Lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm là rất cấp thiết trong việc quản lý đất đai và là nhiệm vụ phải thực hiện, nhằm cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai để nâng cao hiệu quảsử d
Trang 1MỞ ĐẦU 1) Lý do chọn đề tài:
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá và có hạn, quá trình khai thác sử dụng đất đai luôn gắn liền với qua trình phát triển đất nước Mà diện tích đất thì không thể tăng lên được, trong khi Việt Nam đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nên việc sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên đất đai hợp lý là một trong những nguồn lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Luật Đất đai năm 2013 quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm là rất cấp thiết trong việc quản lý đất đai và là nhiệm vụ phải thực hiện, nhằm cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về đất đai để nâng cao hiệu quảsử dụng tài nguyên đất đai
Huyện Bình Chánh có nhân khẩu đông nhất nước ( 625.000 người), và Bình Chánh nằm ở cửa ngõ phía Tây, đồng thời có các trục đường giao thông huyết mạch nên Bình Chánh được xem là cầu nối quan trọng giữa việc giao lưu kinh tế với các vùng Vì vậy việc xây dựng kế hoạch sử dung đất cấp Huyện là một việc quan trọng để có thể sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong tương lai
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nên em lựa chọn nghiên cứ đề
tài“Xây dựng Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 tại Huyện Bình Chánh, Tp.Hồ
Chí Minh”
2) Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2017 trên địa bàn huyện Bình Chánhnhằm quản lý chặt chẽ tài nguyên đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch và pháp luật; đồng thời đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Phát huy được tối đa tiềm năng đất đai hiện có nhằm đáp ứng được các yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai của huyện cũng như đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
3) Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế- xã hội của huyện
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai của huyệnđể làm
cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lập kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện
- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyệnnhằm rút ra những kết quả đạt được và những mặt tồn tại cần khắc phục
Trang 2trong xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2017
- Xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2017
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện
4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Công tác xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn huyện Bình Chánh trong năm 2017
b) Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: huyện Bình Chánh
Phạm vi thời gian: xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2017
5) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội, diện tích các loại đất tại địa phương, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch trong năm trước,
Phương pháp thống kê: thống kê các số liệu về diện tích đất đã thu thập từ năm 2015 đến nay
Phương pháp so sánh: so sánh các số liệu thu thập được từ 2015 đến nay Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích và tổng hợp các dữ liệu thu thập được
Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến các anh chị trong đơn vị thực tập về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
Công cụ hỗ trợ: sử dụng phần mềm micro v8i để thực hiện điều chỉnh, biên tập lại bản đồ
6) Ý nghĩa nghiên cứu:
Củng cố và hệ thống hóa những kiến thức lý thuyết về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được học trên lớp
Giúp bản thân nắm được những nội dung và phương pháp thực hiện được quy định trong các văn bản luật hiện hành về công tác lập quy hoạch, kế hoạch
Trang 3- Chương 2: Thực trạng xây dựng kết quả sử dụng đất ở Huyện Bình Chánh
- Chương 3: Nội dung xây dựng kế hoạch sử dụng đất 2017 trên địa bàn huyện Bình Chánh
- Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN XÂY DỰNG
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
Quy hoạch sử dụng đất
Là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định (khoản 2, Điều 3 Luật Đất đai 2013)
Kế hoạch sử dụng đất
Là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong
kỳ quy hoạch sử dụng đất (khoản 3, Điều 3 Luật Đất đai 2013) Như vậy, KHSDĐ nhằm thực hiện chi tiết, cụ thể hóa quy hoạch sử dụng đất để sử dụng đất theo từng thời kỳ cụ thể
Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm
- Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng an ninh là 05 năm; kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hằng năm
1.1.2 Đất đai, vai trò, đặc điểm của đất đai trong phát triển kinh tế-xã hội và quy luật phân vùng sử dụng đất
Đất đai
Đất đai là một phạm trù thể hiện mối quan hệ tổng hòa giữa hoạt động kinh tế-xã hội của con người với đất, lớp bề mặt trái đất trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy, đất đai có 2 thuộc tính là thuộc tính tự nhiên phản ánh chất lượng
tự nhiên của đất đai đáp ứng các nhu cầu vật chất của con người và thuộc tính xã hội là tổng hòa các quan hệ xã hội được hình thành từ những tương tác thị trường và phi thị trường
Vai trò của đất đai
- Đất đai là một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện chung nhất để tạo ra của cải vật chất
- Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống
- Đất đai là đối tượng, tư liệu sản xuất đặc biệt do nó có các tính đặc trưng riêng như có độ phì, tính cố định về không gian, tính giới hạn về số lượng, tính không thay thế, tính vĩnh cửu
Trang 5- Đất đai có vai trò quan trọng đối với các ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, phi nông nghiệp
- Đất đai là bất động sản có giá trị trong phát triển kinh tế - xã hội
Đặc điểm của đất đai
- Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt
Trong quá trình sản xuất đất đai là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất Trong nông nghiệp đất đai là đối tượng lao động bởi trong quá trình sản xuất con người tác động vào đất đai Thông qua đất đai con người lại đưa chất dinh dưỡng vào cây trồng, do đó đất đai là công cụ lao động
Đất đai vừa là đối tượng vừa là công cụ lao động nên đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
- Đất đai có 2 thuộc tính
Thuộc tính tự nhiên của đất đai bao gồm các đặc tính về không gian Tính chất tự nhiên của đất đai làm cho nó trở thành một loại hàng hóa đặc biệt bởi vì đất đai có độ phì, có vị trí cố định không dịch chuyển được
Thuộc tính xã hội của đất đai chính là vị thế của đất đai – là hình thức đo
sự mong muốn về mặt xã hội gắn với đất đai tại một vị trí nhất định, là thuộc tính phi vật thể
Quy luật phân vùng sử dụng đất
Lý thuyết về phân vùng chức năng đất đai được nghiên cứu đầu tiên bởi Von Thunen (1926), tiếp tục được phát triển bởi William Alonso (1964) và ngày nay được hoàn thiện bởi Hoàng Hữu Phê (2000)
Von Thunen: lý giải về phân vùng với đất nông nghiệp
William Alonso: lý giải phân vùng đối với đất đô thị
Cả hai lý giải của họ đều dựa vào chi phí của việc vận chuyển hàng hóa
và dịch vụ đến vi trí trung tâm để trao đổi
Cả 2 lý giải của họ đều có chung kết luận: khi quy hoạch thì khoảng cách tới trung tâm là yếu tố quyết định Nhưng thực tế lại có những trường hợp ở những vị trí trung tâm nhưng giá lại thấp hơn vùng ở xa Nên cả 2 lý thuyết trên đều không giải thích được Từ đó lý thuyết Vịthế - chất lượng của Hoàng Hữu Phê công bố vào năm 2000 dưới tiêu đề “Vịthế, chất lượng và sự lựa chọn khác: Tiến tới một lý thuyết mới về dân cư đô thi” mô tả động học của việc hình thành
và phát triển các khu dân cư đô thị, đó là cơ chế của sự lựa chọn về nơi ở của người dân trong không gian đô thị
1.1.3 Hệ thống quy hoạch đất đai ở nước ta hiện nay và những bất cập trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay
a/ Hệ thống quy hoạch đất đai ở nước ta hiện nay
Trang 6Hiện nay, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 -2015) cấp quốc gia đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết
số 17/2011/QH13 Bộ TN&MT đã đôn đốc, tổng hợp báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương và Bộ trưởng đã ký thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ Báo cáo số 190/BC-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ gửi Quốc hội và Báo cáo số 193/BC- CP ngày 06/6/2014 của Chính phủ trình Quốc hội về kết quả kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Nghị quyết số 17/2011/QH13 của Quốc hội Cụ thể như sau:
- Đối với cấp tỉnh: Bộ đã trình Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho 63/63 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương
- Đối với cấp huyện: có 352 đơn vị hành chính cấp huyện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 49,93%);
có 330 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 46,81%); còn lại 23 đơn vị hành chính cấp huyện chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 3,26%)
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907 đơn
vị hành chính cấp xã đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 26,06%); còn lại 1.733 đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất (chiếm 15,53%)
Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020): Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/05/2015 Đến hết tháng 06 năm 2015 đã có 06
Bộ, ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 và còn một số tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo Kế hoạch tổ chức và thực hiện việc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015) các cấp đã được thành lập
b/ Những bất cập trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay
Quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với kế hoạch sử dụng đất, bởi vì kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất thông qua những biện pháp và thời gian cụ thể Vì vậy nếu quy hoạch thiếu tính toán, không xác định được thời hạn, không có kế hoạch cụ thể sẽ gây ra “quy hoạch treo”- là tình trạng các quy hoạch có nội dung sử dụng đất nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng tiến độ
Công tác lập, triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay đã ngày càng hoàn thiện hơn và có những chuyển đổi tích cực nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập như:
Trang 7- Một số địa phương phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện chậm trễ so với quy định, dẫn đến việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng theo kế hoạch
- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chưa phù hợp về thời gian, nội dung với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
xã hội
- Chất lượng của nhiều quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ trong sử dụng đất cũng như chưa đầy đủ căn cứ pháp lý thể hiện qua việc các quy hoạch phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần; thiếu tính khả thi, không đảm bảo nguồn lực đất đai để thực hiện
- Việc không đồng nhất các chỉ tiêu thống kê các loại đất dẫn đến việc đánh giá các chỉ tiêu thực hiện quy hoạch không đầy đủ, chính xác Chỉ tiêu phê duyệt chưa đảm bảo diện tích đất tối thiểu so với quy chuẩn xây dựng về giao thông, y tế, giáo dục…
- Nhiều địa phương còn gặp khó khăn, bị động khi giải quyết đối với trường hợp biến động các chỉ tiêu sử dụng đất trong quá trình thực hiện so với các chỉ tiêu đã được duyệt, phát sinh các dự án, công trình chưa có trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện Bên cạnh đó một số hạng mục công trình đã có trong chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất hàng năm nhưng cơ quan chủ đầu
tư chưa lập xong dự án và hồ sơ đất đai, phải lùi tiến độ thực hiện
- Lực lượng cán bộ chuyên trách cho công tác này còn nhiều hạn chế về năng lực Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên dẫn tới tình trạng vi phạm quy hoạch diễn ra nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời
- Công tác lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai chưa thực sự được chú trọng
- Tình trạng quy hoạch “treo” còn phổ biến Trên cả nước vẫn còn hàng ngàn dự án “treo” chưa được thu hồi Việc xử các dự án sau khi thu hồi cũng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
- Đối với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện vẫn còn những bất cập như về thời gian phê duyệt phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất từ cấp tỉnh cho cấp huyện vẫn chưa phù hợp với thực tế; việc xác định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh vực vẫn còn bất cập so với thực tiễn do vướng các quy định về thời gian lập kế hoạch sử dụng đất; người sử dụng đất bị hạn chế nhiều quyền; gặp khó khăn trong việc chuyển mục đích sử dụng đất
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Theo Điều 35 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:
1 Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh
Trang 82 Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với cấp trên; KHSDĐ phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt QH sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất cấp xã
3 Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
4 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
5 Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
6 Dân chủ và công khai
7 Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
8 Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch, KHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
1.2.2 Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Theo khoản 3, Điều 40 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:
a) Kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
b) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
c) Nhu cầu SDĐ trong năm KH của các ngành, lĩnh vực của các cấp; c) Khả năng đầu tư, huy động nguồn lực để thực hiện KHSDĐ
1.2.3 Nội dung kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện
Theo khoản 4, Điều 40 Luật đất đai 2013 quy định như sau:
a) Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện KHSDĐ năm trước;
b) Xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong KHSDĐ cấp tỉnh
và diện tích đất theo nhu cầu sử dụng đất cấp huyện, cấp xã trong năm kế hoạch;
c) Xác định vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện công trình, dự án
sử dụng đất vào mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã
Đối với dự án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn thì phải đồng thời xác định vị trí, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận
để đấu giá QSDĐ thực hiện dự án nhà ở, TM-DV, sản xuất, kinh doanh;
d) Xác định diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng đối với các loại đất phải xin phép quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 57 của Luật Đất đai 2013 trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
đ) Lập bản đồ KHSDĐ hàng năm của cấp huyện;
Trang 91.2.4 Trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Theo Điều 42 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:
1 Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Bội Tài nguyên và Môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, KHSDĐ cấp quốc gia
2 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
3 Bộ Quốc phòng tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; Bộ công an tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
4 Chính phủ quy định chi tiết điều này
1.2.5 Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, KHSDĐ
1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
2 Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, KHSDĐ đất an ninh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trước khi trình Chính phủ phê duyệt
3 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, KHSDĐ huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt
Ủy ban nhân dân cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật này trước khi phê duyệt KHSDĐ hàng năm của cấp huyện
Ngoài những nội dung quy định trong Luật đất đai 2013 còn có một số văn bản dưới Luật như:
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013;
- Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về giá đất;
- Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
-Quyết định số 23/2010/QĐ-BTNMT ngày 17/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
Trang 10- Thông tư 13/2011/TT-BTNMT quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Thông tư 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về lập điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư 09/2015/TT-BTNMT ngày 23/03/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH 2.1) Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bình Chánh 2.1.1) Khái quát điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên của huyện Bình Chánh
a) Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Huyện Bình Chánh là một trong 5 huyện ngoại thành, có tổng diện tích tự nhiên là 25.255,99 ha, chiếm 12% diện tích toàn thành phố Huyện có 15 xã và 01 thị trấn; trong đó Lê Minh Xuân
là xã có diện tích lớn nhất với 3.500,20ha (chiếm 13,9% diện tích tự nhiên huyện) và nhỏ nhất là xã An Phú Tây với 586,57 ha (chiếm 2,3% DTTN huyện) Nằm về phía Tây của Thành phố, Bình Chánh có vị trí địa lý như sau:
- Tọa độ địa lý: Từ
10037’35” đến10052’29” vĩ Bắc và 106027’43”-
106052’29”kinh Đông
- Ranh giới hành chính:
+ Bắc giáp Hóc Môn;
+ Nam giáp huyện Bến Lức và Cần Giuộc – tỉnh Long An;
+ Tây giáp huyện Đức Hòa – tỉnh Long An;
+ Đông giáp quận Bình Tân, quận 7, 8 và huyện Nhà Bè;
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây vào nội thành TP Hồ Chí Minh, có các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1, Tỉnh lộ 10, đại lộ Nguyễn Văn Linh, Quốc lộ 50 nối huyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc, Cần Đước (Long An), đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương nối Bình Chánh nói riêng và
Trang 12TP Hồ Chí Minh nói chung với khu vực miền Tây,… tạo cho Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ và các khu công nghiệp trọng điểm ở phía Nam
Bên cạnh đó, với hệ thống sông, kênh, rạch khá phong phú: sông Cần Giuộc, Ông Lớn, kênh Xáng Đứng, Kênh Xáng Ngang … tạo cảnh quan sông nước, có ý nghĩa quan trọng, là vùng đệm sinh thái phía Tây của thành phố Hồ Chí Minh
- Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Bình Chánh có dạng nghiêng và thấp dần theo hai hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây nam, với độ cao giảm dần từ 3m đến
0,3m so với mực nước biển Có 3 dạng địa hình chính sau:
Dạng đất gò cao có cao trình từ 2 - 3m, có nơi cao đất 4m, thoát nước tốt,
có thể bố trí dân cư, các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các cơ sở công nghiệp, phân bố tập trung ở các xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B
Dạng đất thấp bằng có độ cao xấp xỉ 2,0m, phân bố ở các xã: Tân Quý Tây, An Phú Tây, Bình Chánh, Tân Túc, Tân Kiên, Bình Hưng, Phong Phú, Đa
Phước, Quy Đức, Hưng Long
Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.100 - 2.920 giờ
Trang 13b) Các nguồn tài nguyên
Bảng 2.1: Phân loại và thống kê diện tích các loại đất huyện Bình Chánh
Fao/UNESCO
Ký hiệu theo FAO
Diện tích
2 Đất xám trên phù sa cổ haplic Acrisols ACha 659,52 2,61
5 Đất phù sa loang lỗ đỏ vàng
cambic
FLca 7.211,36 28,55 Fluvisols
6 Đất phù sa gley gley Fluvisols FLg 3.963,38 15,69
7 Đất phèn
thionic
FLt 10.452,39 41,39 Fluvisols
8 Đất phèn phát triển
orthithionic
FLto 5.950,52 23,56 Fluvisols
9 Đất phèn tiềm tàng
protothionic
FLtp 4.501,86 17,83 Fluvisols
(Nguồn: Thống kê của Ủy ban nhân dân Huyện Bình Chánh)
- Đất xám: phân bố chủ yếu ở các xã như xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B Có diện tích 2.749,16 ha (chiếm 10,89% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) Trong đó chia làm hai nhóm phụ: đất xám phù sa cổ có diện tích 659,52ha và
Trang 14xám gley với diện tích 2.089,65 ha Đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha thịt), kết cấu rời rạc, hàm lượng cấp hạt cát ở tầng mặt đạt đến 60% nhưng càng xuống sâu hàm lượng cát giảm, lượng sét tăng lên Hàm lượng chất hữu cơ thay đổi từ 1-2%, độ pH = 4-5, nếu được cải tạo sẽ rất thích hợp cho hoa màu
Đất xám trên phù sa cổ: có tầng đất dày, cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, nghèo dinh dưỡng, nghèo lân và kali tổng số Xét về mức độ thích nghi thì đất này phù hợp với loại đất xây dựng hơn là đất nông nghiệp vì có nền móng tương đối ổn định
Đất xám gley là nhóm đất có thời gian bị ngập nước (từ 1-3 tháng/năm)
có thể trồng lúa nước 1-2 vụ, tuy nhiên hiệu quả không cao, thích hợp cho hoa màu hơn
Đất phù sa: có diện tích 11.174,74 ha (44,25% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) do hệ thống sông Cần Giuộc và Chợ Đệm bồi đắp, phân bố chủ yếu ở các xã Tân Quý Tây, An Phú Tây, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước, Bình Chánh, Tân Túc Đây là nhóm đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, đất có thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng hữu cơ khá (2-10%), nghèo lân, kali khá
Đất phèn : thuộc vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, phân bổ chủ yếu tại các xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, có diện tích 10.452,39 ha (41,39% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) Chia làm 2 nhóm đất phèn hoạt động (đất phèn phát triển) có diện tích 5.950,52 ha và đất phèn tiềm tàng với diện tích 4.501,86 ha Đất có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét đạt 40-50%), hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng độ phân hủy kém nên đất dễ thiếu N, nghèo lân, kali ở mức trung bình, đất chua, pH<4,5, hàm lượng
SO2-, Al3+, Fe2+ cao Nhóm đất này có độ phì tiềm tàng cao nhưng do chua và hàm lượng độc tố lớn nên trong sử dụng cần chú ý các biện pháp cải tạo và sử dụng (“ém phèn”, rửa phèn, lên líp đúng kỹ thuật, lựa chọn cây trồng phù hợp như mía, dứa, dừa, tràm…)
Tài nguyên nước mặt
Các sông, rạch trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều của 3 hệ thống sông lớn: Nhà Bè – Xoài Rạp, Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn Mùa khô độ mặn xâm nhập vào sâu nội đồng, độ mặn khoảng 4‰, mùa mưa mực nước lên cao nhất 1,62 m, gây lụt cục bộ ở các vùng trũng của huyện
Phần lớn sông, rạch của huyện nằm ở khu vực hạ lưu, nên thường bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải ở đầu nguồn, từ các khu công nghiệp của Thành phố
đổ về như: kênh Tàu Hủ, kênh Tân Hóa – Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, sông Cần Giuộc… gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là nuôi trồng thủy sản) cũng như môi trường sống của dân cư
Tài nguyên nước ngầm
Trang 15Nguồn nước ngầm cũng tham gia một vai trò lớn trong việc phát triển KT-XH huyện Nước ngầm phân bố rộng khắp, nhưng chất lượng tốt vẫn là khu vực đất xám phù sa cổ (Vĩnh Lộc A,B) độ sâu từ 5 - 50m và có nơi từ 50 - 100m, đối với vùng đất phù sa và đất phèn thường nước ngầm bị nhiễm phèn nên chất lượng nước không đảm bảo
Nhìn chung: nguồn nước ngầm phân bố khá rộng nhưng ở độ sâu từ 150 - 300m, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen, trong
đó có nơi 30 - 40m Trừ các xã phía Bắc là Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B nguồn nước ngầm không bị nhiễm phèn, nên khai thác nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng như nước sinh hoạt, vào tháng nắng mực nước ngầm cũng tụt khá sâu trên 40 m, các xã còn lại nguồn nước ngầm đều bị nhiễm phèn
+ Tài nguyên khoáng sản
Bình Chánh không có khoáng sản quý hiếm, vật liệu xây dựng khá phong phú Theo tài liệu của Đoàn Địa chất thành phố sơ bộ đánh giá như sau :
- Thân quặng 1 : Sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc, chiếm diện tích 200 ha, trữ lượng 4 triệu m3
nghiệm lâm nghiệp)
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn khoảng 3.370ha đất trồng cây lâu năm khác (chủ yếu là tràm) phân bố ở hầu hết ở các xã Trong đó, diện tích cây lâu năm khác trồng mang tính tập trung phân bổ chủ yếu ở các xã Vĩnh Lộc A
164ha; Vĩnh Lộc B 123ha, Bình Lợi 224ha…
+ Tài nguyên nhân văn
Bình Chánh hiện nay được chính thức thành lập vào ngày 02/12/2003 (thực hiện theo Nghị định 130/2003/NĐ ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc chia tách địa giới hành chánh) trên cơ sở tách 4 xã, thị trấn: Tân Tạo, Bình Trị Đông, Bình Hưng Hòa và Thị trấn An Lạc thuộc huyện Bình Chánh cũ để thành lập quận Bình Tân, phần còn lại tái lập lại huyện Bình
Trang 16Chánh bây giờ với tổng diện tích là 25.255ha, chia ra thành 16 xã – thị trấn, dân
số trung bình năm 2011 là 467.459 người
Trong chiến tranh, Bình Chánh là địa bàn có truyền thống yêu nước và đấu tranh dũng cảm Ngay thế kỷ 19, đây là địa bàn hoạt động của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định và các lực lượng kháng chiến khác Những năm 1931-1945, Trung Huyện là địa bàn hoạt động của Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Công an Nam Bộ, quân khu 7 Đặc biệt, khu vực cạnh sông Chợ Đệm, thuộc ấp 4, xã Tân Kiên chính là nơi được Xứ ủy Nam Kỳ họp quyết định cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 25-8-1945
Đánh giá chung những thuận lợi, hạn chế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của huyện Bình Chánh
a Thuận lợi
Bình Chánh nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thành phố, với các trục đường giao thông quan trọng nối liền các Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long đến các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các Tỉnh miền Đông Nam Bộ
Với hệ thống sông, kênh, rạch khá phong phú tạo cảnh quang sông nước,
có ý nghĩa quan trọng là vùng đệm sinh thái phía Tây của thành phố Hồ Chí Minh đồng thời thuận tiện cho lưu thông đường thủy, đảm bảo môi trường sinh thái trong sản xuất nông nghiệp và tiêu thoát nước tự nhiên hiện nay
Quỹ đất nông nghiệp dự trữ khá lớn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển các mục đích khác, do vậy thuận lợi cho tiến trình đô thị hóa của Huyện trong việc bố trí các dự án, công trình
b Khó khăn
Chất lượng nguồn nước mặt tại các tuyến sông, kênh rạch trên địa bàn Huyện tuy được cải thiện đáng kể nhưng ở nhiều khu vực vẫn còn bị ô nhiễm rất nặng, nguyên nhân do huyện Bình Chánh nằm ở khu vực giáp ranh tiếp nhận nguồn nước thải của một số địa phương ngoài Huyện đổ về như Hóc Môn, Quận
8 và chất lượng nước mặt bị ảnh hưởng qua lại giữa Huyện và các huyện Cần Giuộc, Bến Lức, Đức Hòa tỉnh Long An… làm cho tình hình ô nhiễm môi
trường vẫn còn diễn biến phức tạp
2.1.2Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế- xã hội
Thực trạng phát triển kinh tế
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Qua 5 năm (2006-2010)
thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX; trong bối cảnh có những thuận lợi cơ bản, song cũng gặp nhiều khó khăn thời tiết, giá cả, thị trường, dịch bệnh…đặc biệt là chịu ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế toàn cầu, nhưng kinh tế trên địa bàn huyện vẫn được giữ vững và tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ tăng, nông – lâm nghiệp - thủy sản giảm
Trang 17Tăng trưởng kinh tế: giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng bình quân
đạt 21,03%/năm (tăng 5,03% so với chỉ tiêu kế hoạch) cao hơn bình quân toàn Thành phố (11,8%) Trong đó ngành công nghiệp – xây dựng là lĩnh vực lớn nhất, là động lực tăng trưởng chính của kinh tế trên địa bàn huyện, giai đoạn 2006-2010 hoạt động sản xuất công nghiệp có bước phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng giá trị bình quân 24,34%/năm (vượt 4,34% so với kế hoạch);
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: theo hướng tích cực, ngành công nghiệp –xây
dựng ngày càng phát huy được thế mạnh, khẳng định được vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, nên tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 65% năm 2005 lên 75% năm 2010, tương ứng tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản giảm từ 14% năm 2005 xuống còn 6% năm 2010; tỷ trọng ngành
thương mại – dịch vụ duy trì mức 19-20%
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế:
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất tăng bình quân 24,34%/năm, một số ngành có tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản lượng công nghiệp như: sản xuất thực phẩm đồ uống (tăng bình quân 28,34%/năm), ngành dệt (tăng 28,08%/năm), ngành thuộc da, sản xuất vali, túi xách (tăng 28,37%/năm), ngành sản xuất hóa chất, sản phẩm từ hóa chất (tăng 24,73%/năm), sản xuất các sản phẩm từ cao su, plastic (tăng bình quân 32,32%/năm), sản xuất các sản phẩm từ kim loại (tăng 29,28%/năm)
Năm 2010, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã dần được khắc phục, tạo ra những tác động tích cực đến phát triển kinh tế của Huyện Năm 2011, giá trị sản xuất (giá CĐ1994) của Huyện đạt 4.825,6 tỷ đồng (tăng 34,35% so với năm 2010), tổng số doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 1.377 đơn vị, trong đó có 55 công ty
cổ phần, 609 công ty trách nhiệm hữu hạn, 264 Danh nghiệp tư nhân, 449 chi nhánh doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Về khu công nghiệp và cụm công nghiệp: đã thành lập và đi vào hoạt động gồm 02 khu công nghiệp (KCN Lê Minh Xuân, KCN Vĩnh Lộc) và 01 cụm công nghiệp (cụm tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân) thu hút được 330 doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư trong đó có 33 doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài
+ Khu công nghiệp Lê Minh Xuân: được thành lập năm 1997 quy mô 104ha tại xã Lê Minh Xuân, toàn khu hiện có 170 doanh nghiệp và lấp đầy 100%
+ Khu công nghiệp Vĩnh Lộc: được thành lập năm 1997, quy mô 207ha tại xã Vĩnh Lộc A (107ha) và phường Bình Hưng Hòa quận Bình Tân Hiện nay
đã cơ bản xây dựng hoàn thành và lấp đầy
+ Cụm tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân: diện tích 17ha tại xã Tân Nhựt, tổng cộng 267 lô đất và đã tiếp nhận khoảng 130 doanh nghiệp
Trang 18- Ngoài ra trên địa bàn Huyện còn các khu, cụm công nghiệp đang triển khai thực hiện: Khu công nghiệp ( Lê Minh Xuân II 338ha; Lê Minh Xuân III 242ha; Lê Minh Xuân mở rộng 120ha, Vĩnh Lộc mở rộng 56,1ha; An Hạ 123,5ha; Phong Phú 148,4ha), Cụm công nghiệp (Tổng công ty nông nghiệp Sài Gòn 89ha, Trần Đại Nghĩa 50ha, Quy Đức 70ha, Tân Túc 30ha, Đa Phước 90ha)
*Thương mại – dịch vụ:
Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 18,53%/năm, năm
2011 giá trị sản xuất đạt 2.571 tỷ đồng, tổng số doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp ngành thương mại – dịch vụ là 1.379 đơn vị, trong đó có 57 công ty cổ phần, 452 công ty Trách nhiệm hữu hạn, 524 Doanh nhiệp tư nhân, 445 chi nhánh doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn huyện năm 2011 là 246,732 triệu USD (tăng 12,02% so với 2010), kim ngạch nhập khẩu 293,788 triệu USD (tăng 14,1% so với cùng kỳ)
Nhìn chung, hoạt động thương mại - dịch vụ đang có xu hướng phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, nhất là lĩnh vực dịch vụ Mặc dù bị ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, nhưng trong 5 năm qua với phương thức kinh doanh mới, linh hoạt, chủ động nên thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán huyện đã giữ vững lợi thế cạnh tranh trong cơ chế thị trường Tuy nhiên trong những năm tới, cần tiếp tục phát huy có hiệu quả và không ngừng đầu tư phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ thương mại nhằm từng bước nâng cao tỷ trọng của ngành, trong cơ cấu nền kinh tế của huyện cần phải dành một quỹ đất nhất định cho một số xã chưa có mạng lưới chợ
* Nông lâm thủy sản:
Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất giảm từ 14,11% năm 2005 xuống còn 6,79% năm 2010, tuy nhiên giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn tăng và đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm 4,54%/năm giai đoạn 2006-2010
Cơ cấu giá trị sản lượng trong nội bộ ngành nông nghiệp dịch chuyển theo hướng tích cực, ngành trồng trọt giảm dần từ 59,53% năm 2005 còn 46,48% năm 2010, ngành chăn nuôi tuy chiếm tỉ trọng thấp hơn so với trồng trọt nhưng
có xu hướng tăng dần từ 35,49% lên 39,97%; ngành thủy sản tăng từ 4,18% năm
2005 lên 12,62% năm 2010 Các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tiếp tục được triển khai, điểm nổi bật trong thời gian qua là sự chuyển dịch mạnh
cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất nông nghiệp chất lượng cao với sự phát triển của ngành chăn nuôi, thủy sản, hoa lan cây kiểng, cá kiểng, rau
an toàn
Năm 2011, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 393,12 tỷ đồng, trong đó: ngành trồng trọt đạt 166,1 tỷ đồng (chiếm 42,25% cơ cấu ngành), ngành
Trang 19chăn nuôi 184,5 tỷ đồng (chiếm 46,93% cơ cấu ngành), ngành thủy sản 40 tỷ đồng (10,19% cơ cấu ngành) và ngành lâm nghiệp 2,57 tỷ đồng (chiếm 0,63%
cơ cấu ngành)
Nhìn chung, nông nghiệp vẫn là một thế mạnh và không thể coi nhẹ trong một số năm trước mắt, vấn đề quan trọng là phải thúc đẩy nông nghiệp phát triển đúng hướng để vừa tạo việc làm cho lực lượng lao động, vừa theo kịp được trình
độ tiên tiến trong nước và khu vực, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp với tôn tạo và làm đẹp cảnh quan, góp phần xứng đáng vào phát triển kinh tế xã hội của Huyện
Phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn:
* Khu vực đô thị
Theo thống kê đất đai năm 2011, diện tích đất đô thị của huyện Bình Chánh có 855,40 ha (thị trấn Tân Túc), chiếm 3,39% diện tích tự nhiên của huyện Dân số đô thị 15.119 người, mật độ dân số bình quân 1.767 người/km2
, diện tích đất ở 67,34 ha, bình quân đất ở trên người là 44,54 m2/người, con số này phù hợp so với quy định về tiêu chuẩn đất ở đô thị
Thị trấn Tân Túc có chức năng trung tâm của huyện Bình Chánh và khu vực Thị trấn được xác định là một đô thị phụ cận vệ tinh, là trung tâm hành chính, văn hoá, thể dục thể thao, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; thương mại dịch vụ, khu dân cư tập trung xây dựng mới … chủ yếu phân bố ngay trên các tuyến đường trung tâm của thị trấn Trong những năm gần đây, khu vực đô thị
có nhiều thay đổi Các công trình xây dựng như trụ sở làm việc của các cơ quan, công trình phúc lợi xã hội, mạng lưới điện chiếu sáng đô thị, mạng lưới thông tin, bưu điện, phát thanh truyền hình, dịch vụ ngân hàng, thương mại, du lịch… nhà ở đang được cải tạo, nâng cấp với kiến trúc khang trang
Tỷ lệ nhà kiên cố, bán kiên cố tăng lên đáng kể Hệ thống công viên, vườn hoa, khu vui chơi giải trí hầu như chưa được đầu tư xây dựng Đây là hạn chế trong việc nâng cao đời sống tinh thần của người dân, cần được khắc phục trong thời gian tới
* Khu vực nông thôn
Diện tích đất khu vực nông thôn của huyện là 24.399 ha, chiếm 96,61% diện tích tự nhiên Dân số nông thôn có 428.838 người, chiếm 96,13% dân số của huyện, bình quân 1.758 người/km2, diện tích đất ở nông thôn là 2.470 ha, bình quân có 57,6 m2/người
Các điểm dân cư nông thôn phân bố tập trung thành từng ấp dọc theo các trục giao thông chính, gần chợ, ven sông, rạch để thuận lợi cho việc sinh hoạt và trồng trọt, chăn nuôi Điều kiện nhà ở của người dân trong huyện còn thấp, số nhà đơn sơ chiếm tỷ lệ cao, trong khi loại nhà kiên cố chỉ chiếm tỷ lệ thấp, mật
độ xây dựng bình quân thấp Tuy nhiên tại các khu vực đô thị giáp ranh nội thành, có nơi mật độ xây dựng dân cư rất cao
Trang 20Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, điện, bưu chính viễn thông, cơ sở văn hoá xã hội phục vụ công cộng trong các khu dân cư, đã có nhiều đổi mới và từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân Tuy nhiên, việc xử lý rác thải sinh hoạt, phân gia súc chưa tốt, đặc biệt là việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học đã gây nên ô nhiễm cục bộ cho từng khu vực
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
* Giao thông đường bộ
Trong quá trình phát triển, đã hình thành mạng lưới giao thông đối ngoại khá hợp lý, nếu mạng lưới này được nâng cấp một cách đúng mức sẽ tạo cho Tp
Hồ Chí Minh nói chung và Bình Chánh nói riêng có cơ hội để mở rộng giao lưu, phát huy lợi thế về vị trí địa lý
Tổng chiều dài các tuyến đường trên địa bàn huyện là 412,23km, trong đó
có 52 tuyến đường do Thành phố quản lý với tổng chiều dài 139,95km và 142 tuyến do UBND Huyện quản lý với tổng chiều dài 272,28km, không kể các tuyến đường nhỏ, hẻm phân cấp cho UBND xã, thị trấn quản lý
Về đường giao thông đối ngoại hiện hữu: có các tuyến quốc lộ 1A, quốc
lộ 50, đường dẫn vào đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, Tỉnh lộ 10, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Thị Tú… Cụ thể như sau:
- Đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương: Đây là tuyến ngoại vi
có tiêu chuẩn kỹ thuật cao nối kết thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, tuyến bắt đầu từ khu vực phía Tây - Nam thành phố tại điểm giao với đường vành đai 2 ở khu vực huyện Bình Chánh, qua tỉnh Long An tới tỉnh Tiền Giang Tuyến qua huyện có chiều rộng lòng đường 39-41m, dài 10,05km, lộ giới 120m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa
- Đường Nguyễn Văn Linh: Bao gồm một đoạn tuyến có chức năng là đường Vành đai 2 thành phố (đoạn từ nút Trịnh Quang Nghị về phía Đông), tuyến có chiều rộng lòng đường 25-30m, dài 10,98km, lộ giới 120m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa
- Đường Quốc Lộ 1A: đây là cửa ngõ phía Tây - Nam ra vào thành phố, nối kết với thành phố Hồ Chí Minh tại ngã ba An Lạc - điểm giao với đường Hùng Vương nối dài với chiều dài 8,97km, chiều rộng lòng đường 19-19,5m, lộ giới 120m
- Đường Trịnh Quang Nghị (HL7) với chiều dài tổng cộng 2,98 km, chiều rộng lòng đường từ 5-6 m, lộ giới 60m
- Đường Tỉnh Lộ 10: đây là trục hướng tâm thành phố chiều dài 9,04
km, chiều rộng lòng đường từ 6 -7 m, lộ giới 40m
- Đường Nguyễn Thị Tú (HL13) với chiều dài 0,46 km, chiều rộng lòng đường từ 7,5-8,5 m, lộ giới 40m
Trang 21- Đường Quốc Lộ 50: Đây là tuyến cửa ngõ phía Nam ra vào thành phố với chiều dài tổng cộng 10,03 km, chiều rộng lòng đường từ 5.5-7,5m Lộ giới
40 m
* Giao thông nông thôn
Các tuyến đường giao thông nông thôn phần lớn chưa được đầu tư theo quy hoạch lộ giới được duyệt Các tuyến đường do Huyện quản lý có mặt cắt ngang đường trung bình từ 5,0 đến 6,0m, chưa có hệ thống thoát nước, vỉa hè, cần đầu tư nâng cấp để đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu phát triển
* Về giao thông đường thủy
Huyện Bình Chánh có nhiều sông rạch hiện hữu, trong đó một số tuyến sông rạch chính có chức năng giao thông thủy Các sông rạch có chức năng giao thông thủy bao gồm: Tuyến Vành đai ngoài (sông Chợ Đệm, Bến Lức, kênh Lý Văn Mạnh, kênh Xáng Ngang, kênh Xáng Đứng, kênh An Hạ), sông Cần Giuộc, rạch Bà Tỵ, Rạch Bà Lớn - rạch Chổm, rạch Bà Lào - rạch Ngang, Tắc Bến Rô, rạch Chiếucầu Bà Cả và rạch Ông Lớn Trong đó: bao gồm 01 tuyến cấp III chiều dài 11,5km; 05 tuyến cấp IV chiều dài 25km
* Thủy lợi
Thủy lợi có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, cải thiện môi trường, làm đẹp cảnh quan và trữ nước cho sinh hoạt Trên địa bàn huyện hiện
có 04 tuyến sông, 82 tuyến rạch, 96 kênh mương, 12 công trình đê bao thủy lợi,
20 bờ bao, 102 cống thủy lợi đầu mối Trong các tuyến sông, kênh, rạch nêu trên chỉ có các tuyến có chức năng giao thông thủy như: Sông Cần Giuộc, Sông Chợ Đệm, rạch Bà Ty, rạch Bà Lớn – rạch Chồm, rạch Bà Lào – rạch Ngang, rạch
Bến Rô, rạch Chiếu, các tuyến còn lại có nướcchức năng tiêu thoát nước.
Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của Huyện Bình Chánh
a Thuận lợi
Hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của Huyện đã được đầu tư khá lớn, nhiều công trình giao thông trọng điểm như: Đại lộ Võ Văn Kiệt, đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, Tỉnh lộ 10, đường nối đại lộ Nguyễn Văn Linh với đường cao tốc được xây dựng, góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để huyện kêu gọi, thu hút đầu tư, đảm bảo giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo mục tiêu, định hướng đề ra
Tài nguyên nước dồi dào, lao động sẵn có, có quỹ đất để mở rộng sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, phát triển nền nông nghiệp sinh thái và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với những sản phẩm có chất lượng cao cho tiêu dùng và xuất khẩu Ngoài ra, Huyện có nhiều di tích lịch sử, văn hoá, đây là tiềm năng để phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch khi được khơi dậy và phát huy sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 22Kết cấu hạ tầng được đầu tư, cơ cấu kinh tế, lao động có sự chuyển dịch tích cực, phát huy thế mạnh, tiềm lực của địa phương, chất lượng tăng trưởng kinhtế được cải thiện là những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội chonhững năm tiếp theo
Địa bàn khu quy hoạch có nhiều thế mạnh và tiềm năng cho việc phát triểnthành đô thị
Tiềm lực lớn về đất đai: Quỹ đất dồi dào đủ khả năng cho việc phát
triểnđô thị một cách đồng bộ Hiện nhiều khu đất nông nghiệp bị nhiễm phèn, năng suất thấp và đất chưa sử dụng còn tới 173 ha tập trung ở các xã Vĩnh Lộc
A, Lê Minh Xuân và Bình Lợi
Tốc độ phát triển đô thị: Đô thị hóa với tốc độ khá nhanh, nhiều dự
ánđang xúc tiến đầu tư với quy mô lớn đã trở thành hạt nhân tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển và là nơi thu hút dân cư từ nội thành ra, góp phần thực
hiện chương trình giãn dân của Thành phố, hiện đại hóa nông thôn
Phát triển kinh tế: Công nghiệp hiện trên đà phát triển; với các khu –
cụmcông nghiệp tập trung quy mô lớn đang xây dựng…là nơi thu hút nhiều lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đây là nhân tố thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế xã hội của huyện
Về cảnh quan môi trường : Hệ thống sông rạch nhiều, cảnh quan
thiênnhiên đẹp, phong phú có thể tận dụng phát triển hệ thống cây xanh kết hợp
mặt nước tạo môi trường thiên nhiên trong lành và thoáng đẹp
b Hạn chế
Đội ngũ lao động đông đảo là vốn quý báu, là nhân tố tích cực để phát triển sản xuất Song trình độ dân trí chưa cao, lao động phổ thông chiếm tỷ trọng lớn Vì vậy nhu cầu đào tạo tay nghề đáp ứng sản xuất theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một vấn đề cần phải thực hiện
Các công trình công cộng về thể loại tương đối đầy đủ nhưng quy mô nhỏ
và chất lượng kém chưa đảm bảo phục vụ nhân dân
Nhà ở hình thành và phát triển theo dạng tự phát, các điểm dân cư bám dọc theo các trục lộ giao thông, sông rạch, làm ảnh hưởng đến lưu thông, chất lượng nhà và các tiện nghi sinh hoạt còn thấp Dân cư hiện còn nhiều hộ sống giữa khu đất canh tác, không tiện cho việc cấp nước Các cơ sở sản xuất CN – TTCN xen cài trong khu dân cư, không đồng bộ trong đầu tư cơ sở hạ tầng, không có khoảng cách ly để đảm bảo về vệ sinh, gây ô nhiễm đáng kể đến môi trường không khí, đất và nước
Hệ thống hạ tầng phát triển nhưng chất lượng công trình chưa cao, bán kính phục vụ chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu phát triển dân cư theo lối sống đô thị
Thực trạng hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế của huyện chưa thật ổn định
và vững chắc, ngành dịch vụ còn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế, chưa
Trang 23tương xứng với tiềm năng của Huyện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
Thu nhập và mức sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn khó khăn, đáng
lo ngại là có xu hướng phân hóa giàu nghèo ở nông thôn
Tốc độ đô thị hoá ngày càng diễn ra nhanh chóng đã làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp nhất là đất đai, môi trường, số lượng dân nhập cư tăng cao, tỷ lệ lao động chưa có việc làm và thiếu việc làm còn cao Một số đơn vị sản xuất công nghiệp có trang thiết bị máy móc và công nghệ lạc hậu Các sản phẩm hàng hoá chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài
Nhìn chung, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua trên địa bàn huyện là đúng hướng, thích ứng với xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa nhanh của một vùng ven Trong những năm tới khi quá trình công nghiệp hóa đã bước vào giai đoạn phát triển ổn định, cần tiếp tục phát huy lợi thế của các hoạt động thương mại dịch vụ, tăng nhanh tỷ trọng khu vực này trong cơ cấu kinh tế, đồng thời từng bước giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Có như vậy, nền kinh tế của huyện mới phát triển cân đối, bền vững, tương xứng với vị trí, vai trò và tiềm năng của huyện
2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2016
2.2.1 Hiện trạng theo từng loại đất
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Bình Chánh theo kế hoạch được duyệt
là 25.255,99ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp là 17032,54ha, chiếm 67,43% diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp là 8223,44ha, chiếm 32,56% diện tích tự nhiên
Trang 24STT Chỉ tiêu sử dung đất Mã Diện tích (ha)
(Nguồn: Phòng TN&MT Huyện Bình Chánh)
Đất nông nghiệp chiếm rất lớn trong diện tích của huyện với 17.032,54
ha, chiếm 67,43% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó:
-Đất trồng lúa là 5.313,26 ha, chiếm 31,19% Diện tích đất trồng lúa phân
bổ ở các xã: An Phú Tây (211,35 ha), Tân Quí Tây (230, 86ha), Tân Nhựt (1.220,29ha), Tân Kiên (294,52 ha), Vĩnh Lộc A ( 474,81 ha), Vĩnh Lộc B (111,23ha), Qui Đức (312,59ha), Hưng Long (512,92ha), Đa Phước (591,96ha),
Lê Minh Xuân (446,90ha), Bình Hưng (33,54ha), Bình Chánh (243,45ha), Phong Phú (129,21ha), thị trấn Tân Túc (300,25ha), Bình Lợi (196,39ha)
- Đất trồng cây hằng năm khác là 3.638,59ha, chiếm 21,36% Diện tích đất trồng cây hằng năm khác phân bổ ở các xã: An Phú Tây (17,69ha), Tân Quí Tây (45,60ha), Tân Nhựt (47,85ha), Tân Kiên (28,84ha), Vĩnh Lộc A (397,31ha), Vĩnh Lộc B (466,70ha), Qui Đức (50,85ha), Hưng Long (96,32ha), Đa Phước (35,99ha), Phạm Văn Hai (524,94ha), Lê Minh Xuân (1.055,08ha), Bình Hưng (1,13ha), Bình Chánh (86,56ha), Phong Phú (51,21ha), Thị Trấn Tân Túc (27,29ha), Bình Lợi (705,25ha)
- Đất trồng cây lâu năm là 5.802,74 ha,chiếm 34,06% Diện tích đất trồng cây lâu năm phân bổ ở các xã: An Phú Tây (145,45ha), Tân Quí Tây (401,33ha), Tân Nhựt (450,20ha), Tân Kiên (321,51ha), Vĩnh Lộc A (578,58ha), Vĩnh Lộc
B (543,87ha), Qui Đức (149,68ha), Hưng Long (351,06ha), Đa Phước (272,25ha), Phạm Văn Hai (1.004,21ha), Lê Minh Xuân (352,56ha), Bình Hưng (40,20ha), Bình Chánh (238,47ha), Phong Phú (263, 30ha), Thị Trấn Tân Túc (210,67ha), Bình Lợi (479,21ha)
- Đất rừng phòng hộ là 262,68ha, chiếm 1,54% Diện tích của đất rừng phòng hộ phân bố ở xã Lê Minh Xuân (262,68ha)
- Đất rừng đặc dụng là 29,92ha, chiếm 0,17% Diện tích của đất rừng đặc dụng phân bổ ở xã Lê Minh Xuân (29,92ha)
- Đất rừng sản xuất là 769,81ha, chiếm 4,52% Diện tích của đất rừng sản xuất được phân bổ ở 2 xã: Phạm Văn Hai (474,63ha), Lê Minh Xuân (295,18ha)
- Đất nuôi trồng thủy sản là 1.145,83 ha, chiếm 6,72% Diện tích của đất nuôi trồng thủy sản phân bổ ở các xã: An Phú Tây (22,98ha), Tân Quí Tây (3,37ha), Tân Nhựt (110,51ha), Tân Kiên (45,73ha), Vĩnh Lộc A (6,30ha), Vĩnh Lộc B (3,10ha), Qui Đức (8,80ha), Hưng Long (22,29ha), Đa Phước (49,53ha), Phạm Văn Hai (25,23ha), Lê Minh Xuân (2.96ha), Bình Hưng (148,44ha), Bình Chánh (4,89ha), Phong Phú (479,58ha), Thị trấn Tân Túc (9,41ha), Bình Lợi (202,71ha)
Trang 25- Đất nông nghiệp khác là 69,71ha, chiếm 0,41% Diện tích của đất nông nghiệp khác phân bổ ở các xã: An Phú Tây (1,74ha), Tân Quí Tây (0,52ha), Tân Nhựt (14,75ha), Tân Kiên (7,16ha), Vĩnh Lộc A (17,00ha), Vĩnh Lộc B (1,24ha), Qui Đức (0,70ha), Hưng Long (0,47ha), Đa Phước (4,30ha), Lê Minh Xuân (9,27ha), Bình Hưng (0,26ha), Bình Chánh (1,34ha), Phong Phú (1,79ha), Thị trấn Tân Túc (1,11ha), Bình Lợi (8,04ha)
Đất phi nông nghiệp
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp ở huyện Bình
Chánh năm 2016
2.12 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA 322,03
2.15 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC 63,13 2.16 Đất xây dựng trụ sở của tổ
2.17 Đất xây dựng cơ sở ngoại giao DNG
2.19 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa,
nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 77,90 2.20 Đất sản xuất vật liệu xây dựng,
Trang 26STT Chỉ tiêu sử dung đất Mã Diện tích (ha)
2.24 Đất sông, ngòi, kênh, rạch,
2.25 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 2,11
(nguồn: Phòng TN&MT huyện Bình Chánh)
Đất phi nông nghiệp là 8.223,44ha, chiếm 32,56% diện tích tự nhiên của huyện Trong đó, gồm:
- Đất quốc phòng 17,25ha, chiếm 0,2% Đất quốc phòng nằm ở các xã: An Phú Tây (0,23ha), Vĩnh Lộc A (1,21ha), Vĩnh Lộc B (3,09ha), Đa Phước (10,11ha), Thị trấn Tân Túc (2,61ha)
- Đất an ninh 15,81ha, chiếm 0,19% Đất an ninh được phân bổ ở các xã:
An Phú Tây (0,34ha), Tân Kiên (0,15ha), Phạm Văn Hai (0,35ha), Lê Minh Xuân (12,78ha), Thị trấn Tân Túc (2,19ha)
- Đất khu công nghiệp 366,27ha, chiếm 4,45% Đất khu công nghiệp được xây dựng ở các xã: Tân Nhựt (60,10ha), Tân Kiên (29,11ha), Vĩnh Lộc A (81,02ha), Lê Minh Xuân (57,73ha), Phong Phú (138,32ha)
- Đất cụm công nghiệp 170,40ha, 2,07% Đất cụm công nghiệp được huyện phân bổ ở 2 xã: Phạm Văn Hai (79,20ha), Lê Minh Xuân (91,20ha)
- Đất thương mại, dịch vụ 29,28ha, chiếm 0,35% Đất thương mại-dịch vụ được phân bổ ở các xã: Tân Quí Tây (0,61ha), Tân Nhựt (0,92ha), Tân Kiên (4,30ha), Vĩnh Lộc A (2,95ha), Vĩnh Lộc B (1,06ha), Qui Đức (0,24ha), Hưng Long (1,12ha), Đa Phước (0,96ha), Phạm Văn Hai (5,91ha), Lê Minh Xuân (0,09ha), Bình Hưng (0,91ha), Bình Chánh (3,07ha), Phong Phú (3,27ha), Thị trấn Tân Túc (2,49ha), Bình Lợi (1,37ha)
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp 732,64ha, chiếm 8,91% Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp được phân bổ ở các xã: An Phú Tây (3,80ha), Tân Quí Tây (6,61ha), Tân Nhựt (45,56ha), Tân Kiên (95,52ha), Vĩnh Lộc A (22,11ha), Vĩnh Lộc B (51,08ha), Qui Đức (1,43ha), Hưng Long (28,49ha), Đa Phước (6,98ha), Phạm Văn Hai (32,62ha), Lê Minh Xuân (303,89ha), Bình Hưng (1,03ha), Bình Chánh (36,19ha), Phong Phú (31,76ha), Thị trấn Tân Túc (65,38ha), Bình Lợi (0,19ha)
- Đất phát triển hạ tầng quốc gia 2.258,42 ha, chiếm 27,46% và được phân
bổ ở hầu hết các xã
- Đất di tích lịch sử- văn hóa có 1,56ha, chiếm 0,02% và có ở 3 xã: Tân Nhựt (1,13ha), Hưng Long (0,25ha), Phong Phú (0,18ha)
- Đất bãi thải và xử lý chất thải 322,03 ha, chiếm 3,91% được huyện phân
bố vị trí đất bãi thải và xử lý chất thải ở xã Đa Phước (274,13ha), Lê Minh Xuân (1,11ha), Bình Hưng (46,23ha), Bình Chánh (0,57ha)
Trang 27- Đất ở tại nông thôn là 953,14ha, chiếm 11,59% được phân bố ở các xã: Tân Quí Tây (67,44ha), Tân Nhựt (79,04ha), Vĩnh Lộc A (170,93ha), Vĩnh Lộc
B (161,42ha), Qui Đức (42,30ha), Hưng Long (126,99ha), Đa Phước (60,91ha), Phạm Văn Hai (69,02ha), Lê Minh Xuân (85,55ha), Bình Chánh (14,48ha), Bình Lợi (75,05ha)
- Đất ở đô thị là 1.943,35ha, chiếm 23,63% được phân bố đồng đều ở các
xã
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan là 63,13ha, chiếm 0,76% Diện tích đất được phân bổ ở các xã: An Phú Tây (0,32ha), Tân Quí Tây (0,37ha), Tân Nhựt (0,56ha), Tân Kiên (0,57ha), Vĩnh Lộc A (0,26ha), Vĩnh Lộc B (0,36ha), Qui Đức (0,23ha), Hưng Long (0,33ha), Đa Phước (0,30ha), Phạm Văn Hai (38,22ha), Lê Minh Xuân (2,62ha), Bình Hưng (0,46ha), Bình Chánh (0,19ha), Phong Phú (1,59ha), Thị trấn Tân Túc (16,60ha), Bình Lợi (0,14ha)
- Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp là 5,23ha, chiếm 0,06% được phân bổ ở xã Tân Kiên (0,11ha), Phạm Văn Hai (5,10ha), Bình Chánh (0,02ha)
- Đất cơ sở tôn giáo là 49,50ha, chiếm 0,6% được phân bổ đồng đều ở các
- Đất khu vui chơi, giải trí công cộng là 51,36ha, chiếm 0,62% được phân
bổ ở xã Vĩnh Lộc B (3,29ha), Phạm Văn Hai (13,28ha), Lê Minh Xuân (28,86ha), Bình Hưng (7,93ha)
- Đất cơ sở tín ngưỡng là 6,54 ha, chiếm 0,08% được phân bổ đều ở các xã trừ xã Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối là 1.152,32 ha, chiếm 14,01% Diện tích đất được phân bổ ở các xã: An Phú Tây (14,28ha), Tân Quí Tây (6,27ha), Tân Nhựt (152,45ha), Tân Kiên (50,47ha), Vĩnh Lộc A (14,53ha), Vĩnh Lộc B (2,84ha), Qui Đức (50,27ha), Hưng Long (47,58ha), Đa Phước (165,68ha), Phạm Văn Hai (72,40ha), Lê Minh Xuân (133,18ha), Bình Hưng (161,37ha), Bình Chánh (4,83ha), Phong Phú (193,68ha), Thị trấn Tân Túc (37,74ha), Bình Lợi (44,76ha)
- Đất có mặt nước chuyên dung là 2,11ha, chiếm 0,02% và được phân bổ
ở xã Đa Phước (1,76ha), Bình Chánh (0,35ha)
Trang 29Nhóm đất nông nghiệp:
Diện tích năm 2014 là 16.995,20ha, đến năm 2016 diện tích là 17.032,54
ha, diện tích tăng 37,34ha Trong đó :
+ Diện tích đất trồng lúa năm 2016 là 5.313,26ha tăng 165,15 ha so với năm diện tích năm 2014 là 5.148,11ha
+ Diện tích đất trồng cây hằng năm khác năm 2016 là 3.638,59ha tăng 141,40ha so với diện tích năm 2014 là 3.497,19ha
+ Diện tích đất trồng cây lâu năm: năm 2016 là 5.802,74ha giảm 265,35ha
so với diện tích năm 2014 là 6.048,10ha
+ Diện tích đất rừng phòng hộ: năm 2016 không thay đổi diện tích so với năm 2014
+ Diện tích đất rừng đặc dụng: năm 2016 không thay đổi diện tích so với năm 2014
+ Diện tích đất rừng sản xuất: năm 2016 không thay đổi diện tích so với năm 2014
+ Diện tích đất nuôi trồng thủy sản: năm 2016 là 1.145,83ha giảm 2,43ha
so với diện tích năm 2014 là 1.148,26ha
+ Đất nông nghiệp khác: diện tích năm 2016 là 69,71ha, giảm 1,43ha so với diện tích năm 2014 là 71,14ha
Nhóm đất phi nông nghiệp
+ Đất quốc phòng, đất an ninh: năm 2016 không thay đổi diện tích so với năm 2014
+ Đất khu công nghiệp: diện tích năm 2016 là 366,27ha giảm 134,54ha so với diện tích năm 2014 là 500,81ha
+ Đất cụm công nghiệp: năm 2016 là 170,40ha
+ Đất thương mại dịch vụ: diện tích năm 2016 là 29,28ha tăng 3,12 ha so với diện tích năm 2014 là 26,16ha
+ Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: diện tích năm 2016 là 732,64ha giảm 0,45 ha so với diện tích năm 2014 là 733,08ha