Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam, địa hình chia cắt mạnh thấp d
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC HÌNH ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1 1 Vị trí địa lý tỉnh Bình Định 4
1 2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Bình Định 5
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.2.1.1 Địa hình 5
1.2.1.2 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng và thảm thực vật 6
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 8
1 3 Khí hậu tỉnh bình định 11
1.3.1 Chế độ khí hậu 11
1.3.2 Một số hình thế thời tiết ảnh hưởng đến tỉnh Bình Định 12
1.3.2.1 Gió Tây khô nóng 12
1.3.2.2 Gió mùa Đông Bắc 15
1.3.2.3 Dông 16
1.3.2.4 Bão và áp thấp nhiệt đới 17
1 4 Khái niệm về nhiệt độ không khí, lượng mưa 21
1.4.1 Nhiệt độ không khí 21
1.4.2 Lượng mưa 21
CHƯƠNG 22: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Thu thập số liệu về nhiệt độ 22
2.1.1 Trạm khí tượng Hoài Nhơn giai đoạn (2006-2016) 22
2.1.2 Trạm khí tượng Quy Nhơn giai đoạn (2006-2016) 22
2.1.3 Trạm khí tượng An Nhơn (giai đoạn 2006-2016) 23
Trang 22.2 Thu thập số liệu về lượng mưa 23
2.2.1 Trạm khí tượng Hoài Nhơn giai đoạn (2006-2016) 23
2.2.2 Trạm khí tượng Quy Nhơn giai đoạn (2006-2016) 23
2.2.3 Trạm khí tượng An Nhơn giai đoạn (2006-2016) 24
2.3 Kiểm tra và chỉnh lý số liệu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 26
3.1 Chế độ nhiệt 26
3.1.1 Biến thiên theo không gian của nhiệt độ 26
3.1.2 Biến thiên theo thời gian của nhiệt độ 27
3.1.2.1 Biến trình ngày của nhiệt độ 27
3.1.2.2 Biến trình tháng năm của nhiệt độ không khí 28
3.1.2.3 Phân bố nhiệt độ theo mùa 39
3.1 Chế độ mưa 40
3.2.1 Lượng mưa năm,mưa lớn nhất, mưa nhỏ nhất giai đoạn (2006-2016) 40
3.2.2 Lượng mưa các mùa 42
3.3 Nhận xét về xu thế biến đổi của nhiệt độ, lượng mưa 43
KẾT LUẬN 46
TÀI KIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1: Bảng phân loại đất và tổng hợp các loại đất tỉnh Bình Định 6
Bảng 1 2: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Định 7
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số tại các huyện, thị xã, thành phố 9
Bảng 1 4: Ngày mặt trời qua thiên đỉnh (Hiện tượng tròn bóng lúc giữa trưa) 12
Bảng 1 5: Thời gian bắt đầu và kết thúc gió tây khô nóng 13
Bảng 1 6: Số ngày xuất hiện gió tây khô nóng trung bình tháng và năm 14
Bảng 1 7: Số ngày dông trung bình tháng và năm (Đơn vị: ngày) 16
Bảng 1 8: Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới trung bình đổ bộ trực tiếp và ảnh hưởng trực tiếp tới Bình Định ( số liệu thống kê từ năm 1954-đến nay) 18
Bảng 3 1: Phân bố nhiệt độ theo vĩ độ cao 26
Bảng 3 2: Độ cao và nhiệt độ một số trạm (Đơn vị: 0C) 26
Bảng 3 3: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (Đơn vị: 0C) 30
Bảng 3 4 Số ngày có nhiệt độ trung bình theo các cấp trạm Quy Nhơn, An Nhơn….31 Bảng 3 5: Số ngày có nhiệt độ trung bình theo các cấp trạm Hoài Nhơn 31
Bảng 3 6: Nhiệt độ tối cao trung bình tháng và năm (Đơn vị: 0C) 32
Bảng 3 7: Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối tháng – năm (Đơn vị: 0C) 33
Bảng 3 8:Số ngày có nhiệt độ tối cao theo các cấp trạm Quy Nhơn, An Nhơn 34
Bảng 3 9:Số ngày có nhiệt độ tối cao theo các cấp trạm Hoài Nhơn 34
Bảng 3 10: Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình tháng và năm (Đơn vị: 0C) 35
Bảng 3 11: Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối tháng- năm (Đơn vị: 0C) 36
Bảng 3 12: Số ngày có nhiệt độ tối thấp theo cấp trạm Quy Nhơn, An Nhơn 37
Bảng 3 13: Số ngày có nhiệt độ tối thấp theo cấp trạm Hoài Nhơn 38
Bảng 3 14: Thời gian bắt đầu và kết thúc mùa nóng 39
Bảng 3 15: Một số đặc trưng mưa năm (Đơn vị: mm) 40
Bảng 3 16: Phân bố lượng mưa trong các mùa 42
Trang 4
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1: Bản đồ tỉnh Bình Định 4
Hình 3 1 Biên độ ngày của nhiệt độ không khí 27
Hình 3 2: Biến trình nhiệt độ trạm Hoài Nhơn 28
Hình 3 3: Biến trình nhiệt độ trạm Quy Nhơn 29
Hình 3 4: Biến trình nhiệt độ trạm An Nhơn 29
Hình 3 5: Biến trình lượng mưa năm trạm An Nhơn từ năm 2006-2016 40
Hình 3 6: Biến trình lượng mưa năm trạm Hoài Nhơn từ năm 2006-2016 41
Hình 3 7: Biến trình lượng mưa năm trạm Quy Nhơn từ năm 2006-2016 41
Hình 3 8: Biểu đồ thể hiện tổng lượng mưa năm của trạm: Hoài Nhơn, An Nhơn, Quy Nhơn từ năm 2006-2016 43
Hình 3 9: Biểu đồ thể hiện xu thế biến đổi nhiệt độ năm của trạm: Hoài Nhơn, An Nhơn, Quy Nhơn từ năm 2006-2016 44
Hình 3.10: Biểu đồ thể hiện xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa trạm Hoài Nhơn từ năm 2006-2016 45
Hình 3.11 Biểu đồ thể hiện xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa trạm Quy Nhơn từ năm 2006-2016 45
Hình 3.12 Biểu đồ thể hiện xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa trạm An Nhơn từ năm 2006-2016 46
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Khai thác và sử dụng tài nguyên khí hậu đúng cách sẽ góp phần to lớn cho sự phát triển của mỗi khu vực Nhưng để khai thác chúng một cách thuận lợi cũng như khắc phục được những hạn chế, bất lợi thì đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có kiến thức hiểu biết và đặc điểm và quy luật biến đổi của các yếu tố khí hậu, nhằm biến chúng thành nguồn lực có lợi cho sự phát triển mà không đem lại ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sản xuất, đời sống và dân sinh Với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay,
sự biến động của các yếu tố khí hậu càng trở nên phức tạp đặc biệt nhiệt độ và lượng mưa là hai yếu tố đóng vai trò vô cùng quan trọng khí hậu của một khu vực
Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam, địa hình chia cắt mạnh thấp dần từ Đông sang Tây tạo ra chế độ khí hậu phức tạp Đây là một vùng nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió phơn Mùa khô, hạn hán thường có nguy
cơ xảy ra, ngược lại mùa mưa, bão, dông, mưa lớn sinh lụt lội Là nơi hội tụ nhiều yếu
tố khí hậu đặc biệt Do đó, Em chọn khu vực Bình Định để nghiên cứu cho đề tài đồ án tốt nghiệp là “Đặc điểm nhiệt độ và lượng mưa tỉnh Bình Định từ năm 2006-2016” để
có cái nhìn rộng hơn về yếu tố điển hình: Nhiệt độ, lương mưa
2 Một số nghiên cứu liên quan
Việt Nam việc điều tra, đánh giá tài nguyên nước và khí hậu trên toàn quốc đã được tiến hành từ sau ngày giải phóng (năm 1975) Trong những năm từ 1980 đến nay diễn biến tình hình khí tượng thủy văn có nhiều thay đổi và do đòi hỏi cấp bách của nhu cầu phát triển kinh tế, an sinh xã hội nên ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước
đã nghiên cứu đặc điểm khí tượng thủy văn cho địa phương mình với chuỗi số liệu mới nhất và được đánh giá một cách chi tiết như ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Bình, Đà nẵng … Tuy nhiên những tài liệu này chỉ đánh giá và phân tích được đặc điểm khí tượng thủy văn ở địa phương của khu vực nghiên cứu
Bình Định đã có nghiên cứu đặc điểm khí tượng thủy văn giai đoạn (1976-2003),
từ đó đến nay chưa cập nhật
Trang 63 Mục tiêu và nhiệm vụ của đồ án
Mục tiêu: Xem xét, phân tích, đánh giá đặc điểm nhiệt độ và lượng mưa tỉnh Bình Định giai đoạn (2006 -2016)
Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu về đặc điểm khí hậu của tỉnh Bình Định
- Thu thập số liệu: Từ năm 2006-2016 của yếu tố khí tượng: Nhiệt độ không khí, lượng mưa các trạm khí tượng An Nhơn, Hoài Nhơn, Quy Nhơn
- Thống kê, xử lý số liệu thu thập, phân tích, đánh giá đặc điểm chế độ nhiệt độ, lượng mưa tỉnh Bình Định giai đoạn (2006-2016)
4 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Nội dung:
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên tỉnh Bình Định
- Các hình thế thời tiết ảnh hưởng đến khí hậu tỉnh Bình Định
- Thống kê, phân tích đặc điểm yếu tố nhiệt độ, lượng mưa tỉnh Bình Định giai đoạn (2006-2016)
- Kết quả
- Kết luận
Phạm vi nghiên cứu yếu tố: Nhiệt độ, lượng mưa Tỉnh Bình Định Từ năm 2006-2016 của các trạm khí tượng An Nhơn, Hoài Nhơn, Quy Nhơn
5 Phương pháp nghiên cứu của đồ án
- Tổng quan số liệu (Thu thập số liệu, chọn lọc số liệu về nhiệt độ, lượng mưa)
- Xử lý thống kê (phân tích, tổng hợp làm rõ các đặc trưng, quy luật phân bố của nhiệt độ, lượng mưa theo không gian, thời gian)
6 Ý nghĩa thực tiễn của đồ án
Qua đồ án tốt nghiệp, bản thân em đã hiểu thêm kiến thức về lý thuyết các môn học như: Khí hậu Việt Nam, Khí tượng nhiệt đới, Khí tượng synop, Thống kê khí hậu , và biết vận dụng, kết hợp được các kiến thức để hoàn thành đồ án Từ đó có cái nhìn tổng quan về các môn chuyên môn của ngành khí tượng và nhận thấy được vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố khí tượng
7 Kết cấu của đồ án
Với những nội dung trên đồ án có bố cục gồm các chương:
Mở đầu
Trang 7Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Số liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả
Kết luận
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1 1 Vị trí địa lý tỉnh Bình Định
Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp Biển Đông.[5] Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.050 km2 giới hạn bởi tọa độ địa lý (Hệ Gauss - HN72) như sau:
Cực Bắc: 14042' 10"độ vĩ bắc, 108055' 42" độ kinh đông
Cực Nam: 13030' 10" độ vĩ bắc, 108054' 00" độ kinh đông
Cực Đông: 13036' 33" độ vĩ bắc, 109022' 00" độ kinh đông
Cực Tây: 14025' 00" độ vĩ bắc, 108037' 30" độ kinh đông
Hình 1 1: Bản đồ tỉnh Bình Định.[7]
Tương ứng với giới hạn về tọa độ trắc địa trong hệ tạo độ VN2000:X từ
1493000 đến 1627000 m; Y từ 243000 đến 323000 m Là tỉnh có nhiều thuận lợi giao lưu với bên ngoài bởi Cảng biển Quy Nhơn (1 trong 10 cảng biển lớn của nước ta), sân bay Phù Cát, hệ thống Quốc lộ 1A, 1D, đường sắt Bắc Nam chạy qua và đường Quốc
lộ 19 nối cảng biển Quy Nhơn với Trung tâm vùng Bắc Tây Nguyên, vùng Nam Lào
và Đông Bắc Campuchia Bờ biển Quy Nhơn dài 134km chạy từ thành phố Quy Nhơn
Trang 9đến Hoài Nhơn, một bên là núi một bên là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, đều là vị trí thuận lợi để phát triển du lịch và nuôi trồng hải sản.[5]
1 2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Bình Định
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Địa hình
Bình định nằm gọn bên sườn phía Đông của dãy Trường Sơn có địa hình dốc và phước tạp Hướng dốc chủ yếu từ Tây sang Đông và đồng bằng xen kẽ tạo thành các vùng, lưu vực sông riêng biệt
Từ Tây Nguyên xuống đồng bằng Bình Định địa hình đột nhiên hạ thấp đột ngột đáng kể Nếu ở Cao Nguyên phía Tây có cao độ từ 500m đến 700m thì ở đồng bằng Bình Định chỉ có cao cao độ 20m đến 30m, vùng ven biển cao độ 2m đến 3m, hình thành hai loại bậc địa hình nằm kế cận nhau và không hình thành rõ nét khu đệm chuyển tiếp.[3] Toàn tỉnh Bình định có thể chia thành 4 dạng địa hình sau:
a) Địa hình vùng núi trung bình, núi thấp
Nằm về phía Tây Bắc và phía Tây của tỉnh thuộc dãy Trường Sơn Đông, độ cao trung bình từ 500-1000m Đại bộ phận sườn dốc hơn 200 Có diện tích khoảng 249.866
ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000 ha) Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh, lớp phủ thực vật có mật độ trung bình.[3]
b) Địa hình Đồi gò, bát úp ở trung du
Có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn (từ
100-150), cấu tạo chủ yếu bởi đá Granit Nhiều vùng đất trồng thuận lợi cho việc phat triển cây lâu năm, vườn rừng, vườn đồi, thực hiện nông lâm kết hợp Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha).[3]
c) Địa hình đồng bằng và ven biển
Có diện tích khoảng 198.543 ha, chiếm khoảng 32% diện tích toàn tỉnh, nằm ở
hạ lưu các sông và bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ Độ cao biến đổi từ 2-3m đến 30m, xen kẽ giữa đồng bằng có đồi gò Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của
Trang 1020-tỉnh Địa hình đồng bằng nghiêng nên đất dễ bị rửa trôi và bạc màu Kiểu địa hình này phổ biến ở các huyện Hoài Nhơn và Thành phố Quy Nhơn.[3]
d) Địa hình vùng cồn cát ven biển
Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Khu vực này có khả năng trồng rừng phòng hộ ven biển kết hợp với trồng cây lâu năm.[3]
1.2.1.2 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng và thảm thực vật
a) Đặc điểm địa chất:
Theo tài liệu nghiên cứu địa chất thì lãnh thổ Bình định nằm trên đới cấu tạo
KonTum, với số liệu phân tích cho thấy nguồn gốc đá mẹ gồm 2 loại chính sau:
- Khối Macmacid điển hình là đá Granite, thành phần chủ yếu là Thạch anh, ngoài ra còn có Mica Đất hình thành trên đá Granite thường có thành phần cơ giới nhẹ
- Đá trầm tích thuộc dạng Sa thạch, Phiến thạch Đất hình thành trên đá trầm tích thuộc dạng Sa thạch, Phiến thạch có kết cấu rời rạc, giữ nước, giữ phân kém.[3]
b) Đặc điểm thổ nhưỡng:
Theo kết quả đánh giá của Hội Khoa học Đất Việt Nam, thực hiện năm 1997, trong phạm vi toàn tỉnh Bình định có 9 nhóm đất với 114 đơn vị đất đai với đặc điểm phát triển và sử dụng đa dạng (chi tiết xem tài liệu Đánh giá đất)
- Đất đồi núi chiếm 62.3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là địa hình bằng, thoải Diện tích đất có tầng mỏng hơn 50 cm chiếm 37.7% Như vậy, các loại đất thuận lợi cho sản xuất là đất phù sa ( chiếm 7.75%), đất Glei ( chiếm 2.56%), đất mặn ít và mặn trung bình ( chiếm 1.06%), đất đỏ và đất xám Feralire ( chiếm 70.67%).[3]
Bảng 1 1: Bảng phân loại đất và tổng hợp các loại đất tỉnh Bình Định.[6]
Stt Tên Việt Nam Tên đất
FAO/UNESCO
Diện tích ( ha)
Tỉ lệ (%)
Trang 12II Đất phi nông nghiệp 70374 11.6
5 Đất sông suối và mặt nước
c) Thảm thực vật:
Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2012 thì toàn tỉnh Bình Định có 309.263 ha diện tích đất lâm nghiệp có rừng (trong đó rừng sản xuất là 135.074ha, rừng phòng hộ là 150361ha và rừng đặc dụng là 23.828ha).Tỷ lệ độ che phủ đạt 51.0% cao hơn mức trung bình toàn quốc (trung bình toàn quốc là 33.2%) Theo số liệu thống kê
Sở NN&PTNT đến đầu năm 2013 thì toàn tỉnh Bình Định có tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 48.7%.[3]
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Toàn tỉnh Bình Định có 11 đơn vị hành chính gồm: 10 huyện, thị xã và một thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế xã hội văn hoá của tỉnh
Theo số liệu niên giám thống kê năm 2012, toàn tỉnh có 1.501.800 người, trong
đó nam chiếm (732.100 người): 48.75%, nữ (769.700 người): 51.25% Dân số ở thành thị (462.700 người) chiếm 30.81%, nông thôn (1.039.100 người) chiếm 69.19%, mật
Trang 13độ dân số là 248.2 người/km2 và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng (893.900 người): 59.52% dân số toàn tỉnh.[4]
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số tại các huyện, thị xã, thành phố.[2]
Diện tích (Km2)
Dân số (Nghìn người)
Mật độdân số(Người/
km2)
Kinh tế - xã hội
Bình Định có vị trí địa lý kinh tế đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu với các quốc gia ở khu vực và quốc tế; nằm ở trung điểm của trục giao thông đường sắt và đường bộ Bắc - Nam, đồng thời là cửa ngõ ra Biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái Lan thông qua Quốc lộ 19 và cảng biển quốc tế Quy Nhơn Ngoài lợi thế này, Bình Định còn có nguồn tài nguyên tự nhiên, nền văn hóa phong phú, đa dạng và nguồn nhân lực khá dồi dào Trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (theo Quyết định số 54/2009/QĐ-TTg ngày 14/4/2009), Bình Định được xác định sẽ trở thành tỉnh có nền công nghiệp hiện
Trang 14đại và là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và cả nước.[4]
Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không và đường biển khá thuận lợi Quốc lộ 19 nối liền cảng biển quốc tế Quy Nhơn với các tỉnh thuộc khu vực vùng Bắc Tây Nguyên qua các cửa khẩu quốc tế Đức Cơ, Bờ Y và vùng giáp ranh biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, tạo điều kiện liên kết hành lang Đông - Tây, thúc đẩy giao lưu kinh tế, hợp tác phát triển với bên ngoài Sân bay Phù Cát cách Thành phố Quy Nhơn 30km về phía Tây Bắc, có đường băng rộng 45m dài 3.050m Nhà ga hàng không có công suất 300 hành khách/giờ Đường sắt Bắc
- Nam đi qua Bình Định dài 148km gồm 11 ga, trong đó ga Diêu Trì là ga lớn, là đầu mối của tất cả các loại tàu trên tuyến đường sắt Ngoài các chuyến tàu Bắc - Nam còn các chuyến tàu nhanh từ Quy Nhơn đi vào các tỉnh khu vực Nam Trung bộ đến TP Hồ Chí Minh và đi ra đến Nghệ An.[4]
Bình Định có cảng biển quốc tế Quy Nhơn và cảng nội địa Thị Nại, trong đó cảng biển quốc tế Quy Nhơn có khả năng đón tàu tải trọng từ 2 - 3 vạn tấn, cách Phao
số 0 khoảng 6 hải lý, cách hải phận quốc tế 150 hải lý
Bình Định có hệ thống mạng lưới các sông suối tập trung nhiều ở miền núi tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thủy lợi và thủy điện; tổng lượng nước mặt khoảng 8.5 tỷ m3; tiềm năng thủy điện khoảng 182.4 triệu kW Nhà máy nước Quy Nhơn được đầu tư nâng cấp có tổng công suất 45.000m3/ngày đêm (sẽ tiếp tục tăng lên 48.000m3/ngày đêm), hiện nay đã cấp nước cho hơn 90% dân số và các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn và một phần Khu kinh tế Nhơn Hội Công suất cấp nước cho Khu công nghiệp Phú Tài: 8.500m3/ngày đêm Đang xây dựng công trình cấp nước cho khu kinh tế Nhơn Hội: 12.000m3/ngày đêm (giai đoạn 1) Đang hoàn thiện dự án cấp nước cho 9 thị trấn trong tỉnh với công suất 21.300m3/ngày đêm.[4]
Về tiềm năng khoáng sản: trên địa bàn tỉnh có nhiều loại khoáng sản quý hiếm như đá Granite ước tính khoảng 700 triệu m3; quặng sa khoáng Titan trữ lượng khoảng 2,5 triệu tấn Ilmenite nằm dọc theo bờ biển Lớn nhất là mỏ sa khoáng Đề Gi có trữ lượng trên 1.5 triệu tấn, hiện đang được khai thác và tuyển tinh để xuất khẩu (100.000
- 120.000 tấn quy Ilmenite/năm) Các mỏ vàng tập trung phân bố ở các khu vực Vĩnh Kim, Vạn Hội, Kim Sơn, Tiên Thuận… Ngoài ra, còn có các mỏ cao lanh, đất sét (tập
Trang 15trung ở các huyện Phù Cát, Tuy Phước, Tây Sơn) trữ lượng đã thăm dò khoảng 24 triệu m3; đủ để phục vụ cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (gạch ngói, gạch ceramic ) trên địa bàn tỉnh.[4]
Hiện nay, Bình Định đã và đang tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng theo quy hoạch 8 KCN (chưa tính các KCN trong KKT Nhơn Hội) với tổng diện tích quy hoạch là 1.761ha, 37 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.519,37ha; đặc biệt là Khu kinh tế Nhơn Hội (12.000ha, trong đó có 1.300ha khu công nghiệp); tập trung xây dựng Thành phố Quy Nhơn (đô thị loại I thuộc tỉnh) trở thành trung tâm tăng trưởng phía Nam của vùng và đầu mối giao thông phục vụ trực tiếp cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên; xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng lớn để gắn kết với các khu vực lân cận theo trục Bắc - Nam và Đông - Tây; phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mà tỉnh có lợi thế là công nghiệp chế biến lâm - nông - thuỷ sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, giày da, may mặc, cơ khí, cảng biển nước sâu, sản xuất lắp ráp đồ điện, điện tử, sản xuất điện, phát triển du lịch, dịch vụ hàng hải, thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn thông [4]
1 3 Khí hậu tỉnh bình định
1.3.1 Chế độ khí hậu
Bình Định thuộc khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ - miền khí hậu đông Trường Sơn Có hai mùa rõ rệt mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến hết tháng 12, trong mùa mưa thường chịu ảnh hưởng các cơn bão với tần suất trung bình từ 1 - 2 cơn/năm.[5]
Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều
Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20.1 – 26.1 °C, cao nhất là 31.7 °C và thấp nhất là 16.5 °C Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27.0 °C, cao nhất 39.9 °C và thấp nhất 15.8 °C
Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22.5 – 27.9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27.9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%
Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8 Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa
Trang 16trung bình năm 2.000 - 2.400 mm Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751 mm Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.[5]
Bức xạ mặt trời: Tỉnh Bình Định nằm trong khoảng từ 13030' 10" đến 14042' 10''
vĩ độ bắc, được thừa hưởng một chế độ mặt trời nhiệt đới mà tiêu biểu là hiện tượng hàng năm mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần (bảng 4) và độ cao mặt trời ít thay đổi trong
1.3.2 Một số hình thế thời tiết ảnh hưởng đến tỉnh Bình Định
1.3.2.1 Gió Tây khô nóng
Gió tây khô nóng là một loại thời tiết gây khô nóng, làm cho nhiệt độ của khu vực tăng cao trong những tháng mùa hè, độ ẩm thấp, lượng mưa ít và bốc thoát hơi nước lớn, ảnh hưởng đáng kể đến đời sống của con người, động vật và các hoạt động kinh tế cộng đồng Gió tây khô nóng kéo dài nhiều ngày sẽ làm cho ao hồ, sông ngòi
và đồng ruộng khô hạn, dẫn đến hạn hán cục bộ hoặc trầm trọng trên phạm vị rộng, có thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế do mất mùa, thiếu nước cho thủy lợi, thủy điện, tăng diện tích cháy rừng, ô nhiễm nguồn nước, dịch bệnh phát sinh, phát triển Tại Bình Định, gió tây khô nóng không khốc liệt như các tỉnh Bắc Trung bộ nhưng nắng nóng kéo dài nhiều ngày kèm với gió tây mạnh, nhiệt độ cao cũng gây khô hạn tác hại đến ngành chăn nuôi, trồng trọt và ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân.[5]
Nguồn gốc chủ yếu gió tây khô nóng ở Bình Định là trong thời kỳ gió mùa Tây Nam, luồng không khí với thuộc tính nóng, ẩm từ vịnh Bengan thổi qua lục địa rộng lớn đến Việt Nam bị dãy Trường Sơn ngăn cản Khi vượt qua dãy núi, khối không khí
để lại phần lớn lượng hơi ẩm dưới dạng mưa ở sườn tây, rồi tiếp tục trượt xuống sườn núi phía đông dồn về vùng thung lũng và đồng bằng ven biển Lúc này, khối không khí
Trang 17trở nên khô nóng hơn tính chất vốn có ban đầu, người ta thường gọi là gió tây khô nóng Chỉ tiêu của thời tiết gió tây khô nóng là nhiệt độ tối cao tuyệt đối ngày ≫350C, kết hợp độ ẩm tương đối tối thấp trong ngày ≪55% Ở nước ta, những địa phương nằm phía đông dãy Trường Sơn, trong thời kỳ gió mùa mùa hạ hầu như đều có hiện tượng gió tây khô nóng Giữa sườn đông và tây dãy Trường Sơn nơi nào nhiều núi thấp, khe núi, thung lũng thì thuận lợi cho gió mùa Tây Nam vượt qua, thường xuất hiện nhiều ngày gió tây khô nóng.[5]
Hàng năm ở Bình Định vào khoảng hạ tuần tháng IV, gió tây khô nóng xuất hiện ở những vùng thung lũng thấp của tỉnh, vào giữa và cuối tháng V thì xuất hiện hầu hết những vùng còn lại trong tỉnh Tuy nhiên, có những năm thời tiết khô nóng xuất hiện rất sớm, từ trung tuần tháng III ở phía bắc tỉnh và hạ tuần tháng IV ở phía nam tỉnh nhưng không phải là gió mùa Tây Nam nêu trên, mà là hoàn lưu phía nam của áp thấp lục địa Hoa Nam Trung Quốc bị hiệu ứng Fơn của dãy Trường Sơn Thường đây là tiền đề báo hiệu cho đợt xâm lấn xuống phía nam của đợt không khí lạnh Ngày kết thúc của loại thời tiết này cũng khác nhau khá nhiều qua các năm, trung bình khoảng hạ tuần tháng VIII ở phía bắc và vùng đồng bằng ven biển, thượng tuần tháng IX ở phía nam tỉnh Có năm từ trung tuần tháng VIII đã không còn hiện tượng gió tây khô nóng nhưng cũng có năm kéo dài đến đầu tháng X (1/X/1976).[5]
Bảng 1 5: Thời gian bắt đầu và kết thúc gió tây khô nóng.[5]
Trung bình hàng năm ở Bình Định vùng ven biển có khoảng 20 - 40 ngày, những thung lũng thấp từ 40 - 60 ngày có gió tây khô nóng Thời kỳ thịnh hành nhất của loại thời tiết khắc nghiệt này là các tháng VI - VIII, trong đó tháng VII và tháng VIII là hai tháng có số ngày gió tây khô nóng nhiều nhất chiếm 55% số ngày trong năm Tháng VI chiếm 21%, riêng vùng đồng bằng huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước 28% Số ngày xuất hiện gió tây khô nóng mạnh (nhiệt độ cao nhất tuyệt đối ≫ 370C,
Trang 18độ ẩm thấp nhất tuyệt đối ≪45%) ở Bình Định chiếm 22 - 24% tổng số ngày có gió tây khô nóng.[5]
Bảng 1 6: Số ngày xuất hiện gió tây khô nóng trung bình tháng và năm.[5]
Tháng
Khô nóng
Khô nóng mạnh
Khô nóng
Khô nóng nặng
Khô nóng
Khô nóng mạnh
Gió tây khô nóng không xảy ra liên tục mà gián đoạn thành nhiều đợt Từ tháng
V đến tháng VIII, mỗi tháng trung bình có 2 đợt gió tây khô nóng, tháng nhiều nhất khoảng 4 - 5 đợt Phần nhiều số đợt gió tây khô nóng kéo dài từ 2 - 3 ngày chiếm khoảng 60%, 4 - 6 ngày chiếm khoảng 20 - 25%, còn lại là những đợt kéo dài trên 6 ngày Từ tháng VII đến tháng VIII cũng xuất hiện những đợt kéo dài từ 10 - 15 ngày,
có năm quan sát được đợt gió tây khô nóng trên nửa tháng (tại Qui Nhơn đợt 16 ngày tháng VII năm 1963, đợt 25 ngày tháng 8 năm 1982 ) Những ngày gió tây khô nóng ở Bình Định nhiệt độ trung bình ngày thường đạt 27 – 300C, tốc độ gió trung bình từ 2 - 8m/s (cấp 2 đến cấp 4) Những đợt gió tây mạnh tốc độ đạt trên 10m/s Ở các vùng thung lũng hút gió, vào cuối thời kỳ gió mùa mùa hạ có khi đạt 20m/s (cấp 8).[5]
Gió tây khô nóng ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và sản xuất Trong vụ đông xuân nếu xuất hiện sớm vào tháng III và kéo dài vài ngày sẽ ảnh hưởng đối với lúa vụ đông xuân trong thời kỳ trổ bông nở hoa, ngậm sữa làm tăng tỷ lệ hạt lép Đối với vụ
hè thu, gió tây khô nóng có thể gây hại từ thời kỳ mọc mầm đến thu hoạch ở những vùng không chủ động nước tưới của nhiều loại cây như lúa, ngô, mè, họ đậu, bông,
Trang 19thuốc lá, mía Ngoài ra, gió tây khô nóng còn làm giảm năng xuất thịt, sữa, trứng của gia súc, gia cầm, thậm chí phát sinh nhiều dịch bệnh ảnh hưởng sức khỏe của con người.[5]
1.3.2.2 Gió mùa Đông Bắc
Bình Định cũng như các tỉnh miền Trung, hàng năm đều chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Thời kỳ đầu khoảng tháng X, tháng XI có năm đến tháng XII, lúc này gió mùa đem thời tiết khô hanh cho các tỉnh miền Bắc, nhưng quá trình di chuyển xuống phía nam lại gây ra kiểu thời tiết ẩm ướt ở các tỉnh duyên hải Trung Bộ Thời
kỳ sau khoảng từ tháng I đến tháng IV có năm kéo dài đến tháng V, gió mùa Đông Bắc tràn về chỉ đem lại lượng mưa ít ỏi thất thường và gây ra loại thời tiết khô hanh cho khu vực Trung Bộ nói chung và Bình Định nói riêng.[5]
Đặc trưng thời tiết khi gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng là trời nhiều mây, thường cho giáng thủy, hướng gió chuyển thành phần Bắc và mạnh lên cấp 3, cấp 4, giật cấp
5, 6 hoặc trên cấp 6 ở ven biển; riêng ngoài khơi còn có gió mạnh cấp 6, cấp 7, giật trên cấp 7 Những tháng đầu mùa đông, gió mùa Đông Bắc tràn về đôi khi kết hợp với
hệ thống thời tiết khác cho mưa to đến rất to, sinh lũ lụt Những tháng cuối mùa đông, gió mùa Đông Bắc tác động thường gây ra dông có khi kèm tố, lốc Ngoài ra vào tháng
II, tháng III gió mùa Đông Bắc tràn về, nhiệt độ trung bình ngày có thể giảm xuống dưới 200C và kéo dài vài ngày, nếu đúng vào thời kỳ phân rẽ, trổ bông, nở hoa có thể ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.[5]
Gió mùa Đông Bắc trong quá trình di chuyển xuống phía nam đã bị biến tính khá nhiều nên khi ảnh hưởng đến Bình Định, tiêu chuẩn gió mùa Đông Bắc không còn
rõ ràng nữa Qua thống kê, khi gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng chỉ có gió đổi hướng thiên về Bắc và mạnh lên cấp 3, cấp 4, giật cấp 5, cấp 6 ở ven biển, khí áp tăng, phần nhiều nhiệt độ trung bình ngày chỉ giảm khoảng trên 10C Nhưng nhiều khi chỉ tiêu nhiệt bị che lấp bởi sự chi phối của các nhân tố khác.[5]
Trung bình hàng năm có khoảng gần 10 đợt gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến Bình Định, chiếm 30% số đợt xuống Hà Nội và 68% số đợt xuống đến Đà Nẵng Đợt gió mùa Đông Bắc đầu tiên xuống đến Bình Định thường từ tháng X, song cũng có năm mới tháng IX hoặc đến tháng XI mới có đợt gió mùa Đông Bắc đến Bình Định Thời gian kết thúc thường vào tháng IV, nhưng thỉnh thoảng có năm đến tháng V vẫn còn Nhìn chung trong các tháng mùa đông từ tháng XI đến tháng III năm sau, trung
Trang 20bình có trên 1 đợt gió mùa ảnh hưởng đến Bình Định, trong đó tháng XII là nhiều nhất chiếm khoảng 20% số đợt trong năm.[5]
1.3.2.3 Dông
Dông nói chung là hiện tượng xảy ra chủ yếu trong mùa hạ, liên quan với sự phát triển mạnh mẽ của đối lưu nhiệt và các nhiễu động khí quyển Dông được đặc trưng bởi sự xuất hiện những khối mây khổng lồ (mây dông hay mây vũ tích Cb), tích lũy một trữ lượng nước và tạo ra những hiệu điện thế cực mạnh tới hàng chục nghìn vôn/cm Cho nên, dông bao gồm sự phóng điện giữa các đám mây (chớp) hay sự phóng điện giữa các đám mây với mặt đất (sét) và có thể kèm theo mưa rào hoặc không, đôi khi xuất hiện cả mưa đá và gió mạnh trên 10m/s, thậm chí trên 20m/s Qua tài liệu quan trắc cho thấy nơi nào có nhiệt độ, độ ẩm càng lớn và sự chênh lệch nhiệt
độ không khí giữa tầng thấp và tầng cao của khí quyển càng lớn thì dễ có điều kiện hình thành mây dông Ngoài tiềm năng nhiệt ẩm, điều kiện hội tụ gió và địa hình cũng
là những nhân tố quan trọng đóng vai trò xúc tác không thể thiếu trong cơ chế hình thành mây dông Tại cùng một địa điểm, về mùa hạ dông xuất hiện nhiều hơn mùa đông Ở vùng núi, thung lũng hút, đón gió xuất hiện nhiều dông hơn ở vùng ven biển.[5]
Bảng 1 7: Số ngày dông trung bình tháng và năm (Đơn vị: ngày)[5]
Trang 21ngày ở vùng đồng bằng phía nam và từ 50 – 60 ở vùng núi và phía bắc tỉnh Mùa dông bắt đầu từ tháng III và kết thúc vào cuối tháng XI, trong đó tập trung chủ yếu từ tháng
V đến tháng X Tháng V và tháng IX là thời kỳ tranh chấp mạnh mẽ giữa các khối không khí, điều kiện nhiệt - ẩm cũng thuận lợi cho sự hình thành mây dông, nên đây cũng là hai tháng nhiều dông nhất trong năm Tháng I và tháng XII đôi khi cũng quan trắc thấy dông trong những đợt không khí lạnh kèm front lạnh tràn về.[5]
Trong cơn dông, đôi khi hình thành lốc kèm theo mưa với sức gió mạnh có thể làm đổ nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng Mưa dông thường không kéo dài, nhưng với những trận mưa cường độ mạnh sẽ gây xói hoặc bào mòn lớp đất màu trên sườn đồi, núi trọc hoặc ruộng bậc thang Bên cạnh đó, trong cơn dông còn kèm theo sấm chớp, đặc biệt là sét – hiện tượng phóng điện từ các đám mây dông xuống mặt đất Khi phóng điện, không khí bị nung nóng lên trong vạn độ Đây chính là điều kiện xúc tác cho phản ứng hóa học kết hợp giữa khí Nitơ và Oxy, dưới tác dụng của nước biến thành Nitơrat và Amoni là những phân bón tự nhiên rất tốt cho cây trồng.[5] Hiện nay khoa học khí tượng đã có những máy móc, thiết bị hiện đại như Rađa thời tiết (Rađa thời tiết Nha Trang, Tam Kỳ) có thể theo dõi sự phát triển của các cơn dông, các xoáy, tố lốc nhưng vì thời gian tồn tại của các hiện tượng khí tượng này quá ngắn, trong thường chỉ một giờ cho nên việc tổ chức phòng tránh loại thiên tai nay gặp rất nhiều khó khăn
Như vậy, mùa dông ở Bình Định gắn liền với mùa gió mùa mùa hạ và bắt đầu thời kỳ gió mùa mùa đông, mạnh nhất vào gần thời kỳ bắt đầu gió mùa mùa hạ hoạt động mạnh và kết thúc gió mùa Dông ở vùng núi hay thung lũng nhiều hơn vùng đồng bằng ven biển.[5]
1.3.2.4 Bão và áp thấp nhiệt đới
Theo chu kỳ, bão, ATNĐ ảnh hưởng đến các tỉnh phía bắc vào các tháng III đến tháng VII, các tỉnh Trung Bộ vào các tháng VIII – X, các tỉnh Nam Trung Bộ từ tháng
Trang 22hậu tự nhiên cũng hoạt động ở vĩ độ này Do đó tổ hợp ảnh hưởng giữa bão, ANTĐ với các hình thế thời tiết khác như không khí lạnh, dải hội tụ nhiệt đới hay các nhiễu động nhiệt đới là những nguyên nhân gây ra các đợt mưa lũ lớn.[5]
Ở Bình Định, không phải bão đổ bộ trực tiếp vào tỉnh mới gây những hiện tượng thời tiết cực đoan, mà nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào những tỉnh lân cận cũng gây thời tiết nguy hiểm không kém Ví như cơn bão số 10 (KYLE) ngày 23/XI/1993 đổ bộ vào Tuy Hòa, tốc độ gió mạnh nhất đo được tại Qui Nhơn 34m/s,
An Nhơn 40m/s và toàn tỉnh Bình Định có mưa to đến rất to Hay cơn bão số 7 ngày 8/X/1988 đổ bộ vào đất liền Quàng Ngãi cũng gây mưa to đến rất to trong toàn tỉnh Cơn bão số 11 (Mirinae) đổ bộ vào Phú Yên-Khánh Hòa, tốc độ gió mạnh nhất đo được tại Quy Nhơn 17m/s (cấp 7), giật 28m/s (cấp 10) đã gây mưa đặc biệt to ở lưu vực sông Hà Thanh và gây lũ lớn nhất trong vòng 40 năm trở lại đây
Cơn bão số 15 năm 2013: Do chịu ảnh hưởng không khí lạnh và đới gió đông bắc họat động mạnh, rìa phía bắc bão số 15 đổ bộ vào Phú Yên – Ninh Thuận kết hợp nhiễu động trong đới gió Đông trên cao, từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 11 năm 2013 khu vực Bình Định đã có mưa vừa, mưa to, đặc biệt ngày 15/11 đã có mưa rất to trên toàn tỉnh gây ra đợt lũ lịch sử trên sông Kôn Tổng lượng mưa phổ biến từ 186.0 - 471.0mm.[5]
Bảng 1 8: Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới trung bình đổ bộ trực tiếp và ảnh hưởng
trực tiếp tới Bình Định (số liệu thống kê từ năm 1954-đến nay)[5]
Đổ bộ(TT) 0.00 0.06 0.00 0.00 0.02 0.18 0.24 0.02 0.52 Ảnh
hưởng(TT)
0.00 0.10 0.00 0.00 0.12 0.31 0.39 0.06 0.98
Nếu tính tất cả các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Quảng Ngãi và Phú Yên đều ảnh hưởng trực tiếp đến Bình Định thì từ năm 1954 đến nay, trung bình hàng năm ở Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp 1 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới, trong đó
đổ bộ trực tiếp vào địa bàn tỉnh là 0.52 cơn bão (bảng 24); điều này có nghĩa là cứ hai năm sẽ có một cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đi vào địa phận tỉnh Bình Định Cũng theo chuỗi số liệu trên nhưng tính từ năm 1975 đến nay thì trung bình hàng năm ở Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp 1.13cơn, đổ bộ trực tiếp là 0.70 cơn Như vậy, thời
Trang 23kỳ sau năm 1975 số lượng bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Bình Định nhiều hơn thời kỳ trước năm 1975
Mặt khác, những cơn bão và áp thấp nhiệt đới đầu mùa hoạt động trên biển Đông, liên quan với quá trình đi lên phía Bắc của cao áp Thái Bình Dương và dải hội
tụ nhiệt đới vào tháng V, VI, tạo ra những trận mưa lớn, giảm phần thiếu nước trong những tháng mùa khô, đôi khi dẫn đến những đợt mưa lũ tiểu mãn trong thời gian này
Có năm vào tháng XII bão hoặc áp thấp nhiệt đới còn hoạt động ở nam biển Đông kết hợp với gió mùa Đông Bắc, gây nên những đợt mưa lớn, gió mạnh cho Bình Định (như đợt mưa, lũ lớn vào năm 2008, 2013, 2016) Tác hại rõ rệt nhất của bão và áp thấp nhiệt đới là gió và mưa bão Phạm vi ảnh hưởng của bão và ATNĐ thường bao gồm nhiều tỉnh, gây ra mưa lớn và gió rất mạnh có khi còn kèm theo hiện tượng nước biển dâng do gió xoáy của bão gây ra.[5]
Gió bão
Gió mạnh trong bão là một trong các đại lượng dùng để đánh giá cường độ bão Trong gió bão tốc độ lớn kèm theo tính chất xoáy giật và đổi hướng khi bão di chuyển, đây là một trong các yếu tố gây hại chính của bão
Từ năm 1975 cho đến nay, tất cả có hơn 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào địa phận tỉnh Bình Định Tốc độ gió mạnh nhất ở ven biển dưới cấp 7 chiếm 9.5%
ở phía nam tỉnh, 23.1% ở phía bắc tỉnh Từ cấp 7 đến cấp 8 (13.9 – 20.7m/s) chiếm 50
- 60%, cấp 9 đến cấp 10 ( 20.8 – 28.4m/s) chiếm 10 - 25 %, từ cấp 11 trở lên (28.5m/s) chiếm 17 - 22% ở phía nam tỉnh, 8% ở phía bắc tỉnh Đặc biệt, từ năm 1975 đến nay
đã quan sát được tốc độ gió bão 40m/s tại hai trạm khí tượng Qui Nhơn và Hoài Nhơn, khi cơn bão số 9 (Agnes) ngày 7/XI/1984 đổ bộ vào Bình Định Năm 1995 cũng quan sát được 40m/s ở hai trạm khí tượng Qui Nhơn và An Nhơn, riêng Hoài Nhơn đo được 30m/s khi cơn bão số 10 đổ bộ vào phía nam tỉnh Ngoài ra, theo chuỗi số liệu lưu trữ trước năm 1975 đã quan sát được tốc độ gió mạnh nhất đo được 59m/s tại Qui Nhơn vào ngày 16/IX/1972 khi cơn bão Flossie đổ bộ vào nam Quảng Ngãi - bắc Bình Định Hướng gió cũng như tốc độ gió phụ thuộc nhiều vào vị trí của bão Tuy nhiên, khi bão đi vào địa điểm nào đó thì gió mạnh thường xuất hiện ở những hướng không bị địa hình che chắn Vị trí khe núi, thung lũng sông gió thường mạnh hơn và hướng cũng khác so với nơi địa hình bằng phẳng
Trang 24Ở Bình Định, hướng gió mạnh xảy ra chủ yếu ở hướng Bắc đến Tây bắc chiếm 85%, còn lại hướng Đông Bắc, Tây và Tây Nam chiếm 15% ở phía bắc tỉnh; Còn ở phía nam tỉnh chủ yếu hướng Tây, Bắc, Tây Bắc chiếm 64%, các hướng Đông, Đông Bắc, Tây Nam, Nam và Đông Nam chiếm 36% Qua số liệu này chứng tỏ, bão đổ bộ vào phía bắc tỉnh nhiều hơn phía nam tỉnh
Trong các trường hợp bão hay ATNĐ đổ bộ vào tỉnh Quảng Ngãi thì gió mạnh
có hướng thiên về Tây Bắc đến Tây Nam, đổ bộ vào Phú Yên gió mạnh có hướng thiên Đông Bắc đến Đông Nam.[5]
Mưa bão
Lượng mưa lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tốc độ di chuyển và giai đoạn phát triển của bão khi đổ bộ Nói chung, khi bão di chuyển chậm và đang ở giai đọan phát triển hay trưởng thành thì mưa bão thường mạnh và kéo dài nên tổng lượng mưa bão lớn Ngược lại, bão di chuyển nhanh hoặc khi đổ bộ đã ở giai đọan suy yếu thì tổng lượng mưa bão nhỏ Mưa do bão hoặc những quá trình mưa có liên quan đến bão chiếm từ 35-45% tổng lượng mưa năm của nhiều địa phương ven biển Trung bộ Bão gây ra mưa lớn khi chúng đổ bộ vào đất liền, người ta đã thống kê có khoảng : 45% số cơn bão và áp thấp nhiệt đới có tổng lượng mưa từ 200-300mm, khoảng 20% số cơn bão
và áp thấp nhiệt đới có tổng lượng mưa lớn hơn 300mm, khoảng 15% số cơn bão và áp thấp nhiệt đới có tổng lượng mưa dưới 150mm Mưa lớn trong bão tập trung trong bán kính 100-200km, nhưng phạm vi mưa lớn không hoàn toàn đồng đều như nhau quanh tâm bão Thông thường ở phía Bắc mưa lớn hơn phần phía Nam của bão
Thời gian mưa lớn trong bão trung bình từ 2-3 ngày, tuy nhiên khi bão kết hợp với không khí lạnh thì diện mưa lớn sẽ mở rộng và thời gian mưa lớn cũng kéo dài từ 3-5 ngày Ở một số trường hợp, áp thấp nhiệt đới được coi là giai đoạn phát sinh hoặc hình thành của bão, vì vậy xét về mưa thì mưa bão không hẳn luôn nhiều hơn mưa do
áp thấp nhiệt đới gây ra Song, đối với khu vực miền Trung nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng có mùa mưa trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa mùa đông, nên hình thế gây mưa đặc biệt lớn điển hình đó là sự kết hợp giữa bão, ATNĐ với không khí lạnh, hậu quả của nó là những trận mưa rất lớn, thời gian mưa lớn tập trung trong vài ngày thường gây ra lũ lớn, đe dọa cuộc sống của nhân dân sinh sống ven sông hoặc các vùng trũng thấp, có khi còn lũ quét ở vùng núi
Trang 25Nhìn chung, khi bão đơn thuần đổ bộ vào địa phận tỉnh mưa to thường kéo dài trên dưới 24 giờ, lượng mưa phổ biến đạt từ 50 - 200mm Nhưng khi bão kết hợp với
hệ thống thời tiết khác, đặc biệt là không khí lạnh hoặc dải hội tụ nhiệt đới mưa bão
có khi kéo dài 2 đến 6 ngày, lượng mưa bão có thể đạt tới 300 - 700mm, có nơi trên 700mm
Phân bố không gian mưa trong bão rất khác nhau Thông thường, khi bão đi vào đất liền tan nhanh thì lượng mưa ven biển thường cao hơn vùng núi, bão còn duy trì đi sâu vào đất liền lượng mưa không khác biệt giữa vùng núi và ven biển Bão đổ bộ vào Quảng Ngãi hoặc phía bắc tỉnh, lượng mưa phía nam tỉnh nhỏ hơn phía bắc, nếu bão
đổ bộ vào Phú Yên hoặc phía nam tỉnh thì lượng mưa khá đồng đều Đặc biệt, những nơi có địa hình đón gió bão thường có mưa rất lớn và vùng mưa lớn này thay đổi tùy theo vị trí của bão.[5]
1 4 Khái niệm về nhiệt độ không khí, lượng mưa
1.4.1 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí: Đại lượng vật lí đặc trưng cho trạng thái nóng, lạnh của không khí được gọi là nhiệt độ không khí Hay là biểu hiện bên ngoài của Nhiệt động lực khí quyển
Nhiệt độ tối cao: Nhiệt độ cao nhất trong ngày, tháng, năm
Nhiệt độ tối thấp: Nhiệt độ thấp nhất trong ngày, tháng, năm
Trang 26CHƯƠNG 2
SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thu thập số liệu về nhiệt độ
2.1.1 Trạm khí tượng Hoài Nhơn giai đoạn (2006-2016)
Trạm Khí Tượng Hoài Nhơn Nhiệt Độ Trung Bình Tháng - Năm (Đơn vị 0C).[6]
2.1.2 Trạm khí tượng Quy Nhơn giai đoạn (2006-2016)
Trạm Khí Tượng Quy Nhơn Nhiệt Độ Trung Bình Tháng - Năm (Đơn vị 0C).[6]