1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm mưa lớn tỉnh bình dương

53 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ này, hoạt động liên tục của gió mùa tây nam mạnh tương tác với bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực Biển Đông luôn mang đến những đợt mưa lớn diện rộng và kéo dài cho

Trang 1

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU MƯA, MƯA LỚN 4

1.1 Khái niệm mưa lớn: 4

1.2 TÁc động của các hiện tượng mưa lớn 5

1.3 Các nghiên cứu về hiện tượng mưa lớn ở việt nam và nam bộ: 7

1.3.1 Nghiên cứu về mưa lớn ở Việt Nam: 7

1.3.2 Nghiên cứu về mưa lớn ở Nam Bộ: 8

CHƯƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.1 Số liệu quan trắc bề mặt từ mạng lưới trạm tỉnh bình dương: 10

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 10

2.2.1 Phương pháp thống kê: 10

2.2.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính : 10

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 12

3.1 Nghiên cứu xu thế tổng lượng mưa năm tại các trạm trong khoảng thời gian 1980-2014: 12

3.2 Nghiên cứu xu thế lượng mưa quy mô ngày tại các trạm: 17

3.2.1 Nghiên cứu xu thế lượng mưa một ngày lớn nhất: 17

3.2.4 Nghiên cứu số ngày có lượng mưa một ngày lớn hơn 50mm tại các trạm và xu thế: 24

3.2.5 Nghiên cứu số ngày có lượng mưa một ngày lớn hơn 100mm tại các trạm và xu thế: 29

3.3 Nghiên cứu xu thế biến đổi của ngày bắt đầu và ngày kết thúc mùa mưa: 33

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC PL.1

Trang 2

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình a: Bản đồ tỉnh Bình Dương 2 Hình 1.1 : Nước lũ tràn về trong cơn mưa lớn chiều tối 26/9/2016 trên địa bàn thị xã Tân Uyên 6 Hình 1.2: Nước ngập trên đường Nguyễn Thị Minh Khai giáp ranh phường Phú Hoà, TP Thủ Dầu Một và phường Thuận Giao, thị xã Thuận An trong trận mưa lớn ngày 16/10/2016 7 Hình 3.1: Xu thế biến đổi lượng mưa năm tại Dầu Tiếng giai đoạn 1980-2014 12 Hình 3.2: Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng tại trạm Dầu Tiếng giai đoạn 1980-2014 14 Hình 3.3: Xu thế biến đổi lượng mưa năm tại Sở Sao giai đoạn 1980-2014 15 Hình 3.4: Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng tại trạm Sở Sao giai đoạn 1980-

2014 16 Hình 3.5: Xu thế biến đổi lượng mưa 1 ngày lớn nhất trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn 1980-2014 17 Hình 3.6 : Xu thế biến đổi lượng mưa 1 ngày lớn nhất trạm Sở Sao trong giai đoạn 1980-2014 19 Hình 3.7 : Xu thế biến đổi lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn 1980-2014 21 Hình 3.8: Xu thế biến đổi lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Sở Sao trong giai đoạn 1980-2014 23 Hình 3.9 : Xu thế biến đổi số ngày có lượng mưa lớn hơn 50mm tại trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn 1980-2014 25 Hình 3.10 : Xu thế biến đổi số ngày có lượng mưa lớn hơn 50mm tại trạm Sở Sao trong giai đoạn 1980-2014 27 Hình 3.11 : Xu thế biến đổi số ngày có lượng mưa lớn hơn 100 mm tại trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn 1980-2014 29 Hình 3.12: Xu thế biến đổi số ngày có lượng mưa lớn hơn 100 mm tại trạm Sở Sao trong giai đoạn 1980-2014 31

Trang 3

v

Hình 3.13 Xu thế biến đổi ngày bắt đầu mùa mưa tại Bình Dương trong khoảng thời gian năm 1990- 2014 33 Hình 3.14: Xu thế biến đổi ngày kết thúc mùa mưa tại Bình Dương trong khoảng thời gian năm 1990- 2014 34

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

- Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành

phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai

- Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt

biển

- Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thường bắt

đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch

- Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có

bão, mà chỉ bị ảnh hưởng những cơn bão gần

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỒ ÁN:

- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết hàng năm ở các tỉnh thành phía nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa, gần như trùng khớp với thời kỳ hoạt động của gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam Mùa mưa thường kéo dài từ tháng V đến tháng XI hàng năm, với tỷ trọng lượng mưa chiếm khoảng từ 90 đến 95% tổng lượng mưa cả năm Trong thời

kỳ này, hoạt động liên tục của gió mùa tây nam mạnh tương tác với bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực Biển Đông luôn mang đến những đợt mưa lớn diện rộng và kéo dài cho các khu vực này Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, những trận bão trên biển Đông và mưa lớn xảy ra ngày càng khốc liệt hơn, hàng năm đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn: Những thiệt hại do mưa to gây

lũ lớn làm sạt lỡ đất, phá vỡ đê bao cũng như làm ngập chìm nhiều diện tích nuôi

Trang 5

2

trồng thủy sản, lúa và hoa màu, phá hủy các công trình hạ tầng kỹ thuật và gây ảnh hưởng đến môi trường

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỒ ÁN:

- Đánh giá xu thế biến đổi của một số đặc trưng mưa lớn ở Bình Dưong

- Đánh giá được đặc điểm thời gian của mưa lớn ở Bình Dương

3 NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu xu thế lượng mưa quy mô ngày tại các trạm:

+ Nghiên cứu xu thế lượng mưa một ngày lớn nhất, ba ngày lớn nhất tại các trạm

+ Nghiên cứu xu thế lượng mưa lớn hơn 50 mm, lớn hơn 100 mm tại các trạm

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: tỉnh Bình Dương

Hình a: Bản đồ tỉnh Bình Dương (Nguồn: vi.wikipedia.org)

+ Thời gian: từ năm 1980- năm 2014

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp thống kê: Nghiên cứu chuỗi số liệu lượng mưa từ các trạm: Dầu Tiếng, Sở Sao trong khu vực Bình Dương, trong chuỗi 34 năm ( 1980-2014)

- Phương pháp hồi quy tuyến tính: Phương pháp này thường được sử dụng với các đường biến trình ít có dao động lên xuống phức tạp Thông thường, việc xác định

xu thế được sử dụng bằng hàm tuyến tính - là phương pháp dễ thực hiện nhưng không linh hoạt

Trang 6

3

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN:

- Hiểu được đặc điểm mưa lớn của tỉnh

- Hiểu được xu thế của tổng lượng mưa năm, lượng mưa quy mô ngày cũng như lượng mưa lớn hơn 50 mm, 100 mm

6 Kết cấu đồ án

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU MƯA, MƯA LỚN

CHƯƠNG 2- SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3- KẾT QUẢ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU MƯA, MƯA LỚN

1.1 Khái niệm mưa lớn:

- Hiện tượng mưa lớn là hệ quả của một số loại hình thời tiết đặc biệt như bão,

áp thấp nhiệt đới hay dải hội tụ nhiệt đới, hội tụ gió mạnh trên nhiều tầng, front lạnh, đường đứt Đặc biệt khi có sự kết hợp giữa chúng với nhau ở cùng một thời điểm sẽ càng nguy hiểm hơn, gây nên mưa to, gió lớn, dông, mưa đá trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng

- Mưa lớn hay mưa vừa, mưa to diện rộng là quá trình mưa xảy ra mang tính hệ thống trên một hay nhiều khu vực Mưa lớn diện rộng có thể xảy ra một hay nhiều ngày, liên tục hay ngắt quảng, một hay nhiều trận mưa và không phân biệt dạng mưa Căn cứ vào lượng mưa thực tế đo được 24 giờ tại các trạm quan trắc khí tượng bề mặt, trạm đo mưa trong mạng lưới khí tượng thủy văn mà phân định các cấp mưa khác nhau Theo quy định của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), mưa lớn được chia làm

3 cấp:

+ Mưa vừa: Lượng mưa đo được từ 16 - 50 mm/24h

+ Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 - 100 mm/24h

+ Mưa rất to: Lượng mưa đo được > 100 mm/24h

- Ngày có mưa lớn là ngày xảy ra mưa trong 24 giờ (từ 19 giờ ngày hôm trước đến 19 giờ ngày hôm sau) đạt cấp mưa vừa trở lên

- Trong các nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa thì cấp mưa to 51 - 100 mm/24h bắt đầu có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người

- Trên thực tế, các khu vực dự báo được quy định ở nước ta chỉ có thể liền kề với một hoặc hai khu vực dự báo khác và mưa lớn mang tính chất hệ thống bao giờ cũng xảy ra trên diện tích bề mặt tương đối liên tục Bởi vậy, việc quy định mưa lớn diện rộng được định nghĩa như sau: Mưa lớn diện rộng là mưa lớn xảy ra ở một hay nhiều khu vực dự báo liền kề với tổng số trạm quan trắc được mưa lớn theo quy định sau đây:

+ Một khu vực dự báo được coi là có mưa lớn diện rộng khi mưa lớn xảy ra ở quá một nửa số trạm trong toàn bộ số trạm quan trắc của khu vực đó

Trang 8

5

+ Mưa lớn xảy ra ở 2 hoặc 3 khu vực dự báo liền kề nhau, khi tổng số trạm quan trắc được mưa lớn phải vượt quá 1/2 hoặc 1/3 tổng số trạm quan trắc trong 2 hoặc 3 khu vực liền kề

- Một đợt mưa lớn diện rộng là một đợt mưa xảy ra tương đối liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó có ít nhất một ngày đạt tiêu chuẩn mưa lớn diện rộng

- Khi quá trình mưa lớn diện rộng xảy ra nhiều đợt trong một thời gian dài, các đợt mưa lớn diện rộng khác nhau phải cách nhau một khoảng thời gian liên tục ít nhất

là 24 giờ với trên 1/2 tổng số trạm quan trắc hoàn toàn không có mưa

- Tổng lượng mưa cả đợt được tính theo lượng mưa đo được thực tế của từng trạm trong khoảng thời gian của cả đợt mưa kể từ thời gian bắt đầu đến thời gian kết thúc mưa Tổng lượng mưa lớn nhất được chọn trong tổng lượng mưa thực đo của các trạm Lượng mưa trung bình khu vực là lượng mưa trung bình của tất cả các trạm đo trong khu vực lớn hoặc khu vực nhỏ Lượng mưa trung bình khu vực được chọn theo các khoảng lượng mưa cách nhau cỡ 10 - 50 mm

1.2.Tác động của các hiện tượng mưa lớn:

- Trong những năm gần đây, các sự kiện mưa lớn trong thời gian ngắn đã xảy

ra trên khu vực Bình Dương với tần suất và cường độ ngày một lớn Những sự kiện này, mỗi khi xảy ra, thường gây ra ngập úng nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh, tác động rất lớn đến kinh tế xã hội Đặc biệt, tính bất ngờ của những trận mưa lớn này

là nguyên nhân chính dẫn đến những tai nạn không mong muốn đối với người dân trong khu vực

- Cơn mưa lớn lịch sử xảy ra vào tối 26/9 khiến nhiều khu vực tại các tỉnh Đông Nam bộ bị ngập nặng Tại địa bàn tỉnh Bình Dương cũng bị ảnh hưởng, nghiêm trọng nhất là khu vực thị xã Tân Uyên

- Đợt mưa lớn kéo dài trong tháng 10-2016 tại các tỉnh Đông Nam bộ đã gây nhiều mất mát về người và tài sản, trong đó riêng địa bàn tỉnh Bình Dương ước tính tổng thiệt hại lên tới hơn 21 tỷ đồng: Cụ thể, đã có 1 người chết, 2 người bị thương,

7 căn nhà bị sập và tốc mái Đặc biệt, tình hình mưa ngập ngày càng nghiêm trọng với gần 6.000 căn nhà, 50 dãy nhà trọ chìm trong nước; gãy đổ khoảng 209 ha cây

Trang 9

6

lâu năm, trong đó chủ yếu là cây cao su, cà phê, điều; có khoảng 2.658 ha đất nông nghiệp và đường giao thông bị sạt lở Đồng thời, mưa lớn đã làm tràn bờ, hư hại hơn 40 km kênh rạch, bờ bao; số gia súc, gia cầm bị chết khoảng 24.500 con…

Hình 1.1 : Nước lũ tràn về trong cơn mưa lớn chiều tối 26/9/2016 trên địa bàn thị xã Tân Uyên (Nguồn:vnexpress.net)

- Về tình hình mưa những tháng đầu năm 2017 mặc dù đã bước vào thời kỳ cao điểm của mùa khô, nhưng hầu hết các nơi trên khu vực đều có mưa trái mùa; có vài đợt mưa xảy ra trên diện rộng kéo dài trong khoảng 2-3 ngày, và có nơi mưa vừa, mưa to như: tại Sở Sao là:69,2mm xảy ra ngày 01/02, tại Thuận An là: 34,5mm xảy ra vào ngày 06/02, Tân Uyên: 45,5mm xảy ra ngày 01/04 Tổng lượng mưa trong 3 tháng đầu năm ở các nơi hầu hết đều vượt TBNN từ 46 - 80mm,

Trang 10

1.3 Các nghiên cứu về hiện tượng mưa lớn ở Việt Nam và Nam bộ:

- Mưa là đại lượng ngẫu nhiên, diễn biến bất liên tục theo không gian và thời gian Vì vậy công tác dự báo mưa, đặc biệt là mưa lớn là vấn đề hết sức khó khăn, nhất là dự báo định lượng

1.3.1 Nghiên cứu về mưa lớn ở Việt Nam:

- Hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu đang được quan tâm nhiều hơn, do đó

cũng có nhiều công trình nghiên cứ về các yếu tố khí tượng hơn, trong đó có các

nghiên cứu về mưa lớn

Trang 11

8

- “Nghiên cứu mô phỏng và dự tính xu thế biến đổi của các sự kiện mưa lớn

trên khu vực Việt Nam bằng mô hình khí hậu khu vực”, Lê Như Quân, Phan Văn

Tân, Ngô Đức Thành (2015), thông qua việc mô tả các thí nghiệm được xây dựng để mô phỏng mưa lớn và mưa cực trị, đánh giá khả năng mô phỏng mưa lớn, mưa cực trị của mô hình RegCM4 cũng như thí nghiệm về dự tính sắp tới của các sự kiện này trong tương lai dựa trên các kịch bản phát thải mới nhất của IPCC Những kết quả phân tích để thấy được khả năng mô phỏng của các sự kiện mưa lớn, mưa cực trị và sự biến đổi của chúng khi sử dụng mô hình khí hậu khu vực và kết quả về dự tính những biến đổi mưa lớn, mưa cực trị trong tương lai bằng mô hình RegCM4

- Nguyễn Khanh Vân, Đỗ Lệ Thủy, Trần Anh Đức (2013) đã “Nghiên cứu

nguyên nhân và quy luật của thời tiết mưa lớn khu vực đèo Hải Vân – Đèo Cả, vùng Nam Trung Bộ ( giai đoạn 1986 – 2010)” Trên cơ sở các số liệu mưa 25 năm

(1986-2010) quan trắc tại các trạm trong khu vực nghiên cứu và số liệu tái phân tích của Cơ quan khí tượng Nhật bản (Japanese Re-Analyzed JRA25), đề tài đã phân tích và thống kê các hình thế thời tiết (HTTT) và tổ hợp của chúng gây ra các đợt mưa lớn, rất lớn sinh lũ lụt trên khu vực Đèo Hải Vân - Đèo Cả (từ Đà Nẵng đến Phú Yên) như bão (ATNĐ), không khí lạnh, bão (ATNĐ) kết hợp với không khí lạnh, hội tụ nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh) Qua số liệu 25 năm nghiên cứu (1986-2010) đã xác định được 5 đợt mưa lớn trái mùa, trung bình ∼0,2 đợt mưa lớn trái mùa/năm, trong số này chỉ quan sát thấy có 01 đợt mưa rất lớn trái mùa, trung bình ∼ 0,04 đợt mưa rất lớn trái mùa/năm

1.3.2 Nghiên cứu về mưa lớn ở Nam Bộ:

- Các tác giả Trần Duy Thức, Vũ Văn Thăng, Vũ Thế Anh, Nguyễn Văn Hiệp

đã thực hiện đề tài “Mô phỏng đợt mưa lớn từ ngày 09-13/08/2013 ở Nam Bộ và Nam

Tây Nguyên bằng mô hình WRF”, nhóm tác giả đã nghiên cứu phân tích các đợt mưa

lớn sử dụng các sản phẩm đầu ra của mô hình WRF, số liệu quan trắc và các thông tin synop…Hai thí nghiệm được thực hiện là mô phỏng có địa hình và không có địa hình Dựa vào kết quả thu được rằng khi loại bỏ địa hình lượng mưa giảm đi đáng kể khoảng 50% so với trường hợp có địa hình, tốc độ gió ở một số khu vực địa hình cao cũng

Trang 12

9

thay đổi đáng kể Do đó địa hình kết hợp gió Tây Nam mạnh mang nhiều hơi ẩm kết hợp hiệu ứng cưỡng bức địa hình là nguyên nhân chính gây ra đợt mưa lớn này Khả năng mô phỏng mưa của mô hình WRF trong đợt mưa lớn từ ngày 09-13/08/2013 so với thực tế là khá tốt, tương đối phù hợp với kết quả quan trắc từ các trạm mặt đất Địa hình đóng góp một vai trò quan trọng trong việc gây ra mưa lớn, nhờ hiệu ứng chặn và nâng gây mưa cho dòng không khí từ ngày 09-13/08/2013

Trang 13

10

CHƯƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Số liệu quan trắc bề mặt từ mạng lưới trạm tỉnh bình dương:

- Số liệu trong đồ án được lấy từ các trạm tại Bình Dương: Dầu

Tiếng(1980-2014), Sở Sao (1980-2014) Nguồn thu thập số liệu: Phân viện Khí

Tượng Thủy Văn và Biến Đổi Khí Hậu nên đảm bảo độ tin cậy

- Số liệu được sử dụng là lượng mưa tháng, lượng mưa năm, lượng mưa

trung bình tháng, lượng mưa một ngày lớn nhất, lượng mưa ba ngày lớn nhất

của hai trạm khí tượng là Sở Sao và Dầu Tiếng Thời kỳ số liệu là từ

1980-2014

Tên Trạm Vĩ Độ Kinh Độ Thời kỳ lấy số liệu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.2.1 Phương pháp thống kê:

- Phương pháp thống kê và kế thừa các tài liệu đã sẵn có nhằm hệ thống

hóa các tài liệu cơ bản là cơ sở cho nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp hồi quy tuyến tính :

- Phương pháp này thường được sử dụng với các đường biến trình ít có

dao động lên xuống phức tạp Thông thường, việc xác định xu thế được sử

dụng bằng hàm tuyến tính -là phương pháp dễ thực hiện nhưng không linh

hoạt Xu thế biến đổi có thể thể hiện khi biểu diễn phương trình hồi quy là hàm

theo thời gian:

Y = a0 + a1X t (2.1)

Trong đó: Y: là giá trị của hàm; Xt: số thứ tự năm; a0, a1: các hệ số hồi

qui

Trang 14

11

- Hệ số a1 cho biết hướng dốc của đường hồi quy, nói lên xu thế biến đổi

tăng hay giảm theo thời gian Nếu a1 âm nghĩa là xu thế giảm theo thời gian và

ngược lại Các hệ số a0 và a1 tính theo công thức sau:

a0= 𝑦 ̅ - a1x ̅ (2.2)

a1=(y t -y ̅)x t - ∑ (y t -y ̅)x̅

n t=1

n t=1

n t=1 (x t -x ̅)x t - ∑ n t=1 (x t -x ̅)x̅ = (y t -y ̅)(x t -x ̅)

n t=1

n t=1 (x t -x ̅) 2 (2.3)

Trang 15

Hình 3.1: Xu thế biến đổi lượng mưa năm tại Dầu Tiếng giai đoạn 1980-2014

- Tại trạm Dầu Tiếng: lượng mưa thấp nhất là vào năm 1995 với lượng mưa năm là: 1279.7 mm, lượng mưa cao nhất là vào năm 1989 với lượng mưa năm là: 2453.9 mm, lượng mưa năm trung bình là:1782.2mm Nhìn chung lượng mưa năm đo được tại trạm Dầu Tiếng tăng dần qua các năm với lượng tăng hằng năm khoảng 2.95 mm/năm.(theo hình 3.1)

- Để có được cái nhìn cụ thể hơn Lượng mưa năm tại Dầu Tiếng được chia

Trang 16

13

trong năm 1995) trong thời gian nghiên cứu đều rơi vào giai đoạn này Trong thời kì này lượng mưa có sự biến động khá lớn giữa các năm ngoại trừ các giai đoạn như: 1983-1984,1997-1999 chênh lệch nhau không quá 100 mm giữa các năm Trong đó, giai đoạn 1983-1984 thì lượng mưa năm đều ít hơn lượng mưa trung bình của giai đoạn này, lần lượt là: 1600.3 mm và 1564.9 mm ; giai đoạn 1997-

1999 thì đều có lượng mưa năm lớn hơn lượng mưa trung bình của giai đoạn này, lần lượt là:1813.4 mm, 1790.5 mm, 1851.6 mm Năm 1988 có lượng mưa năm 1576.4 mm, thấp hơn mức trung bình của giai đoạn (1749.6 mm) nhưng năm 1989 lại tăng đột biến lên 2453.9 mm, cao nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu (1980-2014), sau đó giảm dần qua các năm đến năm 1995 thì chạm đáy và tăng dần lại những năm sau đó và duy trì ở mức trên lượng mưa trung bình của giai đoạn này (1749.6 mm) Lượng mưa tăng khoảng 9mm/năm trong giai đoạn này

+ Sau năm 2000: thời kì này lượng mưa ổn định hơn, không có quá nhiều biến động như khoảng thời gian trước năm 2000 Tuy nhiên, khoảng cách lượng mưa năm giữa các năm lại khá rõ rệt như: năm 2009-2010 giảm xấp xĩ 800mm (2214.3 mm của năm 2009 so với 1401.1 mm năm 210), năm 2011-2012 có lượng chênh lệch nhỏ nhất,chỉ khoảng 53mm (1763.5 mm (2011) so với 1710.6 mm (2012)) Lượng mưa trung bình là 1825.7 mm cao hơn lượng mưa trung bình của giai đoạn trước (1749.6 mm), lượng mưa năm cao nhất là vào năm 2000 (2263.2 mm), thấp nhất vào năm 2010 (1401.1 mm) Xu thế của lượng mưa năm trong khoảng thời gian này là giảm khoảng 9.65 mm/năm

Trang 17

XI cũng thường là thời gian kết thúc mùa mưa ở Bình Dương.(theo hình 3.2)

Trang 18

15

Hình 3.3: Xu thế biến đổi lượng mưa năm tại Sở Sao giai đoạn 1980-2014

- Tại trạm Sở Sao: lượng mưa thấp nhất là vào năm 2003 với lượng mưa năm là: 1225.7 mm, lượng mưa cao nhất là vào năm 2000 với lượng mưa năm là: 2312 mm, lương mưa năm trung bình là:1831.7 mm Nhìn chung lượng mưa năm đo được tại trạm Sở Sao tăng dần qua các năm với lượng tăng hằng năm khoảng 9mm/năm (theo hình 3.3) Trạm Sở Sao cũng chia ra làm 2 giai đoạn để phân tích:

+ Trước năm 2000: lượng mưa trung bình giai đoạn này là: 1752.4 mm Trong giai đoạn này, lượng mưa tăng khoảng 8.4 mm/năm Lượng mưa năm cao nhất trong giai đoạn này là vào năm 1998 với lượng mưa là: 2213.3 mm, lượng mưa năm thấp nhất trong giai đoạn này là năm 1987 với lượng mưa là: 1303.5 mm So với trạm Dầu Tiếng thì trạm Sở Sao có lượng mưa giữa các năm ổn định hơn Lượng mưa giảm mạnh trong giai đoạn 1983-1984, từ 2149.7 mm trong năm 1983 mm chỉ còn 1511 mm (thấp hơn lượng mưa trung bình trong giai đoạn này) trong năm 1984, sau đó lượng mưa năm các năm tiếp theo 1984-1987 duy trì ở mức dưới 1500 mm Nhìn chung lượng mưa năm trong giai đoạn này duy trì ở mức dưới 2000 mm, ngoại trừ một số

Trang 19

16

năm như: 1980 (2147.1 mm), 1982 (2053.1 mm), 1983 (2149.7 mm), 1998 (2213.3 mm)

+ Sau năm 2000: lượng mưa trung bình trong giai đoạn này là: 1937.4 mm Trong khoảng 2000-2003 lượng mưa liên tục giảm từ khi đạt đỉnh vào năm 2000 và chạm đáy vào năm 2003 Lượng mưa cao nhất (2312 mm trong năm 2000) và lượng mưa thấp nhất (1225.7 mm trong năm 2003) trong thời gian nghiên cứu đều rơi vào giai đoạn này Sau năm 2003 lượng mưa tăng dần lên qua các năm sau đó và luôn duy trì ở mức lớn hơn 1700 mm/năm, có một số năm lượng mưa vượt mức 2000 mm: 2007 (2287.9 mm), 2008 (2041.2 mm), 2013 (2121.8 mm), 2014 (2272.4 mm) Nhìn chung

lượng mưa trong thời gian này tăng khoảng 12.7 mm/năm

Hình 3.4: Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng tại trạm Sở Sao

giai đoạn 1980-2014

- Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình tháng trong giai đoạn 1980-2014 với lượng mưa trung bình tăng khoảng 15 mm/năm, lượng mưa trung bình tháng trong giai đoạn 1980-2014 có sự chênh lệch rõ ràng giữa các tháng mùa mưa và các tháng mùa khô Trong đó cao nhất là tháng IX với lượng là 298.2 mm, thấp nhất là vào tháng II với 10.9 mm Cũng như trạm Dầu Tiếng, lượng mưa trung bình tháng tăng dần từ

y = 15.017x + 55.033

0.0 50.0 100.0 150.0 200.0 250.0 300.0 350.0

Trang 20

17

tháng I cho đến tháng VII, cũng thường là tháng bắt đầu mưa dầm ở Bình Dương Lượng mưa trung bình tháng cũng giảm dần từ sau tháng IX, khoảng thời gian tháng X, XI cũng thường là thời gian kết thúc mùa mưa ở Bình Dương (theo hình 3.4)

3.2 NGHIÊN CỨU XU THẾ LƯỢNG MƯA QUY MÔ NGÀY TẠI CÁC TRẠM:

3.2.1 Nghiên cứu xu thế lượng mưa một ngày lớn nhất:

- Lượng mưa một ngày lớn nhất là lượng mưa lớn nhất trong 1 ngày trong một tháng, ứng với mỗi năm sẽ có 12 giá trị này

Hình 3.5: Xu thế biến đổi lượng mưa 1 ngày lớn nhất trạm Dầu Tiếng trong giai

Trang 21

18

vào năm 2008 với lượng mưa 1 ngày lớn nhất là 53.5 mm, giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng là 97.9 mm Nhìn chung xu thế lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở trạm Dầu Tiếng có xu hướng tăng với giá trị khoảng 0.06mm/năm (theo hình 3.5) Để có thể phân tích cụ thể hơn Lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở trạm Dầu Tiếng được chia ra thành 2 giai đoạn:

+ Trước năm 2000: giá trị cực đại của lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại Dầu Tiếng trong giai đoạn này, đó là vào năm 1991 (159.2 mm), đây cũng là giá trị lớn nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu Giá trị nhỏ nhất trong giai đoạn này là vào năm 1985 với giá trị 60.2 mm, giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong khoảng thời gian này là: 98.9 mm Xu thế của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này tăng khoảng 0.18 mm/năm Các giá trị lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này có sự thay đổi rõ rệt giữa các năm, ví dụ như:1983-1985, mỗi năm chênh lệch nhau 60 mm -

70 mm với giá trị lần lượt là: 70.8 mm, 131.6 mm, 60.2 mm Sau đó giá trị tăng dần đều trong khoảng 1986-1989 với giá trị tăng mỗi năm chỉ khoảng từ 12 mm-15 mm mỗi năm Nhìn chung thì lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở Dầu Tiếng trong giai đoạn này đều nằm trong khoảng từ 60 mm đến xấp xỉ 160 mm, chiếm phần lớn là dưới 100 mm với tỉ lệ 60% (12 năm)

+ Sau năm 2000: giá trị cao nhất của lượng mưa 1 ngày lớn nhất rơi vào năm

2007 có giá trị là:132.2 mm, giá trị thấp nhất là 53.5 mm vào năm 2008, đây cũng là giá trị thấp nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu Giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn này là: 96.6 mm Xu thế của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này là tăng khoảng 0.73 mm/năm Các giá trị trong giai đoạn này cũng có sự chênh lệch khá rõ rệt giữa các năm, ngoại trừ một số năm như: 2003-2005, trong đó năm 2003- năm 2004 có giá trị gần như giống nhau,lần lượt là:109.3 mm và 110.2 mm Từ năm 2004 – năm 2005 có sự tăng nhẹ chỉ khoảng 9mm,cụ thể: 110.2 mm (2004), 119 mm (2005) Giai đoạn 2009-2010 cũng không có sự thay đổi lớn với 98 mm (2009) và 94.5 mm (2010) Sự chênh lệch lớn nhất giữa các năm trong giai đoạn này là năm 2007- 2008 với sự chênh lệch lên tới 78.7 mm, cụ thể năm 2007 là 132.2 mm, năm 2008 là 53.5 mm

Trang 22

1 ngày lớn nhất tại trạm Sở Sao là 100.3 mm Nhìn chung xu thế lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở trạm Sở Sao có xu hướng tăng với giá trị khoảng 0.65 mm/năm (theo hình 3.6) Để có thể phân tích cụ thể hơn Lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở trạm Sở Sao được chia ra thành 2 giai đoạn:

+ Trước năm 2000: giá trị cực đại của lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại Sở Sao trong giai đoạn này là vào năm 1982 (138 mm) Giá trị nhỏ nhất trong giai đoạn này là vào năm 1996 vói giá trị 55.7 mm, giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong khoảng thời gian này là: 94.1 mm Xu thế của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này giảm khoảng 0.41 mm/năm Các giá trị lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này có sự thay đổi rõ rệt giữa các năm, ví dụ như: năm 1988-1989, chênh lệch nhau khoảng 51 mm với giá trị lần lượt là: 66.6 mm, 117.9 mm; khoảng năm

y = 0.648x - 1193.9

y = -0.4095x + 909.48 y = 2.0557x - 4017.340.0

Trang 23

20

1992 – 1994, mỗi năm chênh lệch nhau từ khoảng 46 mm – 58 mm, ứng với giá trị lần lượt là:77.8 mm, 135.7 mm, 89.4 mm Tuy nhiên cũng có những giai đoạn mà giá trị giữa các năm gần như không thay đổi, ví dụ như: 1985 (89.2 mm) và 1986 (90.5 mm) hay 1990 (90 mm) và 1991 (90 mm) Nhìn chung thì lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở trạm Sở Sao trong giai đoạn có 65 % (13 năm) dưới mực 100 mm, chỉ có 10% (2 năm) đạt mức trên 120 mm

+ Sau năm 2000: giá trị cao nhất của lượng mưa 1 ngày lớn nhất rơi vào năm

2007 có giá trị là:174.3 mm, đây cũng là giá trị lớn nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu, giá trị thấp nhất là 50.5 mm vào năm 2003, đây cũng là giá trị thấp nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu Giá trị trung bình của lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại trạm Sở Sao trong giai đoạn này là: 108.5 mm Xu thế của lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong giai đoạn này là tăng khoảng 2.1 mm/năm Các giá trị trong giai đoạn này cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa các năm như: giai đoạn các năm 2002-2004, chênh lệch giữa các năm khoảng 42 mm- 49 mm,ứng với các giá trị lần lượt là: 92.1 mm, 50.5

mm, 99.2 mm hoặc là giai đoạn năm 2012-2014, với các giá trị lần lượt là:70.1 mm, 102.2 mm, 162.8 mm, giá trị tăng dần từ năm 2012 đến năm 2014, tăng lên đến 92

mm Ngoài ra cũng có một số năm mà giá trị của lượng mưa 1 ngày lớn nhất ở Sở Sao gần như không thay đổi như: năm 2005 (104.6 mm) và năm 2006 (105.6 mm) Nhìn chung trong giai đoạn này giá trị có nhiều sự thay đổi hơn so với giai đoạn trước năm

2000

3.2.2 Nghiên cứu xu thế lượng mưa ba ngày lớn nhất tại các trạm:

- Lượng mưa ba ngày lớn nhất được tính bằng cách cộng tổng lương mưa của

ba ngày liên tiếp trong tháng, tương ứng với mỗi tháng sẽ có 31 giá trị, sau đó lựa chọn giá trị lớn nhất trong 31 giá trị đó sẽ được lượng mưa ba ngày lớn nhất của một tháng

- Tại trạm Dầu Tiếng: lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại Dầu Tiếng đạt giá trị cao nhất vào năm 1984 với lượng mưa lớn nhất 3 ngày đạt 230.4 mm, giá trị thấp nhất là vào năm 1985 với lượng mưa 3 ngày lớn nhất là 75.8 mm, giá trị trung bình của lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng là 140.5 mm Nhìn chung xu thế lượng mưa 3 ngày lớn nhất ở trạm Dầu Tiếng có xu hướng giảm với giá trị khoảng 0.04 mm/năm

Trang 24

21

(theo hình 3.7) Để có thể phân tích cụ thể hơn Lượng mưa 3 ngày lớn nhất ở trạm

Dầu Tiếng được chia ra thành 2 giai đoạn:

Hình 3.7 : Xu thế biến đổi lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu

Tiếng trong giai đoạn 1980-2014

+ Trước năm 2000: giá trị cực đại của lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại Dầu Tiếng trong giai đoạn này, đó là vào năm 1984 (230.4 mm), đây cũng là giá trị lớn nhất trong khoảng thời gian nghiên cứu Giá trị nhỏ nhất trong giai đoạn này là vào năm 1985 với giá trị 75.8 mm, đây cũng là giá trị nhỏ nhất của lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng trong thời gian nghiên cứu Giá trị trung bình của lượng mưa 3 ngày lớn nhất trong khoảng thời gian này là: 139 mm Xu thế của lượng mưa 3 ngày lớn nhất trong giai đoạn này giảm khoảng 1.1 mm/năm Các giá trị lượng mưa 3 ngày lớn nhất trong giai đoạn này có sự thay đổi rõ rệt giữa các năm, đặc biệt là giai đoạn năm 1983-

1985 có biến động lớn với chênh lệch giữa các năm lần lượt là 123 mm và 154 mm ứng với giá trị từng năm lần lượt là:107.2 mm, 230.4 mm, 75.8 mm Trong đó, hai

Trang 25

22

năm liền kề là năm 1984 và năm 1985 lần lượt là giá trị cao nhất và thấp nhất trong thời gian nghiên cứu Ngoài ra cũng có những năm mà lượng mưa 3 ngày lớn nhất gần như không thay đổi: năm 1993 (107.7 mm) và năm 1994 (109.7 mm) Nhìn chung lượng mưa 3 ngày lớn nhất của trạm Dầu Tiếng tập trung đến 65% (13 năm) trong khoảng 100 mm-150 mm, 30% (6 năm) trong khoảng trên 150 mm,chỉ có duy nhất 1 năm 1985 (75.8 mm) dưới mức 100 mm

+ Sau năm 2000: giá trị cao nhất của lượng mưa 3 ngày lớn nhất rơi vào năm

2007 có giá trị là:196.7 mm, giá trị thấp nhất là 89.4 mm vào năm 2008, đây cũng là giá trị thấp nhất trong khoảng thời gian 20 năm (1988-2008) của trạm nhưng vẫn cao hơn so với mức thấp nhất trong thời gian nghiên cứu là 75.8 mm(1985) Giá trị trung bình của lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng trong giai đoạn này là: 142.5

mm Xu thế của lượng mưa 3 ngày lớn nhất trong giai đoạn này là tăng khoảng 0.96 mm/năm Các giá trị trong giai đoạn này có sự chênh lệch không lớn và khá đều trong khoảng từ năm 2001-2004 với độ chênh lệch chỉ khoảng 5 mm - 15 mm giữa các năm,cụ thể lần lượt là:120.3mm, 115.7 mm,129.9 mm, 145 mm Trong khi đó giai đoạn từ 2005 trở đi thì có sự chênh lệch giữa các năm rất rõ ràng ví dụ như: giai đoạn năm 2006 – 2010 có độ chênh lệch giữa các năm lớn, từ 60 mm đến hơn 105 mm,cụ thể:116.3 mm (2006), 196.7 mm (2007), 89.4 mm (2008), 194.2 mm (2009), 127.6

mm (2010) Nhìn chung, giai đoạn sau năm 2000, lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Dầu Tiếng chủ yếu tập trung ở mức dưới 150 mm với tỉ lệ 60% trên tổng số năm trong

giai đoạn này (9 năm), không có năm nào trên 200mm

Trang 26

23

Hình 3.8: Xu thế biến đổi lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại trạm Sở Sao

trong giai đoạn 1980-2014

- Tại trạm Sở Sao: lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại Sở Sao đạt giá trị cao nhất vào năm 2014 với lượng mưa 3 ngày lớn nhất đạt 222.4 mm, giá trị thấp nhất là vào năm 2003 với lượng mưa 3 ngày lớn nhất là 95.8 mm, giá trị trung bình của lượng mưa

3 ngày lớn nhất tại trạm Sở Sao là 140.1 mm Nhìn chung xu thế lượng mưa 3 ngày lớn nhất ở trạm Sở Sao có xu hướng tăng với giá trị khoảng 0.7 mm/năm (theo hình 3.8) Để có thể phân tích cụ thể hơn Lượng mưa 3 ngày lớn nhất ở trạm Sở Sao được chia ra thành 2 giai đoạn:

+ Trước năm 2000: giá trị cực đại của lượng mưa 3 ngày lớn nhất tại Sở Sao trong giai đoạn này, đó là vào năm 1982 (186 mm) Giá trị nhỏ nhất trong giai đoạn này là vào năm 1984 với giá trị 105.3 mm Giá trị trung bình của lượng mưa 3 ngày

y = 0.7045x - 1266.9

y = 0.5817x - 1022.5 y = 0.9361x - 1731.580.0

Ngày đăng: 09/04/2019, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w