1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tính toán – thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện đa khoa bình dương với quy mô 1500 giường bệnh

150 122 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 5,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý chưa hiệu quả như công tác phân loại, vận chuyển…Xử lý chưa đúng quy định, chủ yếu vẫn còn tập trung xử lý chung, cùng với các loại chất thải khác tại

Trang 1

TÓM TẮT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Đề tài: “Tính toán - Thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho Bệnh Viện Đa Khoa Bình Dương với quy mô 1500 giường bệnh’’ Với các chỉ tiêu ô nhiễm chính như sau: BOD (190 mg/l), COD (250 mg/l), TSS (137 mg/l), N – NH4+ ( 24,5 mg/l), N – NO3-(1,46 mg/l), tổng Coliforms (3,6 × 104 MPN/100ml) Bên cạnh khối lượng nước thải sinh hoạt khá lớn thải ra hàng ngày thì nước thải y tế cũng chiếm một phần tương đối, chính loại nước thải này có khả năng lây lan, phát tán mầm bệnh ra ngoài cộng đồng nếu không có sự can thiệp kịp thời Để giải quyết vấn đề cấp bách đặt ra đòi hỏi Chủ

dự án phải đầu tư xây dựng một Trạm xử lý nước thải sao cho nước sau xử lý đạt QCVN 28:2010/BTNMT, Cột B Công nghệ được đề xuất thiết kế trong đồ án này là

Bể Anoxic – Bể Aerotank Nước thải sẽ được tiền xử lý qua song chắn rác để loại bỏ rác thô và rác tinh, sau đó qua bể điều hòa sục khí để điều tiết lưu lượng và cân bằng nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải trước khi được đưa vào các công trình phía sau Ước tính chất lượng nước sau xử lý đạt được như sau: BOD (26,676 mg/l), COD (31,1 mg/l), TSS (26,3 mg/l), N – NH4+ (3 mg/l), N – NO3- (20,041 mg/l), tổng Coliforms (720 MPN/100ml); bảo đảm nước thải đầu ra đạt yêu cầu đặt ra

ABSTRACT

Topic: “ Calculations and waste water treatment design at Binh Duong General Hospital – scale 1500 sick – bed’’ All major pollution indicators are as follows: BOD (190 mg/l), COD (250 mg/l), TSS (137 mg/l), N – NH4+ ( 24,5 mg/l), N – NO3- (1,46 mg/l), total Coliforms (3,6 × 104 MPN/100ml) Besides the considerable amount of waste water discharged daily, medical waste accounts for a relatively large share The main type of waste water is likely to spread, spread contamination outside the community without the timely intervention To address urgent issues in place, requiring the project owner is invest in building a sewage station to guarantee that treated waste water is fully qualified for QCVN 28:2010/BTNMT, Column B Technology design proposed in this project is Anoxic Tank – Aerotank Waste water pre – treatment will be over, but trash, garbage mesh fine comb to remove coarse and fine litter, then go through an aeration conditioning to regulate the flow and balance the concentration of pollutants in waste water before being taking to the next stage The quality of treated waste water astimated obtain the following result: BOD (26,676 mg/l), COD (31,1 mg/l), TSS (26,3 mg/l), N – NH4+ ( 3 mg/l), N – NO3- (20,041 mg/l), total Coliforms (720 MPN/100ml); effluent ensure satisfactory pose

Trang 2

MỤC LỤC

NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP i

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ii

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN iii

LỜI CẢM ƠN iv

TÓM TẮT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP v

MỤC LỤC vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC HÌNH xiii

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH DƯƠNG VỚI CÔNG SUẤT 1500 GIƯỜNG 4

1.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG 4

1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 4

1.1.2 Kinh tế - xã hội 5

1.1.3 Đánh giá sự phù hợp của địa điểm lựa chon dựán với đặc điểm kinh tế - xã hội của dựán 10

1.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ DỰ ÁN BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH DƯƠNG VỚI QUY MÔ 1500 GIƯỜNG BỆNH 11

1.3 NGUYÊN TẮC BỐ TRÍ CÔNG TRÌNH XỬ LÝ VÀ ĐIỂM XẢ NƯỚC THẢI

13

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ 15

2.1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 15

2.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện 15

2.1.2 Thành phần, thông số ô nhiễm chính trong nước thải bệnh viện 16

2.1.3 Sự ảnh hưởng của nước thải bệnh viện đến môi trường và con người 19

Trang 3

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC GIAI ĐOẠN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 20

2.3 MỘT SỐ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN HIỆN ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 36

2.3.1 Xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (Biophil) 36 2.3.2 Xử lý nước thải bệnh viện bằng bùn hoạt tính trong bể hiếu khí (Aerotank)

37

2.3.3 Xử lý nước thải bệnh viện theo nguyên lý hợp khối 38

2.3.4 Xử lý nước thải bệnh viện bằng công nghệ AAO 40

2.3.5 Xử lý nước thải bệnh viện bằng hồ sinh học ổn định 41

2.3.6 Xử lý nước thải bệnh viện bằng bãi lọc trồng cây kết hợp bể lọc yếm khí 42

2.4 ĐÁNH GIÁ ƯU - NHƯỢC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 44

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT, LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ VÀ TÍNH TOÁN CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ 47

3.1 LƯU LƯỢNG NƯỚC THẢI, TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI ĐẦU VÀO VÀ YÊU CẦU ĐẦU RA 47

3.1.1 NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC CẤP CỦA BỆNH VIỆN 47

3.1.2 TÍNH TOÁN LƯU LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA BỆNH VIỆN: 48

3.1.3 TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI ĐẦU VÀO VÀ YÊU CẦU ĐẦU RA 50

3.2 CƠ SỞ LỰA CHỌN SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ CỦA TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 51

3.3 CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 52

3.3.1 Phương án 1 52

3.3.2 Phương án 2 54

3.3.3 Lựa chọn công nghệ xử lý 56

3.3.4 HIỆU SUẤT XỬ LÝ CÁC THÔNG SỐ VÀ CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ 58

3.4 TÍNH TOÁN CÁC CÔNG TRÌNH ĐƠN VỊ 59

3.4.1 SONG CHẮN RÁC 59

Trang 4

3.4.3 BỂ ĐIỀU HÕA 67

3.4.4 BỂ ANOXIC 73

3.4.5 BỂ AEROTANK 77

3.4.6 BỂ LẮNG ĐỨNG: 96

3.4.7 BỂ KHỬ TRÙNG 104

3.4.8 BỂ CHỨA BÙN: 110

3.4.9 BỂ NÉN BÙN: 111

CHƯƠNG 4: MÔ TẢ CÔNG TRÌNH – THIẾT BỊ VÀ DỰ TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN HỆ THỐNG 118

4.1 MÔ TẢ CÔNG TRÌNH – THIẾT BỊ 118

4.1.1 Mô tả công trình đơn vị 118

4.1.2 Mô tả thiết bị 119

4.2 DỰ TOÁN KINH PHÍ 121

4.2.1 Chi phí các công trình đơn vị 121

4.2.2 Chi phí thiết bị 122

4.2.3 Tổng chi phí đầu tư 123

4.3 CHI PHÍ XỬ LÝ 124

4.3.1 Chi phí điện năng 124

4.3.2 Chi phí hóa chất 125

4.3.3 Chi phí xử lý cho 1m3 nước thải 125

CHƯƠNG 5: QUẢN LÝ VÀ VẬN HÀNH HỆ THỐNG 126

5.1 TỔ CHỨC QUẢN LÝ 126

5.2 VẬN HÀNH HỆ THỐNG 126

5.2.1 Nguyên tắc vận hành 126

5.2.2 Vận hành hệ thống 127

5.3 KIỂM SOÁT VÀ BẢO TRÌ HỆ THỐNG 128

5.3.1 Các sự cố thường gặp và cách khắc phục 129

5.3.2 Các hạng mục chính cần kiểm tra hàng ngày 130

5.4 QUẢN LÝ PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 131

Trang 5

5.4.1 Quản lý phòng cháy chữa cháy 131

5.4.2 An toàn lao động 131

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

PHỤ LỤC 134

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tốc độ sinh trưởng riêng tối đa

MLVSS Các chất rắn lơ lửng dễ bay hơi của hỗn hợp bùn

BQLDA ĐTXD Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

ATVSMT An toàn vệ sinh môi trường

HTXL Hệ thống xử lý

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối với khu

dân cư xung quanh 13

Bảng 2.1: Lượng bức xạ cần thiết để khử trùng bằng tia cực tím 30

Bảng 2.2: So sánh ưu nhược điểm của một số mô hình công nghệ xử lý nước thải bệnh viện 44

Bảng 2.3: Hệ số không điều hòa chung Kch phụ thuộc vào Qtbgiây 50

Bảng 2.4: Nồng độ nước thải tại hố thu gom của HTXLNT và yêu cầu chất lượng nước sau xử lý 50

Bảng 3.1: Bảng dự đoán hiệu suất xử lý các thông số và các chất gây ô nhiễm của các công trình đơn vị 58

Bảng 3.2: Các thông số tính toán cho song chắn rác làm sạch bằng cơ khí 60

Bảng 3.3: Hệ số để tính sức cản cục bộ của song chắn 62

Bảng 3.4: Các thông số thiết kế song chắn rác 63

Bảng 3.5: Các thông số thiết kế hố thu gom 66

Bảng 3.6: Các thông số thiết kế bể điều hòa 73

Bảng 3.7: Các thông số thiết kế bể Anoxic 77

Bảng 3.8: Các thông số thiết kế bể Aerotank 96

Bảng 3.9: Thông số thiết kế bể lắng đứng 97

Bảng 3.10: Số liệu thiết kế bể lắng đứng 104

Bảng 3.11: Các thông số thiết kế bể khử trùng 109

Bảng 3.12: Các thông số thiết kế bể chứa bùn 111

Bảng 3.13: Các thông số thiết kế bể nén bùn 117

Bảng 4.1: Thông số thiết kế các công trình đơn vị 118

Bảng 4.2: Thông số kỹ thuật các thiết bị 119

Bảng 4.3: Chi phí công trình đơn vị 121

Bảng 4.4: Chi phí các thiết bị 122

Bảng 4.5:Tổng chi phí đầu tư 123

Bảng 4.6: Chi phí điện năng 124

Trang 8

Bảng 5.1: Các sự cố thường gặp trong vận hành hệ thống xử lý nước thải 129 Bảng 5.2: Các hạng mục chính cần kiểm tra hàng ngày 130

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình bệnh viện đa khoa Bình Dương 1500 giường 11

Hình 2.1:Song chắn rác 21

Hình 2.2: Sơ đồ cấu tạo bể lắng đứng 22

Hình 2.3: Sơ đồ cấu tạo bể lắng hai vỏ 22

Hình 2.4: Gía thể vi sinh vật của bể lọc sinh học ngập nước 24

Hình 2.5: Sơ đồ cấu tạo bể lọc sinh học 25

Hình 2.6: Cấu tạo hoạt động đĩa quay sinh học 26

Hình 2.7: Bể hiếu khí truyền thống 27

Hình 2.8 Bể hiếu khí thổi khí kéo dài 28

Hình 2.9: Mương oxy hóa 28

Hình 2.10: Bãi lọc trồng cây 29

Hình 2.11: Sân phơi bùn 35

Hình 2.12: Sơ đồ XLNT bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt 36

Hình 2.13: Sơ đồ XLNT bệnh viện bằng bùn hoạt tính trong bể hiếu khí 37

Hình 2.14: Sơ đồ XLNT bệnh viện theo nguyên lý hợp khối 38

Hình 2.15: Sơ đồ XLNT bệnh viện bằng công nghệ AAO 40

Hình 2.16: Sơ đồ XLNT bệnh viện bằng hồ sinh học ổn định 42

Hình 2.17: Sơ đồ XLNT bệnh viện bằng bãi lọc trồng cây kết hợp bể lọc yếm khí 43

Hình 3.1: Sơ đồ công nghệ xử lý 1 52

Hình 3.2: Sơ đồ công nghệ xử lý 2 54

Trang 10

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hoạt động của các bệnh viện ở nước ta hiện nay đang được cải thiện hằng ngày

cả về chất lẫn về lượng Những năm gần đây nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rất lớn Hơn nữa, với chủ trương đưa thầy thuốc đến với tất cả các bệnh nhân trên toàn quốc kể cả vùng sâu, vùng xa Do đó, hiện nay nhà nước đã đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp nhiều bệnh viện, trạm y tế khắp cả nước nhằm phục vụ người dân được tốt hơn Bên cạnh đó, có rất nhiều bệnh viện với quy mô vừa và nhỏ do các tổ chức cá nhân xây dựng lên Tuy nhiên, với việc tăng cường khả năng phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, các hoạt động của bệnh viện cũng thải ra một lượng rất lớn chất thải gây ảnh hưởng đến môi trường và con người

Chất thải y tế được xem là một trong những chất thải nguy hại có tác động trực tiếp tới con người và môi trường nếu không được kiểm soát, quản lý và xử lý tốt Vì vậy, việc kiểm soát, quản lý và xử lý chất thải y tế là một nhiệm vụ cấp bách của ngành y tế và các ngành liên quan, nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng

Ở nước ta, công tác quản lý và xử lý chất thải y tế đã được ban ngành các cấp quan tâm Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý chưa hiệu quả như công tác phân loại, vận chuyển…Xử lý chưa đúng quy định, chủ yếu vẫn còn tập trung xử lý chung, cùng với các loại chất thải khác tại bãi chôn lấp, còn các hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện thì thiết kế sơ xài, không hiệu quả, thậm chí chỉ thiết kế hệ thống xử lý nước thải

để “che mắt” các cơ quan quản lý

Hiện nay cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển, điều kiện sống của người dân địa phương cũng được nâng cao, số lượng các cơ sở y tế và số giường bệnh ngày càng gia tăng góp phần phát triển và hoàn thiện công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, hệ quả của việc phát triển cơ sở vật chất ngành y tế là lượng chất thải

y tế phát sinh ngày càng nhiều và đòi hỏi phải được quản lý thu gom và xử lý triệt để

Vì vậy, việc hoàn thành các công trình xử lý nước thải y tế là một nhu cầu cấp thiết cần được thực hiện

Nhiệm vụ đồ án

Thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa Bình Dương với quy mô

1500 giường bệnh đạt tiêu chuẩn loại B QCVN 28:2010/BTNMT – Quy Chuẩn Kỹ Thuật Quốc Gia Về Nước Thải Y tế

Trang 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tính toán - thiết kế hệ thống xử lý nước thải Bệnh Viện Đa Khoa Bình Dương với quy mô 1500 giường bệnh để đảm bảo chuẩn xả thải, hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải đầu ra đạt cột B giá trị C của QCVN 28:2010/BTNMT

Trang 12

6 PHẠM VI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Thực hiện đề tài “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải Bệnh Viện Đa Khoa Bình Dương với quy mô 1500 giường bệnh’’

Thời gian thực hiện: 6 tháng

7 Ý NGHĨA CỦA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

- Khi trạm xử lý hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ là nơi để các doanh

nghiệp, bệnh viện, sinh viên tham quan, học tập

Khoa học:

- Có thêm kiến thức chuyên ngành đồng thời học tập thêm nhiều công nghệ

xử lý nước thải, nước thải bệnh viện mà các nước tiên tiến trên thế giới đang sử dụng

- Giúp sinh viên hệ thống hóa kiến thức đã học và áp dụng vào một đề tài cụ thể để thiết kế một hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh

- Rèn luyện cho sinh viên thêm nhiều kỹ năng thiết thực như tìm kiếm, tổng hợp tài liệu, kiến thức; làm việc với áp lực cao, tính đúng giờ…

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH DƯƠNG

VỚI CÔNG SUẤT 1500 GIƯỜNG 1.1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG

1.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên (nguồn: www.binhduong.gov.vn)

a) Vị trí địa lý:

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,22km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ), là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần

từ 10m đến 15m so với mặt biển Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10o

50’-27’’ đến 11o

24’-32’’ vĩ độ Bắc và từ 106o-20’ đến 106o25’ kinh độ Đông

 Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước

 Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh

 Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai

 Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh

Bình Dương có 01 thành phố (Thủ Dầu Một), 04 thị xã (Thuận An, Dĩ An, Tân Uyên, Bến Cát), 4 huyện ( Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo), trong đó thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh

b) Địa hình:

Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Nếu theo độ cao, từ phía Nam lên phía Bắc có 3 dạng địa hình chính sau đây:

 Vùng thung lũng bãi bồi: phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn

và sông Bé Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6 – 10m

 Vùng địa hình bằng phẳng: nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc 3 – 120, cao trung bình từ 10 – 30m

 Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu: nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu

là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5 – 120, độ cao phổ biến

từ 30 – 60m

Có một số núi như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện

Trang 14

c) Khí hậu:

Khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa: mùa khô

và mùa mưa Nhiệt độ trung bình từ 26oC-27oC Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80%, thấp nhất là 66% (vào tháng 2) và độ ẩm trung bình vào mùa mưa là 90%

Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 (341 mm); tháng mưa ít nhất là tháng 1(20 mm)

Bình Dương có hai hướng gió chủ đạo trong năm là gió Tây – Tây Nam và gió Đông – Đông Bắc Tốc độ gió bình quân khoảng 0,7m/s

d) Thủy văn:

Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng

1.1.2 Kinh tế - xã hội (nguồn: www.binhduong.gov.vn)

Bình Dương là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tổng sản phẩm trong theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế năm 2011 là 62.341.236 triệu đồng Trong

đó, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 2.582.134 triệu đồng; công nghiệp và xây

dựng là 38.755.180 triệu đồng và dịch vụ là 21.003.922 triệu đồng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Dương tương đối cao và khá ổn định so với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, do đó tỉnh luôn luôn tạo ra sức hấp dẫn về việc thu hút đầu tư và lực lượng lao động từ các địa phương khác chuyển đến

a) Hiện trạng phát triển công nghiệp:

Tổng số khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn tỉnh là 28 khu với tổng diện tích là 9.094,85ha và được phân bố như sau:

 Thị xã Dĩ An có 6 KCN với diện tích 711,84 ha

 Thị xã Thuận An có 3 KCN với diện tích 653,76 ha

 Thành phố Thủ Dầu Một có 7 KCN với diện tích 1.765,37 ha

 Thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng có 9 KCN với diện tích 4.122,96 ha

 Thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên có 3 KCN với diện tích 1.840,91 ha Hiện nay đã có 26 KCN đi vào hoạt động chính thức với tổng diện tích 8392,451

ha, 2 KCN còn lại đang thời kỳ xây dựng cơ bản (KCN Thới Hòa và KCN An Tây)

Trang 15

với tổng diện tích 702,4 ha Tính đến thời điểm hiện nay tỷ lệ lấp kín trung bình của các KCN là 65% Có 6 KCN đạt tỷ lệ 100% (Sóng Thần, Đồng An 1, Tân Đông Hiệp

A, Việt Hương 1; VSIP 1, Mỹ Phước 2), 4 KCN đạt tỷ lệ trên 95% trở lên (Sóng Thần

2, Bình Đường, Bình An, VSIP II), 1 KCN đạt trên 90% (KCN Nam Tân Uyên), 4 KCN đạt 70% (Đồng An 2, Việt Hương 2, Mỹ Phước, Tân Đông Hiệp B) Tính đến tháng 6 năm 2012, các KCN của tỉnh đã thu hút được 1.527 dự án còn hiệu lực, bao gồm 1.145 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký

là 8,802 tỷ đô la Mỹ; 382 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 23.003 tỷ đồng Nhìn chung các dự án FDI đầu tư vào KCN có số vốn đầu tư tương đối khá với mức bình quân là 7,6 triệu đô la Mỹ/dự án, với 33 quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoài đầu tư Các quốc gia có số dự án nhiều và vốn đầu tư lớn là Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật, Mỹ,… Đến nay, các KCN có trên 1140 doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho trên 300.000 lao động Đối với cụm công nghiệp, tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 8 CCN đang triển khai với tổng diện tích quy hoạch chi tiết xây dựng phê duyệt 593,4763ha, được phân

bố trên 4 địa bàn huyện, thị: Thị xã Thuận An có 02 cụm là CCN Bình Chuẩn và CCN

An Thạnh; Thị xã Dĩ An có CCN Tân Đông Hiệp; thị xã Tân Uyên có 04 CCN: CCN Công ty CP Thành phố đẹp, CCN Tân Mỹ; CCN thị trấn Uyên Hưng và CCN Phú Chánh; huyện Dầu Tiếng có 01 CCN là CCN Thanh An ; Các CCN đã thu hút 40 dự

án trong đó 07 dự án có vốn đầu tư trong nước và 33 dự án đầu tư nước ngoài với tổng

số vốn đầu tư 420 tỷ đồng và 185 triệu đô la Mỹ Tỷ lệ lấp đầy trung bình tại các CCN

là 40,39% Có 4 CCN lấp đầy 100% là Bình Chuẩn, An Thạnh, Tân Đông Hiệp và CCN Thành phố đẹp CCN có 36 dự án đã đi vào hoạt động

Tính đến cuối năm 2011, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 7436 doanh nghiệp thu hút 733.376 lao động Những ngành có tỷ trọng lớn vẫn là những ngành thâm dụng lao động (công nghiệp thực phẩm, đồ uống (15,75%); giường, tủ, bàn ghế (13,97%); sản xuất các sản phẩm từ kim loại (6,47%); hóa chất (10,8%); sản phẩm bằng da, giả da (4,99%);…) Những ngành có hàm lượng chất xám cao (điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo,…) tuy có tăng nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn

b) Hiện trạng phát triển Nông – L m – Thủy sản:

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp đã giảm so với trước đây, tuy nhiên do chủ động triển khai các giải pháp tổ chức sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật, hỗ trợ nông dân xây dựng các mô hình sản xuất tiên tiến đã tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định trong suốt giai đoạn 2000 - 2011 Tổng sản phẩm theo giá so sánh của Nông – Lâm – Thủy sản liên

Trang 16

túc tăng qua các năm, so với năm 2000, tổng sản phẩm của khu vực năm 2011 đã tăng lên 1,3 lần

Các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi phát triển ổn định và ngày càng định hình theo quy hoạch Tỉnh đã quy hoạch và triển khai xây dựng 03 khu nông nghiệp công nghệ cao: xã An Thái (424 ha), xã Phước Sang (500 ha) – huyện Phú Giáo và xã Hiếu Liêm (89,9 ha) – thị xã Tân Uyên

Kinh tế trang trại tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế -

xã hội ở nông thôn Các hợp tác xã nông nghiệp được củng cố và đổi mới về phương thức hoạt động gắn với lợi ích thiết thực của xã viên Các công ty cao su trên địa bàn hoạt động hiệu quả, góp phần quan trọng vào chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Tỉnh

c) Tình hình phát triển ngành dịch vụ:

Song song với phát triển công nghiệp, ngành dịch vụ đang được quan tâm phát triển và có tốc độ phát triển cao Bên cạnh phát triển các ngành dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, văn hóa xã hội đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân, các ngành dịch vụ đời sống được khuyến khích phát triển mạnh Tỷ trọng GDP của các ngành thương mại, dịch vụ, khách sạn nhà hàng, vận tải, kho bãi thông tin liên lạc, tài chính, tín dụng, kinh doanh bất động sản, tư vấn chiếm tỷ trọng hơn 74% tổng sản phẩm trên địa bàn của ngành dịch vụ,…

d) Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

 Mạng lưới giao thông:

+ Đường bộ:Hệ thống giao thông đường bộ khá phát triển Toàn tỉnh Bình Dương có 7.243,7km đường bộ, tỷ lệ nhựa hóa chung đạt 42,5%, trong đó có 03 tuyến quốc lộ chạy qua tỉnh với chiều dài 77,1km; 14 tuyến đường tỉnh quản lý, với chiều dài 499,3km đã nhựa hóa 100%; 82 tuyến đường huyện quản lý, với chiều dài 570,9km, tỷ

lệ nhựa hóa đạt gần 90%; Hệ thống đường cấp xã quản lý có chiều có 3.183km, đạt 15,1% nhựa và bê tôn; hệ thống đường đô thị khá phát triển với chiều dài 785,1km đạt gần 95% nhựa hóa

Nhìn chung hai quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh (quốc lộ 1A và 1K) vẫn còn hiện tượng ách tắc giao thông, riêng quốc lộ 13 đã đạt chất lượng cao từ ngã tư Bình Phước đến huyện Bến Cát Tuy nhiên lưu lượng trên tuyến quốc lộ 13 có xu hướng tăng dần

và có thể xảy ra ách tắc trong tương lai Hệ thống đường tỉnh quản lý đã được nâng cấp, mở rộng , làm mới và kết nối các khu, cụm công nghiệp đến các điểm nhà ga, bến cảng, mạng lưới giao thông quốc gia đã giúp cho giải tỏa áp lực và lưu thông, thúc đẩy sản xuất và đời sống phát triển

Trang 17

+ Đường thủy:Lưu thông đường thủy qua 2 con sông chính là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Các sông này đủ rộng và đủ sâu để thực hiện giao thông đường thủy, giúp giảm bớt giao thông vận tải cho đường bộ Riêng trên sông Sài Gòn, do còn hạn chế bởi tĩnh không của cầu Bình Lợi, cầu sắt Lái thiêu nên không đáp ứng được cho

ghe tàu có tải trọng trên 100 tấn lưu thông

 Hệ thống cảng hiện có:Cảng Bình Dương - (sông Đồng Nai): thuộc Ấp Ngãi Thắng, xã Bình Thắng, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Có thể tiếp nhận tàu biển trong nước và nước ngoài có trọng tải dưới 5000T.Cảng Thạnh Phước - (sông Đồng Nai): thuộc xã Thạnh Phước, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, có khả năng tiếp nhận tàu

và xà lan từ 1.000 tấn đến 2.000 tấn

 Hệ thống thông tin liên lạc: Hiện toàn tỉnh có 34 bưu cục, 49 điểm bưu điện văn hóa xã, 660 đại lý, 100% xã, phường và các khu công nghiệp có điểm phục vụ bưu chính viễn thông với bán kính bình quân 0,91km/điểm phục vụ Trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp viễn thông lớn cũng đều tham gia cung cấp hạ tầng và dịch vụ viễn thông như: Viễn thông Bình Dương, FPT, Viettel, EVN Telecom, VNTT, VTI, Vinaphone, Vietnamobile…

 Kết cấu hạ tầng điện, nước:

+ Cấp nước: Mạng lưới cấp nước trong tỉnh đã và đang được đầu tư mạnh, các nhà máy cấp nước hiện nay gồm: nhà máy cấp nước tại thành phố Thủ Dầu Một, Dĩ

An, Mỹ Phước, Lái Thiêu, An Thạnh, Uyên Hưng, Dầu Tiếng, Phước Vĩnh Hiện nay,

tỷ lệ hộ dân sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung là 99% (ở thành thị) và 95% (ở nông thôn)

+ Thoát nước: Việc thoát nước tại các KCN đã thực hiện tương đối tốt, trong 26 KCN đã đi vào hoạt động thì có 25/26 KCN đã xây dựng tách riêng hệ thống thoát nước mưa và nước thải và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải Riêng các cụm công nghiệp chỉ có các CCN mới đi vào hoạt động có xây dựng hệ thống xử lý nước thải (CCN Thành phố đẹp, CCN Tân Mỹ), đối với 03 CCN cũ (An Thạnh, Bình Chuẩn và Tân Đông Hiệp) chưa có xây dựng hệ thống xử lý nước thải Tuy nhiên thoát nước ngoài khu công nghiệp chưa theo kịp với sự phát triển của các KCN nên gây ra nhiều bức xúc cho người dân đặc biệt là khu vực An Tây, Bến Cát

Việc thoát nước đô thị đối với các dự án đô thị, khu dân cư và khu nhà ở mới được thực hiện tương đối tốt, tuy nhiên đối với các khu đô thị cũ hệ thống thoát nước thải chưa được xây dựng Nước thải trong các khu vực này chủ yếu là tự ngấm hoặc thoát ra cống thoát nước mưa Trong các khu đô thị cũ hiện nay chỉ riêng khu vực phía Nam thành phố Thủ Dầu Một là có xây dựng nhà máy xử lý nước thải với công suất

Trang 18

Với tốc độ đô thị hóa cao, việc quy hoạch và xây dựng hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ phát triển, vì vậy hiện nay trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu xuất hiện các điểm ngập khi trời mưa hoặc triều cường tại các vùng có tốc độ phát triển cao.Theo thống kê của Sở Xây dựng, hiện nay có 65 vị trí ngập trong đó chủ yếu tại các khu vực có tốc độ phát triển cao (Thuận An 18 vị trí, Thủ Dầu Một 7 vị trí, Dĩ An

19 vị trí, Bến Cát 13 vị trí, Phú Giáo 4 vị trí và Tân Uyên 4 vị trí)

+ Hệ thống cấp điện: Trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện có các nguồn cung cấp điện chính: Thủy điện Thác Mơ, Trị An, Cần Đơn, Sok PhuMiêng có tổng công suất 678,6MW và Nhiệt điện Thủ Đức có tổng công suất 293MW Các nguồn điện của Bình Dương cung cấp đủ nhu cầu phụ tải cho tỉnh

Hiện nay, hệ thống lưới điện của tỉnh đang tồn tại đồng thời các cấp điện áp: 220KV, 110KV, 35kV, 22kV, 500KV Hầu hết các tuyến trực trung thế đã liên kết mạch vòng, độ an toàn cung cấp điện cao

e) Tình hình phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội:

 Giáo dục, đào tạo: Giáo dục và đào tạo không ngừng được củng cố và nâng chất lượng, đội ngũ giáo viên từng bước được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học được quan tâm đầu tư Hiện trên địa bàn tỉnh có 102 trường lớp mẫu giáo, 135 trường tiểu học, 65 trường trung học cơ

sở và 21 trường trung học phổ thông, tuy nhiên về cơ sở vật chất của tỉnh vẫn chưa đáp ứng được số lượng học sinh gia tăng hiện nay Về đào tạo hiện tỉnh có 6 trường đại học, 5 trường cao đẳng nghề, 16 trường trung cấp nghề, 15 trung tâm dạy nghề và 5 cơ

sở đào tạo nghề khác Số lượng người đào tạo hàng năm khoảng 14.000 - 15.000 người Tuy nhiên các trường chưa đáp ứng được nhu cầu về đào tạo cả về số lượng và

chất lượng, đặc biệt thiếu lực lượng lao động có đào tạo cho các KCN

 Văn hóa, nghệ thuật: Toàn tỉnh có 2 trung tâm văn hóa cấp tỉnh, 07 trung tâm văn hóa huyện, thị và thành phố, 01 đơn vị nghệ thuật và 5 đơn vị chiếu phim Toàn tỉnh có 8 thư viện, 42 di tích lịch sử được xếp hạng, 14 di tích lịch sử cách mạng, 15 di tích lịch sử văn hóa,…Các hoạt động văn hóa đã phục vụ tốt các sự kiện chính trị của địa phương, với nhiều hoạt động phong phú, tạo không khí vui tươi của ngày lễ, hội và thu hút sự quan tâm của xã hội Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục phát triển khá toàn diện, số lượng hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá được nâng lên

 Mạng lưới y tế: Nguồn nhân lực Ngành Y tế Bình Dương luôn được đẩy mạnh

về nghiệp vụ cũng như trình độ chuyên môn Tỷ lệ giường bệnh đạt 23 giường bệnh/10.000 dân Công suất sử dụng giường bệnh tại bệnh viện tuyến tỉnh đạt 98,71%, tuyến huyện đạt 90,78% Toàn tỉnh có 2.416 cơ sở hành nghề y dược tư nhân, trong

Trang 19

đó: 5 bệnh viện, 42 Phòng khám đa khoa, 11 Nhà hộ sinh, 345 Phòng khám chuyên khoa, 101 Phòng chẩn trị y học cổ truyền, 85 nhà thuốc, 1.637 đại lý thuốc, 12 doanh nghiệp kinh doanh thuốc, 10 cơ sở kinh doanh thuốc phiến, 164 cơ sở hành nghề khác Song song với triển khai chủ trương của UBND tỉnh về xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh 1.500 giường, Bệnh viện chuyên khoa Nhi 400 giường, Bệnh viện Lao – phổi 150 giường, Bệnh viện Tâm thần 150 giường, Bệnh viện Ung bướu 200 giường; khởi công xây dựng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Miền đông, Trường Cao đẳng Y dược Bình Dương; 100% Trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sĩ, nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi và nhân viên y tế khu phố, ấp…

1.1.3 Đánh giá sự phù hợp của địa điểm lựa chon dự án với đặc điểm kinh tế -

xã hội của dự án (nguồn: www.binhduong.gov.vn)

Căn cứ theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung quy hoạch đến năm 2025”, dự án này phù hợp với quan điểm phát triển y tế được trình bày trong quy hoạch là “Phát triển kinh tế phải gắn với phát triển

y tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, giảm dần tỉ lệ hộ nghèo, tập trung đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để đáp ứng nhu cầu của xã hội”

Xây dựng bệnh viện, trường học luôn là điều cần thiết nhằm thiết thực chăm lo giáo dục, sức khỏe cho người dân Thế nên, chủ trương đầu tư xây dựng BVĐK 1.500 giường là hết sức đúng đắn và thật sự cần thiết, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân cũng như chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao dần lên Xây dựng bệnh viện quy mô lớn mới theo kịp đà tăng tưởng về kinh tế cũng như dân số hiện nay

và tương lai BVĐK 1.500 giường có hệ thống hạ tầng dịch vụ hoàn chỉnh, hiện đại, chất lượng cao theo hướng ưu tiên phát triển các dịch vụ khám, chẩn đoán và thực hiện các nghiệp vụ chữa trị chuyên sâu với công nghệ cao, tạo tiền đề cho phát triển nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong công tác bảo vệ, chăm sóc

và nâng cao sức khỏe nhân dân; đồng thời đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh và khu vực lân cận

Song song với xây dựng BVĐK 1.500 giường là việc đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại, đầy đủ hơn ở các phòng, khoa để đáp ứng cho việc khám, chữa bệnh Cơ sở, trang thiết bị được cải thiện cộng thêm việc thu hút nhân lực sẽ góp phần giảm tải, đáp ứng tốt hơn việc chăm sóc sức khỏe cho người dân Do vậy, địa điểm lựa chọn dự án phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Thủ Dầu Một nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung

Trang 20

1.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ DỰ ÁN BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH

DƯƠNG VỚI QUY MÔ 1500 GIƯỜNG BỆNH (nguồn: www.baobinhduong.vn)

Việc khởi công xây dựng BVĐK 1.500 giường là sự cố gắng của tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng khám, chữa bệnh trong thời gian tới

Hình 1.1: Mô hình bệnh viện đa khoa Bình Dương 1500 giường

BVĐK tỉnh hiện tại đang hoạt động với quy mô 1.200 giường Cơ sở vật chất của bệnh viện khá cũ, xuống cấp và luôn trong tình trạng quá tải do được đầu tư từ những năm 80 của thế kỷ trước Khả năng mở rộng quy mô của BVĐK tỉnh hiện nay cũng không còn để đáp ứng cho việc nâng cấp thành BVĐK hạng I trong tương lai Chính vì vậy, UBND tỉnh Bình Dương đã có chủ trương đầu tư xây dựng BVĐK 1.500 giường Công trình do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng (BQLDA ĐTXD) tỉnh làm chủ đầu

tư, Công ty TNHH CPG Việt Nam thiết kế

Theo số liệu thống kê, dân số tỉnh Bình Dương hiện nay hơn 1,7 triệu người, bao gồm cả dân nhập cư Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 7,3% Toàn tỉnh hiện có

28 khu, cụm công nghiệp tập trung, với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động Ngoài việc chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tỉnh cũng rất quan tâm đến các lĩnh vực văn hóa, xã hội để nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, nhất là trên lĩnh vực y tế Hiện nay, toàn tỉnh có 3 bệnh viện tuyến tỉnh, 9 trung tâm y tế tuyến huyện với 17 phòng khám đa khoa khu vực và 91 trạm y tế tuyến xã, 2 bệnh viện ngành Ngoài ra,

hệ thống y tế ngoài công lập có 10 bệnh viện, 34 phòng khám đa khoa, 328 phòng khám chuyên khoa, 6 phòng xét nghiệm, 7 phòng chẩn đoán hình ảnh, 68 phòng chẩn trị y học cổ truyền và 64 cơ sở dịch vụ y tế Trên thực tế, tình trạng quá tải tại bệnh viện các tuyến luôn xảy ra, đặc biệt là bệnh viện tuyến tỉnh, công suất sử dụng giường

Trang 21

bệnh luôn đạt 100% Cùng với đà tăng trưởng về kinh tế thì việc gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây và thời gian tới sẽ rất lớn Do đó, việc đầu tư xây dựng một bệnh viện có quy mô lớn như BVĐK 1.500 giường là hết sức cần thiết Theo lãnh đạo BQLDA ĐTXD tỉnh, BVĐK 1.500 giường sẽ được đầu tư xây dựng theo hướng đa khoa đầy đủ, dịch vụ hoàn chỉnh, hiện đại, chuyên sâu, chất lượng cao Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là bệnh viện hạng I theo quy chuẩn Việt Nam QCVN 03:2012/BXD, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điều đó cho thấy, chủ trương đầu tư xây dựng BVĐK 1.500 giường là hết sức đúng đắn và thực sự cần thiết Đây là một trong những công trình có ý nghĩa quan trọng của tỉnh trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tỉnh cũng như những khu vực lân cận

Công trình BVĐK 1.500 giường được khởi công xây dựng trong khu quy hoạch các bệnh viện, bao gồm: BVĐK 1.500 giường và các bệnh viện chuyên khoa: Lao và bệnh phổi, bệnh viện tâm thần, bệnh viện điều dưỡng - phục hồi chức năng BVĐK 1.500 giường nằm trên đường chính nối đại lộ Bình Dương và đường Mỹ Phước - Tân Vạn thuộc phường Định Hòa, TP.Thủ Dầu Một Theo thiết kế, công trình cao 19 tầng bao gồm: 1 tầng hầm, 1 khối đế 5 tầng và 2 khối tháp cao 13 tầng Tổng diện tích sàn xây dựng là 167.705m2, trong đó diện tích đất xây dựng bệnh viện là 129.300m2 Công trình được xây dựng với đầy đủ các khoa phòng của một BVĐK hạng I Tổng vốn đầu tư xây dựng hơn 2.318 tỷ đồng, bằng nguồn vốn ngân sách và xổ số kiến thiết tỉnh

Dự kiến, năm 2018 công trình sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng Với quy mô về cơ

sở hạ tầng, cùng các dịch vụ khám, chẩn đoán và thực hiện các nghiệp vụ chữa trị chuyên sâu công nghệ cao, công trình khi đưa vào sử dụng sẽ giải quyết được tình trạng quá tải của BVĐK tỉnh hiện nay Công trình BVĐK 1.500 giường được xây dựng không những đáp ứng nhu cầu về khám chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho nhân dân, mà còn góp phần tạo diện mạo mới, hiện đại cho đô thị Thủ Dầu Một, cũng như xây dựng Bình Dương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020 Sau khi xây dựng xong BVĐK 1.500 giường thì BVĐK tỉnh sẽ chuyển về tiếp quản cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, phục vụ công tác chăm lo sức khỏe người dân Thế nên, việc nhân sự sẽ được tính dần từ nay cho đến khi bệnh viện bàn giao, đi vào hoạt động BVĐK tỉnh (BV 512 giường) hiện tại đã là 1.200 giường nhưng công suất giường bệnh thực tế luôn tăng hơn, khoảng 1.300 giường Bình quân mỗi năm sẽ tăng thêm 100 giường bệnh để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày một tăng Như thế, đến năm 2017 sẽ tăng lên 1.400 giường và 2018 sẽ đáp ứng công suất 1.500 giường Tất nhiên là phải cố gắng rất nhiều trong đó có vấn đề nhân sự mới bảo đảm đủ về con

Trang 22

Từ nay đến năm 2018, ngành y tế sẽ tăng cường nhân lực từ các nguồn đào tạo tại chỗ, đào tạo theo địa chỉ, chính sách thu hút nhân tài ngoài tỉnh để đủ nhân lực khi bệnh viện đi vào hoạt động UBND tỉnh rất quan tâm, hỗ trợ trong việc đào tạo nhân lực tại trường Cao đẳng Y tế của tỉnh, gửi đào tạo theo địa chỉ tại Đại học Y dược Cần Thơ, đào tạo ở nước ngoài, phối hợp với các Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM để đào tạo về chuyên khoa cho bác sĩ… Bên cạnh đó, Sở Y tế, Sở Nội

Vụ, Sở Tài chính cũng sẽ phối hợp để tham mưu cho UBND tỉnh về việc thu hút nhân lực, bổ sung các chế độ phụ cấp hợp lý hơn như hỗ trợ một lần, bố trí nhà ở công vụ, bảo đảm mức lương, phụ cấp ngành để thu hút bác sĩ về Bình Dương công tác lâu dài Đây là công trình lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nên tỉnh sẽ rất chú trọng và quan tâm đúng mức để công trình được xây dựng đúng tiến độ, kịp đưa vào sử dụng phục vụ nhân dân

1.3 NGUYÊN TẮC BỐ TRÍ CÔNG TRÌNH XỬ LÝ VÀ ĐIỂM XẢ NƯỚC THẢI

Hệ thống XLNT phải được bố trí phù hợp với quy hoạch phát triển của các cơ sở y tế

và phải đảm bảo khoảng cách tối thiểu của công trình đối với khu dân cư xung quanh

Bảng 1.1: Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối với

khu d n cư xung quanh

Xử lý sinh học không có sân phơi bùn,

có máy làm khô bùn, có thiết bị để xử

lý mùi hôi, xây dựng kín

Trang 23

Trong khoảng cách vệ sinh môi trường phải trồng cây xanh với chiều rộng ≥ 10m Đối với loại trạm bơm nước thải sử dụng máy bơm thải chìm đặt trong giếng ga kín thì không cần khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường, nhưng phải có ống thông hơi xả mùi hôi (xả ở cao độ ≥ 3m) Khi không đủ diện tích để đảm bảo khoảng cách tối thiểu trên thì phải có các giải pháp công nghệ phù hợp hoặc xây dựng, lắp đặt hợp khối các công trình và thiết bị xử lý nước thải và phải được cơ quan quản lý môi trường địa phương chấp thuận

Nước thải của cơ sở y tế dẫn ra bên ngoài bằng cống kín, vật liệu không thấm nước Để điều kiện pha loãng với nguồn tiếp nhận được tốt, nước thải phải xả ngập và

có áp lực

(nguồn: trang 9 – [4])

Trang 24

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN VÀ CÁC

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ 2.1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN

2.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện

Thông thường chất thải phát sinh từ bệnh viện tồn tại ở 3 thể rắn – lỏng – khí tương ứng với 3 dạng chất thải: chất thải rắn, nước thải và khí thải với mức độ độc hại khác nhau Nguy hiểm nhất là các bệnh phẩm gồm các tế bào, các mô bị cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật, tiểu phẫu; các găng tay, bông gạc có dính dịch và máu; nước lau rửa từ các phòng điều trị, phòng mổ, khoa lây; khí thoát ra từ các kho chứa hóa nhất là kho chứa radium…Sau đó là đến các chất thải từ các dụng cụ y tế như kim tiêm, ống thuốc, dao mổ, lọ xét nghiệm, túi oxy…Chất thải hoá chất độc hại như dung môi hữu

cơ, huyết thanh quá hạn, hoá chất xét nghiệm cuối cùng mới tới nước thải y tế và nước thải sinh hoạt Sự nguy hiểm của chất thải bệnh viện: qua một xét nghiệm khoa học cho thấy, mỗi một gram bệnh phẩm như: mủ, đờm… nếu không được xử lý thì sẽ truyền khoảng 11 tỷ vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm ra môi trường bên ngoài

Nước thải bệnh viện là một dạng nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư Tuy nhiên, nước thải bệnh viện cực kỳ nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ, bởi vì bệnh viện là nơi tập trung cao những người mắc bệnh điều trị ở các khoa bệnh khác nhau, đặc biệt là các khoa điều trị về các bệnh truyền nhiễm

Đặc tính của nước thải bệnh viện là ngoài những yếu tố gây ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn , thì còn có những yếu tố gây ô nhiễm khác có tính đặc thù như: các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh tại các khoa chức năng Ngoài ra, nước thải bệnh viện còn chứa các tác nhân gây bệnh khác như: vi khuẩn, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun sán, virus,

Các nguồn phát sinh nước thải trong bệnh viện:

 Nước thải phát sinh từ các hoạt động khám và điều trị bệnh tại các khoa chức năng

 Nước thải phát sinh từ mục đích sinh hoạt của bệnh nhân, thân nhân, khách thăm, bác sỹ và cán bộ - công nhân viên trong bệnh viện

 Nước thải phát sinh từ quá trình vệ sinh, lau chùi, làm sạch các phòng lưu trú cho bệnh nhân, phòng làm việc và các phòng chức năng phục vụ cho công tác khám và điều trị bệnh

Trang 25

 Nước thải phát sinh từ quá trình giặt giũ y phục, chăn mền, ga giường, khăn lau

 Nước thải phát sinh từ các khâu pha chế thuốc

 Nước thải phát sinh từ quá trình chế thức ăn tại căn tin của bệnh viện

 Nước mưa chảy tràn

Trong quá trình hoạt động của bệnh viện thì hầu hết các khâu đều sử dụng nước

và tất nhiên sẽ phát sinh ra nước thải Do đặc điểm của từng bộ phận, từng khoa chức năng sử dụng nước khác nhau nên tính chất nước thải sinh ra cũng không giống nhau Tuy nhiên sự khác biệt này cũng không quá lớn; do đó, để đơn giản hơn trong quá trình thu gom nước thải và thuận tiện cho quá trình tính toán thiết kế HTXLNT, thông thường người ta xem tính chất của nước thải sinh ra từ các khâu trong bệnh viện là như nhau Nước thải sinh ra từ các khâu trong bệnh viện được thu gom bằng một hệ thống cống chung và sau đó được đưa đến HTXLNT của bệnh viện

2.1.2 Thành phần, thông số ô nhiễm chính trong nước thải bệnh viện

(nguồn: trang 2 – [4] )

 Các chất rắn trong nước thải bệnh viện (TS, TSS và TDS)

Thành phần vật lý cơ bản trong nước thải y tế gồm có: tổng chất rắn (TS) ; tổng chất rắn lơ lửng (TSS); tổng chất rắn hòa tan (TDS) Chất rắn hòa tan có kích thước hạt 10-8 - 10-6 mm, không lắng được Chất rắn lơ lửng có kích thước hạt từ 10-3-1mm và lắng được Ngoài ra trong nước thải còn có hạt keo (kích thước hạt từ 10-5 - 10-4 mm) khó lắng

Theo báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học Bộ Xây dựng “Xây dựng TCVN: Trạm

xử lý nước thải bệnh viện - Các yêu cầu kỹ thuật để thiết kế và quản lý vận hành” Hà Nội, 2008, trong nước thải bệnh viện hoặc các cơ sở y tế khác, hàm lượng cặn lơ lửng dao động từ 75 mg/L đến 250 mg/L Hàm lượng của các chất rắn lơ lửng trong nước thải phụ thuộc vào sự hoạt động của các bể tự hoại trong cơ sở y tế

 Các chỉ tiêu hữu cơ của nước thải bệnh viện (BOD 5 , COD)

Các chỉ tiêu hữu cơ của nước thải y tế gồm có: nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD)

 BOD5 gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hoá sinh học, mà đặc biệt là các chất hữu cơ

BOD5 thường được xác định bằng phương pháp phân hủy sinh học trong thời gian 5 ngày nên được gọi là chỉ số BOD5

Trang 26

Có thể phân loại mức độ ô nhiễm của nước thải thông qua chỉ số BOD5 như sau:

- BOD5 < 200 mg/lít (mức độ ô nhiễm thấp)

- 350 mg/l < BOD5 < 500 mg/lít (mức độ ô nhiễm trung bình)

- 500mg/l < BOD5 < 750 mg/lít (mức độ ô nhiễm cao)

- BOD5 > 750 mg/lít (mức độ ô nhiễm rất cao)

Theo báo cáo khảo sát của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường tại nhiệm

vụ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp xử lý CTBV đạt tiêu chuẩn môi trường” Hà Nội, năm 2004, trong nước thải bệnh viện tại Việt Nam, BOD5 dao động từ 120 mg/l đến

200 mg/lít

 COD là chỉ tiêu để đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải kể cả chất hữu cơdễ phân huỷ và khó phân huỷ sinh học Đối với nước thải, hàm lượng ô nhiễm hữu cơ được xác định gián tiếp thông qua chỉ số COD

Có thể phân loại mức độ ô nhiễm thông qua chỉ số COD như sau:

- COD < 400 mg/lít (mức độ ô nhiễm thấp)

- 400 mg/l < COD < 700 mg/lít (mức độ ô nhiễm trung bình)

- 700 mg/l < COD < 1500 (mức độ ô nhiễm cao)

- COD > 1500 mg/lít (mức độ ô nhiễm rất cao)

Trong nước thải bệnh viện tại Việt Nam, COD thường có giá trị từ 150mg/l đến

và nitơnitrat Nitơ gây ra hiện tượng phú dưỡng và độc hại đối với nguồn nước sử dụng ăn uống Phốtpho trong nước thường tồn tại dưới dạng orthophotphat (PO43-,

Trang 27

HPO42-, H2PO4-, H3PO4) hay polyphotphat [Na3(PO3)6] và phốt phát hữu cơ Phốtpho là nguyên nhân chính gây ra sự bùng nổ tảo ở một số nguồn nước mặt, gây ra hiện tượng tái nhiễm bẩn và nước có màu, mùi khó chịu

Các chất thải bệnh viện (nước thải và rác thải) khi xả ra môi trường không qua

xử lý có nguy cơ làm hàm lượng nitơ và photpho trong các sông, hồ tăng Trong hệ thống thoát nước và sông, hồ, các chất hữu cơ chứa nitơ bị amôn hoá Sự tồn tại của

NH4+ hoặc NH3 chứng tỏ sông, hồ bị nhiễm bẩn bởi các chất thải Trong điều kiện có

ôxy, nitơ amôn trong nước sẽ bị các loại vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển

hoá thành nitơrit và nitơrat

Hàm lượng nitơrat cao sẽ cản trở khả năng sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt,

ăn uống

 Chất khử trùng và một số chất độc hại khác

Do đặc thù hoạt động của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện, các hóa chất khử trùng đã được sử dụng khá nhiều, các chất này chủ yếu là các hợp chất của clo (cloramin B, clorua vôi, ) sẽ đi vào nguồn nước thải và làm giảm hiệu quả xử lý của các công trình xử lý nước thải sử dụng phương pháp sinh học

Ngoài ra, một số kim loại nặng như Pb (chì), Hg (Thủy ngân), Cd (Cadimi) hay các hợp chất AOX phát sinh trong việc chụp X-quang cũng như tại các phòng xét nghiệm của bệnh viện trong quá trình thu gom, phân loại không triệt để sẽ đi vào hệ thống nước thải có nguy cơ gây ra ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận

Các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải bệnh viện

Nước thải y tế có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh như: Samonellatyphi gây bệnh thương hàn, Samonellaparatyphi gây bệnh phó thương hàn, Shigellasp gây bệnh

lỵ, Vibrio cholerae gây bệnh tả,

Ngoài ra trong nước thải y tế còn chứa các vi sinh vật gây nhiễm bẩn nguồn nước

từ phân như sau:

- Coliforms và Fecal coliforms: Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm có

khả năng lên men lactose để sinh ga ở nhiệt độ 35 ± 0.50C Coliform có khả năng sống ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặc biệt trong môi trường khí hậu nóng Nhóm vi khuẩn coliform chủ yếu bao gồm các loài như Citrobacter, Enterobacter, Escherichia, Klebsiella và cả Fecal coliforms (trong đó E coli là loài thường dùng để chỉ định nguồn nước bị ô nhiễm bởi phân) Trong quá trình xác định số lượng Fecal coliform cần lưu ý kết quả có thể bị sai lệch do có một số vi sinh vật (không có nguồn gốc từ phân) phát triển được ở nhiệt độ 440C

Trang 28

- Fecal streptococci: nhóm này bao gồm các vi khuẩn chủ yếu sống trong đường

ruột của động vật như Streptococcus bovis và S.equinus Một số loài có phân bố rộng hơn hiện diện cả trong đường ruột của người và động vật như S.faecalis và S.faecium

hoặc có 2 biotype Các loại biotype có khả năng xuất hiện cả trong nước ô nhiễm và

không ô nhiễm Việc đánh giá số lượng Fecalstreptococci trong nước thải được tiến

hành thường xuyên Tuy nhiên, nó có các giới hạn như có thể lẫn lộn với các biotype

sống tự nhiên Fecal streptococci rất dễ chết đối với sự thay đổi nhiệt độ Các thử

nghiệm về sau vẫn khuyến khích việc sử dụng chỉ tiêu này, nhất là trong việc so sánh

với khả năng sống sót của Salmonella

- Clostridium perfringens: đây là loại vi khuẩn chỉ thị duy nhất tạo bào tử trong

môi trường yếm khí Do đó, nó được sử dụng để chỉ thị các ô nhiễm theo chu kỳ hoặc các ô nhiễm đã xảy ra trước thời điểm khảo sát do khả năng sống sót lâu của các bào

tử Đối với các cơ sở tái sử dụng nước thải, chỉ tiêu này là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá do các bào tử của nó có khả năng sống sót tương đương với một số loại virus và trứng ký sinh trùng

2.1.3 Sự ảnh hưởng của nước thải bệnh viện đến môi trường và con người

Nước thải bệnh viện thuộc loại nước thải nguy hại, loại nước thải này không chỉ gây

ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của các loài sinh vật mà còn có những ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của con người

 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Nước thải bệnh viện có 30% là chất thải nguy hại bao gồm chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, các sản phẩm của máu, các mẫu chuẩn đoán bị hủy, hóa chất phát sinh

từ trong quá trình giải phẫu, lọc máu, hút máu, bảo quản các mẫu xét nghiệm, khử khuẩn Với 30% chất thải nguy hại này cũng đủ để các vi trùng gây bệnh lây lan ra môi trường xung quanh Đặc biệt, nếu các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng không được xử lí đúng mà đã xả thải ra bên ngoài sẽ

có khả năng gây quái thai, ung thư cho những người tiếp xúc với chúng Hơn nữa nước thải bệnh viện không qua xử lý khi chảy trực tiếp ra môi trường không chỉ mang theo các mầm bệnh hòa vào dòng chảy mương, máng, sông ngòi qua các khu dân cư, mà còn ảnh hưởng đến cả mạch nước ngầm Không những thế, nước thải bệnh viện còn bốc mùi hôi thối gây khó chịu, làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân sống gần các bệnh viện Nước thải có mùi hôi thối như chuột chết, mùi nước tẩy rửa và các chất bẩn khác nồng nặc, đây là thứ mùi đặc trưng của nước thải bệnh viện gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân

Trang 29

 Ảnh hưởng đến môi trường

Tuy rằng tổng lượng nước thải từ hoạt động khám chữa bệnh và lượng nước sinh hoạt ở bệnh viện không lớn nhưng mức độ ô nhiễm lại rất lớn do chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, chất phóng xạ, các loại dung môi hữu cơ… Vì vậy, việc xả nước thải bệnh viện chưa qua xử lý trực tiếp vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước, sinh vật chết

và suy giảm hệ sinh thái nghiêm trọng

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC GIAI ĐOẠN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN (nguồn: trang 10 – [4])

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp xử lý nước thải Tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi loại nước thải để áp dụng phương pháp xử lý cho phù hợp.Với công trình xử lý nước thải bệnh viện, người ta thường phải bố trí nhiều phương pháp trên một hệ thống

xử lý với nhiều thiết bị kỹ thuật khác nhau mới cho hiệu quả và đạt hiệu suất xử lý cao Tại Việt Nam nước thải y tế do đặc thù gần giống với nước thải sinh hoạt nên việc thiết

kế kỹ thuật và bố trí thiết bị trong hệ thống xử lý nước thải y tế khá tương đồng với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thông thường Các bước tiến hành xử lý cũng bao gồm các bước như: tiền xử lý, xử lý cấp một, xử lý cấp hai và sau xử lý

 Giai đoạn tiền xử lý

Đây là khâu hết sức quan trọng trong xử lý nước thải nhằm đảm bảo hệ thống

xử lý nước thải hoạt động hiệu quả Nếu giai đoạn này thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ thống xử lý nước thải Bởi vậy, tất cả các cơ sở y tế có phát sinh dòng nước thải đặc thù (chất gây độc tế bào, các hóa chất từ khoa xét nghiệm,…) cần được thu gom xử lý sơ bộ tại nơi phát sinh trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải chung của cơ sở y tế và về khu xử lý tập trung Do đó, trong giai đoạn tiền xử lý cần được thực hiện như sau:

- Các cơ sở y tế có khoa y học hạt nhân phải tuân thủ các nguyên tắc về an toàn phóng xạ Nước thải phát sinh từ khu vực này phải được lưu giữ riêng đủ thời gian lâu hơn 10 chu kỳ bán hủy của chất phóng xạ, sau đó mới được thải vào hệ thống thu gom nước thải chung của cơ sở y tế và về khu xử lý nước thải tậptrung;

- Đối với các bệnh viện có khu vực căn tin, nhà ăn với sốlượng khách phục vụ nhiều thường có phát sinh lượng dầu mỡ động thực vật cao, do đó cần được thiết kế hệ thống tách dầu mỡ từ các dòng thải ở khu vực này trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải chung của cơ sở y tế;

- Ngoài hai dòng thải đặc biệt trên, trong các bệnh viện lớn còn có các bộ phận phát sinh ra các dòng thải đặc thù cần phải được xử lý sơ bộ ngay tại nguồn phát sinh

Trang 30

như nước thải phát sinh từ phòng xét nghiệm, khoa răng, khoa hóa trị liệu, khu vực giặt là,…

Bởi vậy, việc thu gom riêng các dòng thải có tính đặc thù trong các bệnh viện lớn để thực hiện xử lý sơ bộ sẽ góp phần nâng cao và đảm bảo hiệu quả xử lý nước thải của cơ sở y tế

 Giai đoạn xử lý cấp 1

Giai đoạn xử lý này nhằm loại bỏ các tạp chất dạng lơ lửng nếu như thiếtkế đủ tiêu chuẩn Qua công đoạn tiền xử lý, hàm lượng COD, BOD trong nước thải y tế giảm đáng kể Phương pháp áp dụng bao gồm phương pháp vật lý, lắng lọc,… Thiết bị

kỹ thuật phục vụ cho công đoạn này thông thường như: Song chắn rác,bể lắng cấp một, bể điều hòa

Song chắn rác

Hình 2.1:Song chắn rác

Song chắn rác dùng để tách rác trong nước thải trước khi vào trạm bơm hoặc trạm xử lý tập trung Để bảo vệ máy bơm khỏi bị tắc nghẽn thì trong ngăn thu nước thải cần lắp đặt song chắn rác thủ công hoặc song chắn rác cơ giới hoặc song chắn rác kết hợp nghiền rác Khi khối lượng rác lớn trên 0,1 m3/ngày nên cơ giới hoá khâu lấy rác và nghiền rác Nếu lượng rác nhỏ hơn 0,1 m3/ngày thì sử dụng song chắn rác thủ công hoặc giỏ chắn rác Song chắn rác có loại song chắn rác thô và song chắn rác tinh Song chắn rác thô để tách loại rác to hết sức quan trọng Song chắn rác được tính toán, lựa chọn loại hình và bố trí sao cho phù hợp nhất với lưu lượng và tính chất của nguồn thải

Trang 31

Bể lắng sơ cấp

Bể lắng sơ cấp làm nhiệm vụ tách cát và các hợp chất vô cơ Với việc xử lý

nước thải bệnh viện, bể lắng sơ cấp thông thường được sử dụng tập trung vào hai loại

là bể lắng đứng và bể lắng hai vỏ, tuy nhiên tùy vào các điều kiện cụ thể mà trong thiết

kế có thể mở rộng sử dụng các loại bể lắng khác nhau (như bể lắng ngang) sao cho phù hợp với điều kiện từng bệnh viện và phù hợp với công nghệ lựa chọn Thông thường

để giảm thiểu dung tích bể trong các hệ thống xử lý, bể lắng và bể điều hòa được thiết

kế làm một

Bể lắng đứng:

Bể lắng đứng sơ cấp được sử dụng để tách cặn, đảm bảo cho hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải nhỏ hơn 150 mg/L trước khi đưa đi xử lý sinh học hoặc khử trùng Kết cấu bể lắng sơ cấp có bộ phận thu và tách chất nổi Máng tràn để thu nước

đã lắng trong các bể lắng có thể làm theo dạng phẳng hoặc dạng răng cưa; tải trọng thuỷ lực của máng không quá 10 L/s.m Lượng cặn giữ lại trong bể lắng đứng sơ cấp phụ thuộc vào dòng nước thải đã qua bể tự hoại Trong cặn từ bể lắng sơ cấp còn nhiều trứng giun sán và vi khuẩn gây bệnh

Bể lắng hai vỏ:

Bể lắng hai vỏ là công trình có các máng lắng để diễn ra quá trình lắng trọng lực tách cặn lắng theo dòng chảy ngang và ngăn ổn định yếm khí bùn cặn lắng Bể lắng hai vỏ có nắp đậy áp dụng để thay thế bể tự hoại khi lượng nước thải lớn hơn 50m3/ngày và thay thế bể lắng hai vỏ (không có nắp đậy) khi cần thiết phải đặt công trình xử lý gần nhà không đảm bảo khoảng cách ly vệ sinh theo quy định, nhưng

thường không vượt quá 500m3/ngày

Hình 2 2: Sơ đồ cấu tạo bể lắng đứng Hình 2 2: Sơ đồ cấu tạo bể lắng

Trang 32

Bể có thể có dạng hình tròn hoặc hình chữ nhật Thường khi công suất đạt 100m3/ngày thì nên làm kiểu tròn, đường kính nhỏ nhất của bể là 3m Khi công suất đến 500m3

/ngày thì nên làm kiểu hình chữ nhật, tỉ lệ giữa chiều rộng và chiều dài là 1: 2.Thời gian xả bùn khỏi bể là một ngày/lần với lượng bùn xả bằng lượng bùn giữ lại trong bể mỗi ngày Khi điều kiện xả bùn khó khăn thì nên xem xét đến việc tăng thời gian giữa hai lần hút bùn và tăng thể tích ngăn chứa bùn Tuy nhiên, chu kỳ xả bùn cũng không nên quá 5 ngày/lần

 Giai đoạn xử lý cấp 2

Nhiệm vụ của giai đoạn xử lý cấp 2 là loại bỏ carbon hòa tan và các dạng hợp chất nitơ, phốt pho dưới tác dụng của hệ vi sinh vật trong nước thải Hệ vi sinh vật tiêu thụ các chất hữu cơ dễ phân hủy trong nước thải dưới dạng hòa tan như: Đường, chất béo, các phân tử carbon mạch ngắn… và hấp thu các dạng vật chất khó tan hơn ở trạng thái lơ lửng khác vào sinh khối Trong quá trình khoáng hóa cũng như quá trình nitrate hóa vi khuẩn cần ôxy và dưỡng chất để tồn tại Để đáp ứng hai điều kiện thiết yếu này, hai phương thức thường được sử dụng là hệ màng lọc cố định bám dính và bùn hoạt tính lơ lửng

Hệ màng lọc cố định bám dính bao gồm các hệ như: Lọc sinh học nhỏ giọt, đĩa quay sinh học, màng lọc ngập nước… Tại các hệ này, vi sinh vật phát triển trên nền giá thể và nước thải chảy qua các bề mặt này Các máy thổi khí cưỡng bức hoặc hệ thống cơ học thường được sử dụng để cung cấp ôxy cho hoạt động của hệ vi sinh vật Trong hệ thống bùn hoạt tính lơ lửng, bùn hoạt tính được trộn với nước thải và được cung cấp oxy trong một bể cố định Sau công đoạn lắng, bùn hoạt tính được trả lại bể hiếu khí để bù đắp lại lượng sinh khối đã mất đi qua đó đảm bảo khả năng xử lý của hệ

vi sinh vật

Để loại bỏ nitơ, cần có quá trình oxy hóa amoniac thành nitrate dưới tác dụng của

các vi sinh vật Nitrospira và Nitrosomonus Tiếp theo là quá trình khử nitrate thành khí

nitơ Để thực hiện được các quá trình trên cần thực hiện trong điều kiện thiếu oxy Ngoài ra cũng có thể sử dụng các kỹ thuật trong xử lý cấp 3 như lọc cát, bãi lọc sinh học.Trong các quá trình Nitrate hóa (Nitrification) và khử nitrate (Denitrification) cần được thực hiện một cách cẩn trọng nhằm tạo ra nhóm (chủng) vi sinh vật thích nghi và

Trang 33

dính bám trên vật liệu lọc rắn và hình thành màng lọc sinh học Áp dụng tại Việt Nam hiện có hai dạng bể lọc sinh học bao gồm:

bề mặt lớp đệm Bể có thể hoạt động trong điều kiện nước thải không có ôxy (bể kỵ khí) hoặc được sục khí để bão hòa ôxy (bể hiếu khí)

Giá thể của vi sinh vật kỵ khí là các tấm nhựa hình sóng dính kết với nhau thành khối hoặc các loại đá cuội, antraxit, gạch vỡ, đường kính tương đương từ 40mm đến 70mm xếp thành đống trong bể Khối đệm có độ rỗng từ 40% (giá thể vật rắn dạng cục đường kính 40-50mm) đến 98% (giá thể là khối tấm nhựa mỏng hình sóng) Nước thải dẫn vào trong bể lọc sinh học kỵ khí phải tạo được thành dòng lan tỏa đều trong khe

hở giữa hai bề mặt giá thể.Thời gian nước lưu lại trong bể không nhỏ hơn 1,5 giờ Hiệu suất xử lý nước thải đạt tới 50% theo BOD

Giá thể của vi sinh vật hiếu khí là các tấm nhựa hình sóng vật liệu PVC, HIPS hoặc ABS, dày từ 0,25 đến 0,35 mm, gắn với nhau thành khối hoặc các linh kiện nhựa hình dạng kích thước khác nhau xếp thành khối trong bể Giá thể vi sinh vật hiếu khí ngập nước cũng có thể là cát, antraxit, sỏi cuội và các vật liệu xốp khác Cấp không khí cho bể bằng máy thổi khí, máy sục khí dạng nén hoặc quạt gió cưỡng bức hoạt động liên tục Oxy phân tán vào nước nhờ thiết bị khuếch tán khí, aerolif hoặc ejectơ Trong bể, nước thải được bão hòa ôxy tạo thành dòng động liên tục qua các lớp đệm vi sinh Thời gian nước lưu lại trong bể trên 2giờ Hiệu suất xử lý theo BOD5 trong bể từ

70 đến 90%

Trang 34

Để kết hợp xử lý nitơ trong nước thải, bể xử lý kỵ khí được bố trí trước bể hiếu khí.Trong bể xử lý hiếu khí, thời gian thổi khí được tính toán kéo dài trên 4 giờ để đảm bảo cho quá trình nitrat hóa diễn ra Sau đó một phần hỗn hợp nước thải và bùn thứ cấp từ bể hiếu khí được đưa về bể kỵ khí tạo điều kiện cho quá trình khử nitrat diễn ra Lượng hỗn hợp nước thải và bùn tuần hoàn từ 0,15 đến0,25% lưu lượng nước thải vào

bể Tải trọng amoni tính toán 0,3 - 2kg N-NH4+/ m3 vật liệu đệm/ngày

Bể lọc sinh học nhỏ giọt

Dạng bể lọc sinh học nhỏ giọt được cấp gió tự nhiên hoặc cấp gió nhân tạo.Thông gió tự nhiên thực hiện qua các cửa cấp gió bố trí đều khắp bề mặt thành bể Tổng diện tích lỗ cấp gió trong phạm vi sàn bể và sàn lọc là 1-5% diện tích bể lọc Thành bể kín để thông gió nhân tạo Dùng quạt gió thổi không khí vào khoảng không gian giữa sàn lọc và sàn đáy bể với áp lực100mm cột nước(ở chỗ cửa vào) Số đơn nguyên bể lọc không dưới 2 và không quá 8, tất cả đều hoạt động Tính toán máng phân phối và tháo nước của bể lọc sinh học theo lưu lượng lớn nhất Có thiết bị để xả cặn và để rửa đáy bể lọc sinh học khi cần thiết

Hàm lượng BOD5 của nước thải đưa vào bể lọc sinh học không lớn hơn 200mg/L Nếu nước thải có BOD lớn hơn 200 mg/L thì phải tuần hoàn nước

Vật liệu lọc của bể lọc sinh học nhỏ giọt chủ yếu là dạng hạt có thể là đá dăm, cuội, sỏi, xỉ đá keramzit, chất dẻo (có khả năng chịu được nhiệt độ 6 - 300C mà không mất độ bền).Vật liệu lọc cần có chiều cao giống nhau, cỡ hạt đồng đều theo chiều cao

bể

Hình 2.4: Sơ đồ cấu tạo bể lọc sinh học

Trang 35

Nước thải được phân phối trên bề mặt vật liệu lọc theo chu kỳ bằng nhiều cách khác nhau Khi phân phối nước bằng các loại vòi phun với áp lực tự do, áp lực tại vòi phun cuối cùng không dưới 0,5m cột áp

Đĩa quay sinh học

Đĩa quay sinh học được sử dụng để xử lý nước thải trong công đoạn xử lý sinh học Hệ thống được thiết kế dạng đĩa với vi sinh vật bám dính trên đĩa Hệ chuyển động được gắn vào trục làm cho đĩa chuyển động quay tròn Hệ thống này giúp cho oxy đi vào sâu bên trong của giá thể sinh học Đường kính đĩa thường từ 1-4m, khoảng cách giữa các đĩa là10-20mm Để đảm bảo sự hoạt động ổn định của hệ thống, khoảng 40% đĩa được đặt chìm dưới nước thải và vận tốc quay của đĩa đạt từ 1 - 1,6

lơ lửng) sẽ hấp thụ các chất hữu cơ và sử dụng oxy được bão hòa trong nước để oxy hóa chất hữu cơ Nồng độ ôxy hoà tan cần thiết được duy trì trong hiếu khí là 4mg/L, tối thiểu là 2mg/L Cấp khí cho bể hiếu khí có thể bằng máy thổi khí hoặc máy khuấy Chiều sâu đặt thiết bị phân phối khí trong bể hiếu khí phụ thuộc chiều sâu bể là 0,5-1m khi dùng hệ thống cấp khí áp lực thấp hoặc 3 - 6 m khi dùng các hệ cấp khí khác Trong các bể hiếu khí có hệ thống thiết bị xả cặn bể và bộ phận xả nước khỏi thiết bị nạp khí Trường hợp cần thiết, cần có thiết bị phá bọt bằng cách phun nước hoặc bằng hoá chất

Trang 36

Bể hiếu khí hoạt động gián đoạn theo mẻ

Bể hiếu khí hoạt động gián đoạn theo mẻ (Sequencing Batch Reactor – Sau đây

viết tắt là SBR) kết hợp cả 3 quá trình xử lý thiếu khí, xử lý hiếu khí và lắng bùn hoạt tính, được dùng để xử lý BOD

Trong bể SBR, liều lượng bùn hoạt tính dao động từ 0,5g/L đến 6 g/L Thời gian cấp nước thải và diễn ra quá trình thiếu khí từ 1,0giờ đến1,5giờ; thời gian sục khí tiếp theo từ 1,5 giờ đến 5,0 giờ; thời gian lắng, xả nước thải và bùn từ 1,5 giờ đến 2,5giờ Tổng thời gian một chu kỳ trong bể SBR từ 4giờ đến 9giờ Lượng bùn giữ lại sau mỗi chu kỳ trong bể SBR thường chiếm 20 đến 30% thể tích bể

Bể hiếu khí thổi khí kéo dài

Bể hiếu khí thổi khí kéo dài thường dùng để xử lý BOD, nitơ amoni và ổn định hiếu khí một phần bùn.Thời gian thổi khí trong bể hiếu khí ôxy hóa hoàn toàn t (h) phải lớn hơn 4 giờ Các công trình phía sau bể hiếu khí thổi khí kéo dài để oxy sinh hóa hoàn toàn các chất hữu cơ được thiết kế theo các thông số sau:

Thời gian nước lưu lại trong vùng lắng của bể lắng đợt hai với lưu lượng lớn nhất không dưới 1,5giờ

- Lượng bùn hoạt tính dư chọn bằng 0,35 kg trên 1kg BOD Việc xả bùn hoạt tính

dư cho phép thực hiện đối với bể lắng và bể hiếu khí khi liều lượngbùn đạt tới 5g/L - 6g/L

- Độ ẩm bùn xả từ bể lắng là 98% và từ hiếu khí là 99,4%

Hình 2.6: Bể hiếu khí truyền thống

Trang 37

Hình 2.7 Bể hiếu khí thổi khí kéo dài

Mương oxy hóa

Mương ôxy hóa hoạt động theo nguyên lý bùn hoạt tính, được dùng để xử lý nước thải bậc hai hay bậc ba Lượng bùn hoạt tính dư là 0,4 kg/kg BOD- 0,5 kg/ kg BOD, lượng không khí đơn vị là 1,25 mg/mg BOD - 1,45 mg/mg BOD cần xử lý Mương ôxy hóa có hình ôvan, chiều sâu khoảng 1,0m-2,0m

Mương ôxy hóa làm thoáng trong bằng thiết bị cơ khí như máy khuấy trục đứng hoặc trục ngang, guồng quay, đặt ở đoạn kênh thẳng Hỗn hợp nước thải và bùn hoạt tính tự chảy từ kênh oxy hóa sang bể lắng thứ cấp Bùn hoạt tính từ bể lắng thứ cấp được đưa liên tục vào mương Thời gian nước lưu lại trong bể lắng thứ cấp bằng 1,5 giờ theo lưu lượng lớn nhất Bùn tuần hoàn từ bể lắng 2 được dẫn liên tục về kênh

Hình 2.8: Mương oxy hóa

Trang 38

Bãi lọc trồng c y (bãi lọc sinh học ngập nước)

Bãi lọc ngập nước để xử lý nước thải gồm hai dạng: ngập nước bề mặt và ngập nước phía dưới (bãi lọc ngầm), thường áp dụng đối với vùng đất cát pha và sét nhẹ để

xử lý sinh học hoàn toàn nước thải sau khi đã được lắng sơ bộ Cácbãi lọc ngập nước thường được trồng cây phía trên nên thường được gọi tắt là bãi lọc trồng cây

Bãi lọc được xây dựng trên khu đất bằng phẳng có độ dốc không quá 2% và có mực nước ngầm sâu trên 1,5 m Bãi lọc ngập nước không được xây dựng trên những khu đất có sử dụng nước ngầm mạch ngang cũng như khu vực có hang động ngầm (vùng castơ)

Nước thải bệnh viện trước khi chuyển đến xử lý trong bãi lọc ngập nước phải được xử lý sơ bộ trong bể tự hoại hoặc trong các loại bể lắng sơ cấp khác

Trên khu đất làm bãi lọc ngập nước trồng các loại cây thân lớp hoặc thân rỗng và

có rễ chùm Các loại cây có hoa được khuyến cáo trồng trên bãi lọc ngập nước để tạo cảnh quan cho bệnh viện

Hiệu quả xử lý BOD trong nước thải của bãi lọc ngập nước có thể tới 90%, hiệu quả xử lý theo Nitơ có thể tới 60%.Với thời gian lưu thủy lực lớn (từ 7ngày đến hàng tháng)

Sử dụng hệ thống thiết bị hợp khối đúc sẵn

Do đặc điểm lưu lượng dòng thải không quá lớn nên một số cơ sở y tế sử dụng các hệ thống hợp khối chế tạo sẵn để dễ dàng thao tác, lắp đặt và vận hành hệ thống xử

lý nước thải Tuy nhiên, tùy vào từng đơn vị sản xuất mà thiết bị hợp khối thường chứa

từ 1-3 công đoạn xử lý Hệ thống hợp khối sẽ được giới thiệu cụ thể ở các chương tiếp theo để dễ dàng thao tác lắp đặt và vận hành hệ thống xử lý nước thải bệnh viện

 Sau xử lý

Hình 2.9: Bãi lọc trồng cây

Trang 39

Sau xử lý là bước cuối cùng trong quá trình xử lý nước thải trước khi nước thải được thải ra môi trường tiếp nhận.Trong công đoạn sau xử lý có thể phải sử dụng đến nhiều biện pháp kết hợp Trước khi khử trùng nước thải, cần thiết phải loại bỏ triệt để các chất hữu cơ lơ lửng còn tồn tại Khử trùng nước thải từ cơ sở y tế phải được thực hiện, đặc biệt là khi nước thải xả vào nguồn nước sông, hồ

Ngoài ra trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh họcthường phát sinh một lượng bùn sinh khối, lượng bùn này nhiều hay ít phụ thuộc vào thành phần đầu vào và lưu lượng nước thải, bùn sinh khối phát sinh cũng cần có biện pháp xử lý Lượng bùn thải chứa các tác nhân ô nhiễm cũng cần được xác định và có biện pháp quản lý thích hợp

 Các kỹ thuật khử trùng nước thải y tế

Nước thải từ bệnh viện hoặc từ các cơ sở hoạt động y tế sau khi đã xử lý các chất

ô nhiễm hữu cơ thường được khử trùng trước khi xả vào nguồn nước Ngoài ra nếu xử

lý cấp 2 bằng bãi lọc hay hồ sinh học ổn định với thời gian dài (khoảng 1 tháng ) thì có thể không cần phải khử trùng Để khử trùng có thể dùng các phương pháp sau:

- Khử trùng bằng tia cực tím;

- Khử trùng bằng Clo hoặc các hợp chất của Clo(clorua vôi,natri hypoclorid điều chế bằng điện phân);

- Khử trùng bằng Ô zôn (sản xuất tại chỗ)

Khử trùng bằng tia cực tím (Ultraviolet radiation – UV)

Khử trùng bằng tia cực tím chỉ áp dụng đối với nước thải sau khi làm sạch sinh học hoàn toàn và hiệu quả hấp thụ tia cực tím của nước thải đạt tối thiểu là 70% Công suất của thiết bị được lựa chọn dựa trên lưu lượng tính toán giờ phát sinh nước thải lớn nhất và với lưu lượng tính toán giờ phát sinh nước thải lớn nhất tại thời điểm có mưa trong trường hợp hệ thống sử dụng thoát nước chung Lượng bức xạ được tính toán nhằm đảm bảo nồng độ coliforms trong nước sau khử trùng phải thấp hơn 3000 MPN/100 mL

Trang 40

Máng tiếp xúc khử trùng bằng tia cực tím được thiết kế bằng bê tông cốt thép, số đơn nguyên xác định tùy theo công suất trạm xử lý nhưng tối thiểu là 2 đơn nguyên Mỗi đơn nguyên cần được trang bị tối thiểu 2 module đèn tia cực tím Đèn cực tím có khả năng phát xạ 90% sóng UV có tần số 260 nm, công suất mỗi đèn không thấp hơn 26,7 UV-W Các loại đèn thường được chế tạo dạng ống có chiều dài 0,75m - 1,5 m, đường kính 1,5cm - 2,0 cm Đèn được bố trí cố định theo module Các đèn trong từng module được lắp đặt song song với nhau, khoảng cách giữa tâm đèn 6,0cm Mỗi đèn được đặt trong ống lồng bằng thạch anh có độ dày 1mm, có khả năng truyền qua tối thiểu là 90% lượng phát xạ tia cực tím tại bước sóng 260 nm

Thiết bị phát tia cực tím bao gồm:

- Tủ điện điều khiển và phân phối điện trung tâm tới các module đèn tia cực tím

và các thiết bị báo động;

- Hệ thống đèn báo hiệu và quan trắc cường độ sóngUV;

- Hệ thống gạt rửa các bóng đèn tia cực tím;

- Hệ thống quản lý và điều khiển mức nước;

- Hệ thống các tấm kính chắn an toàn và thiết bị ngăn ngừa ảnh hưởng sóng UV

Khử trùng bằng clo hoặc các hợp chất của clo

Clo và một số hợp chất clo là hóa chất khử trùng truyền thống được sử dụng trong khử trùng nước thải y tế.Hiệu quả của quá trình khử trùng bằng clo và các hợp chất clo bị tác động nhiều bởi chất lượng nước sau các quá trình xử lý.Sử dụng chất khử trùng với liều lượng thấp, thời gian tiếp xúc ngắn trong khi hàm lượng chất hữu

cơ trong nước thải còn cao sẽ dẫn đến hiệu quả khử trùng đạtthấp

Khử trùng chỉ đạt hiệu quả cao khi nước thải chứa <10 mg/lít chất hữu cơ dạng

lơ lửng Ở hàm lượng hữu cơ cao hơn có thể sẽ kết hợp với clo hình thành các chất có tính độc hại hơn đối với môi trường

Thông thường, nước thải sau xử lý sinh học được khử trùng bằng clo lỏng, nước javel(NaOCl), hay Canxihypoclorit (Ca(OCl)2) Clo lỏng được cung cấp từ các nhà máy hóa chất, vận chuyển tới khu xử lý nước thải bằng bình thép chịu áp suất cao Nước javel có thể được sản xuất tại chỗ bằng các thiết bị điện phân muối ăn Liều lượng clo hoạt tính quy định như sau:

- Nước thải sau xử lý cơ học là10g/m3

- Nước thải sau khi đã xử lý sinh học hoàn toàn là 3 g/m3

- Nước thải sau khi đã xử lý sinh học không hoàn toàn là5 g/m3

Ngày đăng: 09/04/2019, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w