Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng bậc nhất với mỗi quốc gia, là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc bi
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diện tích các loại đất huyện Cẩm Mỹ 17
Bảng 2.2: Thống kê diện tích các xã 24
Bảng 2.3: Cơ cấu SDĐ của toàn huyện 26
Bảng 2.4: Hiện trạng SDĐ nông nghiệp 27
Bảng 2.5: Hiện trạng SDĐ phi nông nghiệp 28
Bảng 2.6: Kết quả thực hiện KHSDĐ nông nghiệp kỳ trước 30
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện KHSDĐ phi nông nghiệp kỳ trước 32
Bảng 3.1: Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp năm 2018 43
Bảng 3.2: KHSDĐ phi nông nghiệp 2018 44
Bảng 3.3: Kế hoạch chuyển MĐSDĐ huyện Cẩm Mỹ năm 2018 46
Bảng 3.4: Kế hoạch thu hồi đất năm 2018 của huyện Cẩm Mỹ 47
Bảng 3.5: Danh mục công trình, dự án thực hiện trong năm 2018 48
Bảng 3.6: Diện tích chiếm đất của các công trình 49
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Mô hình phân khu chức năng đất đai trong không gian 7
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn 1
2.1 Mục tiêu 1
2.2 Nhiệm vụ 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
6 Bố cục luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QHSDĐ 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Đất đai, vai trò và đặc điểm của đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội 4
1.1.2 Quy luật phân vùng sử dụng đất đai 6
1.1.3 QH, KHSDĐ, đặc điểm của QHSDĐ 8
1.1.4 Nội dung QH, KHSDĐ cấp huyện 10
1.1.5 Nguyên tắc lập QHSDĐ 10
1.1.6 Công tác QHSDĐ ở nước ngoài và Việt Nam 11
1.1.7 Những bất cập trong hệ thống QHSDĐ 13
1.2 Căn cứ pháp lý lập KHSDĐ 14
1.2.1 Các văn bản pháp luật của Trung ương 14
1.2.2 Các văn bản liên quan đến công tác lập KHSDĐ năm 2018 của địa phương 14
Tiểu kết chương1: 15
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QHSDĐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI 16
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Cẩm Mỹ 16
Trang 42.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
2.1.2 Các nguồn tài nguyên 17
2.1.3 Thực trạng môi trường 19
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 19
2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 23
2.2 Tình hình quản lý SDĐ huyện Cẩm Mỹ 24
2.2.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ và tổ chức thực hiện 24
2.2.2 Quản lý đất đai theo địa giới hành chính 24
2.2.3 Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính 24
2.2.4 Công tác QH, KHSDĐ 25
2.2.5 Quản lý việc giao, cho thuê, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ 25
2.2.6 Đăng ký quyền SDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ 25
2.2.7 Tình hình thống kê, kiểm kê đất đai 26
2.2.8 Tình hình tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý SDĐ 26
2.3 Đánh giá thực trạng công tác QHSDĐ trên địa bàn huyện 26
2.3.1 Đánh giá hiện trạng SDĐ 26
2.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện KHSDĐ kỳ trước 30
2.3.3 Phân tích những mặt đạt được và tồn tại trong phương án KH kỳ trước 34
Tiểu kết chương 2: 35
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KHSDĐ NĂM 2018 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI 36
3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 36
3.1.1 Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36
3.1.2 Chỉ tiêu phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 36
Trang 53.1.3 Chỉ tiêu QH phát triển các ngành kinh tế 36
3.1.4 Chỉ tiêu dân số, lao động, việc làm và thu nhập 37
3.1.5 Chỉ tiêu phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 37
3.2 Xây dựng kế hoạch sử dụng đất 2018 38
3.2.1 Dự báo nhu cầu sử dụng đất trong năm kế hoạch 38
3.2.2 Khả năng đáp ứng về số lượng, chất lượng đất đai cho nhu cầu SDĐ 43
3.2.3 Diện tích phân bổ cho các mục đích sử dụng 43
3.2.4 Diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng trong năm 2018 46
3.2.5 Diện tích các loại đất cần thu hồi trong năm 2018 47
3.2.6 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng 48
3.2.7 Danh mục công trình, dự án thực hiện trong năm 2018 của huyện Cẩm Mỹ 48
3.3 Xác định các giải pháp tổ chức thực hiện KHSDĐ 2018 55
3.3.1 Giải pháp tổ chức thực hiện 55
3.3.2 Giải pháp về chính sách hỗ trợ 57
Tiểu kết Chương 3 58
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng bậc nhất với mỗi quốc gia, là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống,
là địa bàn phân bố dân cư, công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
Ngày nay quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh, cùng với sức ép
về dân số, nhu cầu về đất ở, đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng tăng, đòi hỏi phải có biện pháp phân bổ đất hợp lý, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Vì thế QH, KHSDĐ được xem như chìa khóa quan trọng để tổ chức lại việc SDĐ, tránh gây lãng phí tài nguyên đất đai
Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đơn vị hành chính, QHSDĐ được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập QH và KHSDĐ chi tiết của mình, tạo cơ sở pháp lý để bố trí SDĐ hợp lý, có hiệu quả cao, bảo
vệ cảnh quan môi trường đồng thời đáp ứng được yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, việc lập QH và KHSDĐ là yêu cầu cấp thiết đối với mọi cấp địa bàn lãnh thổ
Huyện Cẩm Mỹ với vị trí vô cùng thuận lợi khi nằm gần các công trình lớn của vùng, quốc gia dự kiến đầu tư như: sân bay quốc tế Long Thành, cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây, cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt, đường sắt cao tốc, huyện lộ 10 sẽ là điều kiện để huyện đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Vì thế, xây dựng KHSDĐ có ý nghĩa then chốt khi phân bổ quỹ đất hiện có một cách tiết kiệm, hiệu quả đổng thời cụ thể hóa QHSDĐ đến năm 2020 của huyện, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tạo cơ sở để huyện tranh thủ tối đa sự hỗ trợ từ bên ngoài đồng thời nâng cao cơ sở vật chất tinh thần phục vụ cho cuộc sống người dân
Xuất phát từ những vấn để trên, được sự đồng ý của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã đi vào thực hiện nghiên
cứu đề tài: “Xây dựng kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn huyện cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
2.1 Mục tiêu
- Kiểm kê đánh giá thực trạng SDĐ để có kế hoạch và phương án sử dụng thích hợp cho mỗi loại đất, theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 7- Xây dựng phương án SDĐ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên nguyên tắc sử dụng đầy đủ, hiệu quả cao và lâu bền tài nguyên đất đai
- Xác lập hệ thống các giải pháp về SDĐ phục vụ cho phát triển kinh tế -
xã hội, trong đó có tính toán đáp ứng nhu cầu SDĐ của các ngành kinh tế trên
địa bàn
2.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về QH, KHSDĐ cấp huyện
- Đánh giá, phân tích hiện trạng SDĐ, kết quả thực hiện KHSDĐ năm
2017 để làm cơ sở cho việc xây dựng KHSDĐ năm 2018 trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ tỉnh Đồng Nai
- Xác định các chỉ tiêu SDĐ cấp tỉnh phân bổ
- Xác định nhu cầu SDĐ cho các ngành, lĩnh vực đến năm 2018 và phân
bổ đến từng đơn vị hành chính cấp xã
- Tổng hợp, cân đối các chỉ tiêu SDĐ cho các ngành, lĩnh vực đến năm
2018, phân bổ chỉ tiêu SDĐ trong kỳ kế hoạch và tiến hành xây dựng bản đồ KHSDĐ 2018 từ bản đồ hiện trạng
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đất đai, công tác xây dựng KHSDĐ năm 2018 trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
+ Phạm vi thời gian: xây dựng KHSDĐ năm 2018
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra và thu thập số liệu: thu thập các số liệu về điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng SDĐ, tình hình thực hiện kế hoạch kỳ
trước
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: sau khi thu thập các tài liệu đã thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân tích đanh giá về điều kiện tự nhiên, tình hình SDĐ…
- Phương pháp thống kê: thống kê các số liệu về diện tích đất đã thu thập được để đánh giá hiện trạng SDĐ, việc thực hiện KHSDĐ; làm căn cứ để lập KHSDĐ kỳ tiếp theo
- Phương pháp dự báo: dùng để dự báo quy mô dân số, chuyển dịch cơ cấu SDĐ, dự báo nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực Đây là một nội dung quan trọng, là cơ sở để lập KHSDĐ
Trang 8- Phương pháp kế thừa: kế thừa các số liệu, tài liệu, bản đồ, các báo cáo tổng hợp có liên quan đến nội dung lập QH, KH trên địa bàn huyện, các luận văn xây dựng KHSDĐ của các năm trước
- Phương pháp ứng dụng công nghệ số: sử dụng các phần mềm như GIS, Mapinfo, Microstation để xây dựng hoàn thiện bản đồ KHSDĐ từ bản đồ hiện trạng đã có
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của những người có chuyên môn về đề tài nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
➢ Đối với sinh viên
- Trau dồi kiến thức về xây dựng phương án KHSDĐ, củng cố lại phần lý thuyết đã học trên trường lớp, đồng thời bổ sung, cập nhật những biến động mới nhất ngoài thực tế nhằm hoàn thiện vốn kiến thức đã học;
- Trau dồi và nâng cao khả năng thực hành với các phần mềm chuyên dụng như MicroStation v8i, Map info, Arcgis;
- Làm quen với các công việc cụ thể trong xây dựng KHSDĐ như thu thập số liệu, xử lý số liệu, dự báo nhu cầu SDĐ, xây dựng hệ thống bảng biểu, xây dựng phương án KHSDĐ
➢ Đối với địa phương
- Làm cơ sở để quản lý SDĐ theo pháp luật (giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất )
- Nhằm đáp ứng nhu cầu SDĐ để phát triển các ngành, các mục đích dân sinh và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2018;
- Đảm bảo sử dụng tài nguyên đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao trên
cơ sở đánh giá thực trạng và tiềm năng đất đai của huyện Đồng thời cải tạo, bảo
vệ môi trường sinh thái nhằm phát triển và SDĐ bền vững
6 Bố cục luận văn
Mở đầu;
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quy hoạch sử dụng đất;
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác QHSDĐ trên địa bàn huyện Cẩm
Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
Chương 3: Xây dựng KHSDĐ năm 2018 trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
Kết luận
Trang 9Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau:
“đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy, ) Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa )”
Như vậy, “đất đai” là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khóang sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, đại hình, thuỷ văn,thảm thực vật cùng các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý
nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài
người
Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác Đất đai cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi măng, gốm sứ
Để hiểu rõ hơn về khái niệm đất đai cần phải phân biệt rõ các khái niệm khác nhau giữa lãnh thổ, đất và đất đai:
- Đất đai là kết quả của mối quan hệ tổng hoà giữa đất và hoạt động kinh
tế xã hội của con người trong cộng đồng dân tộc trên một lãnh thổ nhất định; về mặt không gian thì đất đai bao gồm cả phần bề mặt với không gian bên trên và
bề sâu trong lòng đất Đất đai thuộc phạm trù địa lý - kinh tế
- Lãnh thổ được hiểu là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc trong một không gian và thời gian xác định, lãnh thổ thuộc phạm trù địa lý - dân tộc
- Đất là lớp bề mặt trái đất hiểu theo nghĩa rộng hơn so với khái niệm thổ nhưỡng, đất thuộc phạm trù địa lý tự nhiên
Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, con người và đất ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định và đất đai chính là kết quả của sự gắn kết ấy Như vậy đất đai là một phạm trù thể hiện mối quan hệ tổng hòa giữa hoạt động kinh tế - xã hội của con người với đất, lớp bề mặt trái đất trên một
Trang 10lãnh thổ nhất định Bề mặt trái đất với phần bề sâu trong lòng đất và phần không gian bên trên được sử dụng vào các mục đích trong các ngành nghề khác nhau của nền kinh tế quốc dân
Đất đai có thuộc tính tự nhiên và thuộc tính xã hội
- Thuộc tính tự nhiên: bao gồm các đặc tính không gian như diện tích, hình thể, chiều dài, chiều rộng và vị trí cùng với các đặc điểm về địa chất, địa chấn, địa hình, địa mạo và các tính chất sinh lý hóa của đất Đây là các đặc tính phản ánh chất lượng tự nhiên của đất đai đáp ứng các nhu cầu vật chất của con người
- Thuộc tính xã hội: là vị thế của đất đai - là hình thức đo sự mong muốn
về mặt xã hội gắn với đất đai tại một vị trí nhất định Vị thế được hiểu là tổng hòa các quan hệ xã hội được hình thành từ những tương tác thị trường và phi thị trường Vị thế xã hội của đất đai đáp ứng các nhu cầu xã hội của con người
Đất đai có khả năng tái tạo và nâng cao chất lượng tự nhiên và vị thế xã hội thông qua hoạt động đầu tư của con người Ví dụ, đầu tư cải tạo độ phì của đất, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đầu tư tiếp thị quảng cáo bất động sản,…
1.1.1.2 Vai trò
Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của
xã hội loài người
Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau :
Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng
dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất
Trong các ngành nông-lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu kỹ thuật vật chất - văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng
cơ bản - SDĐ
Mục đích SDĐ nêu trên biểu lộ rõ nét trong các khu vực kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho mối quan hệ giữa
Trang 11người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của con người trong quá trình SDĐ đã dẫn đến huỷ hoại mội trường đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề SDĐ càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu
Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên
mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia
1.1.2 Quy luật phân vùng sử dụng đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất, là cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất
và là không gian phát triển đô thị đất đai là không gian phân bố các hoạt động
kinh tế - xã hội của con người Các hoạt động này diễn ra trên bề mặt trái đất
nhưng lại có tính tập trung, mà từ đó hình thành các trung tâm và hệ thống vị trí trung tâm với các cấp độ cao thấp khác nhau
Vị trí trung tâm là điểm nút trao đổi thông tin, hàng hóa và dịch vụ nhằm giảm thiểu chi phí lưu thông, chi phí xây dựng mạng lưới hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong không gian, cũng như sự mất mát thông tin và suy giảm giá trị sản phẩm hàng hóa theo thời gian
Các vị trí trung tâm phân bố tương đối với nhau trong không gian theo nguyên tắc thị trường, nguyên tắc giao thông và nguyên tắc hành chính hình thành hệ thống vị trí trung tâm
Trong thực tế hệ thống vị trí trung tâm theo nguyên tắc thị trường tạo ra
sự thuận lợi về khoảng cách cung ứng hàng hóa và dịch vụ, nhưng lại không thuận tiện trong việc xây dựng hệ thống giao thông giữa các vị trí; hệ thống vị trí trung tâm theo nguyên tắc giao thông tạo ra sự thuận lợi trong việc xây dựng mạng lưới giao thông nối liền các vị trí trung tâm các cấp độ khác nhau vì vậy
hệ thống này là phổ biến
Do tính hướng tâm của tất cả mọi người tiêu dùng, các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ mà hình thành các phân vùng SDĐ khác nhau Xem xét trường hợp không gian có một trung tâm có các phân vùng sử dụng: thương mại,dịch
vụ, dân cư, công nghiệp và nông lâm nghiệp Lý thuyết về phân vùng chức năng
sủ dụng đất đai được nghiên cứu trước tiên bởi Von Thunen (1826), phát triển bởi William Alonso (1964) và sau đó được hoàn thiện bởi Hoàng Hữu Phê (2000)
Cả 2 ông Von Thunen (lý giải phân vùng đất đai nông nghiệp) và William Alonso (lý giải phân vùng đất đai đô thị) đều dựa theo chi phí vận tải hàng hóa
và dịch vụ đến vị trí trung tâm để trao đổi, rút ra kết luận giá đất, mục đích SDĐ
và khoảng cách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Các phân vùng chức năng hình thành từ sự cạnh tranh trên thị trường giữa các loại hình sử dụng có hàm chi phí vận tải khác nhau Các loại hình sản xuất
có chi phí vận tải lớn cạnh tranh ở gần vị trí trung tâm, chi trả cho việc thuê đất
Trang 12với giá cạnh tranh cao hơn từ khoản chi phí vận tải tiết kiệm được Các phân vùng SDĐ tại các khoảng cách khác nhau trong không gian được thể hiện ở hình 1.1.
Hình 1.1: Mô hình phân khu chức năng đất đai trong không gian
Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của Edward Glaeser (Đại học Havard) cho thấy trong thời kỳ hiện đại cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông và các phương tiện vận tải thì chi phí vận tải hàng hóa và dịch vụ có mức giảm lớn, chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu giá cả tiêu thụ hàng hóa và dịch
vụ, do vậy chi phí vận tải không còn là yếu tố đóng vai trò quyết định chi phối quá trình phân vùng chức năng đất đai trong không gian
Như vậy yếu tố ảnh hưởng đến phân vùng chức năng đất đai theo Hoàng Hữu Phê chính là sự cạnh tranh về vị thế xã hội của đất đai
Mỗi loại hình kinh doanh có nhu cầu khác nhau về vị thế xã hội và chất lượng tự nhiên của đất đai Loại hình kinh doanh thương nghiệp và cung ứng dịch vụ thì có nhu cầu cao về vị thế, còn kinh doanh sản xuất công nghiệp và nông nghiệp thì có nhu cầu về chất lượng tự nhiên cao hơn Các cá nhân người tiêu dùng và đơn vị kinh doanh sẽ lựa chọn vị trí định cư và nơi sản xuất có vị thế đất đai phù hợp với vị thế xã hội của mình Người có vị thế xã hội cao hơn thì có mức thu nhập tương ứng cao hơn, khả năng chi trả cho việc thuê đất với mức giá cao hơn Giá đất, mục đích sử dụng và vị thế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 131.1.3 QH, KHSDĐ, đặc điểm của QHSDĐ
1.1.3.1 Khái niệm
Theo Luật Đất đai 2013:
- QHSDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian SDĐ
cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi
trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu
SDĐ của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành
chính trong khoảng thời gian nhất định
- KHSDĐ là việc phân chia QHSDĐ theo thời gian để thực hiện trong kỳ QHSDĐ
1.1.3.2 Đặc điểm của QHSDĐ
QHSDĐ thuộc loại QH có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính
chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, tính chính sách và tính khả biến Các đặc điểm của QHSDĐ được thể hiện như sau:
- Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của QHSDĐ Mỗi
hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện
theo 2 mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong QHSDĐ, luôn nảy
sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên, cũng như quan hệ giữa
người với người QHSDĐ thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, QHSDĐ mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện
mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để
mua, bán, phát canh thu tô )
Ở nước ta hiện nay, QHSDĐ phục vụ nhu cầu của người SDĐ và quyền lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh
tế thị trường, QHSDĐ góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình SDĐ, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
- Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của QHSDĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tượng của
QH là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
Trang 14Với đặc điểm này, QH có tính chất tổng hợp toàn bộ nhu cầu SDĐ; điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối
phương hướng, phương thức phân bố SDĐ phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội
bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
- Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế
xã hội quan trọng (như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ) từ đó xác định QH trung và dài hạn về SDĐ, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng KHSDĐ hàng năm và ngắn hạn
QH dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã
hội Cơ cấu và phương hướng SDĐ được điều chỉnh từng bước trong thời gian
dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được
mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp SDĐ để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của QHSDĐ thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ SDĐ Vì vậy, QHSDĐ là
QH mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của QH mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về SDĐ của các ngành như:
+ Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc SDĐ trong vùng;
+ Cân đối nhu cầu SDĐ của các ngành;
+ Điều chỉnh cơ cấu SDĐ và phân bổ đất đai trong vùng;
+ Phân định ranh giới và các hình thức quản lý SDĐ trong vùng;
+ Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng SDĐ
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, ảnh hưởng của nhiều nhân tố
kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu QH càng khái lược hóa, QH sẽ còn ổn
định
- Tính chính sách
QHSDĐ thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các
mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã
hội Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
Trang 15- Tính khả biến
Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và
tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp
Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện QH và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết
Điều đó thể hiện tính khả biến của QH - QHSDĐ luôn là QH động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “QH - thực hiện - QH lại hoặc chỉnh lý - tiếp
tục thực hiện…” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.1.4 Nội dung QH, KHSDĐ cấp huyện
a) Định hướng SDĐ 10 năm;
b) Xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong QHSDĐ cấp tỉnh
và diện tích các loại đất theo nhu cầu SDĐ của cấp huyện và cấp xã;
c) Xác định các khu vực SDĐ theo chức năng sử dụng đến từngđơn vị hành chính cấp xã;
d) Xác định diện tích các loại đất đã xác định tại điểm b khoản này đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
đ) Lập bản đồ QHSDĐ cấp huyện; đối với khu vực QH đất trồng lúa, khu vực QH chuyển mục đích SDĐ quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai 2013 thì thể hiện chi tiết đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
e) Giải pháp thực hiện QHSDĐ
1.1.5 Nguyên tắc lập QHSDĐ
- Phù hợp với chiến lược, QH tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh;
- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; QHSDĐ của cấp dưới phải phù hợp với QHSDĐ của cấp trên; KHSDĐ phải phù hợp với QHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt QHSDĐ cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc
thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; QHSDĐ cấp huyện phải thể hiện nội
dung SDĐ của cấp xã;
- SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả;
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu;
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Dân chủ và công khai;
- Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường;
Trang 16- QH, KH của ngành, lĩnh vực, địa phương có SDĐ phải bảo đảm phù hợp với QH, KHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
1.1.6 Công tác QHSDĐ ở nước ngoài và Việt Nam
1.1.6.1 Công tác QHSDĐ ở nước ngoài
* Áo: Ở Áo, vai trò của Chính phủ bị hạn chế trong việc lập và thực hiện
QH Cơ chế tiến hành ở đây là tất cả các cấp lập QH đều tiến hành đồng thời bao gồm cả các tổ chức cũng như thành viên xã hội thông qua hội nghị QH quốc gia Hội nghị này đưa ra các quan điểm và mục tiêu cho cả nước Những ý kiến của hội nghị được đưa lên cấp trung ương và đưa xuống cấp vùng địa phương
* Đức: Ở Đức có cách tiếp cận theo giai đoạn Chính phủ Liên bang cùng
với sự tham gia của các bang đưa ra hướng dẫn QH theo vùng Các hướng dẫn này được sử dụng làm điểm xuất phát để trao đổi ở cấp bang sau đó được xây dựng thành đồ án tác nghiệp ở cấp vùng
* An-giê-ri: QHSDĐ ở An-giê-ri được xây dựng trên nguyên tắc nhất thể
hóa, liên hợp hóa và kỷ luật đa phía Trong toàn bộ quá trình QH có sự tham gia đầy đủ của các địa phương liên quan, các tổ chức ở cấp chính phủ, tổ chức nhà nước, các cộng đồng và tổ chức nông gia Ở nước này, Chính phủ có trách nhiệm ngay từ đầu đối với những quan hệ ở tầm vĩ mô còn công chúng - người
có liên quan tới các hành vi lập QH giữ một vị trí quan trọng
* Philipine: tồn tại ba cấp QH
- Cấp quốc gia: Hình thành những hướng dẫn chỉ đạo chung;
- Cấp vùng: Triển khai một khung chung cho QH cấp vùng;
- Cấp quận, huyện chịu trách nhiệm triển khai các đồ án tác nghiệp
Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc thống nhất giữa các ngành và các quan hệ giữa các cấp lập QH khác nhau, đồng thời cũng tạo điều kiện để các chủ SDĐ tham gia Ở Philipin nhấn mạnh vai trò luật pháp cả ở cấp quốc gia và cấp vùng
* Nam Phi: Đã thiết lập đồ án QH mặt bằng ở cấp quốc gia do Chính phủ
thiết kế với sự tham gia của Chính quyền các tỉnh Đồ án QH cấp quốc gia này được coi là căn cứ cho chính quyền cấp tỉnh soạn thảo các đồ án chi tiết hơn với
sự kết hợp của các đơn vị chính quyền cấp thấp hơn Các đồ án QH tiếp theo (cấp quận, huyện) được xây dựng với sự tham gia của các chủ SDĐ
* Đài Loan: Đài Loan chủ trương lập QHSDĐ theo từng cấp khác nhau,
từng vùng khác nhau và tùy thuộc vào tính chất yêu cầu của QHSDĐ đai trong từng giai đoạn và các cấp QH được tiến hành như sau:
- QH phát triển tổng hợp khu vực Đài Loan;
- QHSDĐ theo vùng;
- QH phát triển tổng hợp của huyện, thành phố;
Trang 17- QH đô thị;
- QHSDĐ phi đô thị
1.1.6.2 Công tác QHSDĐ ở Việt Nam
* Thời kỳ trước những năm 1980
QHSDĐ chưa được coi là công tác của ngành quản lý đất đai mà chỉ được
đề cập đến như là một phần của QH phát triển nông nghiệp Mặc dù công tác QHSDĐ lồng vào công tác phân vùng QH nông, lâm nghiệp đã được xúc tiến vào năm 1962 nhưng chủ yếu là do các ngành chủ quản tiến hành cùng với một
số tỉnh, ngành có liên quan và chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ
Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, nước ta đã soạn thảo và được Chính Phủ phê duyệt phương án phân vùng sản xuất nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm sản theo bảy vùng và trên địa bàn lãnh thổ là cấp tỉnh
Các phương án phân vùng nông lâm nghiệp của tỉnh đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên trong đó có tính toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên, do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển nông lâm nghiệp nên các loại đất khác chưa được đề cập tới Bên cạnh đó, do còn thiếu nhiều tài liệu, chưa tính được khả năng đầu tư nên các phương án này
có tính khả thi không cao
* Thời kỳ 1981-1986
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 đã chỉ rõ: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau” Thực hiện nghị quyết này, các bộ ngành, tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất tại Việt Nam đến năm 2000 Cũng trong thời kỳ này, hầu hết 500 huyện của cả nước đã tiến hành xây dựng QH tổng thể của huyện
Trong các tài liệu sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất của tỉnh đều đề cập đến vấn đề SDĐ và được tính toán tương đối có hệ thống để khớp với cả nước, các vùng kinh tế lớn, các huyện trong tỉnh với sự tham gia phối hợp của các ngành Các tài liệu này đã bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng đất đai
và đưa ra các dự kiến sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000
* Thời kỳ Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm
1993
Đây là thời kỳ công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã có được cơ sở pháp
lý quan trọng Song cùng với sự trầm lắng của công tác QH nói chung sau một thời kỳ triển khai rầm rộ, công tác QHSDĐ cũng chưa được xúc tiến như luật đã quy định Nguyên nhân của vấn đề này là do nền kinh tế Việt Nam trong thời gian này đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn lao khi chuyển sang
cơ chế thị trường
Trang 18Tuy vậy, đây là thời kỳ công cuộc đổi mới ở nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho nông dân và thưc thi các chính sách đổi mới khác Công tác QH cấp xã trong giai đoạn này nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất,… Đây là mốc đầu tiên trong việc triển khai QHSDĐ đai cấp
xã trên khắp các xã của cả nước Tuy vậy còn nhiều hạn chế về nội dung và phương pháp thực hiện
* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 1993
Sau đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, QH tổng thể kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các vùng kinh tế và hầu hết ở các bộ ngành Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đều tính đến năm 2010 Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu, triển khai công tác QHSDĐ đai trên phạm
vi cả nước được các ngành, các cấp và mọi thành viên trong xã hội hưởng ứng
Đặc biệt từ năm 1995, Chính phủ đã chỉ đạo công tác quy hoạch sử dụng đất đai một cách chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Trong thời gian này, Tổng cục địa chính (cũ) đã xây dựng báo cáo QH, KHSDĐ của cả nước đến năm 2010 để chính phủ trình ra quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ 10 và 11 Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua KHSDĐ cả nước giai đoạn 1996-2000 Đây là lần đầu tiên, có một báo cáo về QH, KHSDĐ tương đối đầy đủ các khía cạnh về chính trị, kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường đối với việc khai thác SDĐ cho một thời gian tương đối dài được soạn thảo theo phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới và có điều tra thống kê để tổng hợp từ dưới lên Cùng với báo cáo
QH, KHSDĐ cả nước, tới nay đã có nhiều tỉnh soạn thảo và triển khai QH, KHSDĐ Các phương án quy hoạch này ngày càng được đảm bảo tốt hơn các yêu cầu về nội dung khoa học và pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra
Tóm lại, cùng phát triển của nền kinh tế - xã hội, sự thay đổi của Luật đất đai, công tác QHSDĐ ở nước ta đã không ngừng được hoàn thiện và đã đem lại được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào quá trình quản lý và SDĐ hiệu quả, bền vững đồng thời thúc đẩy sự phát triển một cách tích cực của nền sản xuất xã hội
1.1.7 Những bất cập trong hệ thống QHSDĐ
Công tác lập, triển khai QH, KHSDĐ về cơ bản ngày càng hoàn thiện và đạt được kết quả tích cực nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong thực tế
Công tác lập, thẩm định, phê duyệt QH chưa phù hợp về thời gian, nội dung với QHSDĐ, QH hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Chất lượng của nhiều
QH còn thấp, thiếu đồng bộ trong SDĐ cũng như chưa đầy đủ căn cứ pháp lý thể hiện ở việc các QH phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần
Việc không đồng nhất các chỉ tiêu thống kê các loại đất dẫn đến việc đánh giá các chỉ tiêu thực hiện QH không đầy đủ, chính xác Chỉ tiêu phê duyệt chưa
Trang 19đảm bảo diện tích đất tối thiểu so với quy chuẩn xây dựng về giao thông, y tế, giáo dục…Nhiều địa phương còn gặp khó khăn, bị động khi giải quyết đối với trường hợp biến động các chỉ tiêu SDĐ trong quá trình thực hiện so với các chỉ tiêu QH, kế hoạch được duyệt, phát sinh các dự án, công trình chưa có trong KHSDĐ hàng năm cấp huyện Hay, một số hạng mục công trình đã có trong chỉ tiêu KHSDĐ hàng năm nhưng cơ quan chủ đầu tư chưa lập xong dự án và hồ sơ đất đai, phải lùi tiến độ thực hiện
Công tác quản lý thực hiện QH còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ chế, nhiều nơi bị buông lỏng, thiếu sự phân cấp, phân công hợp lý về chức năng đối với các sở chuyên ngành như xây dựng, QH – kiến trúc và UBND các quận, huyện trong quản lý, theo dõi việc lập, thẩm định, trình duyệt và thực hiện QH
Công tác lấy ý kiến của nhân dân về QH, KHSDĐ chưa thực sự được chú trọng Tình trạng QH “treo” còn phổ biến Trên cả nước vẫn còn hàng ngàn dự
án “treo” chưa được thu hồi Việc xử các dự án sau khi thu hồi cũng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Sau khi chấm dứt pháp lý dự án, trả lại quyền lợi hợp pháp cho người dân nhưng trên thực tế, do chủ đầu tư đền bù, giải phóng mặt bằng không liền thửa, liền khoảnh nên cả người dân lẫn doanh nghiệp đều khó để sử dụng phần đất của mình, chính quyền cũng khó điều chỉnh QH Bên cạnh đó, dù là hủy bỏ dự án nhưng QH không thay đổi nên người dân không dám xây dựng kiên cố hay đầu tư sản xuất lâu dài vì lo nhà nước thực hiện QH
sẽ không được bồi thường do không có các chính sách đối với người dân sau khi thu hồi dự án “treo” hoặc các QH chậm thực hiện
1.2 Căn cứ pháp lý lập KHSDĐ
1.2.1 Các văn bản pháp luật của Trung ương
- Luật Đất đai 2013;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 5 năm 2014
quy định chi tiết thị hành một số điều Luật Đất đai;
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường
ngày 02/06/2014 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh QH, KHSDĐ;
- Thông tư 09/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 23/03/2015 ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật lập, điều chỉnh QH, KHSDĐ
- Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ, thu hồi đất
1.2.2 Các văn bản liên quan đến công tác lập KHSDĐ năm 2018 của địa phương
- Công văn số 3221/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 05/08/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Lập KHSDĐ năm 2017;
Trang 20- Quyết định số 3766/QĐ-UBND ngày 08/11/2016 của UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt Đề cương và dự toán kinh phí Lập KHSDĐ năm 2017 huyện Cẩm Mỹ;
- Công văn số 8856/UBND-CNN ngày 26/09/2016 của UBND tỉnh về việc Lập KHSDĐ năm 2017
- Các văn bản, chủ trương của UBND tỉnh về triển khai các dự án trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ;
Tuy nhiên, công tác QH, KHSDĐ ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định cần phải đưa ra những giải pháp kịp thời để giải quyết cho công tác QH, KHSDĐ được hoàn chỉnh đúng với vai trò vốn có của nó
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QHSDĐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Cẩm Mỹ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cẩm Mỹ nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai Ranh giới Huyện tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp TX Long Khánh và Xuân Lộc,
- Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
- Phía Đông giáp huyện Xuân Lộc và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
- Phía Tây giáp huyện Long Thành
Diện tích tự nhiên toàn Huyện 46.445 ha, dân số năm 2017 khoảng 157 ngàn người, được chia thành 12 xã (Xuân Mỹ, Nhân Nghĩa, Sông Nhạn, Thừa Đức, Xuân Quế, Xuân Đường, Sông Ray, Bảo Bình, Xuân Đông, Lâm San, Xuân Bảo, Xuân Tây) và thị trấn Long Giao
Trên địa bàn có Quốc lộ 56 chạy qua, nối kết huyện với TX Long Khánh
và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trung tâm huyện nằm ở thị trấn Long Giao (ngã ba giao giữa quốc lộ 56 và hương lộ 10), nên có lợi thế về không gian phát triển, kết nối giao lưu kinh tế với các địa phương và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Đặc biệt khi sân bay quốc tế Long Thành được xây dựng và đi vào hoạt động thì tuyến hương lộ 10 sẽ là trục giao thông chính để vận chuyển khách từ sân bay về các tỉnh Nam Trung bộ và ngược lại, đồng thời sẽ tạo điều kiện cho các xã nằm trên trục đường này như Thừa Đức, Xuân Đường, Long Giao có điều kiện thuận lợi
để đẩy mạnh phát triển dịch vụ
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Có 3 dạng địa hình chính là: địa hình núi, đồi thoải lượn sóng và các dải đất tương đối bằng ven sông
- Địa hình núi: Phân bố rải rác thành các ngọn núi độc lập có độ dốc lớn (núi Hàng Gòn và núi Cam Tiên ở thị trấn Long Giao), diện tích chiếm khoảng 2% tổng diện tích toàn huyện, không thích hợp với sản xuất nông nghiệp chỉ
triển nông nghiệp với các loại hình cây lâu năm Tuy nhiên trên các khu vực có
trạng xói mòn đất trong mùa mưa
Trang 22- Địa hình bằng ven suối: Phân bố thành các dải dài ven Sông Ray, chiếm
nguồn nước mặt, mực nước ngầm nông, một số khu vực đất thấp thường bị ngập vào các tháng mưa lớn Hầu hết diện tích trên dạng địa hình này đã được sử dụng trồng lúa và các loại cây ngắn ngày
2.1.1.3 Khí hậu
Huyện Cẩm Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, với những đặc trưng chính như sau:
Năng lượng bức xạ dồi dào, nắng nhiều, nhiệt độ cao đều quanh năm
rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Lượng mưa lớn (trung bình từ 1.956-2.139 mm/năm) Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 kết thúc vào tháng 11 Hạn chế rõ nét nhất trong chế độ mưa
ở đây là thường có những đợt hạn ngắn vào đầu vụ hè thu, mưa nhiều và mưa to vào thời kỳ từ tháng 7 đến tháng 9, kết hợp với ẩm độ không khí cao, số giờ nắng giảm nên năng suất cây ngắn ngày trong vụ này thường thấp Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4, do bị mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân ẩm nên để tiến hành sản xuất cần phải có tưới và khi đã cung cấp đủ nước thì sản xuất thường cho hiệu quả cao và ổn định
2.1.2 Các nguồn tài nguyên
729 22.098 22.017
45
1,57 47,58 47,40 0,10
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai)
Toàn Huyện có 4 nhóm đất chính, đặc điểm của từng nhóm đất như sau:
Trang 23- Nhóm đất đá bọt (AN-Andosols): Đất đá bọt núi lửa là loại đất tốt, nhưng có diện tích nhỏ (729 ha), phân bố trong phạm vi hẹp thuộc các xã Xuân Bảo, Bảo Bình,
- Nhóm đất đỏ (Ferasols-FR): Đất đỏ có diện tích lớn (chiếm 47,58% tổng
diện tích) Phân bố hầu hết ở các xã phía Tây (Nhân Nghĩa, Long Giao, Xuân
Mỹ, Xuân Đường…) Hầu hết có tầng dày >100cm, độ phì cao Trên các chân đất này, hiện đang sản xuất cây công nghiệp dài ngày (cà phê, cao su, điều) và cây ăn quả
- Đất nâu thẫm (Luvisols - LV): Đất nâu thẫm có vai trò quan trọng trong
phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Cẩm Mỹ Nhóm đất này có diện tích lớn, chiếm 47,40% tổng diện tích toàn huyện Phân bố tập trung ở các xã vùng Sông Ray Hiện là địa bàn sản xuất cây lương thực trọng điểm của huyện, với các loại cây ngắn ngày cho năng suất cao như: bắp, đậu đỗ, mía, lúa nước Yếu
tố hạn chế chính của nhóm đất này là kết von và một số diện tích có tầng đá nông
- Đất tầng mỏng (LP): Nhóm đất tầng mỏng chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng
diện tích toàn huyện (45 ha), phân bố ở xã Xuân Mỹ Nhóm đất tầng mỏng chủ yếu được hình thành trên địa hình núi với mẫu chất là đá granit, số ít trên đá bazan Chất lượng đất kém, bị thoái hóa nghiêm trọng, chỉ dành cho trồng rừng hoặc cây có độ che phủ thay thế cây rừng
2.1.2.2 Tài nguyên nước
a Nước mặt:
Phần lớn sông suối trong địa phận Cẩm Mỹ thường ngắn và dốc nên khả năng giữ nước rất kém, nghèo kiệt vào mùa khô Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với chuyển tải nước từ ngoài vùng vào là rất cần thiết cho phát triển kinh tế
- xã hội mà đặc biệt là cho phát triển sản xuất nông - công nghiệp của huyện
Trong phạm vi huyện có 2 hệ thống sông suối chính: Sông Ray, các hệ thống suối thuộc lưu vực sông Thị Vải
b Nước ngầm:
Huyện Cẩm Mỹ nằm trong khu vực nghèo nước ngầm Trên đất đỏ được phong hóa từ đá bazan nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 25-30m Các khu vực khác nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 80-120m, lưu lượng trung bình từ 0,5 đến 12 l/s, chất lượng tốt Hiện nay nước ngầm đang được khai thác cho sinh hoạt và tưới cho cà phê, tiêu, cây ăn quả
2.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ không nhiều, chủ yếu
là đất và đá được sử dụng làm nguyên vật liệu xây dựng Nguồn nguyên liệu này lấy từ núi Cẩm Tiên (xã Nhân Nghĩa), Tổng diện tích các khu vực có thể khai
cho nhu cầu xây dựng, sản xuất trên 2.000 bộ bàn, ghế đá các loại Ngoài ra đất
Trang 24sét có trữ lượng khá lớn, hàng năm có thể khai thác, sản xuất trên 5 triệu viên gạch
- Môi trường nước mặt: Nhìn chung còn tốt, cơ bản đạt quy chuẩn Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT nhưng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm cục bộ về chất hữu cơ do chất thải sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi
- Chất lượng nước ngầm: Còn tương đối tốt, tuy nhiên có một số giếng chỉ
tiêu Coliform không đạt tiêu chuẩn nhưng mức độ không đáng kể Ô nhiễm vi sinh là do sử dụng các giếng chưa hợp vệ sinh (chưa được lát nền, chưa có che chắn cẩn thận và khoảng cách giếng chưa hợp lý so với các chuồng trại, công trình vệ sinh,…)
- Chất lượng không khí xung quanh huyện tương đối tốt, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép, chỉ một số khu vực gần đường giao thông ô nhiễm tiếng ồn cục bộ
- Vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi là một trong những vấn đề bức xúc và nổi cộm nhất về ô nhiễm môi trường, mặc dù một số cơ sở có xây hầm biogas nhưng mùi hôi và nước thải vẫn còn gây ảnh hưởng rất lớn đến người dân sống chung quanh Huyện đã tiến hành QH vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi nhưng khâu tổ chức di dời các trang trại chăn nuôi trong và gần các khu dân cư vào các vùng QH diễn ra còn chậm
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
2.1.4.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong 9 tháng năm 2014, tình hình kinh tế của huyện chịu tác động và gặp nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các doanh nghiệp
và nhân dân trong huyện, tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn đang có dấu hiệu phục hồi Tăng trưởng kinh tế tăng khá so với cùng kỳ, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển khá tốt Sản xuất công nghiệp có sự tăng trưởng, các ngành dịch vụ đáp ứng tốt cho sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân Thu ngân sách tăng cao so với cùng kỳ năm trước Công tác xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai thực hiện Các lĩnh vực văn hoá, xã hội được duy trì, an sinh xã hội được quan tâm chú trọng và an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được giữ vững
Kết quả cụ thể như sau:
Tổng giá trị sản xuất 9 tháng trên địa bàn (theo giá so sánh 2010) ước đạt 6.749,7 tỷ đồng, tăng 16,01% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó sản xuất nông,
Trang 25lâm, thủy sản tăng 8,59%, công nghiệp - xây dựng tăng 24,82%, dịch vụ tăng 17,54% so với cùng kỳ năm trước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn
chậm
2.1.4.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a Khu vực kinh tế nông nghiệp
Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng khá: Ước giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) đạt 2.316,32 tỷ đồng, đạt 61,09% KH năm, tăng 8,59% so với cùng kỳ năm 2014 trong đó: trồng trọt tăng 3,27%, chăn nuôi tăng 15,31% so với cùng kỳ Tỷ trọng chăn nuôi so với giá trị sản xuất nông nghiệp chiến 45,98%
- Trồng trọt
+ Cây hàng năm: Năng suất bình quân các loại cây chủ lực như: Lúa đạt
70 tạ/ha; bắp đạt 83,5 tạ/ha
+ Cây lâu năm: Diện tích một số cây chủ lực như cây cà phê hiện có 4.539
ha, diện tích cho sản phẩm 4.539 ha; cây tiêu hiện có 4.580 ha; năm nay giá tiêu tiếp tục tăng cao và ổn định ở mức 190.000 đ/kg – 210.000 đ/kg, người trồng tiêu có lãi từ 350 – 450 triệu đồng/ha nên tiếp tục đầu tư chăm sóc và mở rộng diện tích
- Chăn nuôi
Quy mô tổng đàn bò, đàn lợn và gia cầm tăng cao, đặc biệt đàn bò tăng mạnh (tăng 29,21%); riêng đàn trâu, bò trong khu vực chăn thả ngày càng bị thu hẹp do cơ giới hóa trong nông nghiệp nên giảm cả số lượng và sản lượng
b Khu vực kinh tế công nghiệp
Sản xuất Công nghiệp - TTCN tiếp tục phát triển ổn định; Ước giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) toàn ngành tăng 18,03% so cùng kỳ Hầu hết sản lượng các sản phẩm công nghiệp - TTCN chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ như;
tăng 24,20%; thức ăn gia súc ước đạt 83 ngàn tấn tăng 20,12%; quần áo các loại ước đạt 184.026 ngàn chiếc tăng 22,49%; hạt điều nhân ước đạt 3.420 tấn tăng 23,91%;
Trang 26chuyển và vận chuyển Dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, nhất là các dịch vụ bưu chính mới Dịch vụ tín dụng ngân hàng tiếp tục đáp ứng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2.1.4.3 Dân số, lao động và việc làm
a Dân số
Tính đến đầu năm 2017, dân số trung bình huyện Cẩm Mỹ có 157.399
b Lao động và việc làm
Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực của các cấp, các ngành, huyện Cẩm
Mỹ đã thực hiện tốt chương trình kế hoạch hóa dân số gắn với phát triển giáo dục và đào tạo, nên số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của huyện đã tăng lên đáng kể
Hiện nay, dân số trong độ tuổi lao động của huyện đang chiếm khoảng 60%, trong đó tỷ lệ lao động thuộc khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm gần 80%, còn lại là lao động trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ Tuy nhiên số lượng và chất lượng lao động công nghiệp còn khiêm tốn đặc biệt không đáp ứng được nhu cầu đối với ngành công nghiệp có kỹ thuật cao và đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh doanh
Để khắc phục được tình trạng khó khăn trên, huyện tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng cách đầu tư xây dựng mới trung tâm dạy nghề huyện để có khả năng đào tạo từ 2-3 ngàn lao động/năm; khuyến khích mở rộng các cơ sở dạy nghề tư nhân và tăng cường nâng cao chất lượng dạy nghề, đồng thời huyện sẽ quan tâm hơn nữa đến đời sống người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần, giải quyết tốt vấn đề nhà ở, góp phần ổn định cuộc sống để giúp họ yên tâm lao động sản xuất
và ngoài tỉnh đi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Đường tỉnh có 02 tuyến: ĐT 764 dài 18,1 km và ĐT 765 dài 28,3 km Hiện trạng là đường cấp IV, nền rộng 8 m, mặt rộng 5 m, đã được trải nhựa Đường tỉnh được nối với rất nhiều đường huyện và đường giao thông nông thôn,
do đó cũng trở thành các trục giao thông đối ngoại của vùng phía Đông huyện Cẩm Mỹ
Trang 27Đường huyện gồm 9 tuyến với tổng chiều dài là 93,7 km Trong đó, tuyến hương lộ 10 có ý nghĩa rất quan trọng, nối các xã vùng phía Đông của huyện với quốc lộ 56 và đi đến trung tâm huyện Long Thành Việc nối dài hương lộ 10 đi qua các xã vùng phía Đông sẽ tác động mạnh đến phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cả hai vùng phía Đông và phía Tây của huyện
Đường xã: có tổng chiều dài là 386,1 km Trong đó, đường nhựa có 35,2
km, còn lại là đường cấp phối và đường đất Mạng lưới đường giao thông nông thôn được hình thành và phát triển khá về quy mô và số tuyến đường, nhưng chất lượng còn thấp
b Thủy lợi
Trong những năm qua, trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ được quan tâm đầu tư xây dựng nhiều hồ, đập chứa nước như: hồ Suối Đôi, hồ Suối Vọng, hồ Cầu Mới, Suối Sâu, Suối Cả, hồ Sông Ray…có trữ lượng nước trung bình 4-6 triệu
c Giáo dục và đào tạo
Toàn huyện hiện có 63 trường học các cấp, bao gồm 20 trường mầm non,
27 trường tiểu học, 13 trường trung học cơ sở, 03 trường trung học phổ thông Ngoài ra còn có 01 Trung tâm GDTX; 13 Trung tâm HTCĐ và 5 cơ sở tin học, ngoại ngữ
d Y tế
Bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa khu vực được xây dựng mới với các loại thiết bị chẩn đoán kỹ thuật cao, đội ngũ y bác sĩ được tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng
Đến nay, 100% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế, 11/13 trạm y tế có bác sỹ công tác thường xuyên, đạt 1,58 bác sĩ trên 1 vạn dân, các dịch vụ y tế tư nhân phát triển rộng khắp tạo thuận lợi cho nhân dân khám, chữa bệnh Thực hiện tốt công tác phòng chống trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 12,57%; hàng năm tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 99%
e Văn hóa thông tin, thể dục - thể thao
Đến nay trên địa bàn huyện có 9 trung tâm văn hoá thể thao cấp xã bao gồm Lâm San, Sông Ray, Xuân Đông, Bảo Bình, Nhân Nghĩa, Thừa Đức, Xuân Đường, Xuân Mỹ và Xuân Tây; đối với thị trấn Long Giao không xây dựng trung tâm văn hóa mà gắn với với trung tâm văn hoá huyện Tổ chức thẩm tra
Trang 28công nhận các ấp đạt chuẩn ấp văn hóa, gia đình văn hóa, kết quả có 28.434/29.448 hộ gia đình văn hóa (đạt 96,5%), 72/79 ấp văn hóa (đạt 91,14%)
Công tác thông tin, tuyên truyền đã được quan tâm đầu tư cả về vật chất, trang thiết bị, đến nay 13/13 xã đã có trạm truyền thanh không dây, phủ sóng 79/79 ấp Từ đó góp phần tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến nhân dân
f Bưu chính - viễn thông
Ngành bưu chính – viễn thông thường xuyên đầu tư nâng cấp, bổ sung xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch
vụ và hạ thấp giá thành để phục vụ tốt khách hàng; đồng thời đảm bảo cung cấp thông tin liên lạc thông suốt, phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành của huyện
và phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân
g Điện
Ngành điện đã đầu tư xây dựng lưới điện trung thế với tổng chiều dài 71
km và lưới điện hạ thế 0,4 Kv với chiều dài 123 km, nâng tổng số chiều dài đường dây điện hạ thế trên địa bàn là 249,4 km; xây dựng 78 trạm biến áp; lắp đặt 24,45 km đèn chiếu sáng công cộng (trong đó dọc quốc lộ 56 là 7,4 km và hệ thống chiếu sáng trung tâm các xã là 17,05 km)
2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường
a Lợi thế
- Cẩm Mỹ nằm gần các công trình lớn của vùng, quốc gia dự kiến đầu tư
như: sân bay quốc tế Long Thành, cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây, cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt, đường sắt cao tốc, huyện lộ 10 Khi các công trình này đi vào hoạt động sẽ tạo điều kiện để huyện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển đô thị dịch vụ, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm
- Địa hình đất đai thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp, mở rộng đường giao thông đến các vùng giáp ranh, phát triển thương mại, dịch vụ
- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua là tích cực Thu nhập bình quân đầu người ngày càng được nâng cao là nguồn lực quan trọng và là cơ sở để huyện tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế trong thời kỳ cả nước tiến tới công nghiệp hóa – hiện đại hóa
- Hiện tại với nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có diện tích cây công nghiệp dài ngày với quy mô lớn cũng là một trong những lợi thế để phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản – thực phẩm…
b Hạn chế
- Khả năng thu hút đầu tư bị hạn chế so với các huyện trọng điểm phát triển công nghiệp của Tỉnh Cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu so với yêu cầu phát triển
Trang 29- Lực lượng lao động trẻ dồi dào, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, tỷ
lệ lao động kỹ thuật hoặc qua đào tạo còn thấp, thiếu đội ngũ lao động kỹ thuật, quản lý có trình độ cao Tập quán sản xuất và tâm lý của người lao động vẫn còn mang nặng sản xuất nông nghiệp, nhỏ lẻ chưa tiếp cận được với phong cách của nền sản xuất có tính công nghiệp, hiện đại
- Quy mô nền kinh tế và nguồn lực nông hộ hạn chế nên ảnh hưởng đến
tái đầu tư sản xuất và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
2.2.2 Quản lý đất đai theo địa giới hành chính
Huyện Cẩm Mỹ được thành lập theo Nghị định số 97/2003/NĐ-CP ngày 21/8/2003 của Chính phủ trên cơ sở các xã: Xuân Quế, Sông Nhạn, Xuân Đường, Thừa Đức, Nhân Nghĩa, Long Giao, Xuân Mỹ của huyện Long Khánh
và các xã: Xuân Bảo, Bảo Bình, Xuân Đông, Xuân Tây, Sông Ray, Lâm San của huyện Xuân Lộc Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai năm 2014, diện tích tự nhiên toàn Huyện là 46.445,07 ha, cụ thể diện tích các xã như sau:
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
1 Bảo Bình 3.565,92 7,68 8 Xuân Bảo 2.144,62 4,62
2 Lâm San 3.257,80 7,01 9 Xuân Đông 4.995,86 10,76
3 Long Giao 3.375,15 7,27 10 Xuân Đường 3.714,02 8,00
4 Nhân Nghĩa 1.634,66 3,52 11 Xuân Mỹ 2.740,55 5,90
5 Sông Nhạn 4.787,69 10,31 12 Xuân Quế 4.613,81 9,93
6 Sông Ray 3.313,00 7,13 13 Xuân Tây 5.298,04 11,41
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai)
2.2.3 Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính
Đến nay đã hoàn thành công tác đo vẽ bản đồ địa chính của 13/13 xã với
Trang 30phản ảnh đầy đủ về hình thể, diện tích và mục đích sử dụng, là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác quản lý đất đai và đáp ứng cho đa ngành kinh tế
Kết quả việc lập bản đồ địa chính đã phục vụ công tác lập hồ sơ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ trên địa bàn huyện, nắm chắc diện tích các loại đất và chủ SDĐ Riêng công tác đánh giá, phân hạng đất chưa được thực hiện
2.2.4 Công tác QH, KHSDĐ
Xác định được tầm quan trọng của QHSDĐ trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai nên ngay từ khi mới thành lập, huyện đã tiến hành lập QH, KHSDĐ huyện đến năm 2010 và được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 56/QĐ-NBND ngày 29/6/2006 Năm 2008, đã thực hiện điều chỉnh, bổ sung QHSDĐ của huyện đến năm 2010, được UBND tỉnh xét duyệt tại Quyết định số 3764/QĐ-UBND ngày 18/12/2009
Trên cơ sở định hướng của QHSDĐ cấp huyện, cấp xã cũng được tiến hành xây dựng và điều chỉnh QH theo các mốc thời gian tương ứng
2.2.5 Quản lý việc giao, cho thuê, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ
Giao đất: UBND huyện Cẩm Mỹ đã ban hành quyết định giao đất cho 14
thị trấn Long Giao
Thu hồi đất để thực hiện dự án: để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn huyện, với tổng diện tích đất thu hồi là 898,08 ha; trong đó, thu hồi 842,73 ha đất nông nghiệp
Chuyển mục đích SDĐ: trong 05 năm qua, phòng TNMT đã tham mưu UBND huyện cho phép chuyển mục đích SDĐ 43 trường hợp, với tổng diện tích
xuất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh 01 trường hợp với diện tích
hợp, với tổng diện tích 4.350m2 Tiếp nhận và giải quyết 193 hồ sơ đăng ký chuyển mục đích SDĐ thuộc đối tượng không xin phép, 344 thửa với diện tích 89,21 ha
2.2.6 Đăng ký quyền SDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ
Chuyển quyền SDĐ: Đã tiếp nhận và tham mưu giải quyết 8.167 hồ sơ chuyển quyền SDĐ, bao gồm các trường hợp: chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền SDĐ Tiếp nhận và tham mưu UBND huyện giải quyết 389 trường hợp biến động sau khi cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ (biến động về người sử dụng, diện tích sử dụng)
Đăng ký, cấp GCNQSDĐ lập hồ sơ địa chính đối với 6 xã đo đạc lại bản
đồ địa chính: Xuân Bảo, Bảo Bình, Sông Ray, Lâm San, Sông Nhạn, Thừa Đức
Trang 31Tiếp tục tổ chức rà soát các thửa đất đủ điều kiện chưa đăng ký cấp giấy trên địa bàn huyện
2.2.7 Tình hình thống kê, kiểm kê đất đai
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm và hàng năm đều được thực hiện theo đúng thời hạn quy định của Bộ Tài Nguyên Môi trường:
- Công tác kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm được thực hiện thống nhất trong toàn Tỉnh nên nhìn chung chất lượng bảo đảm, phản ảnh được thực trạng SDĐ vào thời điểm kiểm kê
- Công tác thống kê đất đai hàng năm được thực hiện, nhưng do công tác theo dõi biến động còn chưa được chặt chẽ nên số liệu còn nhiều hạn chế, chưa cập nhật đầy đủ
2.2.8 Tình hình tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý SDĐ
Triển khai công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về Phòng, chống tham nhũng theo kế hoạch năm Thực hiện tiếp công dân xử lý kịp thời, nhanh chóng các nội dung có liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường; tham mưu UBND Huyện giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
2.3 Đánh giá thực trạng công tác QHSDĐ trên địa bàn huyện
2.3.1 Đánh giá hiện trạng SDĐ
2.3.1.1 Phân tích hiện trạng sử dụng các loại đất
Huyện Cẩm Mỹ có tổng diện tích tự nhiên là 46.445,07 ha Trong đó
cơ cấu các loại đất như sau:
Bảng 2.3 Cơ cấu SDĐ của toàn huyện
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Mỹ)
Qua bảng 2.3 cho thấy quỹ đất được sử dụng chủ yếu cho mục đích nông nghiệp, đất nông nghiệp chiếm 87,25%, đất phi nông nghiệp là 12,74% và đất
Trang 32chưa sử dụng có diện tích nhỏ 2,66 ha chiếm 0,01% tổng diện tích tự nhiên toàn
huyện
a Nhóm đất nông nghiệp
Theo hiện trạng, diện tích được sử dụng cho mục đích nông nghiệp là 40.526,63 ha chiếm 87,25% tổng diện tích tự nhiên Trong đó đất trồng cây lâu năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với 82,96%
Bảng 2.4 Hiện trạng SDĐ nông nghiệp
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Mỹ)
- Đất trồng lúa: theo kết quả kiểm kê thì đất trồng lúa có diện tích là 1.111,89 ha chiếm 2,74% so với diện tích nông nghiệp trong đó đất chuyên trồng lúa nước có diện tích 585,40 ha phân bổ chủ yếu ở xã Sông Ray, Xuân Đông, Sông Nhạn và Thừa Đức
- Đất trồng cây hàng năm: diện tích là 5.010,30 ha chiếm 12,36% trong tổng diện tích nông nghiệp Trong đó phân bố chủ yếu ở xã Xuân Đông, Xuân Tây, Sông Ray với các loại cây trồng chính là bắp, đậu, rau màu các loại
- Đất trồng cây lâu năm: có diện tích lớn nhất trong nhóm đất nông nghiệp chiếm 82,96%, với các loại cây trồng chủ yếu như: cây công nghiệp lâu năm (điều, tiêu, cà phê, cao su,…) và các loại cây ăn quả Các loại cây trồng lâu năm của huyện đã góp phần đáng kể trong việc tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân
- Đất rừng sản xuất: diện tích 37,66 ha, chiếm 0,09% diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu đất rừng sản xuất tập trung tại xã Thừa Đức
- Đất nuôi trồng thủy sản: diện tích 346,29 ha chiếm 0,85% diện tích đất
nông nghiệp của huyện, trong đó chủ yếu là đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt của các hộ gia đình và cá nhân
Trang 33- Đất nông nghiệp khác: diện tích 399,94 ha, chiếm 0,99% diện tích đất
nông nghiệp chủ yếu là các trang trại chăn nuôi của hộ gia đình, cá nhân
b Nhóm đất phi nông nghiệp
Bảng 2.5 Hiện trạng SDĐ phi nông nghiệp
374,98
6,34
44,07
0,74
345,00
5,83
57,30
0,97
40,45
0,68
2.6 Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp SKC
35,60
0,60
2.7 Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện,
1.197,40
20,24
2.11 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC
21,50
0,36
2.12 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp DTS
2,94
0,05
29,01
0,49
2.14 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD
64,44
1,09
2.15 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm SKX
4,34
0,07
4,70
0,08
4,27
0,07
2.18 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON
489,43
8,27
674,61
11,40