồ bảo hộ lao động như: Đồng phục, găng tay, giày, nón, khẩu trang, áo phản quang,

1.3.2 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Long Xuyên

Cũng giống như các đô thị khác trong cả nước, CTRSH của thành phố Long Xuyên nói riêng, cũng như trong cả tỉnh nói chung đều đem đi chôn lấp

Hiện nay, CTRSH từ điểm trung chuyển được vận chuyển đến bãi chôn lấp Bình Đức

Địa điểm bãi chôn lấp Bình Đức: phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên Tỉnh

An Giang Với diện tích 3,5 ha đang hoạt động và chỉ tiếp nhận CTRSH

a Hiện trạng phân loại rác tại nguồn:

Hiện nay quy trình thu gom phân loại rác tại thành phố Long Xuyên chỉ là thu gom rác hỗn hợp gồm rác thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế từ các phòng mạch Cơ cở vật chất lạc hậu, thô sơ

Việc thực hiện phân loại rác sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố vẫn chưa được thực hiện với nhiều lý do Do vậy, về lâu về dài cùng với sự phát triển của thành phố với khối lượng rác thải năm sau nhiều hơn năm trước thì việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn cần phải được thực hiện trong thời gian sớm nhất, nếu điều kiện cho phép

Nguyên nhân chính của việc chưa thể thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn do nhiều nguyên nhân :

Trang 34

- Thứ ba nhận thức của người dân còn kém nên khó khăn trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn công tác phân lại tại nguồn cũng như nguồn, chưa có một chương trình tuyên truyền giáo dục môi trường về phân loại rác tại nguồn trên địa bàn thành phố thông qua các kênh thông tin, điều này nó thể hiện qua kết quả khảo sát có khoảng 47% người dân trên địa bàn thành phố chưa hiểu biết công việc phân loại rác sinh hoạt tại nguồn

Qua kết quả của cuộc khảo sát nói trên, trước tiên chúng ta cần xây dựng một chương trình tuyên truyền giáo dục môi trường sâu rộng trong người dân mà cụ thể về chương trình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn như thế nào, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng như phổ biến tới từng khu phố thông qua sinh hoạt của tổ dân

phố hay các đoàn thể xã hội

b Lưu trữ tại nguồn:

Rác thải sinh hoạt từ các nguồn phát sinh khác nhau được lưu trữ dưới các dạng thùng chứa khác nhau và theo những cách khác nhau tuỳ Rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình chủ yếu chứa trong các thùng chứa bằng nhựa, cần xé và một số ít chứa trong các túi nylon và đặt trước nhà vào khoảng thời gian thu gom rác hộ dân theo quy định Tại các chợ, cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện, rác sinh hoạt được thu gom tập trung tại một điểm theo quy định trước khi xe thu gom đến vận chuyển đi Trên một số tuyến đường chính trong thành phố có đặt thùng rác 120L và 240L Tuy nhiên,

các thùng rác đường phố hiện nay chủ yếu là chứa rác từ các gia đình lân cận

c Hệ thống chung chuyển:

Chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và tập trung tại các điểm tập kết rác tạm thời, sau đó được xe ép rác vận chuyển đến bãi rác Bình Đức Riêng rác tự quản phường Bình Đức tự vận chuyển đến bãi rác Bình Đức bằng xe ba gác

d Hiện trạng tái chế:

Hiện nay, công ty chưa có phương án tái chế, tái sử dụng các nguồn phế liệu từ rác thải Chỉ có một bộ phận nhỏ những người nhặt rác, họ nhặt lấy các vật có thể bán được hoặc đồ có thể tái sử dụng, để bán cho các cơ sở thu mua trên địa bàn thành phố, nguồn phế liệu được thu mua chủ yếu là: giấy, nhựa, lon nhôm, đồng, lốp xe hơi, xe tải…nhưng với số khối lượng không đáng kể

Công việc tái chế rác thải vô cơ: kim loại, thuỷ tinh , giấy, nhựa chưa có, thực tế chỉ là các cá thể tự phát lân cận khu vực bãi rác Bình Đức thu gom chai lọ, kim loại bán được, bao bì, bọc nhựa các loại xử lý bằng cách phơi khô bán cho các vựa thu mua phế liệu trước công vào khu vực bãi rác Đa số những người nhặt phế liệu là dân hộ nghèo thiếu kiến thức nên đội ngũ này đã vô tình làm cho môi trường quanh các bãi trung chuyễn, bãi rác trở nên bừa bãi và gây nguy hiểm cho bản thân họ nhất là với trẻ em vì bị nhiễm trùng từ các mãnh thủy tinh, kim loại…Cần phải có chính sách hổ trợ, phổ biến kiến thức bảo hộ lao động cho đội ngũ này và khuyền khích các cơ sở tái chế tái sử dụng

Trang 35

Xuyên

các vật liệu phế thải từ rác nhầm tạo điều kiện đề các cở này tồn tại đồng nghĩa với việc làm giảm lượng rác thải sinh hoạt của thành phố

e Hiện trạng môi trường tại bãi chôn lấp rác Bình Đức:

Hình 1.6 Thành phần chất thải rắn tại bãi rác Bình Đức năm 2016

Quy trình kỹ thuật chôn lấp ở bãi rác Bình Đức chủ yếu là thô sơ, rác thải được đưa tới bãi chôn lấp bằng các loại xe tải và các xe này sẽ chở trực tiếp rác tới ô chôn rác Tại mỗi ô chôn rác, rác được san phẳng và được đầm nén kỹ bằng xe chuyên dùng Tại đây chưa có hệ thống thu gom nước rỉ rác

Để xử lý mùi hôi tại bãi chôn lấp, chế phẩm được sử dụng chủ yếu ở đây là chế phẩm vi sinh EM (Effective Microorganism) để giảm mùi hôi vào mùa khô Hàng ngày phải phun EM trên các diện tích rác mới đổ Tuỳ tình hình phát sinh mùi hôi trên mỗi ô chôn rác mà tăng hoặc giảm số lần phun để đạt yêu cầu

Vì là bãi rác hỡ nên khu vực trong và ngoài bãi rác có rất nhiều ruồi đen làm nơi trú ngụ gây ảnh hưởng sức khỏe các hộ dân trong khu quanh đó thường nhiễm các bệnh đường tiêu hóa: tiêu chải, dịch tả do ruồi đen đậu bám vào thức ăn

Việc xử lý nước rỉ rác chỉ mới trong giai đoạn kiểm tra thành phần sinh hóa, nên lượng nước rỉ rác thải ra khu vực đất thấp đang canh tác nông nghiệp gần bãi rác, vào mùa mưa lượng nước rỉ rác cùng với nước mưa tràn ra kênh rạch gần đó làm ô nhiễm nguồn nước

Hiện nay, bãi rác chưa có hệ thống hay công trình xử lý chất thải hợp vệ sinh Lượng nước rỉ rác từ rác thải và khói thải từ việc đốt rác cũng chưa được thu gom và

xử lý, gây ô nhiễm môi trường không khí và nước nghiêm trọng, nhất là vào mùa mưa

Tỷ lệ chất thải tại bãi rác Bình Đức

Chất hữu cơ dễ phân hủy (rau củ quả, thức ăn thừa,

lá cây ) Chất hữu cơ khó phân hủy (Vỏ sò, ốc, sương bò…)

Chất vô cơ (Sành, sứ, thủy tinh…)

Chất có thể tái chế - tái sinh (Nhựa, vải, giấy, kim loại, gỗ…)

Chất nguy hại: (pin, bóng đèn )

Trang 36

Xuyên

Khối lượng rác ngày càng tăng một cách nhanh chóng theo sự phát triển dân số của thành phố, hàng năm tăng thêm một lượng khoảng 5%-6% [1] Với sự gia tăng này, nếu không có sự quy hoạch hệ thống quản lý chất thải rắn nhằm giải quyết vấn đề rác thải trong tương lai sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng

Rác sinh hoạt:

Công tác thu gom và quản lý CTR trên địa bàn thành phố hiện nay chỉ mới đạt mức tương đối, công việc thu gom được 70% lượng rác sinh hoạt [7] CTR sinh hoạt chủ yếu là các loại rác hữu cơ dể phân hủy: thực phẩm thừa, gỗ , giấy, vỏ trái cây, thùng carton, rác vườn, rác vô cơ: kim loại, mãnh vỏ thủy tinh, nhựa, bộc nilon, vải…Lượng rác 30% không thu gom được tập trung ở các phường ngoại thành và các hộ dân sống ven kênh rạch, nhà nổi, các hẻm nhỏ khu ổ chuột…nhiều hộ gia đình vứt rác xuống lòng kênh làm ô nhiễm nguồn nước mặt hay còn nhiều bãi rác phát sinh gần chợ chưa được thu gom nằm rãi rác ở các phường trong và ngoài thành phố tạo mùi hôi thối làm mất

mỹ quan, đây là vấn đề khó khăn vần phải đưa ra hướng giải quyết trong thời gian tới sớm nhất để cải thiện tình hình môi trường thành phố

Rác công nghiệp:

Ngành công nhiệp chủ yếu là may, sản xuất và chế biến thực phẩm: nông sản, thuỷ sản, may gia công Với mức độ phát triển thời điểm hội nhập như hiện nay thì lượng chất thài rắn thải ra từ các xí nhiệp, cơ sở sản xuất ngày càng tăng Tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về quản lý chất thải rắn công nghiệp cho thành phố Từ trước đến nay rác công nghiệp được thu gom chung với rác sinh hoạt là nguyên nhân của các mầm bệnh vì trong rác công nghiệp có mặt các chất thải độc hại, kim loại nặng…gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân thu gom rác và sức khoẻ các hộ gia đình gần bải rác thành phố Ngoài ra lượng nước rỉ từ rác chưa được xử lý tràn ra kênh rạch vào mùa mưa làm ô nhiễm nguồn nước mà đa số các hộ dân quanh khu vực bãi rác đều dùng nước từ các kênh rạch làm nước sinh hoạt

Rác Y Tế:

Rác Y tế hiên nay cũng là vấn đề đáng lưu ý Hầu hết các bệnh viện trên địa bàn thành phố hiện nay: Bệnh Viện Đa Khoa, Bệnh viện Tim Mạch, Bệnh Viện Hạnh Phúc, Bệnh Viện Bình Dân…kim tiêm, chai (lọ) thuốc, hộp giấy, bông gòn, băng keo…đều được thu gom rác thải đem thiêu đốt hoàn toàn Tuy nhiên nhiều phòng mạch tư nhân ngày càng nhiều gây khó khăn trong việc thu gom rác y tế Đây là vấn đề nhiêm trọng có khả năng lây nhiễm cao, kim tiêm, mãnh vỡ thủy tinh từ lọ thuốc tại các phòng mạch cho vào thùng rác hinh hoạt là tác nhân trực tiếp gây nguy hiểm cho công nhân thu gom rác Thành phần rác thải sinh hoạt của thành phố chủ yếu là rác thực phẩm có độ ẩm

và hàm lượng hữu cơ cao (gần 65%) [7] Nếu không được thu gom, vận chuyển kịp thời

sẽ gây ra ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, với lượng hữu cơ trong rác cao, nếu lượng rác hữu cơ này được phân loại tại nguồn để chế biến phân compost sẽ giảm được một phần đáng kể diện tích bãi chôn lấp

Qua đó ta thấy CTR sinh hoạt thành Phố Long Xuyên không đồng nhất và rất phức tạp qua Hình 1.6 cho thấy thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trên 70% dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong rác và gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường thành phố [7]

Trang 37

sử dụng phế liệu và xử lý hiệu quả CTRSH cũng như nước rỉ rác

Đối với các phương tiện thu gom lỗi thời cần được đổi mới bằng những phương tiện mới nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khỏe cho người công nhân lao động

và cho cả người dân, đồng thời góp phần xây dựng thành phố văn minh, sạch đẹp

Về mặt nào đó có thể nói đội hình dân lập hay còn gọi là cộng tác viên đóng vai trò quan trọng trong công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình Hiệu quả thu gom này sẽ tốt hơn nếu lực lượng này được quản lý tốt hơn

Nhận thức về bảo vệ môi trường của cộng đồng còn yếu Mọi người chưa có trách nhiệm về giữ gìn vệ sinh chung Còn có hiện tượng rác vức bừa bãi ra đường, phố, chợ

và ven bờ ao

CTR thải chưa được phân loại tại nguồn, hầu hết đều đem đi chôn lấp CTR thu gom xử lý bằng phương pháp chôn lấp không có kiểm soát Chất thải đem đi chôn lấp chưa xác định được nguồn gốc Bãi rác không có lớp chống thấm đạt yêu cầu, vận hành không đúng kỹ thuật, không xử lý nước rỉ rác cũng như không có hiện tượng quan trắc môi trường

Ít có sự tham gia của cộng đồng

Không phải tất cả các hộ dân đều tự giác đóng phí thu gom CTR, việc thu phí vệ sinh từ nhân dân gặp nhiều khó khăn

Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho công tác quản lý chất thải rắn còn hạn chế

Đối với các điểm hẹn tự phát gây ô nhiễm môi trường sống của người dân khu vực lân cận cần có biện pháp giải quyết hoặc phải xóa bỏ chọn nơi khác hợp lý hơn

Cần tính toán, sắp xếp lại số công nhân thu gom hoạt động trên từng phường để

có thể quản lý được công tác thu gom sâu xác hơn

Các lộ trình thu gom-vận chuyển hiện nay vẫn chỉ được vạch dựa trên kinh nghiệm

và thực hiện trên bản đồ giấy, do đó khó xét đến các yếu tố như: đường một chiều, giờ cao điểm, chiều rộng đường, tình trạng dân cư…để tìm được phương án tối ưu Ngoài

ra, phương pháp vạch tuyến thủ công chỉ thực hiện dựa theo kinh nghiệm và ước lượng chứ không có sự tính toán cộng thêm giấy phép đựơc chạy vào tất cả các đường kể cả đường cấm như hiện nay của công ty dịch vụ môi trường đô thị dẫn đến tình trạng hao phí nhiên liệu và năng suất lao động không cao cũng như gây mất vẻ mỹ quan của thành phố Do vậy cần thiết phải có việc áp dụng công nghệ thông tin vào việc vạch tuyến để xem xét tất cả các đặc tính của con đường cũng như việc chọn đường đi ngắn nhất nhằm đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường mà vẫn đạt hiệu quả thu gom-vận chuyển trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và từng bước áp dụng công nghệ

Trang 38

Xuyên

1.3.4 Hệ thống quản lý

a Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

Hình 1.7 Sơ đồ hệ thống quản lí của thành phố Long Xuyên

b Đối với Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang:

Hình 1.8 Sơ đồ hệ thống quản lí của công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An

ĐỘI CÔNG VIÊN CÂY

UBND huyện

Tổ hợp tác

UBND phường, xã

Phòng tài chính &

kế hoạch huyện

Trang 39

Xuyên

1.4 QUY TRÌNH THỰC HIỆN

1.4.1 Sơ đồ quy trình thực hiện

Hình 1.9 dưới đây là sơ đồ quy trình thực hiện toàn bô bài luận văn tốt nghiệp và được phân làm bốn nội dung chính: thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, thành lập bản đồ, đề xuất giải pháp

Hình 1.9 Sơ đồ quy trình thực hiện

Tìm hiểu về GIS

Thu thập các dữ liệu không gian, dữ liệu

thuộc tính cho dữ liệu không gian

Thu thập dữ liệu về điều kiện tự nhiên

Hành chính

MT và TNĐ

Dùng công cụ phân tích trong GIS

Phân chia số xe đẩy cho mỗi phường

Bố trí thùng rác trên các tuyến đường

Đề xuất các giải pháp

Bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh

Xây dựng bộ dữ liệu về quản lý CTR

Trang 40

Xuyên

Bước đầu tiên:

- Để thực hiện bài luận văn này là phải thu thập dữ liệu có liên quan, tìm hiểu các thông tin trên Internet, sách, báo

- Liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang xin bản đồ số đó là bản

đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ hành chính thành phố Long Xuyên

- Liên hệ công ty TNHH MTV Môi trường Đô Thị An Giang xin số liệu về CTR Bước thứ hai:

- Dùng máy GPS để xác định tọa độ của cơ quan quản lý (34 địa điểm), thùng rác (gần 300 thùng rác), điểm khảo sát nhà dân (200 hộ), vị trí trạm trung chuyển (74 trạm) Sau đó nhập dữ liệu vào excel và chuyển qua GIS tạo thành từng shapefile Khảo sát lượng chất thải rắn phát sinh, tuyến thu gom hiện tại

- Sau khi xin được số liệu bắt đầu thực hiện phân lớp dữ liệu lọc lấy các lớp dữ liệu cần dùng để tạo bộ cơ sở dữ liệu nền gồm có các lớp như: địa hình (4 lớp), giao thông (4 lớp), hành chính (5 lớp), môi trường và tài nguyên đất (1 lớp) sau đó tiến hành tạo các trường thuộc tính theo đúng cấu trúc cơ sở dữ liệu hệ thông tin địa lý quốc gia

về môi trường và thêm các thuộc tính sao cho phù hợp với thành phố Long Xuyên

- Tạo lớp dữ liệu chuyên đề là chất thải rắn sau đó chuyển các lớp shapefile đã tạo vào bộ dữ liệu chuyên đề Lớp dữ liệu chuyên đề gồm có các lớp như: cơ quan quản lý, điểm khảo sát, điểm dọc tuyến, tuyến thu gom, trạm trung chuyển (trạm trung chuyển hiện tại và trạm trung chuyển đề xuất), tuyến thu gom đề xuất, bố trí thùng rác, vùng sử dụng thùng rác, xử lý chất thải rắn

- Tiến hành tính toán phân bố lại số xe thu gom, xe đẩy tay và số công nhân cho các xã phường Bố trí lại số lượng thùng rác

- Đề xuất các giải pháp quản lý

Ngày đăng: 09/04/2019, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w