1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại đường quy hoạch số 30 thuộc dự án xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa tỉnh tại phường tân bình thị xã đồng x

90 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất quy định tại Điều 75, Luật đất đai 2013 sau đây được viết tắt là LĐĐ thì được bồi thường về đất Khoả

Trang 1

Bảng 2.4 Tổng hợp đối tượng bị thu hồi đất được nhận hỗ trợ 26

Bảng 2.5 Bảng tính kết quả giá trị bồi thường, hỗ trợ bà Nguyễn Thị Dìm đợt 4 45

Bảng 2.6 Bảng tính kết quả tính giá trị bồi thường, hỗ trợ bà Nguyễn

Bảng 2.7 Bảng tính kết quả tính giá trị bồi thường, hỗ trợ bà Nguyễn

Bảng 2.8 Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ ông Nguyễn Văn Quân 52

Bảng 2.9 Bảng tính kết quả tính giá trị bồi thường, hỗ trợ ông

Nguyễn Văn Quân trong đợt bồi thường số 6 53 Bảng 2.10 Kết quả bồi thường về đất tính đến ngày 14/1/2017 55

Bảng 2.11 Kết quả bồi thường về tài sản gắn liền với đất tính đến

Bảng 2.12 Kết quả hỗ trợ tính đến ngày 14/1/2017 56

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội là sự gia tăng nhu cầu sử dụng đất của tất cả các mục đích và lĩnh vực Tuy nhiên, quỹ đất đai bị hạn chế và nhiều khi bị hạn chế khả năng sử dụng do sạt lở, xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm… Do đó,

để có thể cân đối và đáp ứng nhu cầu cho tất cả các ngành, các lĩnh vực là công việc cần thiết nhưng vô cùng khó khăn Hay nói cách khác, để quỹ đất đai của quốc gia được đưa vào khai thác có hiệu quả, tiết kiệm mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của tất cả các ngành, các lĩnh vực là công việc không đơn giản

Để làm được điều đó, Nhà nước đề ra nhiều chính sách, biện pháp, từ quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất; xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật; đánh giá, chọn lựa đối tượng sử dụng có hiệu quả để giao hoặc cho thuê đất; kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất sau khi đã giao hoặc cho thuê; đảm bảo quyền của người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, khai thác đất… Trong quá trình đó, nhiều khi Nhà nước buộc phải chấm dứt việc sử dụng đất trước thời hạn của những người sử dụng đất vào một mục đích được giao để phục vụ cho mục đích

sử dụng đất khác hiệu quả hơn Quyết định hành chính thu hồi đất gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất hiện tại Do vậy, Nhà nước có chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất

Tuy nhiên, người sử dụng đất có được đất đai theo nhiều cách khác nhau; khác nhau về hình thức sử dụng đất (giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất trả tiền thuê hàng năm, thuê đất trả tiền thuê một lần), khác nhau về thực hiện nghĩa vụ tài chính (có người được miễn, có người được giảm và có người không được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất), khác nhau về nguồn gốc đất đai (do khai hoang, thừa kế, chuyển nhượng, lấn chiếm, ); cho nên quyền lợi của các người sử dụng đất cũng không giống nhau Từ đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ cho từng đối tượng sẽ khác nhau Hơn nữa, khi thu hồi đất, ngoài bồi thường về đất, Nhà nước còn phải xem xét bồi thường tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại

Thị xã Đồng Xoài là trung tâm của tỉnh Bình Phước, là vùng có mật độ dân cư đông đúc, tốc độ đô thị hóa cao, được xác định là một trong những vùng

để tạo động lực phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội nói chung của tỉnh Bình Phước Với định hướng tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, công nghiệp và

du lịch

Để làm được điều đó, đã nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng - kỹ thuật, vui chơi giải trí, dịch vụ…đã được triển khai thực hiện mạnh mẽ Dự án “Xây

Trang 4

dựng hai tuyến đường để phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” là một dự án quan trọng của thị xã Đồng Xoài Để thực hiện các dự án này, hoạt động thu hồi đất và thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi thường xuyên diễn ra Tuy nhiên, thu hồi đất là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân, vì vậy đã gặp phải không ít khó khăn do các trường hợp khiếu nại, khiếu kiện của một số người dân có đất bị thu hồi không được bồi thường,

hỗ trợ xứng đáng gây nên tình trạng chậm trễ trong công tác bồi thường, hỗ trợ

Để công tác thu hồi đất được thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất bị thu hồi đất, tránh trường hợp khiếu nại, khiếu kiện đông người như đơn giá bồi thường không hợp lý, kiểm kê thiếu, xét duyệt hồ sơ chưa đầu đủ, vừa gây mất trật tự xã hội mà còn kéo dài thời gian ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án thì công tác phân loại, xử lý hồ sơ giải quyết bồi thường phải thực hiện nghiêm túc

Chính sách đất đai đã có những quy định về quy trình, nguyên tắc, điều kiện bồi thường Nhưng thực tế, nguồn gốc sử dụng đất rất phức tạp nên khi thực hiện bồi thường cần xác định căn cứ pháp lý của bồi thường, đối tượng được bồi thường và hỗ trợ, mức bồi thường thiệt hại về đất khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho việc hoàn thành các dự

án trên địa bàn cả nước nói chung và thị xã Đồng Xoài nói riêng Để các dự án

có thể triển khai và hoàn thành thì công tác xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là rất quan trọng, nắm vai trò then chốt Có thể nói, xử lý

hồ sơ bồi thường và hỗ trợ là công việc quyết định đến tiến độ thu hồi đất Chính

vì vậy, việc thực hiện đề tài “Xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất taị Đường quy hoạch số 30 thực hiện dự án Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại Phường Tân Bình, Thị Xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” là thực sự cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến giải quyết công tác bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất

- Đất đai từ xưa đến nay là một tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất đối với một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân như Việt Nam

Do đó, vấn đề đất đai luôn là một vấn đề nhạy cảm và được quan tâm bậc nhất trong xã hội ngày nay Trong đó, công tác thu hồi đất, bồi thường và hổ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án là một vấn đề quan trọng và luôn nảy sinh nhiều vấn đề trong quá trình giải quyết Đã có nhiều bài viết, nhiều bài báo cáo, nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:

Luận văn Thạc sĩ về đề tài: “Thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi

nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành Phố Hà Nội hiện nay” của TS Trần Cao Hải Yến năm 2014 tại Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Luận văn đã tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Luận văn cũng đã tiếp cận và phân

Trang 5

tích, bình luận các quy định của Luật Đất Đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành của các quy định khác của pháp luật có liên quan Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, tác giả muốn làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến bồi thường hỗ trợ, khi nhà nước thu hồi đất để rút ra những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật về mảng đề tài này Quan trọng nhất, luận văn đã phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ

về đất đai và tài sản, so sánh với các quy định trước đây và qua thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, luận văn đã chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế, tồn tại, vướng mắc trong thực thi mảng pháp luật này trên địa bàn Thành phố Hà Nội, luận văn cũng đã cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, những định hướng cơ bản cho việc hoàn thiện mảng pháp luật này Hơn nữa luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp cơ bản về hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Luận văn Thạc sĩ về đề tài: “Đánh giá việc phân cấp quản lý nhà nước

trong việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, tái định cư tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” của Nguyễn Đức Bình, Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2013

Luận văn đã tìm hiểu thực trạng việc phân cấp quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại địa bàn Bài luận văn đã đưa ra được những vấn đề còn tồn tại trong việc phân cấp quản

lý Nhà nước tại đây như việc phân cấp trao quyền không tương đồng với trách nhiệm giải trình, phân cấp thực hiện nhiệm vụ chưa phù hợp với khả năng, năng lực Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn còn xu hướng tập trung quyền lực thu hồi đất cho Nhà nước, cụ thể ở đây là chính quyền địa phương Nhìn nhận vấn đề này ở góc độ thể chế nhà nước, rõ ràng vẫn còn nhiều điều cần cải thiện Cần xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm ở từng cấp chính quyền có thể giảm thiểu những rủi ro phát sinh trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ Qua sự cải thiện đó có thể hướng tới quản lý đất đai và xử lý các quan hệ liên quan đến một cách tối ưu, hiệu quả đối với địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng cũng như trên địa bàn cả nước Hạn chế tạo ra các xung đột xã hội do đất đai Đất đai trở thành nguồn lực quan trọng tăng trưởng và công bằng xã hội

Từ đó giúp các cơ quan cũng như cá nhân có thẩm quyền có thể thực hiện tốt hơn công tác quản lý cũng như giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với những người dân bị thu hồi đất Giúp đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồi đất

Luận văn Thạc sĩ về đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái

định cư của một số dự án trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị” của TS

Lê Thanh Bồn năm 2013 tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Luận văn đã tìm hiểu thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị Đồng thời bài luận văn đã khái quát và đánh giá công tác quản lý và sử dụng đất đai tại đây Qua đó đã nói được sự ảnh hưởng của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải phóng mặt bằng đã

Trang 6

góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đặt ra Đồng thời bài luận văn cũng chỉ ra được công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư vẫn còn nhiều bất cập, có nhiều trường hợp không công bằng trong cùng một dự án, trong cùng một vị trí, địa điểm, diện tích như nhau nhưng lại được đền bù, giải tỏa khác nhau Các dự án còn thiếu biện pháp khôi phục nguồn thu nhập tại nơi ở mới cho người được bố trí tái định cư Chỉ ra được các quy định về giá của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh về bồi thường về đất, về tài sản chưa sát với giá thị trường, chưa tạo được tâm lý thỏa mãn cho người dân Từ đó đưa ra những giải pháp như xác định đúng đối tượng và điều kiện bồi thường, về giá bồi thường, chính sách hỗ trợ và tái định cư cũng như công tác tổ chức thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhằm góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai

Các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ đề cập giải quyết các vấn đề về chính sách, nguyên tắc, quy trình, phương pháp và căn cứ pháp lý nói chung, còn việc xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ tại các dự án cụ thể thì chưa được làm rõ để thấy được những khó khăn mà cán bộ thụ lý hồ sơ gặp phải tại địa bàn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn này được thực hiện để giúp mọi người có cái nhìn rõ hơn về viêc tổng hợp và phân loại hồ sơ bồi thường và hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi; xác định được căn cứ pháp lý để giúp cho việc phân loại, xử lý hồ sơ được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Ngoài ra còn xác định được đối tượng, các hình thức, mức bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Phân tích thực trạng xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn Thị Xã Đồng Xoài thực hiện dự án “Xây dựng hai tuyến đường để phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” để chỉ ra những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ tại địa phương

- Từ những khó khăn nhận thấy được, đưa ra giải pháp xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn Thị Xã Đồng Xoài thực hiện dự án: “Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại Phường Tân Bình, Thị Xã Đồng Xoài, Tỉnh Bình Phước”

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Thẩm quyền của đơn vị quản lý nhà nước về đất đai

- Nguyên tắc, quy trình và phương pháp thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Trình tự thủ tục xử lý hồ sơ bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Tập trung tìm hiểu và nghiên cứu vào vấn đề xử lý hồ

sơ trong công tác bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất, tài sản trên đất tại Đường quy hoạch số 30 để thực hiện dự án “Xây dựng hai tuyến đường phục vụ Công viên văn hóa Tỉnh tại Phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài”

- Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017

- Phạm vi không gian: Địa bàn tại Phường Tân Bình, Thị xã Đồng Xoài, Tỉnh Bình Phước

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến bồi thường và hỗ trợ có liên quan đến dự án tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường, sách, mạng… để phục vụ cho việc nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: thống kê diện tích đất thu hồi, số đối tượng bị ảnh hưởng, phân loại hồ sơ, lập bảng số liệu từ các tài liệu, số liệu đã thu thập tại địa bàn nghiên cứu có liên quan đến dự án

- Phương pháp so sánh: So sánh công tác xử lí hồ sơ cũng như quy trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa phương so với luật hiện hành nhằm rút ra những thuận lợi, khó khăn và nêu lên biện pháp khắc phục góp phần hoàn thiện công tác giải quyết trên địa bàn huyện

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích, đánh giá các số liệu, tài liệu thu thập được từ đó tổng hợp lại, xử lý tính toán để nêu lên những vấn đề còn tồn tại và vướng mắc trong việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo dự án nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của những người am hiểu về nội dung cần nghiên cứu, các cán bộ tại đơn vị điều tra và giảng viên hướng dẫn

6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Hiểu được tầm quan trọng của công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất và nắm vững những nguyên tắc, điều kiện, đối tượng và quy trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Từ đó thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tránh tình trạng thiếu kiến thức và thực hiện sai khi

Trang 8

xử lý hồ sơ bồi thường, chậm trễ trong công tác chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ gây ảnh hương đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Làm rõ được các trường hợp vướng mắc trong việc xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Vận dụng các quy định của pháp luật

để đề xuất được các giải pháp giúp hoàn thiện công tác xử lý hồ sơ bồi thường

và hỗ trợ Đảm bảo được quyền và lợi ích của người sử dụng đất Cũng như công tác quản lý đất đai của nhà nước thêm chặt chẽ

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung của Luận văn được trình bày trong 78 trang với kết cấu như sau:

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại đường quy hoạch số 30 khi thực hiện dự án:

“Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại Phường Tân Bình, Thị Xã Đồng Xoài, Tỉnh Bình Phước”

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ KHI

NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1.1 Cơ sở lý luận của bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất

1.1.1 Các khái niệm chung

- Khái niệm về bồi thường

Việc thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án, cơ sở hạ tầng để phục

vụ cho mục đích chung là hết sức cần thiết Để thực hiện được điều đó thì Nhà nước tiến hành hoạt động thu hồi đất để có đủ diện tích đất phục vụ cho các dự

án Nhưng không vì thế mà làm tổn hại đến lợi ích của người sử dụng đất Chính

vì vậy khi quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ bồi thường thiệt hại Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất được quy định trong Khoản 12, Điều 3, Luật đất đai năm 2013

- Khái niệm về đền bù

Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ của các dự án,

là khâu đầu tiên thực hiện dự án Có thể nói “Giải phóng mặt bằng nhanh là một nửa dự án”, việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp lợi ích của nhà nước, chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của người bị thu hồi đất Trong đó đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng

Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư;

Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh” Không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối

Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân phải di chuyển Đó là họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhưng chắc chắn phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dân sống và ổn định Khái niệm “đền bù” xuất hiện từ Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 Từ khi Luật Đất Đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thống nhất cụm từ “bồi thường” thay cho “đền bù” và “đền bù thiệt hại”

- Khái niệm về hỗ trợ

Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất phải rời khỏi nơi ở cũ để đến một nơi ở mới Ngoài các khoản bồi thường nói trên, còn có một hình thức mà Nhà nước giúp đỡ những người mà có đất bị thu hồi, đó là hỗ trợ Hỗ trợ khi

Trang 10

Nhà nước thu hồi đất được hiểu là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển được quy định trong Khoản 14, Điều 3, Luật đất đai năm 2013

- Khái niệm về thu hồi đất

Ngược lại với giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai

Thu hồi đất được hiểu như là một quyết định hành chính thể hiện quyền lực của nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý nhà nước về đất đai Là biện pháp chế tài nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của người

sử dụng

Tại khoản 11 Điều 3 Luật đất đai 2013 có quy định cụ thể Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai

- Quyền của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

Quyền của người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất là khả năng mà pháp luật cho phép người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi nhất định trong quá trình sử dụng đất nhằm đảm bảo được quyền lợi của mình

Để công tác thu hồi đất được thực hiện một cách nhanh chóng thì cần có

sự hợp tác của người có đất bị thu hồi, có nghĩa là quyền lợi của họ phải được đảm bảo Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất quy định tại Điều 75, Luật đất đai 2013 (sau đây được viết tắt

là LĐĐ) thì được bồi thường về đất (Khoản 1, Điều 74, LĐĐ 2013); đối với các trường hợp không được bồi thường về đất quy định tại Điều 76, LĐĐ 2013, người sử dụng đất được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại; hộ gia đình,

cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường về đất và chi phí đầu tư còn lại vào đất (Điều 77, LĐĐ 2013); khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường (Khoản 1, Điều 88, LĐĐ 2013) nếu không thuộc trường hợp không được bồi thường tài sản gắn liền với đất quy định tại Điều 92, LĐĐ 2013; khi Nhà nước xây dựng công trình công cộng, quốc phòng, an ninh

có hành lang bảo vệ an toàn mà không thu hồi đất nằm trong phạm vi hành lang

an toàn thì người sử dụng đất được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất theo quy định của Chính phủ (Điều 94, LĐĐ 2013)

Trang 11

Ngoài việc được bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai, người

sử dụng đất còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ (Điều 83, LĐĐ 2013)

Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả (Điều 93, LĐĐ 2013)

- Nghĩa vụ của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

Nghĩa vụ của người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất là cách xử sự

mà pháp luật bắt buộc người sử dụng đất phải tiến hành trong quá trình sử dụng đất và trong quá trình nhà nước thu hồi đất nhằm không làm tổn hại đến quyền

và lợi ích hợp pháp của nhà nước và của các chủ thể sử dụng đất khác

Đi kèm quyền lợi là nghĩa vụ phải thực hiện, người sử dụng đất cũng có những nghĩa vụ của mình để tuân thủ pháp luật tốt hơn Điều đó được thể hiện trong Điểm c, Khoản 1, Điều 69, LĐĐ 2013 người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Điểm c, Khoản 1, Điều 69, LĐĐ 2013)

Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng

(Khoản 7, Điều 170, LĐĐ 2013)

- Thẩm quyền của cơ quan chức năng khi thực hiện thu hồi đất

Cũng giống như thẩm quyền giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thẩm quyền thu hồi đất được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh tùy vào đối tượng sử dụng đất Về cơ bản, nếu đối tượng sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, các đối tượng còn lại thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ngoại trừ trường hợp đối tượng sử dụng đất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về mua nhà ở tại Việt Nam thì thẩm quyền thu hồi đất thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện Tuy nhiên, từ khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành, thẩm quyền thu hồi đất cũng có một số thay đổi so với trước đây Đó là thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân cấp xã đang quản lý và khu đất bị thu hồi để giao hoặc cho thuê có nhiều đối tượng đang quản lý, sử dụng Cụ thể, theo điều 66 Luật Đất đai 2013 quy định:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp: + Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

Trang 12

+ Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của các xã, các phường, thị trấn

- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp: + Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

+ Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

- Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng bị thu hồi đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân 2 cấp thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất

1.1.2 Vị trí và vai trò của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất trong hệ thống quản lý nhà nước về đất đai

- Vị trí và vai trò của thu hồi đất

Thu hồi đất có một vị trí vô cùng quan trọng là công cụ pháp lý hết sức cần thiết trong công tác quản lý đất đai của Nhà nước, thu hồi đất thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai Việc thu hồi đất trước hết có tác dụng bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó làm chấm dứt hành

vi xâm hại đất đai của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai Thu hồi là một bước đi quan trọng trong quá trình điều phối đất đai Là một quốc gia đang phát triển, để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấy nước thì việc luân chuyển đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục đích khác là rất cần thiết và nó đang liên tục xảy ra Do đó, thu hồi đất là công cụ hổ trợ đắc lực cho Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của mình trong sự nghiệp phát triển đất nước

- Vị trí và vai trò của bồi thường

Đối với Nhà nước: Bởi vì với quan niệm của người Việt Nam “An cư, lạc nghiệp” thì việc bị mất đất đai, nhà cửa thật sự là một cú sốc đối với người bị thu hồi đất Do vậy, họ sẽ phản ứng rất gay gắt, quyết liệt nếu không được bồi thường thỏa đáng Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu kiện về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng luôn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, cho nên, việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường về đất đai là thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần vào việc duy trì, củng cố sự ổn định về chính trị Hơn nữa, bồi thường đất đai cũng góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt công tác bối thường khi Nhà nước thu hồi đất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty sớm có mặt bằng

để triển khai cái dự án đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tang trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh đầu tư ở nước ta

Đối với người bị thu hồi đất: Thực hiện tốt bồi thường về đất sẽ giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc sống để tập trung sản xuất góp phần cải thiện và nâng cao mức sống Thu hồi đất là một quan hệ của thị trường

Trang 13

bất động sản Vì thế, bồi thường về đất giáp đảm bảo tính thị trường của quan hệ đất đai, quyền và lợi ích của người bị thu hồi đất và của các chủ thể có liên quan

Đó chính là vai trò của bồi thường

- Vị trí và vai trò của hỗ trợ

Song hành với các chính sách bồi thường, tái định cư sau khi thu hồi đất

là các chính sách về hỗ trợ Các chính sách hỗ trợ nhằm ồn định cuộc sống và việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, giúp người dân giảm bớt được những khó khăn trong khoảng thời gian ổn định cuộc sống Đồng thời tạo tâm lý đồng thuận, chấp hành nâng cao sự tin tưởng của người dân vào các chính sách về đất đai của nhà nước khi được hỗ trợ hợp lý Vai trò của hỗ trợ chính là như vậy

1.1.3 Lược sử công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ Luật Đất đai 2003 đến nay

- Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực đến trước khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực

Luật đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 là một bước tiến bộ trong chính sách quản lý về đất đai, sử dụng đất đai của Nhà nước; quy định đầy

đủ, rõ ràng và chặt chẽ hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Cụ thể, Luật đất đai 2003 đã khắc phục được những thiếu sót trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó những quy định cụ thể về việc tính bồi thường về đất, điều kiện nơi tái định cư đối với các trường hợp được áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc, quy định rõ người dân bị thu hồi loại đất nào thì nhận được loại đất tương đương có cùng mục đích sử dụng (Điều 42 Luật đất đai 2003) góp phần đảm bảo lợi ích xứng đáng cho người bị thu hồi đất

Trong suốt thời gian này, Nhà nước đã ban hành những quy định chi tiết

về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như Nghị Định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị Định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và Thông tư 151/2010/TT-BTC hướng dẫn áp dụng các loại thuế và các khoản nộp NSNN đối với quỹ phát triển đất quy định tại Điều 34 Nghị định 69/2009/NĐ-CP

Theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007, Chính phủ đã ban hành quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ cụ thể qua 8 bước: Khảo sát lập bản đồ địa chính, lập dự án đầu tư; Thông báo về việc thu hồi đất; Quyết định thu hồi đất; Kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai; Xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ; Niêm yết công khai; Hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, trình thẩm định phê duyệt; Thu hồi mặt bằng, giải quyết khiếu

Trang 14

nại và cưỡng chế thu hồi mặt bằng Tuy rằng đã cải tiến so với trước đây vì đã thể hiện được tính cụ thể, minh bạch của một quy trình pháp lý, là chuẩn mực để thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên, thể hiện cơ chế dân chủ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi nhưng vẫn còn một số bất cập cần sửa đổi, bổ sung Điều này cho thấy cơ sở pháp lý về thu hồi đất chưa được luật hóa chi tiết và dễ thay đổi Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chủ thể thừa hành trong quá trình thu hồi đất, mà còn tác động trực tiếp đến chủ đầu tư, đến người sử dụng đất vì bảng giá đất thay đổi hàng năm mà dự án thì có thể kéo dài qua các năm thực hiện

Tuy nhiên trong thực tế thi hành công tác bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất vẫn còn một số tồn tại vướng mắc có ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất: Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng hạ tầng cơ sở, thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế… Người sử dụng đất có quyền được bồi thường nhưng việc thu hồi giải phóng mặt bằng nhiều khi không tuân thủ trình

tự do pháp luật quy định, giá đất bồi thường và giá đất thực tế chênh nhau quá lớn không đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất

- Giai đoạn từ sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành đến nay

Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, Luật Đất đai

2013 tiếp tục kế thừa những những quy định còn phù hợp của Luật đất đai 2003 đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào cuộc sống Luật Đất Đai số 45/2013/QH13 được thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2014, thay thế Luật Đất Đai năm 2003

Để hướng dẫn việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất theo quy định của luật đất đai mới một số văn bản đã được ban hành như Nghị định 47/2014/NĐ-CP được ban hành ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2014 thay thế cho Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 của Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thay thế cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC

Bên cạnh đó, Luật đất đai 2013 về công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư

đã có nhiều điểm mới tích cực giúp giải quyết nhiều vướn mắc trong các chính sách trước đây như Luật Đất đai 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (74 và 88); quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 75);

Trang 15

thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông nghiệp, đất

ở, đất phi công nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81); quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại , cho một số trường hợp không được bồi thường đất (Điều 76); Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án đặc biệt (Điều 87) Về chính sách hỗ trợ, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung một số quy định so với Luật Đất đai năm 2003 ở Khoản 1, Điều 83 và Khoản 1, 2, Điều 84

Về trình tự thực hiện thông báo thu hồi đất được quy định cụ thể về thời gian hơn đối với đất nông nghiệp chậm nhất là 90 ngày và đối với đất phi nông nghiệp chậm nhất là 180 ngày, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết, trong nội dung thông báo thu hồi đất được nêu cụ thể những nội dung về kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm trong khi Luật Đất đai năm 2003 nội dung thông báo thu hồi đất

là lý do thu hồi, thời gian di chuyển, phương án tổng thể Luật mới đã cụ thể hóa hơn và có sự tham gia của người dân vào kế hoạch khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, tránh các trường hợp không đồng ý về phương án bồi thường khi thu hồi đất Điều này cho thấy được tính minh bạch hơn vì có sự đóng góp ý kiến, tham gia của người dân vào công việc cụ thể

Song, Luật đất đai 2013 quy định về vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn tồn tại những hạn chế như giá đất bồi thường thiệt hại chưa phù hợp; chính sách hỗ trợ không đủ và khó khăn; cơ quan giải phóng mặt bằng mập mờ trong quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện; cán bộ đất đai yếu kém trong am hiểu pháp luật; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn quá lộn xộn; khiến cho nhiều địa phương trên cả nước nổi lên nhiều vướng mắc, bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ, thu hồi đất Nhiều dự án, công trình dây dưa, kéo dài hàng chục năm do thu hồi đất chậm trễ

1.2 Căn cứ pháp lý của bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo Pháp luật đất đai hiện hành

1.2.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất

Vấn đề bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất luôn luôn là một việc phức tạp và nan giải xảy ra nhiều vấn đề gây khó khăn nhất như tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về giá trị được bồi thường cũng Vậy nên, theo pháp luật hiện hành về việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi

được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc riêng sau:

- Nguyên tắc bồi thường về đất

Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất được nêu ở điều

74 luật đất đai 2013 quy định như sau: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường (Điều 75 quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng) Việc bồi thường được thực hiện bằng việc

Trang 16

giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật

- Nguyên tắc bồi thường về tài sản gắn liền với đất

Nguyên tắc bồi thường về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất được nêu ở điều 88 luật đất đai 2013 quy định như sau: Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại

1.2.2 Điều kiện bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất

- Điều kiện bồi thường về đất

Người sử dụng đất khi bị nhà nước thu hồi đất muốn được bồi thường về đất thì phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định trong bộ luật đất đai quy định tại điều 75, Luật đất đai năm 2013 với các đối tượng đó là: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này

mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp

Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc

có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp

Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận

Trang 17

chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này

mà chưa được cấp

Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp

Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có

đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp

- Điều kiện bồi thường về tài sản gắn liền với đất

Người bị nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà còn được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất nếu có thể thỏa mãn các điều kiện được pháp luật quy định tại Điều 88, Luật Đất Đai 2013 như sau: thứ nhất khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại

về tài sản thì được bồi thường Thứ hai Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại

Khi đủ điều kiện để được bồi thường về tài sản gắn liền với đất quy định tại điều 88 Luật Đất Đai năm 2013,người bị nhà nước thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất được bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 89 của Luật Đất Đai năm 2013

Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn

kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế

Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo

dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ

Trang 18

Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang

sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành

Ngoài được bồi thường tài sản như nhà, các công trình trên đất thì người

bị nhà nước thu hồi đất còn được bồi thường về cây trồng và vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng và vật nuôi Điều đó được quy định trong Điều 90 Luật Đất Đai năm 2013 như sau:

Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương

và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ

di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Cuối cùng khi nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì người sử dụng đất sẽ được bồi thường về chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 91 Luật Đất Đai năm 2013 cụ thể khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt Mức bồi thường này được UBND cấp tỉnh quy định tùy trường hợp

Trang 19

1.2.3 Hỗ trợ khi thu hồi đất

Nguyên tắc hỗ trợ

Song hành với các chính sách bồi thường, tái định cư sau khi thu hồi đất

là các chính sách về hỗ trợ Các chính sách hỗ trợ nhằm ổn định cuộc sống và việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, giúp người dân giảm bớt được những khó khăn trong khoảng thời gian ổn định cuộc sống Đồng thời tạo tâm lý đồng thuận, chấp hành nâng cao sự tin tưởng của người dân vào các chính sách về đất đai của nhà nước khi được hỗ trợ hợp lý Mà để việc hỗ trợ khi thu hồi đất diễn ra một cách thuận lợi thì không thể thiếu nguyên tắc hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất được quy định tại Khoản 1, Điều 83, Luật đất đai năm 2013 như sau:

+ Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

+ Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật

- Các hình thức hỗ trợ được chia ra các trường hợp khác nhau để có thể hỗ trợ đúng người, đúng trường hợp để không thiếu sót đối với các đối tượng sử dụng đất, do đó hỗ trợ được chia ra là hỗ trợ ổn định đời sống , hỗ trợ ổn định sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ

2003 và một điểm mới là đã quy định trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

Khi nhà nước thu hồi đất, các Bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ theo Điều 33 Nghị định 47/2014 quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện như sau:

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tập đoàn kinh tế, tổng công ty, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương quản lý có dự án đầu

tư phải thu hồi đất có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp tỉnh và tổ chức làm

Trang 20

nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình tổ chức thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định Trước ngày 01 tháng 12 hàng năm, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình và kết quả thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại địa phương

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Nghị định này và giải quyết các vướng mắc phát sinh theo đề nghị của

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng

và tái định cư thực hiện các nhiệm vụ được giao

1.3 Trình tự và thủ tục hành chính khi Nhà nước thu hồi đất

Trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất (Theo Điều 69, LĐĐ 2013)

Quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành nhằm hệ thống hóa các bước thực hiện, theo đó tăng cường tính minh bạch thông tin thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn trong việc tra cứu, thực hiện, từ đó đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án và giảm thiểu tối đa những khiếu nại, khiếu kiện có liên quan Theo điều 69 Luật Đất Đai năm 2013, trình tự thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể như sau:

- Bước 1: Thông báo thu hồi đất

Trước khi có quyết định thu hồi đất, trong trường hợp đất phi nông

nghiệp thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo chậm nhất là 180

ngày; và 90 ngày đối với đất nông nghiệp Thông báo phải được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất bị thu hồi; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã Sau khi có kết quả thống nhất, hoặc hết thời hạn thông báo thì UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất

- Bước 2: Kiểm kê đất đai, tài sản

Sau khi có quyết định thu hồi, UBND xã có trách nhiệm phối hợp với ban bồi thường, giải phóng mặt bằng tiến hàng kế hoạch thu hồi đất, kiểm tra, khảo sát, đo đạc Khi này thì những cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi có trách nhiệm phối hợp thực hiện nhiệm vụ trên

Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì UBND cấp xã, UBMTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn 10 ngày

Trang 21

- Bước 3: Lập phương án bồi thường

Trong thời gian không quá 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến của Hội đồng thẩm định giá cụ thể, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm lập phương án bồi thường và hỗ trợ của dự án nghiên cứu

Phương án bồi thường được thành lập dựa trên các căn cứ sau: Thông báo thu hồi đất; quyết định phê duyệt giá đất tính bồi thường, hỗ trợ thuộc dự án; báo cáo kết quả xác minh nguồn gốc sử dụng đất, tạo lập tài sản trên đất…

Phương án bồi thường và hỗ trợ gồm những nội dung chính sau: Thống kê tổng diện tích thu hồi, tổng số đối tượng bị ảnh hưởng; các chính sách và tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Bước 4: Niêm yết phương án bồi thường

Sau khi lập phương án bồi thường và hỗ trợ, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến người dân về phương án theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp

xã, đại diện những người có đất thu hồi

- Bước 5: Hoàn chỉnh phương án bồi thường

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý,

số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập hồ sơ trình cơ quan Tài nguyên và Môi trường thẩm định phương án bồi thường và hỗ trợ

- Bước 6: Quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường

Sau khi thẩm định phương án bồi thường và hỗ trợ, cơ quan TN&MT gửi

hồ sơ trình UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và ra quyết định thu hồi đất (trong cùng 01 ngày)

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm

Trang 22

chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có)

và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng

- Bước 7: Tổ chức chi trả bồi thường

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập thông báo nhận tiền bồi thường, ghi

rõ người đến nhận tiền bồi thường phải mang theo chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và các giấy tờ về nhà, đất (bản chính) để làm thủ tục nhận tiền bồi thường,

hỗ trợ; trường hợp ủy quyền nhận thay phải có giấy ủy quyền hợp pháp

Đến đúng thời gian quy định, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với UBND xã, chủ đầu tư tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân Sau khi nhận tiền, người dân ký vào biên bản bàn giao mặt bằng do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường đã soạn

- Bước 8: Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất

Sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; người bị thu hồi đất phải bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường thì UBND cấp xã, UBMTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện Trường hợp người có đất bị thu hồi không bàn giao mặt bằng thì bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai 2013

Tiểu kết chương 1:

Nội dung chương đã trình bày được các khái niệm cơ bản liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất cũng như thẩm quyền thu hôi đất theo quy định hiện nay Trình bày được vị trí và vai trò của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Nói lên lược sử của công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ năm 2003 đến nay Nội dung chương còn trình bày được các căn

cứ pháp lý, trình tự thủ tục thực hiện thu hồi đất cũng như trình tự, thủ tục hành chính xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo Pháp luật hiện hành hiện nay Cuối cùng chương 1 đề cập đến trách nhiệm của cơ quan thực hiện bồi thường và trình tự thủ tục hành chính xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 23

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI ĐƯỜNG QUY HOẠCH SỐ 30 ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN XÂY DỰNG HAI TUYẾN ĐƯỜNG PHỤC VỤ CÔNG VIÊN VĂN HÓA TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TÂN BÌNH THỊ XÃ

ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC 2.1 Khái quát về dự án

2.1.1 Khái quát chung về Thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Vị trí địa lý: Thị xã Đồng Xoài nằm ở phía Nam tỉnh Bình Phước Thị xã

có diện tích tự nhiên là 16732.2 ha, gần bằng 2,44% diện tích cả tỉnh Bình Phước và bằng khoảng 0,05% diện tích toàn quốc Thị xã có 08 xã, phường (theo NĐ số 49/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 thành lập phường mới trên cơ sở chia tách phường Tân Xuân) Dân số là 86.755 người, mật độ dân số là khoảng

517 ng/km2 Được giới hạn trong tọa độ địa lý 11031’1”B đến 106050’21”Đ

(Nguồn: Trung Tâm Kỹ thuật Địa chính thị xã Đồng Xoài, 2017)

Hình 2.1 Bản đồ hành chính của thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Trang 24

Điều kiện kinh tế: Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của tỉnh và cả nước dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Nhân Dân, sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, sự giúp đỡ của các ngành nỗ lực của nhân dân, nền kinh tế của Thị xã Đồng Xoài đã có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm 2015,

Năm 2017 (Tỷ đồng) Tổng giá trị sản xuất 1.917 4.413,69 5.130,48

Nông - Lâm - Thuỷ sản 69.6 367,22 406.34 Công nghiệp - Xây dựng 305.93 1.730,19 2.022,9 Thương mại - Dịch vụ 410.94 2.316,28 2.701,35

(Nguồn: Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội các năm 2015, 2016, 2017)

Nền kinh tế thị xã Đồng Xoài đã có những bước phát triển nhanh, bền vững, định hướng phát triển kinh tế đã được xác định đúng đắn.Cơ cấu kinh tế trong những năm qua trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến rõ rệt, theo chiều hướng tích cực: tăng tỉ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng tỉ trọng các ngành Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ

Về văn hóa - xã hội: Hiện trạng dân số: Dân số trung bình toàn thị xã là 86.755 người, mật độ dân số bình quân 517 người/km2 Tổng số hộ 21.165 hộ, qui mô hộ bình quân 4,1 người/hộ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,64% năm 2010

Tổng số lao động trong độ tuổi năm 2010 là 51.032 người, số lao động thực tế có tham gia lao động là 44.458 người (chiếm 87%), trong đó số lao động khu vực I 23.448 người, khu vực II là 4.945 người, khu vực III là 16.066 người

Theo tốc độ tăng trưởng về dân số, các ngành kinh tế và chất lượng cuộc sống, tốc độ gia tăng các loại chất thải từ tất cả các nguồn: công nghiệp, sinh hoạt, chăn nuôi, nông nghiệp, giao thông và y tế của thị xã Đồng Xoài đã gia tăng rất nhanh trong thời gian qua Do đó sức ép của chất thải đến môi trường tự nhiên, sức khỏe dân chúng và các vấn đề kinh tế, xã hội ở vùng này sẽ ngày càng gia tăng, nhất là trong điều kiện mà thị xã Đồng Xoài chưa hoàn thiện các

hệ thống xử lý chất thải phù hợp Đây là nguồn gốc gây tác động rất lớn đối với môi trường và xã hội

2.1.2 Khái quát về dự án nghiên cứu

Tên dự án: Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh

tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Trang 25

(Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường thị xã Đồng Xoài, 2017)

Hình 2.2: Bản đồ tổng thể dự án Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công

viên văn hóa Tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Chủ đầu tư của dự án: Ban quản lý dự án thị xã Đồng Xoài

Địa điểm xây dựng: khu phố Tân Trà, phường Tân Bình, thị xã Đồng

Xoài, tỉnh Bình Phước

Tổng mức đầu tư: 9.321.289.978 đồng

Tổng diện tích đất bị thu hồi thực hiện dự án: 29262.6 m2

Tổng số trường hợp bị ảnh hưởng: có tổng cộng 107 đối tượng bị thu

hồi đất để thực hiện dự án, trong đó chủ yếu là các hộ gia đình, cá nhân

Mục tiêu đầu tư xây dựng dự án:

Dự án đầu tư xây dựng công trình cải tạo, nâng cấp đường nội bộ Khu dân

cư phường Tân Bình được triển khai thực hiện tại đường số 30, phường Tân

Trang 26

Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu trao đổi hàng hóa của người dân với nhau và đảm bảo cảnh quan đô thị của thị

xã Đồng Xoài

Thời gian thực hiện: Từ năm 2014 đến năm 2017

Căn cứ pháp lý tiến hành dự án: Căn cứ Quyết định số

2382/QĐ-UBND ngày 18/10/2010 của 2382/QĐ-UBND tỉnh Bình Phước về việc phê duyệt Phương

án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Xây dựng hai tuyến đường phục vụ Công viên văn hóa tỉnh (gồm đường Nguyễn Chánh và đường quy hoạch số 30) thuộc địa bàn phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài;

Dự án trên được thực hiện và chi trả bồi thường, hỗ trợ qua 7 đợt, được UBND thị xã phê duyệt chi phí bồi thường và hỗ trợ Trong bài luận văn này, tôi lấy ra 3 trên tổng cộng 7 đợt trên để tiến hành làm bài luận văn này Đó là đợt bồi thường thứ 4, thứ 5, thứ 6 Do đợt bồi thường thứ 1, 2, 3 đã tiến hành xử lý

hồ sơ và chi trả chi phí bồi thường, hỗ trợ xong Còn đợt bồi thường thứ 7 do có vướng mắc về chi phí bồi thường cho các hộ dân bị ảnh hưởng nên cho đến nay vẫn chưa thể phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ

Phạm vi thời gian: bắt đầu nghiên cứu từ tháng 12/2014 đến 14/1/2017 Tổng diện tích bị thu hồi của 3 đợt: 7821.2m2

Tổng số trường hợp bị ảnh hưởng: 31 hộ gia đình, cá nhân Do hộ ông Nguyễn Văn Quân, hộ Bà Nguyễn Thị Dìm, hộ ông Đoàn Văn Sáng đã tiến hành chi trả bồi thường hỗ trợ vào các đợt 4, 5 nhưng do thiếu sót của hội đồng bồi thường nên vào đợt 6 đã tiến hành điều chỉnh bổ sung chi phí bồi thường, hỗ trợ nên không tính vào danh sách tổng số hộ nên chỉ có 31 hộ gia đình, cá nhân

bị ảnh hưởng

Đợt 4:

- Tổng số hộ dân được bồi thường, hỗ trợ: 16 hộ

- Tổng diện tích thu hồi: 4.478,4 m2

- Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ: 1.268.077.000 đồng

Trong đó:

- Chi phí hỗ trợ đất nông nghiệp: 168.737.800 đồng

- Chi phí hỗ trợ đất thổ cư liền kề: 953.428.500 đồng

- Chi phí bồi thường về nhà và Công trình khác: 135.112.000 đồng

- Chi phí bồi thường về cây trồng: 7.798.700 đồng

Trang 27

- Tổng diện tích thu hồi: 3.535,1 m2

- Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ: 1.277.549.250 đồng

Trong đó:

- Chi phí bồi thường đất thổ cư: 46.011.000 đồng

- Chi phí bồi thường đất nông nghiệp: 120.305.170 đồng

- Chi phí hỗ trợ đất nông nghiệp: 595.637.000 đồng

- Chi phí bồi thường về nhà và Công trình khác: 478.187.080 đồng

- Chi phí bồi thường về cây trồng: 28.409.000 đồng

- Tổng số hộ dân được bổ sung chi phí bồi thường: 05 hộ

- Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ: 313.867.362 đồng

Trong đó:

- Chi phí bồi thường đất thổ cư: 23.000.000 đồng

- Chi phí bồi thường đất nông nghiệp: 22.789.250 đồng

- Chi phí hỗ trợ đất nông nghiệp: 119.422.000 đồng

- Chi phí bồi thường về nhà và Công trình khác: 145.656.112 đồng

- Hỗ trợ di chuyển: 3.000.000 đồng

Điều chỉnh thu hồi chi phí bồi thường:

- Thu hồi chi phí bồi thường của 03 hộ dân: 153.425.080 đồng

Trong đó:

- Chi phí bồi thường đất thổ cư: 35.000.000 đồng

- Chi phí bồi thường đất nông nghiệp: 17.034.600 đồng

- Chi phí hỗ trợ đất nông nghiệp: 69.276.000 đồng

- Chi phí bồi thường về nhà và Công trình khác: 26.114.480 đồng

Trang 28

- Tiền thuê nhà: 6.000.000 đồng

Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất

Bảng 2.2: Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất

STT Đối tượng

SDĐ

Tổng số khu đất bị thu hồi

Loại đất

Đất ở (Khu đất)

Đất nông nghiệp (Khu đất)

1 Hộ gia đình,

(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường thị xã Đồng Xoài, 2017)

Trong phạm vi nghiên cứu (từ 12/2014 đến 01/2017): ở cả 3 đợt bồi thường, hỗ trợ là đợt 4, đợt 5 và đợt 6 có tổng 31 hồ sơ, đối tượng sử dụng đất là

hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi với tổng khu đất là 35 khu, tổng diện tích

bị thu hồi là 7821.2m2 Trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp có 30 khu đất với tổng diện tích là 7689.74m2 và đất thổ cư có tổng cộng 5 khu đất với tổng diện tích là 131.46m2

Tổng giá trị bồi thường về đất là 1.958.744.570 đồng

Số liệu cụ thể được thể hiện trong phụ lục số 4

Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất Bảng 2.3: Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất có tài sản gắn liền với

đất

STT Đối tượng

SDĐ

Tổng số khu đất bị thu hồi có tài sản gắn liền với đất

Loại tài sản

Nhà, công trình phụ (Khu đất)

Cây lâu năm/rừng sản xuất (Khu đất)

1 Hộ gia đình,

(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường thị xã Đồng Xoài, 2017)

Có tổng cộng 19 hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất đất có tài sản gắn liền với đất với tổng cộng 29 khu đất với tổng giá trị là 824.000.412 đồng Trong đó:

hộ gia đình, cá nhân có tài sản trên đất là nhà, công trình phụ có 25 khu đất với

Trang 29

số tiền bồi thường là 787.792.712 đồng và 16 khu đất có cây lâu năm, rừng sản xuất với số tiền vồi thường là 36.207.700 đồng

Số liệu cụ thể được thể hiện ở phụ lục số 4

Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất được nhận hỗ trợ

Bảng 2.4: Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất được nhận hỗ trợ

(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường thị xã Đồng Xoài, 2017)

Thống kê cho thấy có 5 hộ gia đình, cá nhân được nhận hỗ trợ với tổng cộng 5 khu đất trong đó có 3 hộ được hỗ trợ di dời, 2 hộ hỗ trợ thuê nhà với tổng giá trị là 21.000.000 đồng Trong đó hỗ trợ di dời là 9.000.000 đồng hỗ trợ thuê nhà là 12.000.000 đồng

Số liệu cụ thể được thể hiện trong phụ lục số 4

2.2 Trình tự thủ tục quy trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ tại dự án Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Căn cứ Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Bình Phước về việc ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước; ta có thể nêu ra các bước cụ thể khi thực hiên công tác thu hồi, bồi thường, hổ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Quy trình bồi thường và hỗ trợ tại dự án được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 30

Sơ đồ 2.1: Trình tự thủ tục quy trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ tại dự

án Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

Bước đầu ra thông báo và phê duyệt kê hoạch thu hồi đất

Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã tham mưu Ủy ban nhân dân thị xã ban hành thông báo thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 66 Luật Đất đai 2013 và Căn cứ Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Bình Phước về việc ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước;

Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, Ủy ban nhân dân cấp có

Thông báo và phê duyệt kê hoạch thu

hồi đất (90 ngày- đất nông nghiệp và 180

ngày- đất phi nông nghiệp)

Phát tờ khai, thu thập giấy tờ về đất

đai

(10 ngày)

Kiểm tra tờ khai, điều tra, khảo sát,

kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với

đất

Xác định nguồn gốc, thời điểm sử

dụng đất và tài sản gắn liền với đất

(7 ngày)

Hoàn chỉnh bản đồ, hồ sơ bồi thường theo kết quả kiểm đếm và xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Ủy ban

Tổ chức thực hiện quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

(20 ngày) Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ,

tái định cư

Trang 31

thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn nêu trên thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất

Cơ quan tham mưu Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất tại khoản 1 Điều này, tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm

Nội dung kế hoạch, điều tra, khảo sát, kiểm đếm theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Trong kế hoạch, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ lập, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư cho Hội đồng bồi thường hỗ trợ, tái định cư của huyện (gọi tắt là Hội đồng bồi thường cấp thị xã) và xác định rõ Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường giúp Hội đồng bồi thường cấp huyện thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc doanh nghiệp thực hiện dịch vụ bồi thường, hỗ trợ)

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, chủ trì phối hợp cùng Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường và Chủ đầu tư gửi thông báo thu hồi đất đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi

và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng của xã, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất đai bị thu hồi

Sau đó tiến hành phát tờ khai, thu thập giấy tờ về đất đai

Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân thị xã ban hành kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường phát tờ khai và hướng dẫn người bị thu hồi đất thực hiện việc kê khai, nội dung chủ yếu sau:

Diện tích, loại đất bị thu hồi, nguồn gốc, thời điểm bắt đầu sử dụng, loại giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có; tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi tại thời điểm có thông báo thu hồi đất của cấp có thẩm quyền;

Số lượng nhà, loại nhà, cấp nhà, thời gian đã sử dụng và các công trình khác xây dựng trên đất; số lượng, loại cây, tuổi cây đối với cây lâu năm; diện tích, loại cây, năng suất, sản lượng đối với cây hàng năm; diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản, làm muối;

Số nhân khẩu, số lao động chịu ảnh hưởng do việc thu hồi đất gây ra (đối với khu vực nông nghiệp là những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối trên thửa đất bị thu hồi; đối với khu vực phi nông nghiệp là những người có hợp đồng lao động mà người thuê lao động

có đăng ký kinh doanh); nguyện vọng tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp;

Số lượng mồ mả phải di dời

Trang 32

Người bị thu hồi đất phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung tự kê khai, có nghĩa vụ cung cấp các giấy tờ về đất đai, tài sản liên quan đến việc thu hồi đất cho Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường Trường hợp chủ

hộ không nộp tờ khai thì sẽ không được giải quyết trong việc điều chỉnh các mức bồi thường nếu trong quá trình thực hiện bồi thường có điều chỉnh chính sách, giá cả bồi thường

Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày phát tờ khai, Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường chủ trì cùng Ủy ban nhân dân cấp xã thu tờ khai và các giấy tờ về đất đai, tài sản có liên quan đến thửa đất bị thu hồi, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận vào tờ khai (ký tên, đóng dấu)

Sau khi phát tờ khai đất đai để người bị thu hồi đất điền thông tin thì

cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tờ khai, điều tra, khảo sát, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất

Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường kiểm tra nội dung kê khai và thông báo bằng văn bản cho người có đất bị thu hồi thời gian kiểm đếm đất đai, tài sản; thông báo được lập 03 bản, Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường giữ 01 bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người có đất, tài sản bị thu hồi

Tổ chức trực tiếp bồi thường cùng người có đất bị thu hồi tiến hành kiểm đếm đất đai, tài sản và lập biên bản xác nhận Biên bản kiểm đếm hiện trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người có đất bị thu hồi phải nêu rõ các nội dung như: diện tích đất thu hồi; số lượng, chất lượng tài sản; đánh giá giá trị của tài sản là nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ cho kinh doanh Biên bản kiểm đếm được thành lập thành 03 bản và phải có chữ kí của các thành viên tham gia kiểm

kê và chữ kí của người có đất bị thu hồi Biên bản được giao cho người có đất bị thu hồi 01 bản, 02 bản còn lại được chuyển lại cho Chủ tịch UBND xã đóng dấu

kí tên

Người có đất bị thu hồi ngoài việc nộp Tờ khai và các giấy tờ về đất đai, tài sản liên quan đến thửa đất bị thu hồi, đồng thời phải nộp cho Tổ chức trực tiếp thực hiện công tác bồi thường các giấy tờ sau để làm cơ sở tính toán bồi thường, hỗ trợ:

+ Sổ hộ khẩu (bản sao) hoặc xác nhận của địa phương về số nhân khẩu do công an xã, phường xác nhận (bản chính);

+ Các giấy tờ có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của người bị thu hồi đất (bản chính hoặc bản sao) như: hộ nghèo, hộ chính sách…

Trường hợp người có đất bị thu hồi không phối hợp với tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì phải tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện Nếu người sử dụng đất vẫn không chịu phối hợp thì tiến hành kiểm đếm bắt buộc, hồ sơ ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc theo quy định tại điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT

Trang 33

Trường hợp người có đất bị thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch UBND thị xã ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc

và tôt chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai 2013

Hồ sơ ban hành quyết định cưỡng chết kiểm đếm bắt buộc heo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT

Sau khi kiểm kê, điều tra, khảo sát, kiểm đếm xong thì tiến hành xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc kiểm đếm đất đai, tài sản của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi, Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất

Căn cứ vào tình hình thực tế (số lượng hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất, diện tích thu hồi của dự án…), Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường được phép chuyển hồ sơ kiểm đếm theo từng đợt để đảm bảo tiến độ thực hiện dự án

và thuận lợi cho việc xét duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã

Nội dung xác định bao gồm:

- Xác định rõ tên người sử dụng đất, tài sản và tình trạng biến động hồ sơ

- Về nguồn gốc sử dụng đất: Phải xác định rõ nguồn gốc đất do đâu mà có (được Nhà nước giao, thuê đất, nhận chuyển nhượng đất, nhận tặng cho, nhận thừa kế, lấn đất, chiếm đất, khai hoang ); ghi rõ các giấy tờ chứng minh nguồn gốc đó;

- Thời điểm và mục đích sử dụng đất: Ghi thời gian sử dụng, mục đích sử dụng của người sử dụng đất qua các mốc thời gian ngày 18 tháng 12 năm 1980, ngày 15 tháng 10 năm 1993, ngày 01 tháng 7 năm 2004, ngày 01 tháng 7 năm

2014, thời gian làm nhà ở hoặc thời gian chuyển sang sử dụng làm đất ở, ghi rõ các giấy tờ chứng minh thời điểm, mục đích sử dụng đất, tài sản đó;

- Tình trạng sử dụng đất ổn định hay không ổn định, tranh chấp (nếu có);

- Loại đất được ghi theo quy định tại Điều 11 Luật Đất đai và Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;

- Tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trong địa bàn cấp xã;

- Nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp phải xác nhận hộ gia đình, cá nhân có trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp hay không;

Trang 34

- Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức tại nơi có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 129, Điều 130 Luật Đất đai và Điều

44 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi phải xác nhận rõ phần diện tích đất thu hồi có nằm trong diện tích đất vượt hạn mức và nguồn gốc sử dụng đất (nhận chuyển nhượng, được giao, cho thuê hoặc tự khai phá);

- Xác nhận về nguồn gốc nhà ở hoặc vật kiến trúc gắn liền với đất: Thời gian làm nhà ở (gắn với thời gian chuyển sang sử dụng làm đất ở), tình trạng hợp pháp hoặc không hợp pháp của nhà ở hoặc vật kiến trúc gắn liền với đất (kèm theo là giấy phép xây dựng hoặc giấy tờ công nhận quyền sở hữu trong quá trình tạo lập tài sản hoặc các vi phạm (nếu có) các quy định của Nhà nước

Sau đó tiến hành hoàn chỉnh bản đồ, hồ sơ bồi thường theo kết quả kiểm đếm và xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Ủy ban nhân dân cấp xã

Trong thời hạn không quá bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất của Ủy ban nhân dân cấp xã; Tổ chức trực tiếp thực hiện công tác bồi thường

có trách nhiệm:

Hoàn chỉnh hồ sơ bồi thường, hỗ trợ và tái định của từng hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi, để Hội đồng bồi thường cấp huyện họp kết luận từng trường hợp: Căn cứ pháp lý xác định đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện bồi thường về đất đai và tài sản; các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi; đủ điều kiện hoặc không đủ điều kiện bố trí tái định cư theo quy định;

Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị bằng văn bản của Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường, Chi cục Thuế có trách nhiệm hoàn thành việc kiểm tra và có văn bản xác nhận về thu nhập sau thuế làm căn cứ hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo quy định;

Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị bằng văn bản của Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hoàn thành việc kiểm tra và có văn bản xác nhận về đối tượng chính sách được hưởng hỗ trợ theo quy định;

Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị bằng văn bản của Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường, Cơ quan quản lý vốn, tài sản Nhà nước theo phân cấp có trách nhiệm hoàn thành việc kiểm tra và

có văn bản xác nhận về nguồn vốn, cơ cấu vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước đối với đất, tài sản nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng của tổ chức

Sau khi hoàn thành bản đồ và hồ sơ bồi thường thì cơ quan có thẩm quyền lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Tổ chức trực tiếp làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất

Trang 35

thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi

có đất thu hồi Thời gian niêm yết, tiếp nhận ý kiến đóng góp của người dân trong khu vực có đất thu hồi là hai mươi ngày (20), kể từ ngày niêm yết

Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Điều

tư gửi hồ sơ đề nghị thu hồi đất và thẩm định phương án bồi thường tại cơ quan thẩm định hồ sơ thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, cụ thể như sau:

* Hồ sơ thu hồi đất, gồm có:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định

số 43/2014/NĐ-CP (nếu có);

- Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất (đã

có khi lập hồ sơ trình ban hành thông báo thu hồi đất và đã được Sở Tài nguyên

và Môi trường ký xác nhận);

- Trích lục từng thửa đất của từng hộ gia đình, cá nhân và tổ chức có đất

bị thu hồi

* Hồ sơ thẩm định phương án bồi thường, gồm có:

- Dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảng tổng hợp ý kiến đóng góp của người có đất bị thu hồi;

- Bảng tổng hợp số hộ bồi thường, số tiền bồi thường;

- Bảng tổng hợp danh sách tái định cư (nếu có đối với công trình có bố trí tái định cư);

- Biên bản họp của Hội đồng bồi thường cấp huyện;

- Biên bản niêm yết phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

- Hồ sơ của từng trường hợp bị thu hồi đất gồm: Biên bản kiểm kê, bảng tính toán bồi thường, hỗ trợ, giấy xác nhận nguồn gốc đất đai, tài sản trên đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, giấy tờ về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với thửa đất bị thu hồi

Trang 36

* Hồ sơ thu hồi đất và thẩm định phương án bồi thường được lập mỗi loại làm 02 bộ, được đóng dấu treo và dấu giáp lai của Hội đồng bồi thường cấp huyện

Thời gian thực hiện thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

và quyết định thu hồi đất không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ

sơ hợp lệ, trong đó:

Cơ quan tài nguyên và môi trường trong thời gian 07 ngày làm việc, thẩm định việc áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; dự thảo văn bản thẩm định liên cơ quan trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt, dự thảo quyết định thu hồi đất

Cơ quan tài chính trong thời gian 05 ngày làm việc, thẩm định, kiểm tra các nội dung: Việc thực hiện áp giá bồi thường, hỗ trợ; đối chiếu số liệu về bồi thường, hỗ trợ của từng hồ sơ so với bảng tổng hợp bồi thường, hỗ trợ; thẩm định kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, đồng thời phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát việc áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Các cơ quan chuyên ngành (Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Kế hoạch ) thẩm định các số liệu về bồi thường, hỗ trợ các loại tài sản và các nội dung có liên quan đến nhiệm vụ theo chuyên ngành không quá 03 ngày làm việc

Trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình đề nghị thu hồi đất và tờ trình thẩm định của liên cơ quan của cơ quan thẩm định phương

án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại khoản 2 Điều này, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày

Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận quyết định phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cấp có thẩm quyền, Tổ chức thực hiện bồi thường có trách nhiệm phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định chi trả tiền chi tiết cho từng người bị thu hồi đất, tài sản có trên đất

Sau khi được phê duyệt quyết định bồi thường, hỗ trợ thì tổ chức thực hiện việc quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường phối hợp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi trong thời hạn 03 ngày làm việc; đồng thời giao quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư đến từng người có đất thu hồi

Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gửi đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư

Trang 37

(nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường

Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày nhận đủ tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì người bị thu hồi đất phải bàn giao đất cho Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường tổ

chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện

Tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trước khi chi trả tiền bồi thường, Hội đồng bồi thường cấp huyện phải gửi thông báo nhận tiền đến từng người bị thu hồi đất kèm theo bảng tính toán giá trị bồi thường của từng hộ

Việc chi trả tiền bồi thường do Hội đồng bồi thường cấp huyện và Tổ chức trực tiếp thực hiện bồi thường chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư, Kho bạc Nhà nước để thực hiện

Khi chi trả tiền bồi thường, Hội đồng bồi thường cấp huyện phải thu hồi hết các giấy tờ về nhà, đất (bản chính) và chuyển cho Phòng Tài nguyên và Môi

trường cấp huyện để chỉnh lý hoặc thu hồi giấy tờ về nhà, đất theo quy định 2.3 Công tác phân loại và xử lý cụ thể hồ sơ giải quyết bồi thường và hỗ trợ 2.3.1 Phân loại hồ sơ

Dự án thu hồi đất để Xây dựng hai tuyến đường phục vụ công viên văn hóa Tỉnh tại phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước có tất cả 107

hồ sơ được xem xét bồi thường, hỗ trợ theo 7 đợt bồi thường, hỗ trợ Trong bài nghiên cứu này tôi chỉ nghiên cứu trong 3 đợt bồi thường, hỗ trợ đó là 4, 5, 6 nên số hồ sơ tổng cộng là 34 bộ hồ sơ được phân làm 2 nhóm như sau:

Nhóm 1: Hồ sơ bồi thường về đất, hỗ trợ về đất

Được xác định dựa vào các tiêu chí là: hộ gia đình, cá nhân đó đã được cấp GCNQSDĐ, hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định

mà chưa được cấp, đất đã được giao sử dụng trước ngày 01/07/2004 và sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp được UBND thị xã xác nhận

Căn cứ vào những điều trên thì dự án này có 15 hồ sơ được bồi thường về đất, hỗ trợ về đất

Nhóm 2: Hồ sơ bồi thường về đất, hỗ trợ về đất, bồi thường về tài sản, hỗ trợ tài sản gắn liền với đất

Bồi thường về đất:

Đối với trường hợp bồi thường về đất thì hộ gia đình, cá nhân đó đã được cấp GCNQSDĐ, hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định

Trang 38

mà chưa được cấp, đất đã được giao sử dụng trước ngày 01/07/2004 và sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp được UBND thị xã xác nhận

Bồi thường về tài sản:

Đối với tài sản là nhà: Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình

có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế

Dựa vào các căn cứ trên thì dự án có 19 hồ sơ bồi thường về đất, hỗ trợ về đất và bồi thường về tài sản và hỗ trợ tài sản gắn liền với đất

2.3.2 Xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ

Căn cứ xác định hồ sơ được bồi thường về đất, hỗ trợ về đất

+ Hồ sơ được bồi thường về đất

- Về điều kiện được bồi thường về đất: hộ dân được bồi thường về đất khi

Nhà nước thu hồi đất đối với đất đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định Điều kiện bồi thường về đất được quy định tại Điều 75 Luật đất đai 2013

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này

mà chưa được cấp

* Hồ sơ được hỗ trợ về đất

Ngoài việc được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì hỗ trợ cho người dân là một việc làm cần thiết để động viên, chia sẻ với khó khăn đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người dân khi bị thu hồi đất

Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở (hỗ trợ đất thổ cư liền kề): Căn cứ vào điều

32 Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Trang 39

Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, đất ao trong cùng thửa đất

có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ 70% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ không được quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương

Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ 50% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất của địa phương; phần diện tích được hỗ trợ không được quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương

+ Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:

Đối tượng được hỗ trợ: quy định tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Điều 34 Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/06/2015 của UBND tỉnh Bình Phước về ban hành quy định về chính sách, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Cụ thể các trường hợp hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất như sau:

Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp sau:

Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-

CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân

Trang 40

cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất

Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại các điểm

a, b, c và d, khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:

- Thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 3 (ba) tháng nếu không di chuyển chỗ ở và trong thời gian 6 (sáu) tháng nếu di chuyển chỗ ở Trường hợp phải di chuyển đến địa bàn có điều kiệen kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa

là 12 (mười hai) tháng;

- Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 (sáu) tháng nếu không di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 (mười hai) tháng nếu di chuyển chỗ ở Trường hợp phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 (hai mươi bốn) tháng;

- Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 (mười hai) tháng nếu không di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng nếu di chuyển chỗ ở Trường hợp phải di chuyển đến địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 (ba mươi sáu) tháng;

Diện tích đất nông nghiệp thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại điểm a khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của

Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, không cộng dồn diện tích đất nông nghiệp

đã thu hồi của các quyết định thu hồi đất trước đó;

Diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại điểm

a khoản này là diện tích đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng trong phạm vi xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, bao gồm:

- Đất nông nghiệp có nguồn gốc được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho

Ngày đăng: 09/04/2019, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w