ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI HUYỆN HÓC MÔN VÀ CỦ CHI..... Từ các kết quả đã nghiên cứu có thể thấy rằng hoạt động nông nghiệp có khả
Trang 1MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của ĐATN 2
2 Mục tiêu của ĐATN 2
3 Nội dung và phạm vị nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 4
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 5
1.2 GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 7
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 9
1.2.3 Đặc điểm địa chất thủy văn 10
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU 13
2.2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT THỰC ĐỊA 13
2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA 13
2.4 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU 13
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH – THÍ NGHIỆM 15
2.5.1 Xác định độ tin cậy của phương pháp phân tích 15
2.5.2 Quy trình phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm 18
2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 22
2.7 PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
Trang 23.1 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI HAI HUYỆN HÓC MÔN
VÀ CỦ CHI 23
3.1.1 Huyện Hóc Môn 23
3.1.2 Huyện Củ Chi 24
3.2 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI HUYỆN HÓC MÔN VÀ CỦ CHI 27
3.2.1 Huyện Hóc Môn 27
3.2.2 Huyện Củ Chi 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 40
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc tính hóa lý của mẫu nước dưới đất thu thập được xung quanh các vùng
nông nghiệp tại huyện Mysore 4
Bảng 1.2 Thành phần hóa học của phân heo có trọng lượng từ 70 – 100kg 6
Bảng 1.3 Thành phần hóa học của nước tiểu trọng lượng từ 70 – 100kg 6
Bảng 1.4 Tính chất nước thải chăn nuôi heo 7
Bảng 2.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu vực nghiên cứu 13
Bảng 2.2 Kết quả phân tích mẫu QC ngoài hiện trường 16
Bảng 2.3 Kết quả mẫu giả từ dd chuẩn Mn và P - Ortho 17
Bảng 2.4 Phương pháp phân tích các thông số hóa lý 18
Bảng 3.1 Kết quả tổng hợp phiếu điều tra tại huyện Hóc Môn 23
Bảng 3.2 Kết quả tổng hợp phiếu điều tra tại huyện Củ Chi 25
Bảng 3.3 Hàm lượng các thông số hóa lý nước dưới đất tại huyện Hóc Môn 27
Bảng 3.4 Hàm lượng các thông số hóa lý nước dưới đất tại huyện Củ Chi 31
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Một số hình ảnh lấy mẫu ngoài hiện trường 15
Hình 2.2 Mẫu trắng và mẫu chuẩn của dãy chuẩn N - NO3- 17
Hình 2 3 Máy đo đa chỉ tiêu (a), Máy quang phổ UV – Vis (b) 18
Hình 2.4 Quy trình phân tích Nitrat 19
Hình 2.5 Quy trình phân tích P - Ortho 20
Hình 2.6 Quy trình phân tích Mangan 20
Hình 2.7 Quy trình phân tích sắt 21
Hình 2.8 Quy trình phân tích độ cứng 22
Hình 3.1 Độ sâu khai thác giếng tại huyện Hóc Môn 23
Hình 3.2 Khoảng cách từ hầm tự hoại đến giếng khoan 24
Hình 3.3 Độ sâu khai thác giếng tại huyện Củ Chi 25
Hình 3.4 Khoảng cách từ hầm tự hoại đến giếng khoan 26
Hình 3.5 Hình ảnh lấy mẫu tại vị trí HM03 28
Hình 3.6 Hàm lượng N-NO3 và Fe trong nước dưới đất tại huyện Hóc Môn 29
Hình 3.7 Hàm lượng Cu, Zn và Cd tại giếng quan trắc 30
Hình 3.8 Một số hình ảnh tại các điểm khảo sát CC03, CC04 32
Hình 3.9 Hàm lượng N-NO3- tại các điểm khảo sát huyện Củ Chi 33
Hình 3.10 Hình ảnh giếng khoan của các hộ trồng rau 34
Hình 3.11 Mặt cắt địa chất thủy văn tại khu vực Củ Chi- Hóc Môn 36
Hình 3.12 Vị trí giếng khoan gần khu vực chăn nuôi 37
Trang 6
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu chất lượng nước dưới đất tại hai huyện Củ Chi và huyện Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chất lượng nước trong những năm trở lại đây có dấu hiệu bị suy thoái Các thông số nghiên cứu về độ pH tại các điểm khảo sát cho thấy nước tại các hộ dân khai thác có tính axit Giá trị pH đo được nằm trong khoảng từ 3,5 – 5,5, các thông số Eh, Ec, TDS và độ cứng đều nằm trong quy chuẩn cho phép 09-MT:2015/BTNMT đặc thù cho tính chất của nước dưới đất khu vực thành phố Hồ Chí Minh Hai thông số sắt và mangan có mối quan hệ cộng sinh với nhau Tại các giếng bị nhiễm sắt thì sẽ nhiễm mangan nhưng với nồng độ không vượt quá quy chuẩn cho phép Sự xuất hiện của sắt và mangan trong nước có liên quan đến tính chất đất đá chứa nước tại khu vực đó Trong tầng chứa nước có thành phần đất đá chứa pyrit, chancopyrit, các hợp chất chứa sắt…với quá trình rửa lũa phong hóa từ đất đá làm cho nước có hàm lượng sắt tại các điểm khảo sát dao động trong khoảng 0,1mg/l – 3,3mg/l Hàm lượng Mn tại các vị trí khảo sát có nồng độ rất thấp, vị trí cao nhất có nồng độ là 0,38mg/l (HM02), thấp nhất là 0,12mg/l (CC07)
Hàm lượng các thông số N-NO3
, P-ortho tồn tại trong nước tùy thuộc vào đặc điểm địa hóa của tầng chứa nước Trong khi đó N-NO3- là quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ có trong nước, nước có N-NO3- cao kèm theo là sự có mặt của N-NO2- và N-NH4+ làm cho chất lượng nước dưới đất bị suy giảm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng có khả năng dẫn đến ung thư khi sử dụng nguồn nước bị nhiễm nitrat, nitrit trong thời gian dài Hàm lượng N-NO3
tại 4 vị trí khảo sát CC04; CC05; CC06; CC07 có nồng độ lần lượt là 22,5mg/l; 22mg/l; 21mg/l; 29mg/l vượt quy chuẩn cho phép gấp 1,4 - 1,9 lần Có thể do hoạt động trồng trọt, chăn nuôi làm cho nồng độ N-NO3- tại 4 vị trí này cao đột biến so với các vị trí khác Hàm lượng P-ortho ở các vị trí lấy mẫu cho kết quả hầu như không phát hiện, chỉ có vị trí HM03 có nồng độ là 0,03mg/l (Hóc Môn) và vị trí CC07 nồng độ là 0,06mg/l (Củ Chi) Từ các kết quả đã nghiên cứu có thể thấy rằng hoạt động nông nghiệp có khả năng gây ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất tại khu vực nghiên cứu
Trang 7-MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của ĐATN
Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích đất nông nghiệp là 103.938ha Tập trung phát triển tại các quận huyện: Hóc Môn; Củ Chi; Bình Chánh; Cần Giờ; Nhà Bè Các loại hình phát triển nông nghiệp chính là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Bên cạnh các lợi ích kinh tế mang lại, tình trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động này gây ra đang là vấn đề đáng lo ngại, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững tại khu vực nông thôn mới của thành phố Hồ Chí Minh
Với xu hướng phát triển ngành nông nghiệp, có thể thấy trong thời gian tới, chất thải phát sinh từ trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; phân bón hóa học; bao bì thuốc BVTV và thức ăn chăn nuôi; phân gia súc; nước vệ sinh chuồng trại… đều có xu hướng gia tăng và đe dọa đến môi trường sống Các chất
ô nhiễm sẽ tích lũy trong đất, nước dưới đất gây ảnh hướng rất lớn đến môi trường sống và sức khỏe của người dân
Trong các quận huyện có hoạt động nông nghiệp thì 2 huyện Củ Chi và Hóc Môn là những huyện luôn đi đầu trong lĩnh vực này và sử dụng nguồn nước dưới đất để sinh hoạt và phát triển kinh tế là chủ yếu Tại huyện Củ Chi còn khoảng 52.053/103.479 hộ chưa được cấp nước sạch và huyện Hóc Môn có 30.928 hộ trên địa bàn còn sử dụng nước giếng khoan (chiếm 35,75% tổng số hộ)
Tại khu vực nghiên cứu nguồn nước dưới đất có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của người dân tại địa phương Mục đích chính của khai thác nước dưới đất là phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Chính
vì vậy cần phải tiến hành nghiên cứu “Ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp
đến chất lượng nước dưới đất khu vực huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu của ĐATN
Nghiên cứu những ảnh hưởng từ các hoạt động nông nghiệp đến chất lượng nước dưới đất khu vực huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh
3 Nội dung và phạm vị nghiên cứu
Đồ án nghiên cứu bao gồm các nội dung chính sau:
Trang 8Nội dung 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở khu vực huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi
Xác định các tầng chứa nước tại khu vực nghiên cứu
Tổng hợp các số liệu về hiện trạng sử dụng nước và chất lượng nước dưới đất ở huyện Củ Chi và Hóc Môn
Nội dung 2: Khảo sát thực địa
Khảo sát khu vực nghiên cứu và các vị trí giếng lấy mẫu nước phân tích
Nội dung 3: Phỏng vấn điều tra các hộ dân về hiện trạng sử dụng nước dưới đất tại hai huyện Hóc Môn (30 hộ) và Củ Chi (40 hộ)
Nội dung 4: Phân tích mẫu
Lấy mẫu nước giếng ở các vị trí có thể có ảnh hưởng từ hoạt động nông nghiệp, các chỉ tiêu phân tích là: pH; Ec; Eh; TDS; Độ cứng; N-NO3-; P-ortho; Mn; Fe
Nội dung 5: Đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp ở hai huyện Củ Chi và Hóc Môn đến chất lượng nước dưới đất
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp đến chất lượng nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh trong đó tập trung nghiên cứu khu vực huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi.Các sơ đồ vị trí nghiên cứu được trình bày ở phụ lục 5
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được sử dụng nhiều phương pháp kết hợp như:
Phương pháp thu thập tài liệu và tham khảo tài liệu
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp điều tra
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Kết quả phân tích các mẫu phân bón tại Uyo, phía nam, Nigeria cho thấy có sự xuất hiện của các kim loại nặng Cacdimi được tìm thấy ở nồng độ tương đối cao Zn được tìm thấy trong phân phosphate có nồng độ tương đối cao và trong phân ure có nồng độ thấp So sánh giữa phân phosphate và phân bón ure thì hàm lượng các kim loại Cu, Zn trong phân phosphate cao hơn trong phân bón ure, ngược lại trong phân bón ure có nồng độ cao kim loại Cd (Benson et al, 2014)
Kết quả nghiên cứu của Benson (2014) chỉ ra rằng hoạt động nông nghiệp có vai trò trong việc làm giàu các kim loại cho đất Nồng độ trung bình các kim loại Cu
và Zn trong phân phophat tương ứng là 7,80; 15,81 mg/kg Đáng chú ý là kim loại Zn
là nguyên tố gây độc cho cây trồng khi sử dụng ở hàm lượng cao
Phân bón được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp, để cải thiện năng suất cây trồng Tuy nhiên, sự rửa trôi các chất dinh dưỡng từ đất nông nghiệp xuống dưới nước dưới đất và nước mặt gây ra một mối lo ngại về sức khỏe và môi trường
Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Divya J và Belagali S.L (2012) thu thập 24 mẫu nước (nước ngầm; nước hồ; nước kênh) từ các vùng đất nông nghiệp tại huyện Mysore, Kamataka, Ấn Độ cho thấy hàm lượng các thông số hóa lý trong 8 mẫu nước dưới đất được thể hiện ở bảng 1.1 Hầu hết các vị trí nghiên cứu đều vượt tiêu chuẩn
( gấp 42,3 lần) và NO3-( gấp 28 lần) so với tiêu chuẩn WHO rất nhiều lần Nồng độ NO3- cao nhất là 1400mg/l (G2), thấp nhất là 100mg/l (G6) Nồng độ PO43- cao nhất là 4,23mg/l, thấp nhất là 2,20mg/l
3-Bảng 1.1 Đặc tính hóa lý của mẫu nước dưới đất thu thập được xung quanh
các vùng nông nghiệp tại huyện Mysore
Trang 10(Nguồn: Divya J, Belagali S.L, 2012)
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Chất lượng nước dưới đất tại khu vực nông thôn phụ thuộc vào đặc tính địa chất vùng chứa nước, sự thẩm thấu và rò rỉ nước bề mặt từ các hoạt động chăn nuôi, nông nghiệp, làng nghề…thay đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý
Tuy nhiên nước dưới đất tại một số địa phương đã có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ, kim loại nặng (Fe, Mn)
Phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là rác thải đô thị, phế thải công nghiệp chế biến từ nông sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi Để tận dụng nguồn hữu
cơ Các phân bón trên sẽ gây nên sự ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định
Phân bón được sản xuất từ nguồn lân nhập khẩu từ nước ngoài có chứa hàm lượng Cacdimi quá cao, vượt quá mức quy định được phép sử dụng Đã có nhiều tài liệu cho thấy nguồn phân lân từ các nước vùng Nam Mỹ, Châu Phi, thường có hàm lượng Cd cao ở mức trên 200ppm (Trương Hợp Tác – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam)
Các loại thuốc trừ sâu được sử dụng: Chlorteran; thuốc trị Rầy Nitebpyram (Nitenpyram 40 w/w + Pymetrozine 30 w/w) và các loại phân bón như: phân lân, đạm, phân hữu cơ, phân con cò (NaO –P2O3- K2O: 20-30-15), phân bón lá (Cu, Mn: 100ppm)…Tùy từng loại rau màu mà sẽ sử dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau Kết quả khảo sát thực tế cho thấy các hộ trồng rau đều sử dụng thuốc trừ sâu và phun khoảng 2 lần/vụ Đặc biệt các loại rau ăn lá như cải, xà lách có thể phun 3 – 4 lần/vụ
Khối lượng phân bón sử dụng cho một vụ khoảng 100 – 300kg phân hữu cơ; Ure khoảng 10 – 15kg; 2,5kg KCl Trên thực tế cây trồng chỉ hấp thụ được khoảng 30 – 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ đi vào các dòng nước mặt hoặc thẩm thấu xuống tầng đất bên dưới Các loại nông dược sử dụng trong nông nghiệp cũng là nguồn gây ô nhiễm nước hóa học
Trang 11Tại các giếng quan trắc tại khu vực huyện Củ Chi và Hóc Môn cho thấy hàm lượng Mn trong nước là 0,223mg/l tại giếng Thới Tam Thôn và tại giếng Tân Phú Trung là 0,094mg/l Đây là hàm lượng Mn tại tầng Pleistocen trên và tại tầng Pleistocen dưới thì Mn tại giếng Tân Phú Trung là 0,472mg/l
Ngoài trồng trọt thì chăn nuôi gia súc như heo, bò…cũng thải vào môi trường một lượng chất ô nhiễm có ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người Chất thải từ hoạt động chăn nuôi chủ yếu là phân chứa nhiều chất xơ; NH4
+
; Nt… Theo một kết quả nghiên cứu thì thành phần hóa học của phân heo có trọng lượng từ 70 – 100kg (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Thành phần hóa học của phân heo có trọng lượng từ 70 – 100kg
Trang 12Nước rửa chuồng trại và tắm gia súc là nguồn ô nhiễm rất nặng, chứa các hợp chất hữu cơ, vô cơ có trong phân, nước tiểu và thức ăn có thành phần, tính chất được thể hiện tại bảng 1.4
Bảng 1.4 Tính chất nước thải chăn nuôi heo
Bắc giáp: Huyện Củ Chi
Nam giáp: quận Gò Vấp, Tân Bình và huyện Bình Chánh
Tây giáp: tỉnh Long An
Toàn huyện có 14 xã và 1 thị trấn Tổng diện tích tự nhiên là 16.576 ha Trong
đó, đất nông nghiệp 11.108 ha, chiếm 67% đất tự nhiên
Địa hình, địa mạo
Địa hình chia làm 3 vùng:
Vùng đất cao, độ cao từ 7 – 11m Diện tích 1.465ha, chiếm 8,9%
Vùng đất triền, độ cao từ 3 – 6m Diện tích 6.682ha, chiếm 40,3%
Trang 13 Vùng đất trũng, dưới 2m Diện tích 8.429ha, chiếm 50,80%
Khí hậu
Huyện Hóc Môn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Khí hậu chia làm hai mùa rõ rết, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình khoảng 25°C đến 29°C, cao tuyệt đối là 38,20°C, thấp tuyệt đối là 14,40°C Độ ẩm trung bình từ 73% đến 85%, độ bốc hơi từ 3,5 đến 6mm/ngày, trung bình 5mm/ngày, cao nhất 8mm/ ngày
Chế độ mưa cao, trung bình hằng năm là 1949mm, năm cao nhất 2718mm, năm thấp nhất 1392mm nhưng phân bố không đều cả trong không gian và thời gian Hơn 90% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa, cao nhất tháng 6, 9 khoảng 320mm, thấp nhất tháng 2 (45mm) Số ngày mưa trung bình trong năm là 159 ngày Về thời gian, lượng mưa có xu thế tăng dần từ Tây Nam lên Đông Bắc (Cần Giờ, Nhà Bè, Nam Bình Chánh mưa từ 1200 – 1500mm, trong khi đó các quận nội thành và các huyện Hóc Môn , Củ Chi, Thủ Đức, Quận 9 mưa từ 1800mm – 1900mm
Thủy văn
Hệ thống kênh rạch được phân cấp quản lý ở hai huyện Hóc Môn và Củ Chi có tổng chiều dài gần 100km và rộng từ 2 – 37m Các tuyến kênh, rạch như kênh Trần Quang Cơ; rạch Cầu Sa; rạch Hóc Môn và kênh Trung Ương (huyện Hóc Môn) dẫn
nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
Huyện Củ Chi
Vị trí địa lý
Củ Chi là huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm về phía Tây Bắc, với diện tích tự nhiên 43.496ha, phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng - tỉnh Tây Ninh, phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đức Hòa - tỉnh Long An, phía Nam giáp huyện Hóc Môn - thành phố Hồ Chí Minh Huyện Củ Chi có tọa độ địa lý từ 10o53’00” đến 10o10’00” vĩ độ Bắc và từ
106o22’00” đến 106o40’00” kinh độ Đông, gồm 20 xã và một thị trấn
Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Củ Chi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây nam bộ và miền sụt Đông nam bộ, với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây bắc - Đông nam và
Trang 14Đông bắc - Tây nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m - 10m Ngoài ra địa bàn huyện có tương đối nhiều ruộng, đất đai thuận lợi để phát triển nông nghiệp so với các huyện trong thành phố
Khí hậu
Huyện Củ Chi nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, với đặc trưng chủ yếu là:
- Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 26,6oC Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28.8oC (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,8oC (tháng 12) Tuy nhiên biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 8 - 10o
C
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.300 mm - 1.770 mm, tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào tháng 7,8,9; vào tháng 12, tháng 1 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí trung bình năm khá cao 79,5% cao nhất vào tháng 7,8,9 là
- Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của huyện và nét nổi bật của dòng chảy và sự xâm nhập của thủy triều
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Huyện Hóc Môn
Tốc độ tăng trường kinh tế cao và ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ công nghiệp –
Trang 15nông nghiệp – thương mại, dịch vụ chuyển sang cơ cấu công nghiệp – thương mại, dịch vụ - nông nghiệp Riêng lĩnh vực nông nghiệp chuyển từ trồng trọt là chính sang chăn nuôi là chính
Văn hóa – xã hội có bước phát triển hài hòa với tốc độ tăng trưởng kinh tế, an ninh – quốc phòng, trật tự xã hội được giữ vững
Về giáo dục, đi đôi với việc tăng cường cơ sở vật chất, hiệu quả giáo dục trên địa bàn huyện ngày càng cao
Về y tế, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, tăng cường cả về trang thiết bị và đội ngũ y, bác sĩ đã thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ngày càng được đầu tư phát triển đem lại nguồn tăng trưởng kinh tế cho địa phương
Văn hóa xã hội, giáo dục đào tạo ngày càng được chú trọng cả về số lượng lẫn chất lượng
Hoạt động y tế cũng thường xuyên được chỉ đạo thực hiện các công tác nghiệp
vụ chuyên môn, phòng chống dịch bệnh Tiêm phòng đầy đủ cho các trẻ em từ 3 – 10 tuổi
1.2.3 Đặc điểm địa chất thủy văn
Đặc điểm địa chất thủy văn của hai huyện Hóc Môn và Củ Chi gồm có các phân vị địa chất thủy văn sau:
- Tầng chứa nước Holocen (qh)
- Tầng chứa nước Pleistocen (qp)
- Tầng chứa nước Pliocen trên (n2
2)
- Tầng chứa nước Pliocen dưới (n21)
- Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi (mz)
Trang 16Tầng chứa nước Holocen (qh)
Phân bố tương đối rộng trên diện tích toàn thành phố Chiều sâu đáy từ 21m đến 42,1m Chiều dày trung bình 31,2m Thành phần đất đá chủ yếu là bùn sét, bột lẫn cát mịn và các thấu kính cát hạt mịn lẫn mùn thực vật Nhìn chung mức độ chứa nước kém Nước bị nhiễm mặn, nhiễm sắt
Kết quả bơm thí nghiệm các giếng khoan cho lưu lượng từ 3,20m đến 8,12l/s, mực nước hạ thấp từ 13m đến 20,94m, hệ số thấm thay đổi từ 1,5m đến 55m Nước nhạt phân bố ở phần Bắc và trung tâm, khoảng 1/3 diện tích thành phố (717km2
) với tổng độ khoáng hóa thay đổi từ 0,04 đến 0,48g/l Nước mặn ở phần phía Nam, Đông
và phía Tây Tầng này là đối tượng khai thác nước dưới đất đơn lẻ của người dân khu vực ngoại thành
Tầng chứa nước Pliocen trên (n2 2
)
Phân bố trên toàn thành phố Độ sâu mái từ 53m đến 116m Độ sâu đáy từ 111m đến 212m, có xu hướng chìm từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Tầng chứa nước chiều dày trung bình 80m Phần trên gồm sét, bột, bột lẫn cát mịn, tạo thành lớp chứa nước kém, thực tế là cách nước, liên tục trên toàn vùng, dày từ 6m đến 40m, trung 16,9m Phần dưới gồm cát mịn đến thô, nhiều nơi lẫn sạn sỏi, có nơi xen kẽ các lớp hoặc thấu kính bột sét lẫn cát mịn Tổng chiều dày của các lớp chứa nước thay đổi
Trang 17chiếm khoảng 2/5 diện tích thành phố Ở phía Đông và Tây thành phố nước bị nhiễm mặn
Kết quả phân tích mẫu vi lượng, vi sinh lấy tại các giếng khoan đạt tiêu chuẩn cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất Riêng hàm lượng Fe2+
hơi cao từ 3 đến 7 mg/l nên phải xử lý trước khi ăn Tầng chứa nước này là đối tượng để khai thác nước dưới đất tập trung
Tầng chứa nước Pliocen dưới (n2 1
)
Phân bố trên toàn thành phố Độ sâu mái từ 111m đến 212m Độ sâu đáy từ 168m đến 330m, có xu hướng chìm từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Chiều dày trung bình 82,6m Phần trên là mái thấm nước yếu gồm sét, bột, bột lẫn cát mịn phát triển liên tục trên toàn thành phố, khả năng chứa nước kém, thực tế là cách nước, dày từ 2,3m đến 18,5m, trung bình 8,18m Dưới là đất đá chứa nước gồm cát mịn đến thô, nhiều nơi lẫn sạn sỏi, có nơi xen kẽ các lớp hoặc thấu kính bột sét lẫn cát mịn Chiều dày của các lớp chứa nước thay đổi từ 45,5 đến 77,5m, trung bình 54,4m
Kết quả bơm nước thí nghiệm, khai thác tại các lỗ khoan cho mực nước tĩnh từ +0,1 đến 8m, lưu lượng từ 1,49 đến 16,64 l/s, mực nước hạ thấp từ 14,59 đến 47,0m, chiều cao cột áp trung bình 159,7m, ở vùng nước nhạt 120m Kết quả tính thông số
/ ngày, hệ số dẫn áp a= 4105m2
/ ngày, hệ số thấm k thay đổi từ 7,5 đến 30m/ ngày Nước nhạt phân bố ở phần phía Bắc, trung tâm, phía Nam và quận 8 khoảng 905km2
diện tích của thành phố, chất lượng đạt tiêu chuẩn cho
ăn uống, sinh hoạt và sản xuất Tầng chứa nước này là đối tượng để đầu tư khai thác nước dưới đất tập trung
Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi (mz)
Phân bố trên toàn vùng nghiên cứu, không lộ ra trên bề mặt đất Độ sâu mái từ
168 đến 330m Thành phần đất đá chủ yếu là cát kết, bột kết, tuff, xen kẹp sét kết, bột kết, mức độ nứt nẻ kém Do mức độ nứt nẻ kém nên khả năng chứa nước của đới chứa nước này rất hạn chế
Trang 18CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU
Các tài liệu đã thu thập cho nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu tại các phòng kinh tế huyện Hóc Môn và Củ Chi; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, tham khảo các tài liệu trên sách, tạp chí khoa học môi trường
- Tham khảo các tài liệu trên sách liên quan đến địa hóa môi trường, tạp chí khoa học môi trường…
2.2 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT THỰC ĐỊA
Nội dung khảo sát thực địa cần thực hiện:
- Khảo sát các nguồn tác động có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất trong khu vực nghiên cứu
- Khảo sát thực địa để xác định các vị trí lấy mẫu cho phù hợp với đề tài
2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
Phương pháp điều tra thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp các hộ dân trong khu vực nghiên cứu Dùng hệ thống câu hỏi miệng để người phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu thập thông tin về hiện trạng sử dụng nước dưới đất tại hai huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi Hệ thống câu hỏi phiếu điều tra được chuẩn bị dựa trên những điều kiện cụ thể mà người được phỏng vấn có thể trả lời chi tiết và đúng sự thật Số hộ điều tra 30 hộ ở Hóc Môn; 40 hộ ở Củ Chi Mẫu phiếu điều tra được trình bày ở phụ lục 3
2.4 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU
Do thời gian bị hạn chế nên sẽ tận dụng nguồn nước tại các giếng của hộ dân để nghiên cứu, số lượng mẫu lấy tại hai huyện Củ Chi và Hóc Môn
Bảng 2.1 Các vị trí lấy mẫu tại khu vực nghiên cứu
HM01 10°54'57,93'' 106°39'29,25'' Pleistocen 30 Vị trí của giếng gần với
ruộng rau muống
ruộng rau muống
Trang 19Hộ gia đình chăn nuôi bò
và heo, xung quanh nhà là ruộng rau muống
HM04 10°52'19,08'' 106°33'42,97'' Pleistocen 42 Vị trí giếng nằm trong khu
vực trồng rau màu HM05 10°52'22,27'' 106°34'34,07'' Pleistocen 20
Vị trí giếng gần khu vực trồng rau màu và nhà nằm trong khu vực gần ruộng trồng lúa
HM06 10°51'33,04'' 106°33'32,55'' Pleistocen 30
Hộ trồng rau màu, vị trí giếng nằm trong khu vực trồng rau,
Hộ gia đình chăn nuôi bò sữa, giếng được đặt gần khu vực hố ga thu gom bước thải và nầm gần khu vực trồng lúa
CC01 10°57'06,42'' 106°32'38,79'' Pleistocen 22
Vị trí giếng nằm ở địa hình thấp và nằm gần các hộ chăn nuôi bò
CC02 10°57'50,09'' 106°33'21,38'' Pleistocen 24
Vị trí giếng nằm trong nhà gần khu vực nuôi heo và gần khu vực trồng lúa nước CC03 10°58'10,88'' 106°32'48,29'' Pleistocen 30
Vị trí giếng nằm trong khu vực trồng rau màu, xung quanh là khu vực trồng rau CC04 10°57'45,51'' 106°35'19,18'' Pleistocen 30 Xung quanh nhà là các hộ
chăn nuôi bò sữa CC05 10°57'40,99'' 106°35'28,11'' Pleistocen 32
Hộ gia đình chăn nuôi bò
và heo, khoảng 5m là khu vực trồng rau màu
CC06 11°01'19,02'' 106°34'15,84'' Pleistocen 40
Hộ gia đình chăn nuôi bò sữa, xung quanh là các hộ chăn nuôi bò và heo
CC07 11°01'02,97'' 106°34'11,72'' Pleistocen 30
Hộ gia đình chăn nuôi bò
và nằm cuối nguồn thải của các hộ chăn nuôi bò
CC08 11°06'26" 106°30'32" Pleistocen 35
Hộ gia đình nuôi heo, xung quanh là các hộ nuôi bò và heo Diện tích xung quanh nhà là Cao xu
CC09 11°06'25,53" 106°30'33,42" Pleistocen 25
Hộ gia đình nuôi bò sữa, xung quanh nhà là các hộ chăn nuôi bò sữa
Trang 20Sơ đồ vị trí lấy mẫu của hai xã được thể hiện ở bàn đồ số 1-1 (Hóc Môn); bản
đồ số 1-2 (Củ Chi) Tiêu chuẩn lấy mẫu được áp dụng theo TCVN 6663 -11: 2011- Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
Quy trình lấy mẫu
Chuẩn bị dụng cụ lấy mẫu:
- Bình chứa mẫu phải được rửa sạch và tráng bằng nước cất ít nhất là 3 lần Lấy mẫu ngoài hiện trường:
- Trước khi lấy mẫu phải xả bỏ ống dẫn nước kết hợp với tráng rửa bình đựng mẫu
- Lấy mẫu vừa đầy và đậy chặt nắp để tránh nhiễm mẫu
Bảo quản mẫu
- Mẫu được lấy xong bảo quản trong thùng đá lạnh
Hình 2.1 Một số hình ảnh lấy mẫu ngoài hiện trường 2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH – THÍ NGHIỆM
2.5.1 Xác định độ tin cậy của phương pháp phân tích
Theo thông tư 24/2017/TT – BTNMT trong phạm vi đồ án, nội dung đảm bảo
và kiểm soát chất lượng công tác phân tích thí nghiệm được tiến hành lấy mẫu QC ngoài hiện trường phân tích và đánh giá mức độ gần nhau giữa các kết quả bằng công thức tính độ chụm
- Độ chụm (precision): Mức độ gần nhau giữa các kết quả thực nghiệm độc
lập nhận được trong điều kiện quy định Thông thường độ chụm được xác định qua việc sử dụng mẫu lặp hoặc đo lặp Công thức tính:
Trang 21RPD= 100 (%) (2.1)
Trong đó:
RPD: phần trăm sai khác tương đối của mẫu lặp
LD1: kết quả phân tích lần thứ nhất
LD2: kết quả phân tích lần thứ hai
- Mẫu lặp hiện trường ( Field replicate/ duplicate sample): là hai mẫu hoặc
nhiều mẫu được lấy tại cùng một vị trí, cùng một thời điểm, sử dụng cùng một phương pháp, được xử lý, bảo quản, vận chuyển và phân tích độc lập trong phòng thí nghiệm theo cùng một phương pháp Mẫu lặp hiện trường được sử dụng để kiểm soát độ tập trung của việc lấy mẫu tại hiện trường Mẫu lặp ngoài hiện trường là mẫu nước nước dưới đất tự nhiên Tại 3 vị trí khác nhau tác giả lấy mỗi một vị trí lấy 3 mẫu riêng biệt được bảo quản như nhau Kết quả phân tích mẫu lặp ngoài hiện trườn (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Kết quả phân tích mẫu QC ngoài hiện trường
(mV)
Ec (μS/cm)
TDS (mg/l)
3-Mn = 0.244mg/l; P – PO4
= 0,2608mg/l
Trang 223-Bảng 2.3 Kết quả mẫu giả từ dd chuẩn Mn và P - Ortho
độ tin cậy và đảm bảo chất lượng trong quá trình phân tích (Bảng 2.2, 2.3)
- Mẫu trắng phương pháp (method blank sample) là mẫu vật liệu sạch,
thường là nước cất, được sử dụng để kiểm tra sự nhiễm bẩn dụng cụ và hóa chất, chất chuẩn trong quá trình phân tích mẫu Mẫu trắng phương pháp được trải qua các bước xử lý, phân tích như mẫu thực (Hình 2.2)
Hình 2.2 Mẫu trắng và mẫu chuẩn của dãy chuẩn N - NO 3
Mẫu lặp phòng thí nghiệm (lab replicate/ duplicate sample) gồm hai hoặc
nhiều hơn các phần của cùng một mẫu được chuẩn bị, phân tích độc lập với cùng một phương pháp Mẫu lặp dùng để đánh giá độ chụm của kết quả phân tích (Bảng 2.3)
Các thông số phân tích được tiến hành theo các phương pháp thí nghiệm trình bày dưới Bảng 2.4:
Trang 23Bảng 2.4 Phương pháp phân tích các thông số hóa lý
Hình 2 3 Máy đo đa chỉ tiêu (a), Máy quang phổ UV – Vis (b)
2.5.2 Quy trình phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm
Trang 24Dinatri dihidro etylendinitrilotetraaxetat (EDTANa) đƣợc thêm vào với kiềm để tránh kết tủa các muối canxi và magie Natrinitrua đƣợc thêm vào để khắc phục sự nhiễu của nitrit
Pipet 1ml + 0,2ml CH 3 COOH
Trang 25Lấy 2ml amoni molydate vào, sau đó cho 5 giọt
SnCl 2 vào bình chứa mẫu
Để khoảng thời gian
10 phút thì đem đi đo
Bếp đun Đun mẫu
Cô cạn còn 90ml
BĐM 100ml Định mức 100ml
Trang 26BĐM 50ml Định mức
Để yên 10 – 15 phút
Trang 275 Độ cứng tổng
Phương pháp phân tích: SMEWW 2340 C – 2012
Phạm vi áp dụng: phân tích các mẫu nước thải, nước dưới đất, nước tự nhiên
EBT vào mẫu, lắc đều
Chuẩn độ với dd EDTA
Dd chuyển từ màu tím sang màu xanh thì
kết thúc định phân
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI HAI HUYỆN HÓC MÔN
VÀ CỦ CHI
3.1.1 Huyện Hóc Môn
Kết quả khảo sát của 30 hộ ở huyện Hóc Môn thì nguồn nước dưới đất là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất chủ yếu của người dân với mật độ chung 59,8 giếng/ km2, số giếng khoan trên 1000 người là 32,47 Ngoài nước giếng thì người dân còn sử dụng kết hợp với nước máy Nước máy chỉ mới được lắp đặt từ một năm trở lại đây nên nước giếng vẫn là nguồn nước sử dụng chính của người dân Tại khu vực nghiên cứu độ sâu của giếng khoan tập trung tại tầng Pleistocen (Hình 3.1)
Hình 3.1 Độ sâu khai thác giếng tại huyện Hóc Môn
Trong 30 hộ khảo sát thì có 26 hộ sử dụng trực tiếp còn lại 4 hộ là qua lọc Tại các hộ khảo sát lấy phiếu cho thấy các hộ sử dụng nước dưới đất phục vụ cho chăn nuôi và trồng trọt là chủ yếu
Bảng 3.1 Kết quả tổng hợp phiếu điều tra tại huyện Hóc Môn
Nhiễm phèn
Không nhiễm phèn
Nước giếng Nước giếng + nước máy Sinh hoạt Sinh hoạt + Trồng trọt Sinh hoạt+ Chăn nuôi
Nước dưới đất được sử dụng cho sinh hoạt và chăn nuôi chiếm 80% Chiếm 7%
là sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt và còn lại 13% là sử dụng kết hợp sinh hoạt
0 2 4 6 8 10
Trang 29và trồng trọt Nước giếng được khai thác phần lớn phục vụ cho hoạt động chăn nuôi và trồng trọt của người dân là chủ yếu, còn nước sử dụng cho ăn uống thì người dân sử dụng nước máy hoặc nước đóng bình, chỉ có ít hộ là còn sử dụng nước giếng
Chất lượng nước giếng theo như đánh giá của người dân sử dụng cho thấy nước
bị nhiễm phèn ở mức độ nhẹ và vừa, nước có mùi tanh của sắt và dụng cụ chứa nước trong một thời gian sẽ bị bám vàng
Khoảng 50% số hộ dân tại khu vực khảo sát bị nhiễm phèn, để sử dụng cho mục đích ăn uống thì họ phải sử dụng thiết bị lọc
Hình 3.2 Khoảng cách từ hầm tự hoại đến giếng khoan
Theo như quy định số 2570/QĐ-BNN TCTL giếng đào phải cách nhà tiêu
>10m để đảm bảo vệ sinh Nhưng theo kết quả quả khảo sát thì có khoảng 33% tổng
số hộ có khoảng cách từ nguồn nước đến hầm tự hoại trong khoảng không an toàn (Hình 3.2)
3.1.2 Huyện Củ Chi
Số hộ khảo sát ở huyện Củ Chi là 40 hộ cho thấy nguồn nước sử dụng chủ yếu
là nước dưới đất được sử dụng cho mục đích sinh hoạt và nông nghiệp Với mật độ chung 12,2 giếng/ km2, số giếng khoan 19,63 giếng trên 1000 người
0 2 4 6 8 10