Dựa trên nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum trong việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt, cũng như để xử lý hiệu quả lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tr
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
1 Nội dung và kết quả của đồ án
2 Tinh thần, thái độ và phong thái làm việc
3 Bố cục và hình thức trình bày đồ án
Tp Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2017
Giảng viên hướng dẫn
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
1 Nôi dung và kết quả của đồ án
2 Tinh thần, thái độ và phong thái làm việc
3 Bỗ cục và hình thức trình bày đồ án
Tp Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2017
Giảng viên phản biện
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hiện nay, tình hình thu gom quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang là một trong những vấn đề thiết yếu trong công tác quản lý chất thải rắn Dựa trên nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum trong việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt, cũng như để xử lý hiệu quả lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong địa bàn huyện Đăk Glei nhằm giảm thiểu các tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và môi trường, đề tài luận văn “Đánh giá hiện trạng quản lý và xây dựng hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum đến năm 2025.” thực hiện:
Đề tài đã nêu lên một cách tổng quát về các khái niệm cũng như những ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đối với môi trường và con người Nêu lên hiện trạng quản lý, xử
lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Đề tài đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt của huyện Đăk Glei: nguồn gốc phát sinh, thành phần, khối lượng Thông qua việc khảo sát, quan sát để biết được thói quen lưu trữ và thải bỏ rác hàng ngày của người dân Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của huyện Đăk Glei được đề cập và làm rõ về tỷ lệ thu gom, tình hình thu gom, các tuyến thu gom và công tác thu phí
Áp dụng các công thức để tính toán và vạch các tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt
đề xuất cho huyện Đăk Glei Đề tài đã đưa ra 2 phương án thu gom: thu gom 2 ngày một lần và thu gom 1 ngày một lần, sau khi tính toán và so sánh đã lựa chọn phương án thu gom
1 ngày một lần đối với khu vực thành thị và 2 ngày một lần đối với khu vực nông thôn Kết quả tính toán phân tích cho hệ thống thu gom bao gồm: phương tiện: 49 xe đẩy tay 660L,
7 xe ba gác, 1 xe ép rác 9m3, 1 xe ép rác 15m3; nhân công: 30 công nhân thu gom (năm 2017) Khảo sát địa bàn và chọn các địa điểm để xây dựng các điểm hẹn trong quá trình thu gom thứ cấp gồm 42 điểm trên toàn huyện Qua đó đã đề xuất vạch tuyến thu gom theo 3 tuyến cho khu vực nông thôn và 2 tuyến cho khu vực thành thị Tính toán thời gian cần để thu gom của mỗi tuyến cũng như khối lượng chất thải rắn được thu gom của mỗi tuyến Đề tài cũng đã tính toán được chi phí đầu tư cho hệ thống thu gom vào năm 2017 là 3.452.000.000VNĐ
Trang 4ABSTRACT
Currently, the collection and management of domestic solid waste is one of essential problem Based on collecting domestic solid waste in Dak Glei District, Kon Tum Province
as well as effective treatment in domestic solid waste arising in Dak Glei District in order
to reduce the influences of domestic solid waste to the environment and the health of people The project named “Evaluate the status and build a domestic solid waste collection system
in Dak Glei District, Kon Tum Province to 2025” is performed:
The project have generally showed the definition as well as the influences of domestic solid waste to the environment and people It also indicated the management status of domestic solid waste treatment in Viet Nam and some country in the word
The project have showed the arising status of domestic solid waste in Dak Glei District: original source, ingredients, weight.Through surveying and observation to know the habits of storing and disposingof waste daily of peoples The management of domestic solid waste in Dak Glei District is concerned and bring out the meaning of collecting rate, status of collecting, collecting route and fees collecting
To apply formulas to caculate and show the route to collect domestic solid waste, propose for Dak Glei District Two options were proposed: collected once a day and collected tow days, after calculating and comparing, one-day collection options for urban areas and two days for rural areas were selected Analysis results for the collection system include:vehicle: 49 trash can 660L, 7 tow truck, 1 garbage trucks 9m3, 1 garbage trucks 15m3; labor: 30 collectors (2017) Surveying area and choosing spot to build meeting place
in the secondary collecting process including 42 points across the district Thereby, the project have proposed showing the route according to 3 routes for rual area and 2 routes for urban area Counting the needful time in details to collect each route as well as the weight
of domestic solid waste collected of each route The project has also calculated the investment cost for the collection system in 2017 is 3,452,000,000 VND
Trang 5i
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.ĐẶT VẤN ĐÊ: 1
2.MỤC TIÊU ĐỀ TÀI: 2
3.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 2
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2
5.Ý NGHĨA ĐỀ TÀI: 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 4
1.1 KHÁI NIỆM VỀ CTR SINH HOẠT: 4
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải sinh hoạt, ảnh hưởng của nó tới môi trường và sức khỏe cộng đồng: 4
1.2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THU GOM CTR SINH HOẠT: 7
1.2.1 Hệ thống thu gom chưa phân loại tại nguồn: 7
1.2.2 Các loại hệ thống thu gom thứ cấp: 7
1.2.3 Vạch tuyến thu gom: 10
1.3 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH CTRSH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 14
1.3.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới: 14
1.3.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam: 16
1.4 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, XỬ LÝ RÁC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 17
1.4.1 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên Thế giới: 17
1.4.2 Tình hình quản lý, xử lý rác thải ở Việt Nam: 21
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM 28
Trang 6ii
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI: 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên: 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: 33
2.1.3 Tổng quan về các vấn đề môi trường trên toàn huyện: 38
2.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN ĐĂK GLEI: 40
2.2.1 Nguồn phát sinh: 40
2.2.2 Hiện trạng thu gom: 41
2.2.3 Hiện trạng quản lý: 46
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO TỐC ĐỘ PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THU GOM CTRSH ĐẾN NĂM 2025 53
3.1.DỰ BÁO TỐC ĐỘ PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐẾN NĂM 2025: 53
3.1.1 Cơ sở dự báo: 53
3.1.2.Kết quả dự báo: 53
3.2.TÍNH TOÁN, ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG THU GOM CTRSH CHO HUYỆN ĐĂK GLEI ĐẾN NĂM 2025: 55
3.2.1.Ước tính lượng rác có thể thu gom theo hai khu vực nông thôn và thành thị: 55
3.2.2.Lựa chọn phương tiện và hình thức thu gom: 56
3.2.3.Phân tích hệ thống thu gom: 57
3.2.4.Tính toán thiết kế bãi đổ tại điểm hẹn: 60
3.2.5.Đề xuất các tuyến thu gom cho huyện Đăk Glei: 62
3.3 TỔNG HỢP TÍNH TOÁN 79
3.4 TÍNH TOÁN KINH TẾ CHO HỆ THỐNG THU GOM: 79
3.4.1 Tính toán chi chí cho việc đầu tư xe 660L: 80
3.4.2 Tính toán chi phí cho việc đầu tư xe ba gác: 80
3.4.3 Tính toán chi phí cho việc đầu tư xe vận chuyển: 81
3.4.4 Lương công nhân thu gom: 81
3.4.5 Phí thu được từ việc thu gom CTR tại hộ dân: 82
Trang 7iii
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1.KẾT LUẬN: 83
2.KIẾN NGHỊ: 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 1 85
PHỤ LỤC 2 87
PHỤ LỤC 3 89
Trang 8- CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt
- Đội QL: Đội quản lý
- UBND: Ủy Ban Nhân Dân
- PTTH: Phổ thông trung học
- THPT: Trung học phổ thông
- THCS: Trung học cơ sở
- DTNT: Dân tộc nội trú
Trang 9v
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Thành phần CTRSH đặc trưng của một số nước 15
Bảng 1.2 Thành phần của chất thải rắn ở Hà Nội 17
Bảng 1.3 Phân loại quy mô bãi thải 23
Bảng 2.1 Phân loại đất huyện Đắk Glei 31
Bảng 2.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2016 phân theo xã, phường, thị trấn 35
Bảng 2.3 Thống kê số trường, số lớp, số học sinh, giáo viên theo các cấp năm 2016 37
Bảng 2.4 Nguồn phát sinh chất thải rắn 40
Bảng 2.5 Khối lượng CTRSH phát sinh theo địa phương: 41
Bảng 2.6 Thiết bị và phương tiện thu gom 42
Bảng 3.1 Dự báo dân số Huyện Đăk Glei đến năm 2025 53
Bảng 3.2 Dự báo khối lượng CTRSH đến năm 2025 54
Bảng 3.3 Thống kê số hộ dân nằm trên tuyến thu gom theo 2 khu vực thành thị và nông thôn 55
Bảng 3.4 So sánh hai phương án 58
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp thông số trong hệ thống thu gom tại nguồn cho khu vực nông thôn 59
Bảng 3.6 Kết quả thống kê hệ thống thu gom thứ cấp 60
Bảng 3.7 Thống kê các điểm hẹn khu vực thành thị: 62
Bảng 3.8 Thống kê các điểm hẹn khu vực nông thôn: 62
Bảng 3.9 Bảng khối lượng rác từ các điểm hẹn của tuyến 1 65
Bảng 3.10 Tổng hợp các thông số của tuyến 1 65
Bảng 3.11 Bảng khối lượng rác từ các điểm hẹn của tuyến 2 68
Bảng 3.12 Tổng hợp các thông số của tuyến 2 68
Bảng 3.13 Bảng khối lượng rác từ các điểm hẹn của tuyến 3 71
Bảng 3.14 Tổng hợp các thông số của tuyến 3 71
Bảng 3.15 Bảng khối lượng rác từ các điểm hẹn của tuyến 4 74
Bảng 3.16 Tổng hợp các thông số của tuyến 4 74
Bảng 3.17 Bảng khối lượng rác từ các điểm hẹn của tuyến 5 77
Bảng 3.18 Tổng hợp các thông số của tuyến 5 77
Bảng 3.19 Tổng hợp phương tiện và nhân lực 79
Trang 10vi
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
Bảng 3.20 Tổng hợp các tuyến thu gom 79
Bảng 3.21 Số xe thu gom cần đầu tư qua các năm 79
Bảng 3.22 Chi phí đầu tư cho xe 660L 80
Bảng 3.23 Chi phí đầu tư cho xe ba gác 80
Bảng 3.24 Chi phí đầu tư cho hệ thống xe vận chuyển 81
Bảng 3.25 Lương công nhân thu gom 82
Bảng 3.26 Phí thu được qua các năm từ việc gom rác hộ gia đình 82
Trang 11vii
SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
GVHD: ThS Ngô Thị Ánh Tuyết
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt 4
Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động của hệ thống container di động thông thường 8
Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống container di động kiểu trao đổi container 9
Hình 1.4 Sơ đồ hoạt động của hệ thống container cố định 10
Hình 2.1: Vị trí địa lý huyện Đăk Glei 29
Hình 2.2 Xe ép rác đang đổ rác tại bãi rác 42
Hình 2.3 Các thùng rác cố định đặt dọc trên tuyến thu gom 43
Hình 2.4 Sơ đồ công tác thu gom, vận chuyển CTRSH của huyện 43
Hình 2.5 Người dân mang rác ra bỏ thùng cố định 44
Hình 2.6 Các điểm đặt thùng cố định 45
Hình 2.7: Sơ đồ quản lý CTRSH của huyện Đăk Glei 46
Hình 2.8 Rác ở bãi rác khi đã đốt và gạt xuống vực 48
Hình 2.9 Người dân gom và đốt rác trước nhà 49
Hình 2.10 Thực phẩm thừa được dùng để chăn nuôi 49
Hình 2.11 Chai nhựa được thu gom để bán ve chai 50
Hình 2.12 Cơ sở thu mua phế liệu 50
Hình 3.1 Biểu đồ gia tăng dân số Huyện Đăk Glei đến năm 2025 54
Hình 3.2 Biểu đồ gia tăng CTRSH phát sinh trên địa bàn Huyện Đăk Glei 55
Hình 3.3: Xe tải ép rác HINO 9 khối 56
Hình 3.4: Xe tải ép rác HINO 15 khối 57
Hình 3.5 Bản đồ thu gom Tuyến 1 64
Hình 3.6 Bản đồ thu gom Tuyến 2 67
Hình 3.7 Bản đồ thu gom Tuyến 3 70
Hình 3.8 Bản đồ thu gom Tuyến 4 73
Hình 3.9 Bản đồ thu gom Tuyến 5 76
Trang 12SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐÊ:
Ngày nay các hoạt động sản xuất phục vụ cuộc sống con người đang diễn ra mạnh
mẽ Con người đã khai thác và tác động rất nhiều đến môi trường tự nhiên Các nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và suy thoái mạnh Vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường đang trở nên bức xúc ở nhiều nơi
Việt Nam là một nước có tốc độ phát triển kinh tế cao Quá trình công nghiệp hóa hiện đang diễn ra rất khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có nhiều tiến triển tích cực Tuy nhiên cùng với sự phát triển ấy thì tình trạng xuống cấp của môi trường đang ngày càng trầm trọng Rác thải đang là một trong những vấn đề môi trường bức xúc ở Việt Nam Hiện nay, mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn rác thải phát sinh trong cả nước và theo dự báo thì số lượng rác thải sẽ tăng cao trong thập kỷ tới đây So với các nước khác trên thế giới thì lượng rác thải Việt Nam không lớn, nhưng điều đáng quan tâm ở đây là tình trạng thu gom thấp và không phân loại trước khi mang rác thải ra ngoài môi trường
Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội Trong đó quan trọng nhất là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Chất thải rắn sinh hoạt được sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người, sinh ra mọi lúc mọi nơi trong phạm vi thành phố và khu dân cư, từ các khu thương mại và các cơ quan công sở, các tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, trường học và các viện nghiên cứu…
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần rất đa dạng gồm nhiều chất và vật liệu khác nhau Một số thành phần có khả năng tồn tại lâu trong môi trường có nguy cơ gây ô nhiễm Chất thải rắn sinh hoạt là nơi chứa đựng các loại mầm mống bệnh tật có khả năng lây lan cao, bên cạnh đó chúng còn làm mất cảnh quan môi trường
Hiện nay, cùng với sự công nghiệp hóa hiện đại hóa thì cuộc sống của người dân nông thôn ngày càng được cải thiện Người dân nông thôn biết chăm lo cuộc sống hàng ngày của mình tốt hơn Cùng với đó chất thải rắn từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân sẽ tăng lên Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của khu vực nông thôn cũng đa dạng hơn Huyện Đăk Glei là một huyện miền núi của tỉnh Kon Tum, là một huyện có diện tích đất tự nhiên lớn Mật độ dân cư của huyện còn thưa, toàn huyện bao gồm 11 xã và một thị trấn Điều kiện cơ sở vật chất của huyện còn nhiều hạn chế bởi vậy công tác quản lý môi trường tại huyện gặp nhiều khó khăn
Trang 13SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Trước tình hình trên đề tài “Đánh giá hiện trạng và Xây dựng hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum đến năm 2025” được thực hiện với mong muốn góp một phần vào giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay trong công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt của huyện Đăk Glei, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Tính toán phân tích, vạch tuyến thu gom CTRSH, xây dựng hệ thống thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Đăk Glei
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Tổng quan về chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt
Tổng quan về huyện Đăk Glei
Hiện trạng thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn huyện
Dự báo tốc độ phát sinh CTRSH trên địa bàn huyện đến năm 2025
Tính toán thiết kế hệ thống thu gom CTRSH cho huyện đến năm 2025
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
a) Phương pháp tổng hợp tài liệu:
Mục đích: Thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến đề tài
Cách thực hiện: Tổng hợp các tài liệu khác nhau như các báo cáo thống kê, văn bản pháp luật, trang web tra cứu hoặc từ phương tiện thông tin đại chúng
b) Phương pháp khảo sát:
Mục đích:
- Ghi nhận thêm những trường hợp cụ thể
- Kiểm chứng những thông tin ghi nhận trong quá trình phỏng vấn
- Khảo sát thực tế BCL huyện Đăk Glei
c) Phương pháp xác định khối lượng:
Trang 14SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
- Sau khi có được khối lượng của mỗi hộ, lấy khối lượng chia cho số nhân khẩu trong
hộ để có được khối lượng rác của một người
- Lấy khối lượng đã có ở trên cộng lại chia trung bình để có được khối lượng trung bình một người thải ra một ngày
d) Phương pháp xác định khối lượng riêng:
- Nâng thùng lên cách mặt đất 30 cm và thả rơi tự do xuống 4 lần
- Đổ nhẹ mẫu chất thải vào thùng đển bù vào chất thải đã lèn xuống
- Cân và ghi khối lượng cả thùng và chất thải rắn
- Trừ khối lượng cân được ở trên cho khối lượng của cả thùng ta được khối lượng của phần chất thải rắn
- Chia khối lượng tính từ bước trên cho thể tích thùng ta được khối lượng của phần chất thải rắn
- Thí nghiệm được làm 2 lần để có giá trị khối lượng riêng trung bình
e) Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu:
Mục đích: Phân tích đánh giá được định hướng phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo
vệ môi trường của địa phương
Cách thực hiện: Số liệu sau khi thu thập được thống kê và xử lý bằng các phần mềm
như word, excel Kết quả của quá trình này được trình bày dưới dạng các bảng, các
hình…
5 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:
Đánh giá về hiện trạng công tác quản lý CTRSH tại địa bàn huyện
Nâng cao hiệu quả thu gom, quản lý CTRSH trên địa bàn huyện
Trang 15Rác sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả…
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải sinh hoạt, ảnh hưởng của nó tới môi trường và sức khỏe cộng đồng:
1.1.1.1 Nguồn gốc:
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:
- Từ các khu dân cư ( chất thải sinh hoạt)
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng
- Từ các làng nghề
Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt
(Nguồn: Giáo trình quản lý CTRSH, TS Nguyễn Trung Việt, TS Trần Thị Mỹ Diệu,
2007)
Các hoạt động KT – XH của con người
Hoạt động sống và tái sản sinh của con người
Các hoạt động quản
lý
CHẤT THẢI SINH HOẠT
Các quá trình phi sản xuất
Các hoạt động giao tiếp và đối ngoại
Trang 16SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
1.1.1.2 Phân loại rác thải:
a) Phân loại theo mức độ nguy hại:
- Rác thải nguy hại: Là rác thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc
tính sau: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác
- Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất
có một trong các đặc tính nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người
b) Phân loại theo nguồn thải:
- Rác thải sinh hoạt: là rác thải phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi
công cộng được gọi chung là rác thải sinh hoạt
- Rác thải công nghiệp: là rác thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp,
làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác
- Rác thải nông nghiệp: là lượng rác thải phát sinh từ các hoạt động như: trồng trọt,
thu hoạch các loại cây trồng, chăn nuôi, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ…
- Rác thải xây dựng: là các phế thải như: đất, cát, gạch, ngói, bê tông vỡ do các hoạt
động tháo dỡ, xây dựng công trình…
- Rác thải y tế: rác thải phát sinh từ các hoạt động y tế như: khám bệnh, bào chế, sản
xuất, đào tạo, nghiên cứu, thú y,… Sinh ra từ các bệnh viện, các trung tâm điều dưỡng, cơ
- Rác thải từ nguồn khác như: thương mại, dịch vụ…
Để tiện cho việc quản lý còn có cách phân loại khác
c) Cách phân loại khác:
- Rác thải sinh hoạt hữu cơ: là chất thải trong sinh hoạt hàng ngày có nguồn gốc từ
động vật hoặc thực vật, thường là các gốc rau, quả, thức ăn, rơm rác, xương, ruột gà…
- Rác thải sinh hoạt vô cơ: là các chất nilon, nhựa, da, cao su, vải, sợi… được thải ra
trong sinh hoạt hàng ngày, đây là chất thải có thành phần tái chế được
Trang 17SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
- Các chất trơ: thủy tinh, đá, kim loại, sành sứ, đất sét
1.1.2.3 Tác động của rác thải (chất thải rắn) tới môi trường và sức khỏe cộng đồng:
a) Ảnh hưởng đối với môi trường không khí:
Rác thải với hàm lượng hữu cơ và đạm cao sau khi phân hủy sẽ tạo nên các chất trung gian và cuối cùng tạo nên CH4, H2S, CO2, CH3OH, CH3CH2NH3COOH, Phenol, các chất này hầu hết đều độc và gây ô nhiễm không khí Hiện tượng ô nhiễm không khí ở các đô thị
và khu công nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách, tác động xấu tới hoạt động sản xuất
và sinh hoạt, làm giảm chất lượng cuộc sống
b) Ảnh hưởng đối với môi trường nước:
Người dân thường có thói quen đổ rác ra bờ sông, hồ, ao, cống rãnh Rác bị phân hủy đồng thời bị nước mưa cuốn trôi theo dòng nước chảy làm nguồn nước bị ô nhiễm gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị hủy diệt Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, trực khuẩn thương hàn, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng
c) Ảnh hưởng đối với môi trường đất:
Rác thải bao gồm các chất hữu cơ khi bị phân hủy trong môi trường đất sẽ giải phóng CH4, CO2, H2O,… kết hợp với các thành phần hóa chất, chất độc, phóng xạ sẵn có trong rác, gây nhiễm độc môi trường đất Các chất độc này thẩm thấu trong đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Hậu quả là đất mất dần độ tơi xốp trở nên chai cứng và thoái hóa dần kèm theo sự gia tăng sâu bệnh Thoái hóa đất dẫn đến đất bị cằn cỗi không còn khả năng canh tác, hàm lượng Coban, Crom, Chì, Nitơ, Photpho và các kim loại nặng như Cd, Cu,
Pb, Zn xấp xỉ và vượt ngưỡng cho phép
d) Ảnh hưởng đối với sức khỏe cộng đồng:
Ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng Khí thải từ bãi rác theo con đường hô hấp vào cơ thể, một phần khác như chất hữu cơ, kim loại nặng thâm nhập vào nguồn nước vào cơ thể thông qua đồ ăn, nước uống làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân của khoảng 22 loại bệnh của con người trong đó có bệnh ung thư và các loại bệnh về tai, mũi, họng, sốt rét, viêm phổi, đường ruột…
Trang 18SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Theo nghiên cứu của WHO, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25%
e) Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị:
Tình trạng ứ đọng rác ở những nơi sinh hoạt, làm việc nơi công cộng là biểu hiện hết sức thấp kém về lối sống văn minh Các loại chất thải phát sinh làm biến đổi nguồn nước ngầm, nước mặt và địa tầng trong khu vực và vùng lân cận, phá vỡ cân bằng sinh thái, làm chất lượng cuộc sống bị giảm sút Môi trường đô thị bị mất vệ sinh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan đô thị
1.2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THU GOM CTR SINH HOẠT:
1.2.1 Hệ thống thu gom chưa phân loại tại nguồn:
Dịch vụ thu gom ở lề đường: Chủ nhà chịu trách nhiệm đặt các thùng đã đầy rác ở lề đường vào ngày thu gom và chịu trách nhiệm mang các thùng đã được đổ bỏ trở về vị trí đặt chúng để tiếp tục chứa chất thải
Dịch vụ thu gom ở lối đi – ngõ hẻm: CTR được bỏ vào thùng rác công cộng, thường được đặt ở đầu các lối đi, ngỏ hẽm để xe rác dễ dàng thu gom CTR
Dịch vụ thu gom kiểu mang đi – trả về: Các thùng chứa CTR được mang đi và mang trả lại cho chủ nhà sau khi đã đổ bỏ CTR, công việc được thực hiện bởi đội trợ giúp Đội trợ giúp này cùng với đội thu gom chịu trách nhiệm về việc dỡ tải CTR lên xe thu gom
Dịch vụ thu gom kiểu mang đi: Dịch vụ mang đi về cơ bản giống như dịch vụ kiểu mang đi – trả về, chỉ khác ở chổ chủ nhà chịu trách nhiệm mang các thùng chứa CTR trở lại vị trí ban đầu
1.2.2 Các loại hệ thống thu gom thứ cấp:
a) Hệ thống container di động:
Trong hệ thống này, các container di động để chứa đầy CTR và vận chuyển đến bãi
đổ, đổ bỏ CTR và trả về vị trí ban đầu hoặc vị trí thu gom mới
Hệ thống container di động thích hợp cho các nguồn phát sinh CTR có khối lượng lớn (trung tâm thương mại, nhà máy…) bởi vì hệ thống này sử dụng các container có kích thước lớn Điều này giúp giảm thời gian vận chuyển, hạn chế việc chứa CTR thời gian dài và hạn chế các điều kiện vệ sinh kém Theo lý thuyết, hệ thống này chỉ cần một tài xế lấy container
đã dặt tải lên xe, lái xe mang container thừ nơi thu gom đến bãi đỗ, dỡ tải và mang container rỗng đến vị trí ban đầu hoặc vị trí thu gom mới Trong thực tế, để đảm bảo an toàn khi chất
Trang 19SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
tải và dỡ tải, thường sắp xếp hai nhân viên cho mỗi xe thu gom: một tài xế có nhiệm vụ lái
xe và một công nhân có trách nhiệm tháo lắp các dây buộc container Khi vận chuyển CTR độc hại bắt buộc phải có hai nhân viên cho hệ thống này
Trong hệ thống này, CTR đổ vào container bằng thủ công nên hệ số sử dụng container tháp Hệ số sử dụng container là tỷ số giữa thể tích CTR chiếm chổ và thể tích container
: Thùng không : Chở thùng không 1, 2,3…: Vị trí đặt thùng
: Thùng đầy : Chở thùng đầy
Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động của hệ thống container di động thông thường
Trong hệ thống này, xe tải từ nơi bắt đầu làm việc di chuyển đến vị trí thu gom đầu tiên mà không có thùng, tại đây, xe sẽ lấy tải và vận chuyển đến nơi tập trung (trạm trung chuyển, bãi chôn lấp hoặc xử lý…) sau đó vận chuyển thùng trống quay lại vị trí ban đầu, đặt thùng trở lại và tiếp tục đến vị trí thu gom tiếp theo cho đến hết ca làm việc
Điểm tập trung (Bãi chôn lấp, trạm trung chuyển hoặc xử lý)
Trang 20SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
: Thùng không : Chở thùng không 1, 2,3…: Vị trí đặt thùng
: Thùng đầy : Chở thùng đầy
Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống container di động kiểu trao đổi container
Cũng hoạt động tương tự như hệ thống container di động kiểu thông thường, tuy nhiên
hệ thống di động trao đổi container thì xe tải xuất phát tại nơi bắt đầu làm việc với thùng trống, đặt thùng trống tại vị trí thu gom đó, lấy thùng đầy CTR vận chuyển đến điểm tập trung sau đó vận chuyển thùng trống đến điểm thu gom kế tiếp, đặt thùng trống và lấy thùng đầy CTR, vận chuyển đến điểm tập trung, cho đến khi hết ca làm việc thì vận chuyển thùng trống về nơi tập kết ban đầu
b) Hệ thống container cố định:
Trong hệ thống này, container cố định được sử dụng để chứa CTR Chúng chỉ được
di chuyển một khoảng cách ngắn từ nguồn phát sinh đến vị trí thu gom để dở tải Hệ thống này phụ thuộc vào khối lượng CTR và số điểm phát sinh CTR
Khác với hệ thống container di động, hệ thống container cố định được lấy tải cả phương pháp thủ công và cơ khí Hầu hết các xe thu gom sử dụng trong hệ thống này thường được trang bị thiết bị ép CTR để làm giảm thể tích, tăng khối lượng CTR vận chuyển Vì vậy, hệ số sử dụng thể tích container trong hệ thống này rất cao Đây là ưu điểm chính của
hệ thống container cố định so với container di động Trong hệ thống này, xe thu gom sẽ vận chuyển CTR đến bãi đổ sau khi tải được chất đầy
(Bãi chôn lấp, trạm trung chuyển hoặc xử lý)
Trang 21SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Nhược điểm lớn nhất của hệ thống này là thân xe thu gom có cấu tạo phức tạp, sẽ khó khăn trong vấn đề bảo trì Mặc khác, hệ thống này không thích hợp thu gom các CTR có kích thước lớn và CTR xây dựng
Nhân công của hệ thống này phụ thuộc vào việc lấy tải thủ công hay lấy tải cơ khí, số lượng nhân công giống như hệ thống container di động là hai người Trong trường hợp này, tài xế tài xế có thể giúp công nhân đẩy tải đến xe thu và đẩy trả về vị trí ban đầu Ở những vị trí đặt container CTR cách xa vị trí thu gom như các khu thương mại, khu đân cư trong hẻm nhỏ… số lượng công nhân sẽ là ba người, trong đó có hai người lấy tải Đối với
hệ thống container cố định lấy tải thủ công, số lượng nhân công thay đổi từ 1 đến ba người Thông thường sẽ là hai người khi dùng dịch vụ thu gom kiểu lề đường và kiểu lối đi ngõ hẻm Ngoài ra, khi cần thiết, đội lấy tải sẽ tăng hơn ba người
Hình 1.4 Sơ đồ hoạt động của hệ thống container cố định
Trong hệ thống này, xe thu gom rỗng từ trạm điều vận sẽ lấy tải từ vị trí đầu tiên trong tuyến thu gom, rồi lần lượt đến các vị trí khác lấy tải cho đến khi xe đầy tải thì về điểm tập trung (trạm trung chuyển, bãi chôn lắp, xử lý…) sau khi dỡ tải thì tiếp tục tuyến thu gom khác hoặc về điểm tập kết xe
1.2.3 Vạch tuyến thu gom:
a) Tiêu chí trong vạch tuyến thu gom:
• Công tác thu gom thuận tiện nhất
Xe không chở tải tiếp tục tuyến tiếp theo hoặc về cơ quan kết thúc
ca làm việc
Điểm tập trung (bãi chôn lấp, trạm trung chuyển hoặc xử lý…)
Xe không từ cơ quan,
nơi bắt đầu tuyến, …
Trang 22SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
• Quảng đường để các phương tiện thu gom chạy ngắn nhất
• Thời gian tiến hành thu gom ngắn
b) Nguyên tắc trong vạch tuyến thu gom:
Một số nguyên tắc chung hướng dẫn khi vạch tuyến thu gom như sau:
• Xác định những chính sách đường, đường lối và luật lệ hiện hành liên quan đến hệ thống quản lý CTR, vị trí thu gom và tần suất thu gom
• Khảo sát đặc điểm hệ thống thu gom hiện hành như là: số người của đội thu gom, loại
xe thu gom
• Ở những nơi có thể, tuyến thu gom phải được bố trí để nó bắt đầu và kết thúc gần đường phố chính Sử dụng những rào cản địa lý và tự nhiên như là đường ranh giới của các tuyến thu gom
• Ở nhũng nơi có độ dốc cao, tuyến thu gom phải được bắt đầu ở đỉnh dốc và đi tiến xuống dốc khi xe đã thu gom được chất tải nặng dần
• Tuyến thu gom phải được bố trí sao cho container cuối cùng được thu trên tuyến đặt gần bãi đổ nhất
• CTR phát sinh ở những vị trí tắt nghẽn giao thông phải được thu gom vào thời điểm sớm nhất trong ngày
• Các nguồn có khối lượng CTR phát sinh lớn phải được phục vụ nhiều lần vào thời gian đầu của ngày công tác
• Những điểm thu gom nằm rải rác (nơi có khối lượng CTR phát sinh nhỏ) có cùng số lần số lần thu gom, phải sắp xếp để thu gom trên cùng một chuyến trong cùng một ngày
c) Thiết lập vạch tuyến thu gom
Thông thường, thiết lập tuyến thu gom có 4 bước Trong đó, bước 1 về cơ bản giống nhau cho tất cả các hệ thống, còn các bước 2,3,4 thì khác nhau cho từng loại hệ thống nên
sẽ phân tích riêng
Bước 1: Bố trí tuyến thu gom
Trên bản đồ đồ tỷ lệ của khu vực cần vạch tuyến thu gom cần xát định dữ liệu cho mỗi điểm thu gom: vị trí, tần suất thu gom, số container, khối lượng chất thải ước tính ở mỗi vị trí thu gom (đối với khu công nghiệp hay khu thương mại)
• Cần lập bản nháp trước khi các số liệu cớ bản đưa vào bản vẽ công tác
Trang 23 Đối với hệ thống container di động
Bước 2: Lập chương trình phân phối
• Các thông số cần có: tần suất thu gom (lần/tuần), vị trí thu gom, số container, số chuyến thu gom (chuyến/tuần), các ngày trong tuần trong thời gian chất thải được thu gom
• Xác định số vị trí yêu cầu thu gom nhiều lần trong tuần
• Phân phối số container sao cho số container trống mỗi ngày bằng nhau
• Xác định số vị trí yêu cầu thu gom nhiều lần trong tuần
Trang 24SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Sử dụng hệ số hữu ích của xe thu gom (thể tích xe thu gom × tỷ số nén), xác định số lượng CTR tăng thêm mỗi ngày từ những vị trí chỉ thu gom 1 lần trong tuần Phân phối sao cho lượng CTR thu gom trên mỗi chuyến cân bằng cho mỗi tuyến thu gom
• Bố trí tuyến thu gom sơ bộ
Bước 3:
• Bố trí các tuyến thu gom, mối tuyến thu gom phải được bố trí nối tất cả các điểm thu gom để phục vụ suốt mỗi ngày thu gom Tùy thuộc vào khối lượng CTR phải thu gom, có thể bố trí từ 1 đến vài tuyến thu gom
• Sửa đổi các tuyến thu gom cơ bản, bao gồm cả các điểm thu gom thêm vào để hoàn thành việc chấy tải
Bước 4:
• Khi các tuyến thu gom đã được bố trí thì khối lượng CTR và khoảng cách thu gom cho mỗi tuyến phải được xác định Trong vài trường hợp, có thể điều chỉnh lại các tuyến thu gom để cân bằng công việc chất tải cho mỗi nhân công
• Đưa các tuyến thu gom đã được thiết lập và tính toán, vẽ các tuyến lên bản đồ chính
Đối với hệ thống container cố định chất tải thủ công
Bước 2:
Ước tính tổng khối lượng CTR được thu gom từ những vị trí lấy mỗi ngày và hoạt động thu gom được chỉ đạo hay điều khiển Sử sụng hệ số hữu ích của xe thu gom, xát định số hộ dân trung bình được thu gom chất tải trong suốt mỗi chuyến thu gom
Bước 3:
Vạch tuyến thu gom sao cho phải bao hàm hay đi qua tất cả các điểm thu được phục
vụ trong suốt tuyến Các tuyến phải được bố trí để cho vị trí thu gom cuối cùng gần bãi đổ nhất
Bước 4:
• Xác định số container, khoảng cách của mối tuyến
• Các số liệu và nhu cầu nhân công trong 1 ngày phải được kiểm tra lại so với thời gian công tác trong 1 ngày Trong vài trường hợp có thể điều chỉnh lại tuyến thu gom để cân bằng khối lượng công việc chất tải
Vẽ các tuyến thu gom lên bản đồ địa chính
Trang 25- Kết hợp 2 phần chéo nhau và tiếp tục trộn đều thành 1 đống hình côn Tiếp tục thực hiện cho đến khi đạt được mẫu thí nghiệm có khối lượng mong muốn
1.3 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH CTRSH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 1.3.1 Hiện trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới:
a) Sự phát sinh rác thải sinh hoạt của một số nước trên thế giới:
Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới như sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6kg/người/ngày; Singapore là 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2 kg/người/ngày; NewYork là 2,65 kg/người/ngày
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 70% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, và chiếm 80% ở Việt Nam Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị
- Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải cho thấy: Tại Anh lượng rác thải sinh ra khoảng 307 triệu tấn/năm Trong đó 60% số này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt Cũng theo thống kê ở đây lượng rác thải thực phẩm của hộ gia đình khoảng 6,7 triệu tấn/năm, như vậy trung bình mỗi gia đình thải ra 276 kg/năm hay 5,3 kg/tuần
- Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm nước này
có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chê Số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón
- Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy
Trang 26- Theo ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày
b) Thành phần rác thải sinh hoạt của một số nước trên Thế giới:
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu nhập và mức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất
vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế
Bảng 1.1 Thành phần CTRSH đặc trưng của một số nước
nhập thấp
Các nước thu nhập TB
Các nước thu nhập cao
Trang 27SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Số liệu của bảng cho thấy hàm lượng chất thải hữu cơ dao động giảm, chất thải vô cơ thì dao động tăng theo các nước có thu nhập thấp, thu nhập trung bình và tiếp theo là thu nhập cao Một trong những nguyên nhân điển hình là do: Sự phát triển kinh tế theo các hướng khác nhau, mức sống khác nhau tạo nhu cầu khác nhau, và do thói quen sinh hoạt của các nước khác nhau là khác nhau
1.3.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam:
a) Sự phát sinh rác thải sinh hoạt của một số nước ở Việt Nam:
Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong giai đoạn 2011 -2015 tiếp tục gia tăng
và có xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006 – 2010 Theo số liệu thống kê được trong các năm từ 2007 đến 2010, tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc
là 17.682 tấn/ngày (năm 2007): 26.224 tấn/ngày (năm 2010), tăng trung bình 10% mỗi năm Đến năm 2014, khối lượng CTRSH đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Chỉ tính riêng tại HÀ Nội và Tp Hồ Chí Minh, khối lượng CTRSH phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2010 -2014 đạt trung bình 12% mỗi năm
CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu vực công cộng (đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học…) CTR sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu cơ vào khoảng 54 - 77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim loại) chiếm khoảng 8 - 18%
Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải làm vườn và phần lớn đều là chất thải hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn)
Về cơ bản, lượng phát sinh CTR sinh hoạt ở nông thôn phụ thuộc vào mật độ dân cư và nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhìn chung, khu vực đồng bằng có lượng phát sinh CTR sinh hoạt cao hơn khu vực miền núi; dân cư khu vực có mức tiêu dùng cao thì lượng rác thải sinh hoạt cũng cao hơn Năm 2014, khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh khoảng 31.000 tấn CTR sinh hoạt mỗi ngày Tuy nhiên, vấn đề quản lý CTR sinh hoạt khu vực này
có nhiều bất cập
b) Thành phần rác thải sinh hoạt của một số nước ở Việt Nam:
Thành phần của rác thải khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: chất thải thực phẩm, giấy, carton, vải vụn, sản phẩm vườn gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn… Hiện nay, túi nilon đang nổi lên như vấn đề đáng lo ngại trong quản lý CTR do thói quen sinh hoạt của người dân
Trang 28(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường giai đoạn 2011-2015, 2015)
1.4 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, XỬ LÝ RÁC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM:
1.4.1 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên Thế giới:
Đối mặt với cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu đang ngày càng nghiêm trọng Rác có thể gây ra những gánh nặng khổng lồ về môi trường cũng như tài chính cho Chính phủ các nước Các quốc gia lớn trên thế giới đã có những biện pháp quản lý và xử
lý rác thải phù hợp với điều kiện riêng
Ở Nhật Bản:
Vấn đề xử lý rác thải và đảm bảo an ninh rác được thực hiện rất hiệu quả nhờ thực hiện thành công hệ thống phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Hệ thống phân loại rác của Nhật Bản tương đối phức tạp Mỗi thành phố, thị trấn
và quận đều có một hệ thống hoàn toàn khác nhau Ví dụ, 23 khu phố ở Tokyo có hệ thống phân loại rác riêng, tất cả rác có thể đốt cháy được yêu cầu đựng vào túi đỏ, rác không thể đốt cháy đựng trong túi màu xanh dương trong khi giấy, nhựa, chai lọ, nhựa mềm, báo, bìa, thủy tinh và pin đựng ở túi màu trắng Theo Waste Atlas, Nhật Bản xả tổng cộng 45.360.000 tấn rác mỗi năm, xếp thứ 8 trên thế giới Do không có nhiều đất để chôn rác
Trang 29SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
như Mỹ và Trung Quốc, Nhật Bản buộc phải dựa vào giải pháp khác là đốt rác Nước này
đã sử dụng đốt bằng tầng sôi, phương pháp hiệu quả để đốt những vật liệu khó cháy Ngoài
ra, 20,8% tổng lượng rác thải hàng năm được Nhật Bản đưa vào tái chế, đặc biệt là các chai nhựa tổng hợp polyethylene terephthalate (PET) PET là vật liệu phổ biến để sản xuất chai đựng nước uống trong các máy bán hàng tự động và cửa hàng tạp hóa trên khắp đất nước Nhật Nhiều công ty Nhật Bản đang tăng cường sử dụng nhựa từ chai PET cũ để sản xuất mới Chai lọ PET chưa trải qua quá trình lọc có thể được chuyển thành sợi may quần áo, túi, thảm và áo mưa
Ở Hàn Quốc:
Cách quản lý chất thải giống với Nhật Bản, nhưng cách xử lý lại giống ở Đức Rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biôga cung cấp cho phát điện Sau khi rác tại hố chôn phân huỷ hết, tiến hành khai thác mùn ở bãi chôn làm phân bón Như vậy, tại các nước phát triển việc phân loại rác tại nguồn đã được tiến hành cách đây khoảng 30 năm
và đến nay cơ bản đã thành công trong việc tách rác thành 2 dòng hữu cơ dễ phân huỷ được thu gom xử lý hàng ngày, rác khó phân huỷ có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần
Tại Đông Nam Á:
Singapore đã thành công trong quản lý chất thải rắn để bảo vệ môi trường Chính phủ Singapore đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà nước Nhiều quốc gia cũng đang trong quá trình tìm kiếm hoặc triển khai mới mô hình quản lý chất thải rắn Trong khi đó, tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm
Ở Đan Mạch:
Các chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải Luật của Đan Mạch cấm đốt những chất thải có thể tái chế được Các địa phương có thể đổ chất thải
có thể tái chế được ở những trung tâm tái chế, mà không phải trả lệ phí Tuy nhiên, họ sẽ
bị phạt nặng nếu đưa chất thải có thể tái chế được vào lò đốt Tại nhà máy Vestforbraending
ở Copenhagen, nhà máy xử lý chất thải kiểu mới lớn nhất của Đan Mạch, xe tải chở chất thải phải dừng lại ở trạm cân xe trước khi vào nhà máy đổ rác Rác được kiểm tra ngẫu nhiên để phát hiện chất thải có thể tái chế được và những người vi phạm bị phạt rất nặng
Trang 30SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Morten Slotved, thị trưởng thành phố Horsholm, địa phương có thu nhập tính theo đầu người cao nhất Đan Mạch, cho biết nhà máy này đã giúp làm giảm chi phí sưởi ấm và nâng cao giá trị các ngôi nhà của người dân địa phương Ở thành phố Horsholm (Đan Mạch), chỉ có 4% rác thải được đưa tới bãi rác và 1%, gồm hoá chất, sơn và chất thải điện tử, được chuyển tới bãi chôn rác đặc biệt 61% chất thải của thành phố được tái chế và 34% được đốt trong nhà máy biến chất thải thành năng lượng Những nhà máy này đã sử dụng nhiều thiết bị sàng lọc mới, để loại ra những chất có thể gây ô nhiễm trước khi đưa rác vào lò đốt Mức ô nhiễm trong khói của các nhà máy này thấp hơn tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt của châu Âu từ 10 đến 20% Những chất thải có thể gây ô nhiễm được xử lý theo phương pháp riêng, chứ không phải đem chôn
Ở Ấn Độ:
Hàng năm thải bỏ đi gần 6,4 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 3,09 triệu tấn có thể tái chế được, 0,41 triệu tấn có thể thiêu hủy và 2,73 triệu tấn sẽ phải đổ ra bãi chứa rác thải Hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp cho việc tận dụng chúng làm nguyên liệu nguồn, hoặc cho việc khôi phục năng lượng hoặc các nguyên liệu như kim loại hoặc sử dụng chúng trong ngành xây dựng, chế tạo các sản phẩm cấp thấp hoặc cho khôi phục lại chính sản phẩm đó, mà sau khi xử lý có thể được sử dụng như là một nguyên liệu nguồn Do vậy, một ý tưởng mới hình thành để xử lý rác thải nguy hại làm nguyên liệu nguồn thay vì là nguyên liệu khó thải bỏ Việc sử dụng các nhiên liệu thay thế hoặc các nhiên liệu tái chế
từ rác thải (Refuse derived fuels – RDF) là một việc làm thông thường trong ngành công nghiệp xi măng Ấn Độ Nhà máy sản xuất RDF đầu tiên đã được xây dựng trong năm 2006 bởi Grasim Industries tại nhà máy Adithya ở Rajasthan Kể từ đó đến nay, chính phủ Ấn
Độ đã cấp phép cho 22 nhà máy xi măng để xây dựng các nhà máy sản xuất RDF tương
Trang 31SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
pháp quản lý chất thải cơ bản sẽ làm gia tăng “dấu chân sinh thái” ở Sydney Đối với nước thải từ các hộ gia đình như nước rửa chén, chấy tẩy rửa xe đều được phân loại như chất thải lỏng được xử lý bằng hệ thống tái chế nước thải sinh hoạt
Tại Mỹ:
Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) quy định về tất cả các loại phế thải theo Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên năm 1976 (RCRA) Chất thải rắn có thể bao gồm cả rác thải và bùn từ các nhà máy xử lý nước thải và các loại phế thải khác từ các hoạt động công nghiệp RCRA bao gồm xử lý các loại chất thải rắn, chất thải độc hại, khuyến khích các các nhân, tổ chức xây dựng những kế hoạch toàn diện để quản lý chất thải Khu vực phía Tây có số lượng bãi chôn lấp nhiều nhất cả nước Những bãi chôn lấp phải tuân thủ các quy định của Liên bang trong việc ngăn ngừa ô nhiễm cũng như cung cấp các hệ thống giám sát ô nhiễm nước ngầm và bãi chôn chất thải khí Các công ty quản lý phải đảm bảo kinh phí bảo vệ môi trường trong suốt toàn bộ vòng đời của một bãi chôn lấp rác thải Đối với chất thải rắn được tái chế hay biến thành phân bón để cải tạo đất đã giúp giảm lượng khí thải carbon dioxide
Nhận xét:
Ở Nhật Bản, vấn đề xử lý rác thải và đảm bảo an ninh rác được thực hiện rất hiệu quả nhờ thực hiện thành công hệ thống phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Do không có nhiều đất để chôn rác như Mỹ và Trung quốc, Nhật Bản buộc phải dựa vào giải pháp khác là đốt rác Hàn Quốc có cách quản lý chất thải giống Nhật Bản, nhưng cách xử lý lại giống ở Đức Như vậy, tại các nước phát triển việc phân loại rác tại nguồn đã được tiến hành cách đây khoảng 30 năm và đến nay cơ bản đã thành công trong việc tách rác thành 2 dòng hữu cơ dễ phân hủy được thu gom xử lý hàng ngày, rác khó phân hủy có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần Tại Đông Nam Á, Singapore đã thành công trong quả lý chất thải rắn để bảo vệ môi trường Trong khi đó tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một số
số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp Ở Ấn Độ, được, hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp cho việc tận dụng chúng làm nguyên liệu nguồn, hoặc cho việc khôi phục năng lượng hoặc các nguyên liệu như kim loại hoặc sử dụng chúng trong ngành xây dựng, chế tạo các sản phẩm cấp thấp hoặc cho khôi phục lại chính sản phẩm đó, mà sau khi sử lý có thể được sử dụng như là một nguyên liệu nguồn Việc sử dụng các nhiên liệu thay thế hoặc các nhiên liệu tái chế từ rác thải là một việc làm thông thường trong ngành công nghiệp xi măng Ấn
Độ
Trang 32SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
1.4.2 Tình hình quản lý, xử lý rác thải ở Việt Nam:
a) Quản lý rác thải tại Việt Nam:
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… đang là thách thức lớn đối với các nhà quản lý Tốc độ gia tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thị tăng, sản xuất, dich vụ tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang ngày một tăng lên
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô thị hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa Theo báo cáo từ các địa phương, ở một số đô thị đặc biệt, đô thị loại 1 có tỷ lệ thu gom khu vực nội thành đạt mức tuyệt đối 100% như Tp Hồ Chí Minh; Đà Nẵng; Hải Phòng; Hà Nội đạt khoảng 98% ở 11 quận nội thành (quận Hà Đông đạt 96% và Thị xã Sơn Tây đạt 94%); Huế đạt 95% Các đô thị loại
2 cũng có cải thiện đáng kể, đa số các đô thị loại 2 và 3 đều đạt tỷ lệ thu gom ở khu vực nội thành đạt trên 80% - 85% Ở các đô thị loại 4 và 5 thì công tác thu gom được cải thiện không nhiều do nguồn lực vẫn hạn chế, thu gom phần lớn do các hợp tác xã hoặc tư nhân thực hiện nên thiếu vốn đầu tư trang thiết bị thu gom Mặt khác, ý thức người dân ở các đô thị này cũng chưa cao nên vẫn có gia đình không sử dụng dịch vụ thu gom rác
Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do Công ty môi trường
đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị hiện nay do Nhà nước bù đắp một phần từ nguồn thu phí vệ sinh trên địa bàn Mức thu phí vệ sinh hiện nay từ 4000-6000 đồng/người/tháng hoặc từ 10.000-30.000 đồng/hộ/tháng tùy theo mỗi địa phương Mức thu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000-200.000 đồng/cơ sở/tháng tùy theo quy mô, địa phương
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phần lớn là
do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương Mức thu và cách thu tùy thuộc vào từng địa phương, từ 10.000-20.000 đồng/hộ/tháng và do thành viên hợp tác xã, tổ đội thu
Trang 33Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia Tính chất xã hội hóa hoạt động thu gom còn thấp, người dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch
vụ thu gom rác thải
Hiện nay, trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốt toàn tỉnh Mà tùy theo yêu cầu bức xúc của các quận, huyện và mỗi địa phương mà hình thành một xí nghiệp công trình công cộng hoặc đội vệ sinh để tiến hành thu gom rác thải sinh hoạt và một phần rác thải công nghiệp tại các khu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàng ngày
b) Xử lý rác thải tại Việt Nam:
Nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình thức chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt
Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo kế hoạch
xử lý chất thải rắn của các địa phương Trong số 26 cơ sở xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở
xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ, 11cơ
sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường
Về hoạt động tái chế:
Việc ứng dụng các công nghệ tái chế rác thải để tái sử dụng còn rất hạn chế, chưa được tổ chức, quy hoạch và phát triển Chỉ có một phần nhỏ rác thải được chế biến thành phân bón vi sinh vật và chất mùn hợp vệ sinh Các cơ sở tái chế rác thải có quy mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu, chủ yếu do các lao động nghèo làm nghề thu mua phế liệu, và một
số người đi bới rác tự do bán cho các cơ sở tái chế nhỏ, và một số làng nghề đúc, tái chế nhựa… tỷ lệ này ước tính chỉ đạt 13-15%, tuy nhiên, một số làng nghề tái chế hiện nay
Trang 34SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như: Chi Đạo (Hưng Yên), Minh Khai (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ô (Bắc Ninh)… Ở Hà Nội đã thu hồi tái chế và sử dụng được hơn 15% lượng chất thải phát sinh Tuy nhiên, việc tiếp xúc trực tiếp với chất thải tại các bãi chôn lấp gây nguy hiểm tới sức khỏe con người, dễ mắc một số bệnh như: uốn ván, nhiễm trùng và các loại dịch bệnh khác
Một số phương pháp xử lý điển hình ở Việt Nam:
Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp
+ Về quy mô: Quy mô bãi rác phụ thuộc dân số đô thị, lượng rác thải hàng năm để
xác định loại bãi rác thải lớn, vừa, hay nhỏ
Bảng 1.3 Phân loại quy mô bãi thải
(Nguồn: Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 261:2001 về bãi chôn lấp chất thải rắn
– tiêu chuẩn thiết kế do Bộ Xây dựng ban hành, ngày 26/12/2001)
Loại đô thị, khu công
nghiệp
Dân số đô (1000 người)
Khối lượng chất thải (1000 tấn/năm)
Thời gian sử dụng (năm)
Quy mô bãi
Trang 35SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Qua bảng 1.3 cho thấy, nếu lượng rác thải phát sinh càng lớn thì quy mô bãi chôn lấp càng lớn và thời gian sử dụng càng dài Tuy nhiên mức độ tái sử dụng đất của bãi chôn lấp tùy thuộc vào tính chất, thành phần của từng loại chất thải
+ Về vị trí bãi chôn lấp: Phải xem xét đến khoảng cách an toàn môi trường đến các
trung tâm đô thị, cụm dân cư, công trình văn hóa, khu du lịch, công trình khai thác nước ngầm, đường giao thông chính, tránh các tác động có hại tới môi trường và sức khỏe con người nhưng lại không quá xa trung tâm các đô thị và khu công nghiệp để hạn chế chi phí cho việc vận chuyển…
Theo thống kê tính đến năm 2013 có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy
mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường Một số cơ sở xử lý bằng hình thức chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động như: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước thuộc Công ty TNHH xử lý chất thải rắn Việt Nam; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh; Khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội,…Trên thực tế, tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên
- Công nghệ đốt:
+ Khái niệm: Xử lý rác thải bằng phương pháp đốt là quá trình oxy hóa chất thải ở
nhiệt độ cao, phù hợp để xử lý chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại hữu cơ như cao
su, nhựa, dung môi, thuốc bảo vệ thực vật và đặc biệt là chất thải y tế
+ Cơ sở khoa học: Cơ sở khoa học của phương pháp này là oxy hóa ở nhiệt độ cao
với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hóa thành dạng khí và chất thải rắn không cháy được Các chất khí được làm sạch hoặc không làm sạch thoát ra ngoài không khí Chất thải rắn còn lại được chôn lấp
+ Yêu cầu cơ bản: Cung cấp đủ oxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào
buồng đốt một lượng không khí dư, khí dư sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lò đốt đủ để cháy hoàn toàn ít nhất 4 giây, các vật sắc nhọn khi vận chuyển phải
Trang 36Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, Bắc Cạn, bệnh viện lao, phổi Thái Nguyên, trung tâm y tế Huyện Lương Tài và Quế Võ (tỉnh Bắc Ninh) sử dụng lò đốt rác thải y tế hiệu suất cao VHI-18B là loại hình tiết kiệm nhiên liệu, với nguyên lý đốt đa vùng, hiệu suất đốt cháy cao, có khả năng loại trừ triệt để bụi, kim loại nặng và các khí độc hại như: NOX,, SOX, HCl, HF, các sản phẩm cháy chứa Dioxin và Furan
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt
ở tuyến huyện, xã Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã tự đầu tư lò đốt công suất nhỏ để xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn Theo báo cáo của các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước
Một số cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ đốt công suất lớn, hiện đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải Sơn Tây thuộc Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long; Xí nghiệp xử lý chất thải rắn và sản xuất phân bón tại cụm công nghiệp Phong Phú thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Thái Bình;…
Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ là giải pháp tình thế, góp phần giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn Tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không có thiết kế, hồ sơ giấy tờ liên quan tới lò đốt Nhiều
lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để
Qua khảo sát thực tế cho thấy nhiều lò đốt hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan, là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh
Trang 37Nhận xét:
Về hoạt động tái chế, việc ứng dụng các công nghệ tái chế rác thải để tái sử dụng còn rất hạn chế, chưa được tổ chức, quy hoạch và phát triển Chỉ có một phần nhỏ rác thải có quy mô nhỏ rác thải được chế biến thành phân bón vi sinh vật và chất mùn hợp vệ sinh Các cơ sở tái chế rác thải có quy mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu Chôn lấp là phương pháp
xử lý rác phổ biến của các đô thị Nhưng hầu hết các bãi chôn lấp đều chưa đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật vệ sinh môi trường mà chỉ là bãi lộ thiên, gây ô nhiễm nước ngầm và nước mặt cũng như đất, không khí và môi trường xung quanh Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã tự đầu tư lò đốt công suất nhỏ Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ
là giải pháp tình thế, góp phần giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn Tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không
có thiết kế, hồ sơ giấy tờ liên quan tới lò đốt Nhiều lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn
Trang 38SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để Đối với công nghệ
ủ phân, Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý được thiết kế chế tạo trong nước hoặc cải tiến từ công nghệ nước ngoài Một số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế; tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được sản xuất ở quy mô công nghiệp
Trang 39SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
CHƯƠNG 2:
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN ĐĂK
GLEI, TỈNH KON TUM 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI:
2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
a Vị trí địa lý:
Đắk Glei là huyện miền núi nằm về phía Bắc của tỉnh Kon Tum, là huyện vùng cao biên giới và là cửa ngõ cực Bắc của vùng Tây Nguyên, tọa độ địa lý trải dài từ 14051’40” đến 15025’20” vĩ Bắc, từ 107028’00” đến 10801’00” kinh Đông Nằm tiếp giáp với các đơn vị hành chính sau:
- Phía Bắc giáp huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phía Nam giáp huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
- Phía Đông giáp huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào
Đắk Glei có trục quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh) đi qua thị trấn và 6 xã của Huyện, nối Huyện với thành phố Kon Tum và thành phố Đà Nẵng, đưa Huyện trở thành cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Kon Tum trên trục đường Hồ Chí Minh, cách trung tâm tỉnh lỵ thành phố Kon Tum 120 km, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 166 km
Đắk Glei có khoảng 130 km đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, khu vực biên giớí có diện tích chiếm tới 72,7% diện tích toàn huyện (bao gồm diện tích của 3 xã) Với vị trí nằm gần ngã ba của 3 nước Đông Dương và nằm liền kề với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Đắk Glei trở thành điểm trung chuyển quan trọng trên tuyến thương mại quốc tế Việt Nam - Lào - Thái Lan - Mianma, nối Đông Bắc Thái Lan - Lào với vùng Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung Đây là tuyến hành lang kinh tế Đông Tây ngắn nhất thông qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y
Trang 40SVTH: Vũ Thị Thanh Huyền
Hình 2.1: Vị trí địa lý huyện Đăk Glei
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đăk Glei năm 2016)
b Địa hình và địa chất:
Nằm trong khu vực có địa hình phức tạp của tỉnh Kon Tum Nhìn chung địa hình của huyện cao ở phía Đông - Bắc và Tây - Tây Nam Địa hình chia cắt phức tạp với nhiều đỉnh núi cao từ 1.000m - 2.218m rồi thoải nghiêng dần về phía Đông - Nam với những vùng