Đề tài khái quát một số dự án thu hồi đất trên địa bàn, xác định đối tượng và điều kiện được hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, đánh giá chung về công tác tổ chức thực hiện bồi thường GPMB
Trang 1DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2Bảng 2.6 Bảng tính giá trị bồi thường về cây trồng trong dự án 31 Bảng 2.7 Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn
Bảng 2.8 Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Kim Ngọc
Bảng 2.9 Kết quả bồi thường về đất tính đến tháng 5/2017 39 Bảng 2.10 Kết quả bồi thường về tài sản gắn liền với đất tính đến
Trang 3Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội là sự gia tăng nhu cầu sử dụng đất của tất cả các mục đích và lĩnh vực Tuy nhiên, quỹ đất đai bị hạn chế và nhiều khi bị hạn chế khả năng sử dụng do sạt lở, xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm… Do đó,
để có thể cân đối và đáp ứng nhu cầu cho tất cả các ngành, các lĩnh vực là công việc cần thiết nhưng vô cùng khó khăn Hay nói cách khác, để quỹ đất đai của quốc gia được đưa vào khai thác có hiệu quả, tiết kiệm mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của tất cả các ngành, các lĩnh vực là công việc không đơn giản
Để làm được điều đó, nhà nước đề ra nhiều chính sách, biện pháp, từ quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất; xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội; đánh giá, chọn lựa đối tượng sử dụng có hiệu quả để giao hoặc cho thuê đất; kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất sau khi đã giao/cho thuê; đảm bảo quyền của người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, khai thác đất… Trong quá trình đó, nhiều khi nhà nước buộc phải chấm dứt việc sử dụng đất trước thời hạn của những người sử dụng đất vào một mục đích được giao để phục vụ cho mục đích
sử dụng đất khác hiệu quả hơn Quyết định hành chính thu hồi đất gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất hiện tại Do vậy, Nhà nước có chính sách bồi thường và hỗ trợ cho người sử dụng đất khi bị nhà nước thu hồi đất
Trong điều kiện quỹ đất cũng như các nguồn tài nguyên khác ngày càng hạn hẹp và nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì vấn đề tìm kiếm nguồn đất để tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế xã hội là thật sự cần thiệt Từ đó công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng được nhà nước chú trọng thực hiện để đáp ứng nhu cầu về đất cho các dự án đầu tư Nhưng để đảm bảo quyền lợi, lợi ích kinh tế của tổ chức, cá nhân khi nhà nước thu hồi đất thì nhà nước đã có những chính sách bồi thường hỗ trợ cho các cá nhân tổ chức bị thu hồi đất Công tác bồi thường, hỗ trợ là vấn đề phức tạp mang tính chất chính trị, kinh tế - xã hội tổng hợp, đòi hỏi được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, tổ chức và
cá nhân Đền bù thiệt hại về đất không chỉ thể hiện bản chất kinh tế các mối quan hệ về đất đai mà cũng thể hiện các mối quan hệ về chính trị, xã hội…
Để công tác thu hồi đất được thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất bị thu hồi đất, tránh trường hợp khiếu nại, khiếu kiện đông người, vừa gây mất trật tự xã hội mà còn kéo dài thời gian ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án thì công tác phân loại, xử lý hồ sơ giải quyết bồi thường phải thực hiện nghiêm túc
Phú Riềng là huyện mới tách lập trên cơ sở tách huyện Bù Gia Mập (cũ)
Trang 4địa bàn huyện mặc dù đã đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận song Phú Riềng vẫn còn là huyện có nền kinh tế chưa thật phát triển, cơ sở hạ tầng còn ở mức thấp, chưa đồng bộ, đời sống nhân dân vẫn còn gặp khó khăn Quỹ đất phong phú, song việc khai thác nguồn tài nguyên này cho phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn chưa thật sự hợp lý Do đó, việc thực hiện các công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất đang gặp không ít nhiều khó khăn
Chính sách đất đai đã có những quy định về quy trình, nguyên tắc, điều kiện bồi thường Nhưng thực tế, nguồn gốc sử dụng đất rất phức tạp nên khi thực hiện bồi thường cần xác định căn cứ pháp lý của bồi thường, đối tượng được bồi thường và hỗ trợ, mức bồi thường thiệt hại về đất, Có thể nói, xử lý
hồ sơ bồi thường và hỗ trợ là công việc quyết định đến tiến độ thu hồi đất
Xuất phát từ thực tiễn trên, để nhìn nhận đầy đủ về tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thì việc thực hiện đề tài
“Xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thực hiên dự án đường liên xã Bù Nho - Long Tân tại huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước” là thực sự cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến giải quyết công tác bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Việc nghiên cứu các công trình liên quan mật thiết đến đề tài luận văn có
ý nghĩa quan trọng Nó là tiền đề cho quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Thực tế có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Đề tài thứ nhất: Luận văn thạc sĩ “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn Thành phố Ninh
Bình, tỉnh Ninh Bình” của Vũ Hồng Minh, Trường đại học Nông Nghiệp Hà
Nội, thực hiện năm 2011 Đề tài khái quát một số dự án thu hồi đất trên địa bàn, xác định đối tượng và điều kiện được hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, đánh giá chung về công tác tổ chức thực hiện bồi thường GPMB khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, đề xuất những giải pháp hoàn thiện nội dung và triển khai thực hiện chính sách bồi thường và hỗ trợ người dân
bị thu hồi đất ở các dự án trên địa bàn huyện thành phố Ninh Bình nói riêng, tỉnh Ninh Bình nói chung Đề tài đã nêu rõ tình hình thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người dân khi bị thu hồi đất Các đối tượng nào được hưởng các hỗ trợ khác theo quy định của Nhà nước Bên cạnh đó đã thấy rõ những điểm tồn tại trong quá trình thực hiện gặp phải những ý kiến trái chiều
Đề tài thứ hai: Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu tác động của việc thực hiện
chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất ở dự án Mở rộng Khu công nghiệp Thăng Long II, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên” của Đào Văn Giỏi, Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội, thực hiện năm 2013 Qua đó đánh giá một cách tổng thể thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và các tiêu chí khác của đời sống xã hội cộng đồng dân cư nông thôn sau khi Nhà nước thu hồi đất, đánh giá thực trạng, đề
Trang 5xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai
Nhìn chung, đề tài chỉ nêu trọng tâm vào tình hình đời sống trước và sau khi Nhà nước thu hồi đất, các chính sách bồi thường tác động đến người dân Chưa đưa ra các giải pháp cụ thể đối với từng vấn đề, đối với hoàn cảnh cụ thể của địa phương
Đề tài thứ ba: Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn áp dụng tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội” của
Lê Thị Yến, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2010 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhìn từ góc độ thực tiễn, làm
rõ các vấn đề cần xác định, giải quyết trong việc xây dựng các văn bản pháp luật
về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, quan niệm về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Các công trình nghiên cứu nêu trên chỉ đề cập giải quyết các vấn đề về chính sách, nguyên tắc, quy trình, phương pháp và căn cứ pháp lý nói chung, còn việc xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ tại các dự án cụ thể thì chưa được làm rõ để thấy được những khó khăn mà cán bộ thụ lý hồ sơ gặp phải tại địa bàn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tổng hợp và phân loại hồ sơ bồi thường và hỗ trợ; xác định được căn cứ pháp lý, đối tượng, các hình thức, mức bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Phân tích thực trạng xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn huyện Phú Riềng thực hiện dự án
- Giải pháp xử lý hồ sơ trong công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn huyện Phú Riềng thực hiện dự án đường liên xã Bù Nho - Long Tân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thẩm quyền của đơn vị quản lý nhà nước về đất đai
Trang 6- Nguyên tắc, quy trình và phương pháp thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Trình tự thủ tục xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong phạm vi không gian huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
Phạm vi thời gian: từ năm 2016 đến tháng 5/2017
Phạm vi nội dung: tìm hiểu, nghiên cứu tập trung vào vấn đề bồi thường
và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các thông tin cơ bản về địa bàn và dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân, các số liệu, tài liệu có liên quan đến công tác bồi thường và hỗ trợ như thông báo thu hồi đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), danh sách hộ dân bị thu hồi đất, phương án, quyết định thu hồi đất
- Phương pháp thống kê: Thống kê diện tích đất thu hồi, số đối tượng bị ảnh hưởng, phân loại hồ sơ, lập bảng số liệu từ các tài liệu, số liệu đã thu thập được từ dự án
- Phương pháp so sánh: So sánh việc xử lý hồ sơ của địa phương và quy định của Nhà nước, từ đó phát hiện ra những bất cập trong quá trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích giữa cơ sở lý luận với thực tiễn, tổng hợp tình hình thực tế nhằm rút ra mặt khó khăn, thuận lợi và những vấn đề cần giải quyết
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người am hiểu
về nội dung cần nghiên cứu, các cán bộ tại đơn vị điều tra và giảng viên hướng dẫn
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Làm rõ được các trường hợp vướng mắc trong việc xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Vận dụng các quy định pháp luật đất đai hiện hành đề xuất được các giải pháp xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ nhằm đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất, đảm bảo được quyền lợi của người sử dụng đất hiện tại cũng như quyền lợi của nhà đầu tư thực hiện dự án
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Cơ sở lý luận của bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Các khái niệm chung
Trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật về đất đai, đặc biệt trong
công tác quản lý đất đai thì bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được
Nhà nước chú trọng quan tâm, việc thực hiện công tác thu hồi đất nhằm phục vụ
cho các công trình, dự án trọng điểm góp phần phát huy tiềm lực kinh tế, nâng
cao ổn định đời sống người dân Để công tác thu hồi đất đảm bảo đúng tiến độ,
quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất trước hết cần hiểu một số
khái niệm trong công tác thu hồi đất:
- Khái niệm bồi thường
Nhằm bù đắp những tổn thất mà người sử dụng đất phải gánh chịu đồng
thời giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội là hậu quả của việc Nhà nước thu hồi
đất gây ra cần các chính sách bồi thường, hỗ trợ Bồi thường về đất được hiểu là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho
người sử dụng đất Công tác bồi thường diễn ra nhằm đảm bảo quyền lợi cho các
đối tượng sử dụng đất, giải quyết phần nào thiệt hại, mất mát về đất và tài sản
mà người sử dụng đất phải gánh chịu
- Khái niệm hỗ trợ
Song song với công tác bồi thường và đền bù, để đời sống người dân phần
nào được cải thiện sau khi Nhà nước thu hồi đất các chính sách hỗ trợ đào tạo,
chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm có vai trò quan trọng xoa dịu phần nào
mất mát mà người dân phải gánh chịu Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và
phát triển Định nghĩa đã liệt kê các trường hợp cần được hỗ trợ tuy nhiên vẫn
còn nhiều thiếu sót, chưa đầy đủ Hỗ trợ là chính sách “mềm” nên ngoài các
trường hợp hỗ trợ vừa nêu, còn có những trường hợp hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy
ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định
- Khái niệm thu hồi đất
Nhằm đảm bảo cho mọi diện tích đất đai được sử dụng hợp pháp đúng
mục đích, đạt hiệu quả cao đồng thời khắc phuc tình trạng tùy tiện trong quản lý
sử dụng đất đai thì công tác thu hồi đất là hết sức cần thiết Thu hồi đất được
hiểu là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà
nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm
pháp luật về đất đai Đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất, phục vụ lợi ích quốc
gia
- Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 8Luật đất đai 2013 ban hành đã quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài Để công tác bồi thường sau khi thu hồi đất diễn ra thuận lợi theo đúng tiến độ đề, người sử dụng đất được hưởng các quyền lợi và thực hiện nghĩa
vụ theo đúng quy định mà pháp luật ban hành Cụ thể như:
+ Về quyền lợi: Khi sử dụng đất, người sử dụng đất có quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất, các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp Ngoài ra còn được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp, được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình, được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này Theo đó, người sử dụng đất có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai Bên cạnh các quyền chung theo quy định nêu trên thì người sử dụng đất còn được sử dụng các quyền riêng theo quy định của pháp luật là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
+ Về nghĩa vụ: Ngoài các quyền nhằm đảm bảo các lợi ích chính đáng và thiết thực của người sử dụng đất, pháp luật đất đai còn quy định những nghĩa vụ buộc người sử dụng đất phải tuân thủ Điều này nhằm đảm bảo sự công bằng, phân minh trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật Người sử dụng đất có các nghĩa vụ chung trong việc sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan Tiến hành thực hiện kê khai đăng ký đất đai và làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Đồng thời thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, thực hiện các biện pháp bảo vệ đất Nghiêm túc tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan cũng như tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất Bên cạnh đó, người sử dụng đất còn có nghĩa vụ giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng
- Thẩm quyền của các cơ quan chức năng khi thực hiện thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với quy định hiện hành để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất Đối với UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ
Trang 9sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (trừ trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam) cũng như tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
trường hợp thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp: đối với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất
1.1.2 Vị trí và vai trò của công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất trong hệ thống quản lý nhà nước về đất đai
- Vị trí và vai trò của thu hồi đất: Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất còn được xem như là một “khâu” của quá trình “điều phối” đất đai Cùng với quá trình phát triển của pháp luật đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần được hoàn thiện thu hồi đất là hoạt động hỗ trợ đắc lực nhất cho Nhà nước để thực hiện quá trình “luân chuyển” đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục đích khác rất thường xuyên xảy ra Thu hồi đất vừa là hoạt động mang tính quyền lực vừa có tác dụng bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó sẽ làm chấm dứt hành vi xâm hại đất đai của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai
- Vị trí và vai trò của bồi thường: Bù đắp lại khoản lợi ích vật chất mà người có đất bị thu hồi bị mất bởi lẽ họ là người có quyền sở hữu quyền sử dụng đất trong trường hợp này và nhà nước đảm bảo quyền sử dụng đất đó cho họ Tạo cơ sở pháp lý cho người bị thu hồi đất được nhà nước bảo vệ khi quyền lợi của họ có thể bị xâm phạm một cách trái pháp luật của các chủ thể khác trong xã hội
- Vị trí và vai trò của hỗ trợ: Đảm bảo cho người có đất bị thu hồi có đất
để sinh sống, ổn định sản xuất bởi có an cư thì mới lạc nghiệp Ổn định tình hình chính trị và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, bảo đảm cho người dân nhanh chóng có chỗ ở mới để đảm bảo cuộc sống, giải quyết hài hòa giữa việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất Các chính sách hỗ trợ cũng nhằm ổn định cuộc sống và việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, giúp người dân giảm bớt được những khó khăn trong khoàng thời gian ổn định cuộc sống Đồng thời tạo tâm lý đồng thuận, chấp hành nâng cao sự tin tưởng của người dân vào các chính sách về đất đai của nhà nước khi được hỗ trợ hợp
lý
Trang 101.1.3 Lược sử công tác bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ Luật Đất đai 2003 đến nay
1.1.3.1 Công tác bồi thường và hỗ trợ từ LĐĐ 2003 đến trước khi LĐĐ 2013 ra đời
Cùng với lịch sử phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đi cũng dần được hoàn thiện Nội dung cơ bản của quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản này cũng dần được hoàn thiện, từ chỗ chỉ là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản chỉ quy định tạm thời đến chỗ Nhà nước ban hành Luật đất đai đầu tiên được Quốc hội ban hành và thông qua vào năm 1987 đánh dấu vai trò quan trọng của công tác quản
lý đất đai ở nước ta Tới khi Luật đất đai 2003 được Quốc hội XI thông qua tại
kỳ họp thứ tư ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã từng bước hoàn thiện các chính sách pháp luật về đất đai đặc biệt là công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Luật quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất: thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; phát triển kinh tế; việc thu hồi đất và quản lý quỹ đất đã thu hồi;…
Luật đất đai 2003 ra đời đãlàm rõ vai trò Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
của toàn dân về đất đai có quyền định đoạt và hưởng lợi từ đất đai, các nội dung
trong quản lý nhà nước về đất đai được bổ sung đầy đủ và hoàn chỉnh với nhiều vấn đề được quan tâm hơn Hàng loạt văn bản pháp quy được ban hành để điều
chỉnh các quan hệ đất đai mới phát sinh, cụ thể như:
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất Đai 2003: quy định phương pháp xác định giá đất, khung giá các loại đất
Về việc thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế Các quy định về thanh tra đất đai
và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo quy định tại các nghị định khác của Chính phủ;
Cùng thời điểm đó Nhà nước tiếp tục cho ra đời Nghị định
182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Nghị định này quy định về xử phạt hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Các hành vi vi phạm về đo đạc và bản đồ bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ;
Tuy nhiên trong quá trình bồi thường, vấn đề về xác định giá đất gặp không ít khó khăn Nhằm giải quyết những bất cập trước mắt Nghị định 188/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/2004 quy định về phương hướng xác định giá đất và khung giá các loại đất, Nghị định ra đời nhằm giúp Nhà nước đưa ra giá cụ thể, phù hợp hơn, tránh các khiếu kiện, khiếu nại không đáng có;
Trang 11Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về đền bù, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất: Nghị định này quy định về bồi thường , hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế Ngoài ra, đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nếu việc bồi thường , hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quy định tại Nghị định này thì trước khi ký kết Điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản
dự án đầu tư phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó;
Cùng ngày 03/12/2004 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ra đời quy định về thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất hoặc chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất Tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 2 Nghị định này Đồng thời xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
Trong giai đoạn kinh tế phát triển đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, việc xây dựng các dự án trọng điểm cần nhiều nguồn lực từ đất đai Để việc bồi thường không bị gián đoạn cần có sự đồng nhất giữa các đơn vị làm nhiệm vụ bồi thường, các đối tượng trong diện bị thu hồi đất với chính sách pháp luật về đất đai Cụ thể theo Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 Quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục đền bù, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 Nghị định này quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; giá đất; giao đất, cho thuê đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và gia hạn sử dụng đất đồng thời bộ TNMT ban hành ngày 01 tháng 10 năm 2009 quy định chi tiết về đền bù,
hỗ trợ, TĐC và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Đây là bước ngoặt về hỗ trợ đào tào nghề nghiệp và việc làm trong công tác thu hồi đất;
Nhìn chung, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
đã từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người
có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất Tuy nhiên, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC trong giai đoạn thực hiện Luật đất đai 2003 vẫn đang gặp nhiều hạn chế bất cập như: chưa có cơ chế bắt buộc để đẩm bảo có quỹ đất
và nguồn vốn xây dựng khu TĐC trước khi thu hồi đất; giá đất tính bồi thường còn thấp, chưa sát giá thị trường, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người dân bị thu hồi đất vẫn chưa thực sự được chú trọng
Trang 121.1.3.2 Công tác bồi thường và hỗ trợ sau khi luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành
LĐĐ 2003 ra đời là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như phục vụ hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai Tuy vậy, sau gần 10 năm áp dụng, những quy định của pháp luật đất đai năm 2003 nói chung đã bộc lộ những vướng mắc, bất cấp, đặc biệt là trong lĩnh vực về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp về đất đai Việc sửa đổi toàn diện LĐĐ 2003 là yêu cầu cấp thiết, nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong lĩnh vực đất đai và công cuộc đổi mới đất nước Trước yêu cầu đó, ngày 29/11/2013 tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua LĐĐ năm 2013 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2014
So với LĐĐ 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, LĐĐ năm 2013 có nhiều điểm mới, quy định cụ thể, đầy đủ các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, công tác quản lý Nhà nước về đất đai, quy định
rõ các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất hoạt động; làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất; cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại được quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm đất ở, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng
sử dụng đất Bên cạnh đó, ban hành các văn bản luật thay thế các văn bản của luật 2003 như:
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của LĐĐ, Nghị định này quy định chi tiết một số điều, khoản của LĐĐ số 45/2013/QH13 (sau đây gọi là Luật Đất đai) Tuy nhiên, việc quy định chi tiết một số điều, khoản của LĐĐ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giá đất; thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo các Nghị định khác của Chính phủ;
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ra đời ngày 15/5/2014 thay thế Nghị định
số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Quy định về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, quy định chi tiết một số điều, khoản của LĐĐ Các trường hợp cụ thể bồi thường, hỗ trợ về đất ở, đất nông nghiệp, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi và các loại đất khác…;
Nhằm hạn chế những vướng mắc, tiêu cực liên quan đến công tác quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư 37/2014/TT-
Trang 13BTNMT ngày 30/6/2014 quy định về bồi thường, hổ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Thể hiện một số nội dung quan trọng như: Về tái định cư trên diện tích đất còn lại của thửa đất có nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, việc xác định diện tích đất nông nghiệp để tính hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất Công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp do cán bộ, công chức, viên chức đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật Ngoài ra, Thông
tư 37 còn quy định chi tiết việc thẩm tra Khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, việc xử lý trường hợp tổ chức bị thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất, việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư…;
Mới đây, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành LĐĐ Nghị định này sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của LĐĐ, Nghị định
số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất và Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Trước yêu cầu hội nhập sâu rộng của nền kinh tế nhưng vẫn phải bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, vừa đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất dự trữ cho tương lại, một lần nữa các chính sách đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới Như vậy, LĐĐ 2013 ra đời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo gở những hạn chế, bất cập của LĐĐ năm 2003, đưa chính sách về bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đi vào cuộc sống
1.2 Căn cứ pháp lý của bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai hiện hành
- Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Trang 14- Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc và cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước
1.2.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất
Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời giảm thiểu và hạn chế các khiếu kiện của công dân trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi bị thu hồi đất Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP Nội dung cụ thể nguyên tắc bồi thường như sau:
- Bồi thường về đất:
Theo Điều 74, LĐĐ 2013 quy định: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (quy định tại Điều 75 của Luật này) thì được bồi thường Nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị THĐ đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc chuyển mục đích SDĐ hoặc do sự đầu tư của Nhà nước mang lại thì việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật, tức là phải đảm bảo khi người dân bị thu hồi đất mà có đủ điều kiện nhận bồi thường, đây cũng là quyền liên quan đến lợi ích chính đáng của họ
- Bồi thường tài sản gắn liền với đất:
Điều 88 LĐĐ 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất như sau: Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường; khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại
1.2.2 Điều kiện bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất
Trang 15Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có GCNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền
sử dụng đất ở, GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này (khoản 2 Điều 77 LĐĐ 2013) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc
có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có
đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Trang 16- Bồi thường tài sản gắn liền với đất:
Điều 92 Luật đất đai 2013 quy định về Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất (bao gồm: tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai 2013; tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi
có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng) Các trường hợp nằm ngoài quy định trên sẽ được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất, bao gồm: Tài sản gắn liền với đất được tạo lập hợp pháp và tạo lập trước khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đối với bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất quy định tại khoản
1, khoản 2, khoản 3 điều 89 Luật Đất đai 2013 Đồi với bồi thường về cây trồng vật nuôi được quy định tại khoản 1 khoản 2 điều 90 Luật Đất đai 2013
1.2.3 Hỗ trợ khi thu hồi đất
Để thực hiện tốt các chính sách pháp luật Nhà nước về đất đai, đầu tiên cần nắm rõ các nguyên tắc hỗ trợ cũng như các hình thức hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Cụ thể như sau:
- Về nguyên tắc hỗ trợ: Căn cứ theo Khoản 1, Điều 83 LĐĐ 2013 quy
định đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật
- Về hình thức hỗ trợ: Bên cạnh nguyên tắc hỗ trợ còn phải nói đến các
hình thức hỗ trợ khác nhau phù hợp cho từng đối tượng được hỗ trợ Theo Khoản 2, Điều 83 LĐĐ 2013 quy định các hình hức hỗ trợ như: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp Thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở Đồng thời hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở và hỗ trợ khác…
1.2.4 Trách nhiệm của cơ quan thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Nhằm đảm bảo cho công tác bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đạt hiệu quả cao thì việc quản lý, chỉ đạo của các cơ quan, các cấp có thẩm quyền là vô cùng cần thiết Chính vì vậy, trách nhiệm của các cơ quan được thể hiện như sau:
Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương quản lý có
dự án đầu tư phải thu hồi đất có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra
Trang 17việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình
tổ chức thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định 47/2014/NĐ-CP
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP và giải quyết các vướng mắc phát sinh theo
đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Sở Tài nguyên và môi trường (hoặc Phòng Tài nguyên và môi trường) có trách nhiệm căn cứ vào Kế hoạch sử dụng đất hằng năm thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm kê cho từng dự án cụ thể, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chuẩn bị hồ sơ thu hồi đất
UBND tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP Trước ngày 01 tháng
12 hàng năm, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình và kết quả thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại địa phương
UBND cấp có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất UBND huyện có trách nhiệm thành lập Ban thực hiện cưỡng chế; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất
UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện theo quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện theo quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền
1.3 Trình tự và thủ tục hành chính khi Nhà nước thu hồi đất
Bước 1 Thông báo thu hồi đất:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 67 LĐĐ 2013, trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm
Trang 18Thông báo thu hồi đất phải được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi
Sau khi thông báo thu hồi đất theo đúng thủ tục nói trên, nếu người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý thì UBND cấp có thẩm quyền có thể
ra Quyết định thu hồi đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà không cần chờ hết thời hạn thông báo
Bước 2 Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất:
Căn cứ điểm b, c, khoản 1 điều 69 LĐĐ 2013, sau khi có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Căn cứ điểm d, khoản 1 điều 69 LĐĐ 2013, trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người
sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật đất đai
2013
Việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây: người có đất thu hồi không chấp hành quyết định kiểm đếm bắt buộc sau khi UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã có hiệu lực thi hành; người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì UBND cấp xã lập biên bản
Trang 19Trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc được quy định như sau: tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; trường hợp người bị cưỡng chế chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành và thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế
Bước 3 Lập phương án bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư:
Căn cứ khoản 2, điều 69 LĐĐ 2013 quuy định tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng tổ chức, cá nhân, hộ gia định bị thu hồi đất, trên cơ sở tổng hợp số liệu kiểm kê, xử lý các thông tin liên quan của từng trường hợp; áp giá tính giá trị bồi thường về đất, tài sản trên đất
Bước 4 Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của nhân dân
Theo khoản 2, điều 69 LĐĐ 2013, sau khi phương án chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất Hình thức lấy ý kiến là: tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi
Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban MTTQVN cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng
ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền
Bước 5 Hoàn chỉnh Phương án:
Trên cơ sở ý kiến góp ý của các đối tượng có đất bị thu hồi, đại diện chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, tổ chức bồi thường tiếp thu, hoàn chỉnh phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình cơ quan chuyên môn thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bước 6 Quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường
Căn cứ khoản 3, điều 69 LĐĐ 2013 quy định về việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau: UBND cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của
Trang 20Luật đất đai năm 2013 quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có)
và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt; trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện, nếu họ vẫn không chấp hành việc bàn giao đất thì bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật đất đai 2013
Bước 7 Tổ chức chi trả bồi thường:
Theo quy định tại Điều 93 Luật đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ cho người có đất thu hồi
Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước
Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước Về vấn đề này, Nghị định 47/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng quy định rõ tại Điều 30, cụ thể là: khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp; số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất;
Trang 21thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường,
hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó
Lưu ý: tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai
Trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất
mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho ngươi có quyền sử dụng đất
Bước 8 Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất
Sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; người bị thu hồi đất phải bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư Trường hợp người có đất bị thu hồi không bàn giao mặt bằng thì bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai 2013, khi có đủ các điều kiện: người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi
có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành; người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì UBND cấp xã lập biên bản
Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất: trước khi tiến hành
cưỡng chế, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người
bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra
Trang 22khỏi khu đất cưỡng chế Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản
* Tiểu kết chương 1:
Nội dung chương 1 đã trình bày được cơ sở lý luận và các căn cứ pháp lý, khái quát được một số khái niệm liên quan đến vấn đề thu hồi đất Ngoài ra vai trò, vị trí của công tác thu hồi đất cũng được làm rõ, từ đó làm nổi bật tầm quan trọng bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất trong hệ thống quản lý Nhà nước về đất đai Qua chương 1 đã giới thiệu sơ lược về lược sử công tác bồi thường và
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ Luật Đất đai 2003 đến nay Đồng thời trình bày cụ thể cơ sở lý luận; cơ sở pháp lý; điều kiện và nguyên tắc bồi thường về đất và tài sản; trình tự thủ tục để thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Nước ta là một nước nông nghiệp, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu Tuy nhiên, Nhà nước không trực tiếp sử dụng, chiếm hữu mà giao lại quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho người dân để đầu tư, cải tạo làm tăng giá trị đất đai Đó chính là kết quả lao đông, thành quả của người sử dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Ngày nay, khi dân số tăng cao, đất đai càng thu hẹp, giá đât ngày một tăng cao thì việc quản lý Nhà nước đối với đất đai càng trở nên khó khăn Nếu không có những chính sách hợp
lý, không có sự quan tâm tới lợi ích của nhân dân thì khi thực hiện các chính sách về đất đai, đặc biệt là khi thu hồi đất sẽ nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo, thậm chí là biểu tình chống đối lại chính quyền Cho thấy, việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc làm cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này
Trang 23Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐƯỜNG LIÊN XÃ BÙ
NHO - LONG TÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ RIỀNG
Trang 24Phú Riềng là huyện mới được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Bù Gia Mập theo Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 ngày 15/05/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với 10 đơn vị hành chính cấp xã Tổng diện tích tự nhiên
theo kiểm kê đất đai năm 2014 là 67.466,31 ha (bằng 9,82% diện tích của toàn
tỉnh Bình Phước), dân số năm 2014 là 94.117 người, mật độ dân số 140
người/km2
Gồm 10 xã: Long Bình, Bình Tân, Bình Sơn, Long Hưng, Bù Nho, Long Hà, Long Tân, Bù Nho, Phú Riềng, Phước Tân Có tọa độ địa lý (theo hệ tọa độ VN 2000, múi 3):
b Địa hình, địa mạo
Địa phận huyện Phú Riềng nằm trong vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ cao đến núi trung bình thấp, dạng giải kéo dài chia cắt mạnh, đỉnh bằng thoải, sườn dốc, thể hiện bề mặt đặc trưng của phun trào bazan cổ Địa hình có xu hướng nghiêng từ Đông sang Tây với độ cao thay đổi khoảng 200m đến 400m
c Khí hậu
Khí hậu nhìn chung bị chi phối bởi 2 yếu tố quan trọng là: Vị trí địa khu vực trong mối liên quan với hoàn lưu khí quyển và địa hình vĩ mô của vùng, chịu ảnh hưởng của 2 luồng tín phong chính là Tây Nam và Đông Bắc
Nhiệt độ bình quân cao đều quanh năm, nhiệt độ trung bình năm khoảng
270C, Lượng mưa bình quân tương đối cao (2.500-3.000 mm), nhưng phân hóa theo mùa, tạo ra hai mùa rất trái ngược nhau: mùa mưa (>90% lượng mưa) và mùa khô (<10% lượng mưa) Lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh
mẽ đến sản xuất nông nghiệp, vì vậy trong sản xuất nông nghiệp cần phải chọn và đưa vào sử dụng những loại hình sử dụng đất ít hoặc không cần nước tưới
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có suối Đắk Đam, suối Dơi, suối Nhung, suối Rạt, suối Minh, và nhiều suối nhỏ Nhìn chung do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lòng sông suối cao nên khả năng cung cấp nước tưới cho cây cối rất hạn chế
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 252014 Số doanh nghiệp hoạt động trong ngành Thương mại - Dịch vụ là 59 doanh nghiệp, tăng 7,3% so với năm 2014
b Tình hình xã hội
Dân số trên toàn huyện khoảng 94.117 người (năm 2014) Tỷ lệ tăng dân
số bình quân trong 4 năm qua khoảng 1,02%/năm Mức giảm tỷ lệ sinh 0,7‰ Lao động trong độ tuổi ước đạt 50.820 người (54%), trong đó lao động nữ chiếm khoảng 48,7% Mật độ dân số phân bố không đều, xã Bù Nho có mật độ dân số cao nhất: 306 người/km2, gấp hơn 4,86 lần so với nơi mật độ thấp nhất là xã Phước Tân (63 người/km2)
c Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Phú Riềng
+ Thuận lợi:
- Phú Riềng có vị trí thuận lợi, liền kề thị xã Đồng Xoài, thị xã Phước Long, có trục lộ ĐT 741, là cửa ngõ giao lưu giữa vùng đồng bằng với Tây nguyên, giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với nước bạn Campuchia Huyện thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi
có nền kinh tế phát triển nhất toàn quốc, trung tâm kinh tế, khoa học kỹ thuật hàng đầu, lợi thế cho phát triển kinh tế nói chung và sử dụng đất nói riêng về nguồn vốn, nhân lực có chất lượng cao, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chế biến
và tiêu thụ nông sản…
- Phú Riềng có khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hoà thuận lợi cho việc bố trí sử dụng đất Có quỹ đất đa dạng, tầng đất dày, thuận lợi cho phát triển cây lâu năm Đó là tiền đề tạo ra các vùng sản xuất tập trung các sản phẩm phục vụ công nghiệp, hàng hoá xuất khẩu chiến lược hàng đầu của quốc gia như: cao su, tiêu, điều… và một số mặt hàng khác như đại gia súc,…
+ Khó khăn:
- Huyện mới tách lập, cơ sở hạ tầng thiếu và chưa đồng bộ Xuất phát điểm về kinh tế còn thấp, đi từ sản xuất nông nghiệp là chính; cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, công nghiệp và dịch vụ vẫn còn chiếm tỷ trọng rất thấp;
cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, trường học, bệnh viện, tuy đã được phát triển song còn thiếu, chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao
Vì vậy còn phải đầu tư lớn cho những lĩnh vực kết cấu hạ tầng này
Trang 26- Nguồn tài nguyên nước hạn chế, đặc biệt là về mùa khô không khí thường khô và nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa trong cùng thời đoạn, gây nên sự thiếu hụt nước cho canh tác nông nghiệp; việc xây dựng các hồ - đập giải quyết nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt đòi hỏi vốn đầu tư lớn
- Lao động giản đơn còn chiếm đa số, thiếu lao động có kỹ thuật Dân cư sống trên địa bàn huyện phần lớn mới đến lập nghiệp và di dân tự do, đời sống của một số bộ phận nhân dân vẫn còn chưa ổn định và còn gặp không ít khó khăn, nhất
là đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa, khả năng tích lũy tái đầu tư cho sản xuất rất hạn chế
2.1.2 Giới thiệu về dự án
- Tên dự án: Xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân
- Chủ đầu tư: Ban quản lý dự án xây dựng huyện Phú Riềng
- Căn cứ pháp lý của dự án: Quyết định số 2149/QĐ-UBND ngày 15/08/2016 về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân
- Tổng diện tích thu hồi: 40.233,93m2 thuộc xã Bù Nho và xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
- Mục tiêu đầu tư: Nhìn chung huyện Phú Riềng là huyện có hệ thống cơ
sở hạ tầng còn thấp, để phát huy tiềm lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thì yêu cầu về xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng của huyện còn rất lớn Dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân mở ra nhằm giúp người dân đi lại thuận lợi hơn, góp phần hoàn chỉnh mạng lưới, hạ tầng giao thông, thúc đẩy phát triển
về kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân trong vùng
dự án và huyện Phú Riềng Các thông tin tổng quan về dự án được thể hiện cụ thể qua các bảng số liệu sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất
STT Đối tượng SDĐ Tổng số khu đất bị thu hồi
Loại đất Đất
ở
Đất nông nghiệp
1 Hộ gia đình, cá
nhân
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng, năm 2017)
Căn cứ Điều 12 Quyết định 13/2015/QĐ-UBND tỉnh Bình Phước quy định các điều kiện được bồi thường về đất ta có bảng 2.1 đã tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất, số khu đất bị thu hồi là 34 khu đất, trong đó đất nông nghiệp chiếm 32 khu đất thuộc đối tượng là hộ gia đình, cá nhân, còn lại là đất không đủ điều kiện được bồi thường
Trang 27Bảng 2.2 Tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất
STT Đối tượng SDĐ
Tổng số khu đất bị thu hồi có tài sản gắn liền với đất
Loại tài sản
Nhà
ở
Công trình xây dựng không phải là
nhà ở
Cây lâu năm
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng, năm 2017)
Qua quá trình kiểm kê xác định vị trí, loại đất ta tổng hợp được các đối tượng sử dụng đất bị thu hồi đất có tài sản gắn liền với đất, theo Khoản 1, Điều
90, LĐĐ 2013 và Điều 29 Quyết định 13 tỉnh Bình Phước quy định Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì được bồi thường, cụ thể theo bảng 2.2 ta thấy có tổng số 29 khu đất có tài sản gắn liền với đất, các đối tượng sử dụng đất thuộc hộ gia đình, cá nhân, toàn bộ đều là cây lâu năm không có các công trình, nhà ở khác
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất được nhận hỗ trợ
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng, năm 2017)
Việc tổng hợp các đối tượng bị thu hồi đất được nhận hỗ trợ thể hiện qua bảng 2.3 trong đó hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm chiếm 32 khu đất thuộc đối tượng sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, ngoài ra không có
hỗ trợ khác (Điều 19 Nghị đinh số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất), những khu đất còn lại không được hỗ trợ do không đủ điều kiện bồi thường
Giá trị phương án bồi thường hỗ trợ:
- Tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là:
Trang 28- Thưởng di dời: 140.000.000 đồng
- Kinh phí của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường: 103.447.968 đồng
- Chi phí dự phòng: 171.119.921 đồng Phần lớn người dân trong địa bàn huyện Phú Riềng sống chủ yếu bằng nghề nông, là thu nhập chính của họ, cho nên việc thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân ở đây Dự án mở ra nhằm rút ngắn khoảng cách đồng thời thuận tiện cho người dân vùng sâu vùng
xa đi lại dễ dàng Từ những nhu cầu thiết thực về đời sống, việc làm, hoạt động sản xuất của người dân sau khi bị thu hồi đất, chính quyền địa phương cũng đã
và đang thực hiện những chính sách đền bù, hỗ trợ cho người dân để họ có thể
ổn định đời sống và tiến hành sản xuất, kinh doanh
2.2 Quy trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ tại dự án
Căn cứ Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước Quy trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ dự án đường liên xã Bù Nho - Long Tân được thực hiện theo các thủ tục như sau:
Bước 1 Thông báo thu hồi đất Bước 2 Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất
Bước 3 Lập phương án bồi thường, hỗ trợ
Bước 4 Niêm yết công khai phương án lấy ý
kiến của nhân dân Bước 5 Hoàn chỉnh phương án
Bước 6 Phê duyệt phương án chi tiết và tổ
chức triển khai thực hiện Bước 7 Tổ chức chi trả bồi thường
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ tại dự án
Bước 1: Thông báo thu hồi đất
Để dự án được thực hiện theo đúng tiến độ đề ra, ngày 7/9/2016 UBND huyện Phú Riềng ra quyết định thành lập Hội đồng bồi thường số 1440/QĐ-
Trang 29UBND Sau khi thành lập, Hội đồng bồi thường chịu trách nhiệm ra thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi thuộc dự án, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Thông báo thu hồi đất do Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành phải gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, kiểm tra
Bước 2: Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất
Hội đồng bồi thường có trách nhiệm thực hiện việc kê khai, kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất và xác định nguồn gốc đất đai Thông báo phải nêu
rõ thời điểm, địa điểm để tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
Đối tượng bị thu hồi đất phải có trách nhiệm tự kiểm kê đất đai, tài sản theo mẫu tờ kê khai và phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ để thực hiện công tác kiểm kê đất đai, tài sản
Sau khi ra thông báo kiểm kê Hội đồng bồi thường tiến hành kiểm kê và ghi biên bản kiểm kê đối với từng hộ gia đình, cá nhân Nội dung kiểm điếm bao gồm: Kiểm đếm toàn bộ diện tích đất thu hồi và tài sản, cây trồng trên đất Thực hiện theo pháp luật hiện hành và Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc và cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Tiến hành kiểm kê đất đai, tài sản trên thuộc diện tích Nhà nước thu hồi với sự có mặt của đại diện Hội đồng bồi thường, Ban quản lý dự án xây dựng huyện Phú Riềng, lãnh đạo 2 xã Bù Nho và Long Tân cùng với sự phối hợp của
hộ gia đình cá nhân có đất, tài sản bị ảnh hưởng do thu hồi đất thực hiện việc
điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ
Bước 3: Lập phương án bồi thường, hỗ trợ
Căn cứ vào Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND ngày 19/12/2016 của UBND tỉnh Bình Phước quyết định điều chỉnh bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 ban hành kèm theo Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND ngày 17/9/2015 của UBND tỉnh Bình Phước
Căn cứ Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 15/12/2016 của UBND huyện Phú Riềng về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân trên địa bàn huyện Phú Riềng tiến hành lập phương án bồi thường, hỗ trợ Hội đồng bồi thường có trách nhiệm căn cứ vào kết quả xác nhận các nội dung kê khai, kiểm đếm thẩm định giá đất cụ thể để tính bồi thường theo đúng quy định của pháp luật Từ đó, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ cụ thể cho từng hộ gia đình,
cá nhân
Trang 30VT1-KV2 Đất trồng cây lâu năm 29.280 VT1-KV4 Đất trồng cây lâu năm 21.470
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng)
Áp dụng các quy định bồi thường vật kiến trúc và cây trồng theo Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Quyết định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc và cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước Phương án bồi thường, hỗ trợ thể hiện
cụ thể tổng diện tích thu hồi, kinh phí bồi thường, các căn cứ xác định giá tiền bồi thường, kèm theo phương án là bảng chiết tính giá trị bồi thường của dự án
Bước 4: Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của nhân dân
Hội đồng bồi thường có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực
có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với dự án trong vòng 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày niêm yết tại trụ
sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Việc tổ chức lấy ý kiến phải lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi Biên bản phải thể hiện rõ số lượng ý kiến đồng ý, không đồng ý, số lượng ý kiến khác với phương án bồi thường, hỗ trợ
Bước 5: Hoàn chỉnh phương án
Trên cơ sở lấy ý kiến góp ý của các đối tượng có đất thu hồi, Hội đồng bồi thường tiến hành giải quyết các thắc mắc, khiếu nại của người dân Nếu có sai sót hoặc thay đổi trong phương án thì chỉnh sửa lại hoàn chỉnh phương án trình
cơ quan có thẩm quyền
Bước 6: Phê duyệt phương án chi tiết và tổ chức triển khai thực hiện
Trên cơ sở ý kiến góp ý của các đối tượng có đất bị thu hồi, đại diện chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, Hội đồng bồi thường tiếp thu, hoàn chỉnh phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách
Trang 31nhiệm làm công tác thẩm định phương án bồi thường sau đó trình cấp UBND huyện ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án trong cùng một ngày
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất thu hồi sau đó gửi quyết định bồi thường,
hỗ trợ đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
Bước 7: Tổ chức chi trả bồi thường
Sau khi có quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, Hội đồng bồi thường Căn cứ theo Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước
và Quyết định phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất thực hiện dự
án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân tại hai xã Bù Nho và Long Tân tiến hành chi trả bồi thường nơi có đất bị thu hồi
2.3 Công tác phân loại và xử lý cụ thể hồ sơ giải quyết bồi thường và hỗ trợ 2.3.1 Phân loại hồ sơ
Trước khi thực hiện bồi thường, hỗ trợ đảm bảo quyền lợi cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, Hội đồng bồi thường tiến hành lập hồ sơ cho từng đối tượng, từng hộ gia đình cá nhân bị ảnh hưởng, căn cứ vào quy định của pháp luật xem xét cụ thể từng trường hợp và có phương án phù hợp Tuy nhiên, trước hết cần phải phân chia ra các loại hồ sơ cụ thể như sau:
Bảng 2.5 Bảng phân loại hồ sơ
Bồi thường, hỗ trợ về đất Hộ gia đình, cá nhân 4 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản Hộ gia đình, cá nhân 1 Bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản Hộ gia đình, cá nhân 22
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng)
2.3.2 Xử lý hồ sơ bồi thường và hỗ trợ
a Căn cứ xác định hồ sơ bồi thường/không bồi thường về đất
* Hồ sơ được bồi thường đất
- Tất cả các hộ gia đình đã được cấp GCNQSDĐ hoặc đã được giao đất
ổn định trước tháng 7 năm 2004 không có tranh chấp được UBND xã xác nhận
có đất bị thu hồi thì được bồi thường theo quy định của pháp luật Căn cứ Khoản
Trang 321 Điều 75 LĐĐ 2013: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có GCNQSDĐ
- Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 77 LĐĐ 2013: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế
- Căn cứ Điều 12 Quyết định 13/2015/QĐ-UBND tỉnh Bình Phước quy định các điều kiện được bồi thường về đất
* Hồ sơ không được bồi thường đất
- Căn cứ Khoản 2, Điều 82 LĐĐ 2013 đất được Nhà nước giao để quản lý thì không được bồi thường
- Căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 76 LĐĐ 2013 quy định về Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong trường hợp đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân
b Căn cứ xác định hồ sơ được hỗ trợ/không hỗ trợ về đất
Nhằm đảm bảo công tác bồi thường được thực hiện đúng tiến độ, ngoài việc được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì hỗ trợ cho người dân là một việc làm cần thiết để động viên, chia sẻ với khó khăn đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người dân khi bị thu hồi đất Tuy nhiên, có nhiều lọai hỗ trợ và tùy thuộc vào từng đối tượng, từng điều kiện của người dân mà có sự hỗ trợ phù hợp, cụ thể là:
* Hồ sơ được hỗ trợ
- Căn cứ Khoản 1, Điều 35 Quyết định 13/2015/QĐ-UBND về Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
- Căn cứ vào điểm a, Khoản 1, Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng tiền;
- Hỗ trợ khác: Căn cứ theo Khoản 8, Điều 39 Quyết định UBND về việc thưởng cho đối tượng chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật về thu hồi đất (thưởng di dời)
13/2015/QĐ-c Căn cứ xác định hồ sơ bồi thường/không bồi thường về tài sản
* Bồi thường đối với cây trồng
Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng (Theo Khoản 1, Điều 90, LĐĐ 2013 và Điều 29
Quyết định 13 tỉnh Bình Phước) thì được bồi thường
Trang 33* Hồ sơ không được bồi thường về tài sản
- Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Khoản 1, Điều 92, Luật đất đai 2013)
- Căn cứ Điều 28 Quyết định 13 tỉnh Bình Phước quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất
d Căn cứ xác định giá bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản
* Căn cứ xác định giá bồi thường, hỗ trợ về đất:
Đơn giá bồi thường được xác định dựa vào phương án chi tiết về việc bồi thường, hỗ trợ dự án Căn cứ Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND ngày 19/12/2016 của UBND tỉnh Bình Phước quyết định điều chỉnh bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 ban hành kèm theo Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND ngày 17/9/2015 của UBND tỉnh
Căn cứ xác định giá hỗ trợ: Hỗ trợ bằng tiền không quá 1,5 (một phẩy năm) lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương quy định tại Điều 129 LĐĐ 2013 (Khoản 1, Điều 35 Quyết định 13 tỉnh Bình Phước)
* Căn cứ xác định giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản:
Thực hiện theo Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc
và cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Bảng 2.6 Bảng tính giá trị bồi thường về cây trồng trong dự án
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng)
Trang 34do ông Nguyễn Ngọc Thôn làm chủ, thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ số 1303/CQQSDĐ/UB cấp ngày 1/12/2003
Căn cứ vào Điều 69 Luật đất đai 2013 và Quyết định số UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước, trình tự thủ tục xử lí hồ sơ bồi thường về đất và tài sản trên đất được tiến hành như sau:
13/2015/QĐ-Ngay khi quyết định Hội đồng bồi thường được thành lập, Hội đồng bồi thường tiến hành gửi mẫu “Bản tự kê khai đất và tài sản trên đất” đến hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn Ông Thôn có trách nhiệm thực hiện kê khai theo mẫu để phục vụ bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Nội dung kê khai:
* Về đất đai:
- Tổng số thửa đất bị thu hồi: 1 thửa
- Tổng diện tích đất bị thu hồi: 1.684 m2 thuộc đất nông nghiệp
- Nguồn gốc và các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất: Đã có GCN QSDĐ
số 1303/CQQSDĐ/UB cấp ngày 1/12/2003
* Về cây trồng: 21 cây điều
Ông Nguyễn Ngọc Thôn không có ý kiến,nguyện vọng gì thêm
Sau khi UBND huyện Phú Riềng ra thông báo thu hồi đất số UBND ngày 13/01/2017 Thông báo thu hồi đất được gửi trực tiếp cho hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn và niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã Long Tân
10/TB-Hội đồng bồi thường phối hợp với các ban ngành có liên quan và UBND
xã Long Tân tiến hành kiểm kê, đánh giá đất đai, tài sản thiệt hại, xác nhận hồ
sơ bồi thường, hỗ trợ của hộ gia đình ông Thôn theo đúng quy định
Ngày 18/01/2017 tổ kiểm kê đã đến thửa đất số 05 tờ bản đồ số 01 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Ngọc Thôn tọa lạc tại xã Long Tân tiến hành khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, kiểm kê tài sản hoa màu trên đất
Qua quá trình xác minh kiểm kê thực địa, tổ công tác kiểm kê lập biên bản xác định kết quả kiểm kê như sau:
Trang 35Về đất: Tổng diện tích thu hồi của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn là 1.684 m2thuộc tờ bản đồ số 01; Loại đất CLN; Hiện trạng: Diện tích trên toàn bộ thửa đất
đã trồng cây lâu năm
Về tài sản, cây trồng hoa màu có trên đất: 21 cây điều 14 năm tuổi
Hộ gia đình ông Nguyễn Ngọc Thôn đồng ý với kết quả kiểm kê Các bên đồng ý ký kết vào biên bản kiểm kê Kết thúc kiểm kê lập biên bản điều tra khảo sát có xác nhận của tổ công tác kiểm kê và chủ hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn
Sau khi kiểm kê đất đai và tài sản trên đất, Hội đồng bồi thường xác định nguồn gốc đất thu hồi, xem xét hồ sơ của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn có đủ điều kiện bồi thường về đất hay không đủ điều kiện bồi thường về đất
Qua xác minh cho thấy: Năm 1986 ông Nguyễn Ngọc Thôn đã khai hoang thửa đất để sử dụng thuộc thửa đất số 05 tờ bản đồ số 01 của xã Long Tân và đã được cấp GCN QSDĐ do UBND huyện Phước Long (cũ) cấp ngày 01/12/2003
Căn cứ pháp lí để xem xét trường hợp hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn: Căn cứ vào những quy định tại Điều 77, Điều 75 Luật Đất đai 2013; Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định
về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước và những giấy tờ pháp lí do ông Nguyễn Ngọc Thôn cung cấp gồm: 1 GCN QSDĐ và sổ hộ khẩu
Kết quả xử lí: Đất bị thu hồi của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn là đất nông nghiệp đã sử dụng ổn định trước ngày 01/07/2004 và người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đã có GCN QSDĐ, đồng thời diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của ông nằm trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật đất đai do đó hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn được bồi thường diện tích đất nông nghiệp thực tế bị nhà nước thu hồi và giá bồi thường được tính theo đơn giá quy định của UBND tỉnh Bình Phước
Việc xác định rõ nguồn gốc, căn cứ pháp lý để bồi thường đất và tài sản gắn liền với đất là cơ sở để lập phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư của dự án; Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn
Để tính giá bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản cho khu đất bị thu hồi của
hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn, ta dựa vào các căn cứ pháp lý tính giá bồi thường
cho khu đất bị thu hồi: Căn cứ Quyết định phê duyệt phương án đền bù của UBND tỉnh Bình Phước và đơn giá các loại đất làm căn cứ tính tiền bồi thường
về đất của UBND tỉnh Bình Phước ban hành cho dự án và kết quả kiểm kê về đất trong biên bản kiểm kê thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Ngọc Thôn
ta có bảng số liệu như sau:
Trang 36Bảng 2.7 Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông
Nguyễn Ngọc Thôn
tích
Hệ số hỗ trợ
Đơn giá Thành tiền
Đất nông nghiệp
21.648 100% 29.280 49.307.520
tích
Hỗ trợ so với đơn giá
Đơn giá Thành tiền
Hỗ trợ đất nông
21.648 1.5 29.280 72.380.160
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng)
Kết quả tính tiền bồi thường: Theo ta thấy thửa đất bị thu hồi là thửa số 05 thuộc tờ bản đồ số 1 của hộ gia đình ông Nguyễn Ngọc Thôn là đất CLN đồng thời dựa trên bảng trích lục thửa đất số 5 ta thấy thửa đất 5 nằm ở vị trí số 1 Căn
cứ Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND ngày 17/9/2015 của UBND tỉnh Bình Phước quyết định ban hành Quy định bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước dựa vào bảng đơn giá các loại đất làm căn cứ tính tiền bồi thường về đất
ta xác định được đơn giá bồi thường của thửa đất trên là 29.280 đồng/m2 Để tính tiền bồi thường ta lấy diện tích đất bị thu hồi của từng thửa nhân với đơn giá bồi thường về đất Tổng giá trị bồi thường cho hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn là 49.307.520 đồng Tương tự ta tính tiền hỗ trợ với tổng giá trị hỗ trợ của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn là 72.380.160 đồng
Căn cứ Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà, vật kiến trúc và cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước, trên thửa đất số 05 của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn có trồng 21 cây điều 14 năm tuổi với đơn giá bồi thường là 255.000 đồng/cây Để tính tiền bồi thường ta lấy số lượng cây nhân với đơn giá bồi thường về cây Tổng giá trị bồi thường là 5.355.000 đồng
* Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ cho gia ông Nguyễn Ngọc Thôn là 127.042.680 đồng
Trong thời hạn không quá 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày hoàn tất việc thẩm tra xác nhận của UBND xã Long Tân, Hội đồng bồi thường có trách nhiệm
Trang 37lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để trình thẩm định Nội dung được quy định tại Điều 28 Nghị định 47/2014/NĐ-CP và đính kèm với Bảng chiết tính
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án phối hợp với UBND
xã Long Tân tổ chức niêm yết công khai dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư của dự án và dự thảo Bảng chiết tính tại Trụ sở UBND xã Long Tân để người dân xem sau đó tổ chức họp lấy ý kiến của người dân để tiếp thu
và xử lí ý kiến đóng góp Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản
có xác nhận của UBND xã Long Tân, UBMTTQ xã Long Tân
Tổng hợp hồ sơ gửi Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Phú Riềng tiến hành thẩm định dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và dự thảo Bảng chiết tính tham mưu cho UBND huyện Phú Riềng ra Quyết định thu hồi đất và Quyết định Phê duyệt Phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư của dự
án
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản báo cáo về việc thẩm định phương án bồi thường của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng kiểm tra, hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi đất của hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng
Ngày 10/4/2017 UBND huyện Phú Riềng ra quyết định phê duyệt phương
án bồi thường số 2250/QĐ-UBND và ký quyết định thu hồi đất của ông Nguyễn Ngọc Thôn để thực hiện dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân trên địa bàn huyện Phú Riềng
Ngay sau khi có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, HĐBT có
trách nhiệm phối hợp với UBND xã Long Tân phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tại trụ sở UBND xã Long Tân; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ đến từng hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn
UBND huyện Phú Riềng ra Quyết định số 2356 ngày 17/4/2016 Quyết định thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân của ông Nguyễn Ngọc Thôn Đến ngày 12/5/2017 UBND huyện Phú Riềng tếp tục
ta Quyết định 2488/QĐ-UBND về việc phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ cho
hộ ông Nguyễn Ngọc Thôn để tiến hành thu hồi đất thực hiện dự án đường liên
xã Bù Nho - Long Tân Theo đó trong vòng mười (20) ngày sau khi nhận đủ số tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định, người có đất bị thu hồi phải bàn giao lại mặt bằng cho Nhà nước để hoàn thành dự án theo quy định
Qua quá trình xử lý hồ sơ của ông Nguyễn Ngọc Thôn về mặt trình tự, thời gian vẫn còn nhiều thiếu sót, chậm chễ trong quá trình tiến hành bồi thường xong về cơ bản cơ quan tiến hành thu hồi đất thực hiện trình tự, thủ tục xử lý hồ
sơ bồi thường theo đúng quy định của pháp luật về đất đai cho ông Đồng thời người có đất bị thu hồi chấp hành tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ nên việc bàn
Trang 38giao mặt bằng diễn ra thuận lợi mà không có bất kỳ khiếu nại nào diễn ra trong quá trình thu hồi đất
2.3.3.2 Xử lý một bộ hồ sơ cụ thể của hộ ông Kim Ngọc Tú đủ điều kiện bồi thường về tài sản (hồ sơ đính kèm tại phụ lục số II)
Theo như hồ sơ của ông Kim Ngọc Tú ở thôn Tân Phú, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, UBND huyện Phú Riềng tiến hành thu hồi 1.381,2m2 đất CLN của thửa đất số 01 và số 08 cùng thuộc tờ bản đồ số 01 của của hộ gia đình ông Kim Ngọc Tú tọa lạc tại xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước do ông Kim Ngọc Tú làm chủ được UBND xã giao đất nằm trong quy hoach rừng phòng hộ
Căn cứ vào Điều 69 Luật đất đai 2013 và Quyết định số UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước, các bước xử lí hồ sơ bồi thường về tài sản trên đất được tiến hành như sau:
13/2015/QĐ-Ngay khi quyết định Hội đồng bồi thường được thành lập, Hội đồng bồi thường tiến hành gửi mẫu “Bản tự kê khai đất và tài sản trên đất” đến hộ ông Kim Ngọc Tú Ông Tú có trách nhiệm thực hiện kê khai theo mẫu để phục vụ bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Nội dung kê khai:
* Về đất đai:
- Tổng số thửa đất bị thu hồi: 2 thửa
- Tổng diện tích đất bị thu hồi: 1.381,2 m2 thuộc đất nông nghiệp
Nguồn gốc và các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất: Đất được UBND xã giao nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ
- Về cây trồng: 35 cây điều
Ông Kim Ngọc Tú không có ý kiến,nguyện vọng gì thêm
Sau khi UBND huyện Phú Riềng ra thông báo thu hồi đất số UBND và số 13/TB-UBND ngày 13/01/2017 Thông báo thu hồi đất được gửi trực tiếp cho hộ ông Kim Ngọc Tú và niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã Long Tân
12/TB-Ngày 18/01/2017 tổ kiểm kê đã đến thửa đất số 01 và 08 tờ bản đồ số 01 thuộc quyền sử dụng của ông Kim Ngọc Tú tọa lạc tại xã Long Tân tiến hành khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, kiểm kê tài, sản hoa màu trên đất
Qua quá trình xác minh kiểm kê thực địa, tổ công tác kiểm kê lập biên bản xác định kết quả kiểm kê như sau:
Về đất: Tổng diện tích thu hồi của hộ ông Kim Ngọc Tú là 1.381,2 m2 thuộc tờ bản đồ số 01; Loại đất CLN; Hiện trạng: Diện tích trên toàn bộ thửa đất
đã trồng cây lâu năm
Về tài sản, cây trồng hoa màu có trên đất: 35 cây điều trên 20 năm tuổi
Trang 39Số liệu Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất do tổ kiểm đếm lập hoàn toàn trùng khớp với số liệu đã kê khai trước đó của ông Kim Ngọc Tú Hộ gia đình ông Kim Ngọc Tú đồng ý với kết quả kiểm kê Các bên đồng ý ký kết vào biên bản kiểm kê Kết thúc kiểm kê lập biên bản điều tra khảo sát có xác nhận của tổ công tác kiểm kê và chủ hộ ông Kim Ngọc Tú
Sau khi kiểm kê đất đai và tài sản trên đất, Hội đồng bồi thường xác định nguồn gốc đất thu hồi, xem xét hồ sơ của hộ ông Kim Ngọc Tú có đủ điều kiện bồi thường về đất hay không đủ điều kiện bồi thường về đất Qua xác minh nguồn gốc đất cho thấy: Năm 1996 ông Kim Ngọc Tú được UBND xã giao đất
để sử dụng thuộc hai thửa đất số 01, 08 tờ bản đồ số 01 của xã Long Tân
Căn cứ pháp lí để xem xét trường hợp hộ ông Kim Ngọc Tú: Căn cứ vào những quy định tại Điều 77, Điều 75, khoản 2 Điều 82 Luật Đất đai 2013; Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 08/6/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước và những giấy tờ pháp lí do ông Kim Ngọc Tú cung cấp gồm: 1 GCN QSDĐ và sổ hộ khẩu;
Kết quả xử lí: Đất bị thu hồi của hộ ông Kim Ngọc Tú là đất nông nghiệp
đã được UBND xã giao quản lý và người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại xã Long Tân, hộ ông Kim Ngọc Tú không thuộc trường hợp được bồi thường và hỗ trợ diện tích đất nông nghiệp thực tế bị Nhà nước thu hồi (theo Khoản 1, Điều 76 LĐĐ 2013 và Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ), do đó ông Kim Ngọc
Tú chỉ được bồi thường về cây trồng hoa màu có trên đất và giá bồi thường được tính theo đơn giá quy định của UBND tỉnh Bình Phước theo Quyết định số 68/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011
Việc xác định rõ nguồn gốc, căn cứ pháp lý để bồi thường đất và tài sản gắn liền với đất là cơ sở để lập phương án bồi thường hỗ trợ của dự án; Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Kim Ngọc Tú
Để tính giá bồi thường tài sản cho khu đất bị thu hồi của hộ ông Kim
Ngọc Tú, ta dựa vào các căn cứ pháp lý tính giá bồi thường cho khu đất bị thu
hồi: Căn cứ pháp lý tính giá bồi thường cho khu đất bị thu hồi: Căn cứ Quyết định phê duyệt phương án bồi thường của UBND tỉnh Bình Phước và đơn giá các loại cây trồng làm căn cứ tính tiền bồi thường về cây trồng của UBND tỉnh Bình Phước ban hành cho dự án và kết quả kiểm kê về đất trong biên bản kiểm
kê thu hồi đất của hộ gia đình ông Kim Ngọc Tú ta có bảng số liệu như sau:
Bảng 2.8 Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Kim Ngọc Tú
Tên loại cây Số lượng Đơn giá (đồng/cây) Thành tiền
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng)
Trang 40Kết quả tính tiền bồi thường: Qua bảng số liệu ta thấy cả hai thửa đất số
01, 08 nằm trong diện tích đất thu hồi toàn bộ đều là đất CLN (cây lâu năm) thuộc đất Nhà nước giao để quản lý Căn cứ Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ trong quá trình quản lý hộ ông Tú không trực tiếp sản xuất đất nên không được bồi thường và hỗ trợ về đất, chỉ được bồi thường về tài sản Vì vậy dựa vào bảng đơn giá các loại cây trồng làm căn cứ tính tiền bồi thường về cây trồng ta xác định được đơn giá bồi thường là 70.000 đồng/cây Để tính tiền bồi thường ta lấy số lượng cây có trên diện tích đất thu hồi nhân với đơn giá bồi thường về cây Tổng giá trị bồi thường cho hộ ông Kim Ngọc Tú là 2.450.000 đồng
Trong thời hạn không quá 20 (hai mươi) ngày, kể từ ngày hoàn tất việc thẩm tra xác nhận của UBND xã Long Tân, Hội đồng bồi thường có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để trình thẩm định Nội dung được quy định tại điều 28 Nghị định 47/2014/NĐ-CP và đính kèm với Bảng chiết tính
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án phối hợp với UBND
xã Long Tân tổ chức niêm yết công khai dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư của dự án và dự thảo Bảng chiết tính tại Trụ sở UBND xã Long Tân để người dân xem sau đó tổ chức họp lấy ý kiến của người dân để tiếp thu
và xử lí ý kiến đóng góp Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản
có xác nhận của UBND xã Long Tân, UBMTTQ xã Long Tân
Tổng hợp hồ sơ gửi Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Phú Riềng tiến hành thẩm định dự thảo Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và dự thảo Bảng chiết tính tham mưu cho UBND huyện Phú Riềng ra Quyết định thu hồi đất và Quyết định Phê duyệt Phương án bồi thường của dự án
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản báo cáo về việc thẩm định phương án bồi thường của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng kiểm tra, hoàn chỉnh hồ sơ thu hồi đất của hộ ông Kim Ngọc Tú theo quy định tại Khoản
1 Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Riềng
Ngày 10/4/2017 UBND huyện Phú Riềng ra quyết định phê duyệt phương
án bồi thường số 2250/QĐ-UBND và ký quyết định thu hồi đất của ông Kim Ngọc Tú để thực hiện dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân trên địa bàn huyện Phú Riềng
Ngay sau khi có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, HĐBT có
trách nhiệm phối hợp với UBND xã Long Tân phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở UBND xã Long Tân; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ đến hộ ông Kim Ngọc Tú, thông báo thời gian và
địa điểm cụ thể chi trả bồi thường
Ngày 17/4/2016 UBND huyện Phú Riềng ra Quyết định thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng đường liên xã Bù Nho - Long Tân số 2357/QĐ-UBND cho