1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

1 Hội nghị chuyên đề “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng môn Sinh học cấp THPT”

174 89 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH PHỐI HỢP DA DẠNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TRONG DẠY HỌC MÔN SINH Dương Ngọc Thảo Trường THPT TP Sóc

Trang 1

3 Phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh Trần Thị Kiều

– Giáo viên trường THPT Mai Thanh Thế 15

4 Một số kinh nghiệm giảng dạy môn Sinh học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPT DTNT Huỳnh Cương Thạch Thị Si Viêl – Giáo viên trường THPT DTNT Huỳnh Cương 20

5 Hiệu quả của việc tổ chức tham quan thực tế cho học sinh THPT Nguyễn Thị Thu Hương – Giáo viên trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai 26

PHẦN II: Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi

6 Bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai Đặng Như Ngọc – Giáo viên trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai 29

7 Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh trường THPT Nguyễn Thúy Tố Minh – Giáo viên trường THPT Phú Tâm 32

8 Phương pháp giải bài tập Sinh học Trịnh Hoàng Nam – Giáo viên THPT Trần Văn Bảy 37

9 Một vài kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Nhóm GV Bộ môn Sinh – Trường THPT Phan Văn Hùng 50

PHẦN III: Dạy học theo chủ đề tích hợp, liên môn

10 Một số kinh nghiệm dạy học theo chủ đề tích hợp, liên môn ở trường THPT Thiều Văn Chỏi Trần Thị Quyên – Giáo viên trường THPT Thiều Văn Chỏi 53

11 Một số vấn đề trong dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn sinh học THPT Ngô Tấn nguyên – Giáo viên trường THPT Lương Đình Của 57

12 Dạy học theo chủ đề tích hợp môn Công nghệ và Sinh học lớp 10 tại trường THPT Kế Sách Nguyễn Văn Tiếp – Giáo viên trường THPT Kế Sách 61

PHẦN IV: Dạy học theo chủ đề Biến dị - Di truyền ở cấp độ phân tử

13 Hướngdẫn học sinh làm bài tập cơ chế di truyền và biến dị ở cấp độ phân tử - Sinh học 12 cơ bản Nguyễn Thị Tuyết Trinh – Giáo viên trường THPT An Thạnh

3 66

14 Một số kinh nghiệm dạy học theo chủ đề biến dị, di truyền ở cấp độ phân tử

Tổ Sinh – trường THCS – THPT Mỹ Thuận 71

Trang 2

15 Phương pháp giải bài tập di truyền ở cấp độ phân tử Nguyễn Thị Ngọc Hà – Giáo viên trường THPT Ngọc Tố 78

16 Xây dựng mạch kiến thức và thời lượng thực hiện dạy học theo chủ đề “Di truyền và biến dị ở cấp độ phân tử” Tổ Sinh – Trường THPT Đại Ngãi 82

17 Biến dị - Di truyền ở cấp độ phân tử Lâm Thị Mỹ Tiên và Lý Thị Mỹ Phương – Giáo viên trường THPT Văn Ngọc Chính 85

PHẦN V: dạy học theo chủ đề Biến dị - Di truyền ở cấp độ tế bào

18 Cách viết giao tử khi quá trình giàm phân bình thường và bất bình thường bằng

sơ đồ Chao Phép – Giáo viên trường THPT Lai Hòa 89

19 Biến dị - di truyền ở cấp độ tế bào Trương Ngọc Bích – Giáo viên trường THCS&THPT DTNT Thạnh Phú 102

PHẦN VI: Dạy học theo chủ đề di truyền học quần thể

20 Phương pháp giải bài tập di truyền học quần thể Lâm Thanh Mộng – Giáo viên trường THPT Hòa Tú 106

21 Di truyền học quần thể Trần Thị Phượng – Giáo viên trường THPT Thuận Hòa 113

22 Dạy học theo chủ đề chương III: Di truyền học quần thể Sinh học 12 Lâm Đặng Trúc Lâm – P.HT trường THPT Mỹ Hương 119

23 Phương pháp giải một số vài dạng bài tập di truyền học quần thể - Chương trình sinh học 12 Huỳnh Văn Miền – Giáo viên trường THPT Đoàn Văn Tố 129

24 Một số dạng bài tập di truyền học quần thể thường gặp trong các đề thi tốt nghiệp, đại học, cao đẳng Trần Thị Thu Thủy – Giáo viên trường THPT Huỳnh Hữu Nghĩa 137

25 Sử dụng một số câu hỏi trắc nghiệm MCQ để dạy học bài “cấu trúc di truyền của quần thể” – chương trình Sinh học 12 Huỳnh Văn Miền Giáo viên trường THPT Đoàn Văn Tố 145

PHẦN VII: Kinh nghiệm giải dạy các quy luật di truyền

26 Một số phương pháp giải bài tập xác suất trong Sinh học Lê Tấn Thái Bình – Giáo viên trường THPT Mỹ Xuyên 150

27 Kinh nghiệm giảng dạy chuyên đề các quy luật di truyền Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Giáo viên trường THPT Hoàng Diệu 156

28 Một vài kinh nghiệm giải bài tập tổng hợp các quy luật di truyền trong Sinh học lớp 12 Bộ môn Sinh - Trường THPT Nguyễn Khuyến 161

29 Các quy luật di truyền Sinh học 12 Phạm Vĩnh Trinh – Giáo viên trường THPT Thạnh Tân 164

30 Nhận biết và giải nhanh một số bài tập quy luật di truyền Huỳnh Thị Yến Ngọc – Giáo viên trường THPT Mỹ Xuyên 169

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Căn cứ công văn số 2122/SGDĐT-GDTrH ngày 13 tháng 10 năm 2016 của

Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Sóc Trăng về việc tổ chức dạy học và hướng dẫn

ôn tập chuẩn bị kỳ thi THPT quốc gia năm 2017;

Trường THPT An Lạc Thôn tổ chức Hội nghị chuyên đề “Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng môn Sinh học cấp THPT” Nhằm tạo điều kiện cho giáo

viên dạy môn Sinh học trao đổi, thảo luận để tìm ra cách dạy và học nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Giúp cho học sinh làm chủ kiến thức, kỹ năng và đạt kết quả tốt trong kỳ thi học sinh giỏi, THPT quốc gia

Hội thảo tập trung thảo luận các vấn đề sau:

1 Đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học theo định hướng phát triển

năng lực học sinh;

2 Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi;

3 Dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn;

4 Dạy học theo chủ đề Biến dị- Di truyền ở cấp độ phân tử;

5 Dạy học theo chủ đề Biến dị - Di truyền ở cấp độ tế bào;

6 Dạy học theo chủ đề Di truyền học quần thể;

7 Kinh nghiệm giảng dạy chuyên đề Các quy luật di truyền

Việc bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và phát triển chuyên môn là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của mỗi giáo viên Trong thời gian hội thảo không thể báo các hết các tham luận Ban tổ chức hy vọng quý thầy cô sẽ nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm theo sự sáng tạo riêng của mỗi người

Do hạn chế về thời gian nên chắc chắn Kỷ yếu không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận những ý kiến đóng góp, các bài tham luận quý báo của quý thầy

BAN TỔ CHỨC

Trang 4

PHẦN I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN SINH HỌC

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

PHỐI HỢP DA DẠNG CÁC PHƯƠNG PHÁP

TRONG DẠY HỌC MÔN SINH

Dương Ngọc Thảo Trường THPT TP Sóc Trăng

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Để thực hiện được điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, đồng thời phải chuyển từ cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề Trước bối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sau năm 2015, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh là cần thiết

Về với hội nghị hôm nay tôi xin nêu lên thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học môn sinh ở trường phổ thông hiện nay:

1 Thực trạng của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay:

- Trong những năm qua , tôi nói riêng và quý đồng nghiệp cả nước nói chung đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những thành công bước đầu Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như thông qua việc dự giờ đồng nghiệp tại trường tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh chưa nhiều Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên, số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học tích cực còn ít Việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông Nhìn chung giáo viên chúng ta còn nhiều lúng túng trong việc đổi mới

- Hoạt động kiểm tra đánh giá (thường xuyên và định kì) chưa bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác, công bằng; việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức đã học, ít quan tâm đến vận dụng kiến thức

- Việc đổi mới hiện tại chủ yếu đang được triển khai trên giấy nhiều hơn là đi vào thực tế dạy học ở từng địa phương và từng trường

- Chương trình sách giáo khoa hiện hành đang rất nặng, mâu thuẫn giữa dung lượng kiến thức với thời gian thực hiện Mặc dù đã giảm tải nhưng vẫn yêu cầu tối thiểu

về đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng

- Học sinh hiện tại đang rất lười học, ngại tìm hiểu, ngại đọc sách, làm việc ở nhà rất hạn chế dẫn đến việc thực hiện đổi mới của giáo viên rất khó khăn

Trang 5

2 Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học:

- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học:

Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn

bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau với mục đích biến lớp học thành môi trường giao tiếp giữa GV – HS, HS – HS

- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề:

Trong mỗi tiết học, học sinh luôn được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn, nội dung của câu hỏi nêu vấn đề có thể liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn

- Vận dụng dạy học định hướng hành động:

Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công

- Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo:

Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá", XYZ,

- Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù của môn sinh học:

Bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học môn sinh Ví dụ: Thí nghiệm - thực hành là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của môn sinh học

- Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh:

Hướng dẫn học sinh tự học qua sách vở, tài liệu tham khảo, giao tài khoản học tập trên THKN là một trong những phương pháp dạy học đang được quan tâm ngày nay và chúng ta cần tiếp cận để đi kịp thời đại

3 Kiến nghị đề xuất:

Trang 6

- Đối với nhà trường:

Cần đổi mới mạnh mẽ cách thức quản lý bằng việc ứng dụng CNTT, tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp dạy học thường xuyên mỗi năm học, mạnh dạn đầu tư nhiều hơn cho chuyên môn, cung cấp kinh phí cho các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, NC KH trong học sinh

- Đối với tổ chuyên môn:

Xây dựng chương trình bộ môn phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, sinh hoạt tổ chuyên môn lấy hoạt động đổi mới làm trung tâm bằng việc xây dựng giáo án chung, chia sẻ kinh nghiệm dạy học

- Đối với giáo viên:

Mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách nhìn, cách tiếp cận bài học mỗi khi lên lớp, tăng cường giao lưu, học hỏi với đồng nghiệp và qua mạng internet

- Đối với học sinh:

Giáo dục ý thức học tập, tinh thần cầu tiến, tinh thần hợp tác, kết hợp chặt chẽ với gia đình để theo dõi, uốn nắn khi cần thiết

Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng cho mỗi đối tượng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân./

Trang 7

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Huỳnh Văn Điện Trường THPT Ngã Năm

Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục Tất cả những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt động của người dạy và người học

Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học

Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học…; giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: hướng HS đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau

Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng Bản thân xin được đề cập đến vấn đề này trên góc nhìn một giờ học tốt theo định hướng đổi mới PPDH

1 Quy trình chuẩn bị một giờ học

Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua việc chuẩn bị Kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học

Căn cứ trên Kế hoạch dạy học thể hiện qua mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, cách sử dụng PPDH, thiết bị DH, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh giá kết quả học tập của HS Chính vì thế, hoạt động chuẩn bị cho một giờ học có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu quả giờ dạy học

a Các bước thiết kế một Kế hoạch dạy học

- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức (KT), kĩ năng (KN) và thái độ Bước này là khâu rất quan trọng, không thể thiếu của mỗi Kế hoạch dạy học Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm

- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học Bước này trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học

- Bước 3: Xác định khả năng nhận thức của HS, xác định những KT, KN mà HS

đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các

Trang 8

phương án giải quyết Bước này GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học

và đánh giá cho phù hợp

- Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Bước này GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, KN vận dụng KT vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn

- Bước 5: Thiết kế Kế hoạch dạy học

b Cấu trúc của một Kế hoạch dạy học được thể hiện ở các nội dung sau:

- Mục tiêu bài học: Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;

- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:

+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật ), các phương tiện (máy chiếu, TV, máy tính, ) và tài liệu dạy học cần thiết;

+ HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết)

- Tổ chức các hoạt động dạy học:

+ Tên hoạt động, mục tiêu, cách tiến hành và thời lượng cho hoạt động

2 Thực hiện giờ dạy học

a Kiểm tra sự chuẩn bị của HS

- Kiểm tra kiến thức đã học và những KT, KN đã học có liên quan đến bài mới

- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết))

Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới

b Tổ chức dạy và học bài mới

- GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho HS

- GV tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp

c Luyện tập, củng cố

GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau

d Đánh giá

- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và

tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn

- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học

e Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà

Trang 9

- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua câu hỏi, làm bài tập, thực hành, thí nghiệm,…)

- GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới

* Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS, điều kiện cơ sở vật chất… GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc

Sự thành công của một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả người dạy và cả người học

Những phần trình bày trên đây chỉ là những kinh nghiệm bản thân trong nhiều năm qua ở trường phổ thông

THI T K MỘT GIỜ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC T CH CỰC

A Sơ lược về lý thuyết dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài, từng tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học

dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định năng lực, phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề hoặc bài học đã xây dựng

Tăng tính chủ động, thái độ học tập tích cực của học sinh, khắc phục hoàn toàn cách dạy theo lối truyền thụ một chiều, tránh tình trạng cho học sinh ghi chép quá nhiều, thiếu trọng tâm Kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học, kết hợp có hiệu quả giữa PPDH truyền thống và PPDH hiện đại

Xây dựng kế hoạch dạy học cần đảm bảo các nguyên tắc: Nâng cao kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; học sinh được cung cấp kiến thức, kỹ năng theo chuẩn chương trình giáo dục phổ thông; được hình thành, phát triển các phẩm chất, năng lực; đảm bảo tính logic của mạch kiến thức và tính

thống nhất giữa các môn học và các hoạt động giáo dục

B Thiết kế kế hoạch bài học

Thiết kết kế hoạch bài học: “Chuyên đề 4 : Phân bào” Chuyên đề này gồm các bài trong chương IV, thuộc Phần 2 Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT Thời lượng 3 tiết

(gồm các bài 18, 19, 20 sinh 10 CB)

I Mục tiêu chuyên đề: Sau khi học xong chuyên đề này HS có khả năng:

1.Kiến thức

- Nêu được khái niệm chu kì tế bào

- Mô tả được chu kì tế bào

- Trình bày được đặc điểm các pha của kì trung gian

- Xác định được các loại tế bào tham gia quá trình nguyên phân, mô tả được diễn biến của từng giai đoạn nguyên phân

- Nêu được kết quả và ý nghĩa của quá trình nguyên phân

- Xác định được loại tế bào tham gia quá trình giảm phân, mô tả được diễn biến

Trang 10

của từng giai đoạn giảm phân, đặc biệt là trạng thái của các cặp NST tương đồng, diễn biến chính ở kì đầu của giảm phân I

- Nêu được kết quả và ý nghĩa của quá trình giảm phân

2 Kĩ năng

- Quan sát hình ảnh, mô hình, phim, tiêu bản mô tả diễn biến của quá trình nguyên phân, giảm phân

- Phân loại sự kiện diễn ra trong quá trình nguyên phân và quá trình giảm phân

- Tìm mối quan hệ giữa quá trình nguyên phân, quá trình giảm phân và thụ tinh trong quá trình hát triển cá thể

3 Thái độ

- Yêu khoa học, say mê nghiên cứu, sáng tạo

- Có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội trong việc tránh xa tác nhân đột biến, sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để tránh phát sinh đột biến số lượng NST

- Năng lực chuyên biệt, tri thức về sinh học

- Năng lực giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ

- Năng lực tính toán

II Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học

* Giáo viên

- Tranh vẽ quá trình phát triển ở người, chu kì tế bào

- Tranh vẽ cá kì nguyên phân, giảm phân

- Phim mô tả sự tiếp hợp và trao đổi chéo của NST ở kì đầu của giảm phân I

- Phiếu học tập

* Học sinh : Giấy A4, bút màu

III.Tổ chức các hoạt động dạy học: Tiết 1

NỘI DUNG CẦN ĐẠT

I CHU KÌ T BÀO

- Chu kì tế bào: Là khoản thời gian giữa 2 lần phân bào

- Chu kì tế bào gồm 2 giai đoạn: Kì trung gian và quá trình nguyên phân

- Các giai đoạn của chu kì tế bào:

- Kì trung gian:

+ Chiếm thời gian dài nhất trong chu kì tế bào

+ Được chia thành 3 pha:

Trang 11

* Pha G1: Là thời kì tế bào tổng hợp các chất cần cho sinh trưởng Vào cuối pha

G1 có 1 điểm kiểm soát ( R) nếu tế bào vượt qua được mới đi vào pha S và diễn ra quá trình nguyên phân

* Pha S: Ở pha này diễn ra sự nhân đôi ADN, NST, nhân đôi trung tử

* Pha G2: Tế bào tổng hợp tất cả những gì còn lại cho phân bào( tổng hợp prôtêin histon )

II QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN

- Nguyên phân: Là hình thức phân chia tế bào sinh dưỡng và sinh dục sơ khai, xảy

ra phổ biến ở các sinh vật nhân thực

- Nguyên phân gồm 2 giai đoạn: Phân chia nhân và phân chia tế bào chất

1 Phân chia nhân: được chia thành 4 kì: Kì đầu, kì giữa, kì sau và kì cuối

- Kì đầu: NST kép bắt đầu co xoắn ; Trung tử tiến về 2 cực của tế bào, thoi vô sắc hình thành; Màng nhân và nhân con biến mất

- Kì giữa: NST kép co xoắn cực đại và tập trung thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi vô sắc thành 1 hàng

- Kì sau: Mỗi NST kép tách nhau ra ở tâm động, mỗi NST đơn đi về 2 cực của tế bào

- Kì cuối: NST dần dãn xoắn, màng nhân và nhân con xuất hiện; thoi vô sắc biến mất

2 Phân chia tế bào chất:

- Kết quả : Từ 1 tế bào mẹ ban đầu (2n) sau 1 lần nguyên phân tạo ra 2 tế bào con

có bộ NST giống nhau và giống mẹ

III Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN PHÂN

* Về sinh học:

- Cơ thể đơn bào: nguyên phân là cơ chế sinh sản

- Cơ thể đa bào: nguyên phân giúp cơ thể sinh trưởng

* Về mặt thực tiễn: Phương pháp giâm, chiết, ghép cành và nuôi cấy mô đều dựa trên cơ

sở của quá trình nguyên phân

* Hoạt động 1: Tạo tình huống giới thiệu bài học: 3 – 5 phút

* Hoạt động 2: Kiểm tra kiến thức: 3 - 5 phút

- Kiểm tra kiến thức đã học

- Kiểm tra việc chuẩn bị của HS ngoài giờ lên lớp

Trang 12

Hoạt động GV Hoạt động HS Mục tiêu Trình bày diễn biến của pha

sáng trong quang hợp?

- Trình bày nội dung Vị trí, nguyên liệu, sản

phẩm Trong pha sáng đã cung cấp

sản phẩm quang trong nào

cho pha tối?

ATP, NADPH

* Hoạt động 3: Triển khai kiến thức: 18 - 20 phút

Nội dung 1:Tìm hiểu về chu kì tế

bào và các giai đoạn

- GV treo tranh “Chu kì tế bào”,

yêu cầu HS quan sát và kết hợp

với việc đọc SGK phần I trang 71

từ đó nêu khái niệm chu kì tế bào

và mô tả các giai đoạn trong chu

kì tế bào

- GV yêu cầu HS nêu những diễn

biến chính của pha G1, S, G2, của

kì trung gian

- GV đặt câu hỏi: Bệnh ung thư là

một ví dụ cho thấy tế bào ung thư

đã thoát khỏi các cơ chế điều hòa

phân bào Vậy điều hòa phân bào

là gì? Điều hòa phân bào có vai

trò gì đối với cơ thể đa bào?

- HS quan sát, đọc SGK và hình thành các nội dung : khái niệm chu kì tế bào và các giai đoạn trong chu kì tế bào

- Đặc điểm chính của G1,

S, G2

- Điều khiển thời gian và tốc

độ phân chia tế bào có vai trò đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể

Nội dung 2: Tìm hiểu quá trình

phân chia nhân và tế bào chất

- GV treo tranh và yêu cầu HS

quan sát hình và cho biết cơ chế

hình thành đuôi ở thằn lằn sau khi

bị đứt?

- HS mâu thuẫn Tại sao thằn lằn lại tái tạo được đuôi? Cơ chế nào giúp thằn lằn tái tạo đuôi?

- Do cơ chế nguyên phân

Trang 13

- GV chia HS thành nhiều nhóm,

mỗi nhóm khoảng 4 – 7 HS hoàn

thành các giai đoạn trong phân

chia nhân và đặc điểm mỗi giai

+ Đứt tay -> liền lại

+ Nuôi mô thực vật -> nhiều cây

- HS trong mỗi nhóm thảo luận, sau đó nêu ý kiến từng nhóm

- Nêu được ý nghĩa của nguyên phân

- Trình bày được 4 kì và đặc điểm mỗi

- Ý nghĩa sinh học và thực tiễn

* Hoạt động 4: Bài tập củng cố - vận dụng: 8 – 10 phút

Loại tế bào nào tham gia nguyên

phân?

Sinh dưỡng và sinh dục sơ khai

Tế bào sinh dưỡng

Tại sao ở kì giữa NST co xoắn

cực đại trước khi bước vào kì

Cân bằng lực kéo ở 2 đầu của thoi phân bào

Sự phân chia tế bào chất ở tế bào

thực vật khác với tế bào động vật

ntn?

Suy nghĩ thảo luận trả lời Thực vật hình

thành vách ngăn, động vật

co thắt

* Hoạt động 5: Giao nhiệm vụ về nhà: 3 – 5 phút

- Đặc điểm chính các kì giảm phân

- Qua 2 lần phân bào tạo 4 tế bào con có bộ NST giảm một nữa so với tế bào mẹ

Trang 14

+ Nhóm 4: kết quả của giảm phân, sự khác nhau trong giảm phân giữa tinh trùng và trứng

- Giao tử đực tạo 4 tinh trùng, giao tử cái tạo 1 trứng và 3 thể cực

Trang 15

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

Trần Thị Kiều Trường THPT Mai Thanh Thế

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, dạy học theo phương pháp phát triển năng lực của học sinh là một trong những quan điểm giáo dục và đã trở thành xu thế chung ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, dạy học theo phương pháp phát triển năng lực của học sinh đang được Bộ Giáo Dục đào tạo quan tâm chỉ đạo Dạy học theo phương pháp phát triển năng lực của học sinh được xây dựng dựa trên cơ sở những quan điểm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học Việc vận dụng hợp lí quan điểm giáo dục trong dạy và học góp phần phát triển năng lực của người học, giúp đào tạo ra được những con người vừa hồng, vừa chuyên là những chủ nhân của đất nước trong tương lai

Vì vậy, mỗi giáo viên (GV) bằng phương pháp nào đó có thể giúp học sinh (HS) của mình hiểu bài, khắc sâu kiến thức và vận dụng kiến thức đã học một cách linh hoạt đễ giải quyết mọi tình huống trong thực tiễn Để có thể làm được điều đó, thì mỗi nhà giáo không ngừng tìm kiếm, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực

Mặt khác, theo dự kiến thay sách giáo khoa năm 2018 của Bộ Giáo dục đào tạo, thực hiện chủ trương đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; gắn liền giáo dục trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống; góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề của học

sinh trung học Từ những lý do trên, nên Tôi quyết định chọn chuyên đề „„Phương pháp

dạy học phát triển năng lực của học sinh‟‟

B GIẢI QUY T VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận

Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Dạy học theo phương pháp phát triển năng nực của học sinh có nghĩa là chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì vào thực tiễn cuộc sống Để thực hiện được điều này, thì mỗi GV phải đổi mới phương pháp dạy học của bản thân Tăng cường hình thức học tập theo nhóm, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, độc lập, sáng tạo tư duy của HS Vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp riêng của bộ môn sinh học để dạy học, phải đảm bảo nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

Trang 16

Mục tiêu của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh là làm cho quá trình học tập ở học sinh trở nên tích cực hơn, hình thành cho học sinh cách học, học

ở mọi hình thức (tự học, học qua sách giáo khoa, qua tài liệu, sách tham khảo, học qua internet, ), phát triển năng lực cho người học Học sinh được chủ động, trãi nghệm, sáng tạo, đặc biệt có thể vận dụng kiến thức học được để giải quyết các tình huống thực tiễn một cách sáng tạo và hợp lí

2 Cơ sở thực tiễn

Năm 2013, Sở giáo dục đào tạo Sóc Trăng đã tổ chức tập huấn cho giáo viên trong tỉnh về việc đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Năm 2016, Sở giáo dục đào tạo Sóc Trăng đã tổ chức tập huấn cho giáo viên trong tỉnh về việc đổi mới phương pháp dạy học „„tích hợp liên môn‟‟ nhằm giúp HS có thể tự mình tìm kiến thức và có thể vận dụng kiến thức từ những môn học khác nhau để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Trường THPT Mai Thanh Thế, đang áp dụng việc dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh, đang áp dụng phiếu đánh giá giờ dạy của giáo viên theo công văn

số 5555 hướng tới việc đánh giá quá trình học tập của học sinh qua việc tổ chức hoạt động giảng dạy của giáo viên

Bên cạnh đó, vẫn còn một số giáo viên đã quen với lối dạy học truyền thống, chưa thích nghi với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học Quan trọng hơn hết là ở học sinh, học sinh vẫn chưa làm quen với việc tự mình đi tìm kiến thức, các em học theo lối dạy học truyền thống, Thầy dạy cái gì thì trò học cái ấy, các em chưa biết tự mình tìm kiếm tài liệu bổ sung kiến thức cho bản thân

3 Giải pháp

Môn sinh học sinh học là 1 môn khoa học gắn liền với thực tiễn cuộc sống, nên kiến thức môn sinh học rất gần gũi với học sinh Vì vậy, để thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh, bằng kinh nghiệm của bản thân, Tôi xin đưa ra một số biện pháp sau:

* Đổi mới trong cách truyền thụ nội dung kiến thức

- Đối với nội dung kiến thức thuộc về khái niệm: giáo viên (GV) có thể dạy theo

phương pháp quy nạp Đầu tiên GV có thể đưa ví dụ, tranh ảnh hoặc sơ đồ,… từ những

tư liệu, học liệu GV đưa ra, yêu cầu HS rút ra khái niệm Ví dụ để dạy khái niệm quần thể, GV cho HS xem hình ảnh hay ví dụ Qua đó, GV để hướng HS tới hình thành khái niệm

- Đối với kiến thức thuộc về cơ chế, quá trình hình thành: GV có thể đưa tranh

ảnh, sơ đồ, sau đó yêu cầu HS rút ra nội dung cốt lõi của cơ chế, quá trình đó Ví dụ để dạy kiến thức về cơ chế nhân đôi ADN, ARN hay prôtêin,… GV cho HS xem video cơ chế nhân đôi ADN, ARN hay prôtêin,…Qua tranh ảnh, sơ đồ, đoạn video, GV yêu cầu

HS rút ra diễn biến cơ chế nhân đôi ADN, ARN hay prôtêin,… Để có thể phát triển năng lực tư duy của HS thì GV có thể cho HS vận dụng giải bài tập sau khi học cơ chế đó

- Đối với kiến thức thuộc dạng công thức sinh học: GV có thể dạy theo phương

pháp quy náp có nghĩa là từ kiến thức về lý thuyết kết hợp tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,…từ

đó rút ra công thức, từ công thức GV có thể yêu cầu HS giải bài tập, từ dễ đến khó Ví dụ

Trang 17

để hình thành công thức tính tổng số nuclêôtit, chiều dài của gen, số liên kết hiđrô,…trong chương trình sinh học 10, GV cho HS xem tranh ảnh phân tử ADN, qua tranh ảnh GV yêu cầu HS rút ra công thức Để có thể phát triển năng lực tư duy của HS thì GV có thể cho HS vận dụng giải bài tập sau khi học

* Đổi mới kiểm tra đánh giá: Kiểm tra là hình thức đánh giá lại quá trình học tập

của HS Trong giáo dục có rất nhiều hình thức kiểm tra đánh giá như kiểm tra viết (kiểm tra tự luận, kiểm tra trắc nghiệm, kết hợp kiểm tra tự luận và trắc nghiệm,…); kiểm tra miệng (trả bài, trình bày, tranh luận, thảo luận, ) và kiểm tra bằng lời nhận xét của giáo viên, kiểm tra lẫn nhau giữa các HS,…Để có thể phát triển năng lực sự tư duy, tìm tòi của

HS thì GV phải gắn quá trình học tập của HS với việc kiểm tra đánh giá Dù hình thức

kiểm tra nào đi nữa, mục đích của việc kiểm tra là đánh giá được và chính xác quá trình học tập của học sinh, phân loại được học sinh Để có thể phân loại được học lực của HS thì bộ câu hỏi của GV phải theo hướng phát triển năng lực của người học (bộ câu hỏi phải

đủ các cấp độ nhận thức Vì vậy, mỗi GV phải thay đổi cách kiểm tra đánh giá HS

* Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động dạy học: Để có thể phát triển được

năng lực tư duy của HS, Tôi xin đưa ra 1 số biện pháp sau:

- Cải tiến các phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống: Đổi mới PPDH không

có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống Phương pháp dạy học truyền thống không phải lúc nào cũng hạn chế, phương pháp mới cũng không phải lúc nào cũng tốt, mà từ các PPDH truyền thống chúng ta có thể phát triển nó hơn, cải tiến nó hơn, cái gì không tốt thì chúng ta loại bỏ, cái gì tốt thì chúng ta áp dụng và nâng cấp hơn Vì vậy, bên cạnh các PPDH truyền thống chúng ta cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, có thể phát triển được năng lực tư duy, tăng cường tính tích cực, chủ động, tự giác, trãi nghiệm, sáng tạo của của học sinh Để có thể phát triển năng lực của HS thì người giáo viên cần chú ý đến hệ thống câu hỏi dẫn dắc HS đi từ dễ đến khó, hạn chế hỏi HS những câu hỏi đúng hay không ? đúng hay sai ? nếu có hỏi thì GV phải yêu câu HS giải thích tại sao đúng hoặc tại sao không ? Giáo viên nên tăng cường những câu hỏi dạng hiểu, vận dụng Phương pháp dạy học truyền thống thì GV nói gì HS nghe, ghi theo, GV đọc và HS ghi bài; còn phương pháp dạy học hiện đại thì HS sẽ tự mình làm chủ kiến thức, tự ghi bài theo hướng dẫn của GV

- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học (PPDH): Phương pháp dạy học là

cách thức mà GV hướng dẫn HS tìm kiến thức Nếu GV chỉ chọn 1 PPDH nhất định nào

đó thì nó sẽ không mang lại hiệu quả cao trong dạy học Vì vậy, đòi hỏi mỗi GV cần phải kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học thì mới có thể phát huy tính tích cực chủ động của HS và nâng cao chất lượng dạy học Tùy vào nội dung của bài học mà chúng ta chọn phương pháp này hay phương pháp khác, tùy vào cách đặt câu hỏi, nội dung của câu hỏi mà GV có thể cho từng cá nhân trả lời trực tiếp hay cho HS thảo luận nhóm trả lời câu hỏi trong phiếu học tập với thời gian qui định (theo nhóm 2 HS, hay nhóm lớn có nhiều học sinh)

- Dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề có nghĩa là GV có thể giới

thiệu 1 tình huống có vấn đề hoặc cho 1 bài tập có vấn đề, tạo sự mâu thuẫn giữa kiến thức cũ với kiến thức mới để kích thích HS phải tư duy tìm ra đáp án, giải thích tại sao lại xảy ra như vậy Ví dụ như chúng ta dạy quy luật liên kết gen, hoán vị gen chúng ta tạo ra tình huống có vấn đề cùng 1 thí nghiệm giống như thí nghiệm của Menđen nhưng tại sao kết quả thí nghiệm lại không giống với kết quả thí nghiệm của Menđen Trên cơ sở mâu

Trang 18

thuẫn giữa cái cũ và cái mới kích thích HS phải tìm ra câu trả lời, kích thích tư duy của

HS

- Dạy học theo chủ đề: Dạy học theo chủ đề là một quan điểm dạy học gắn lý

thuyết với thực tiễn, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Dạy học theo chủ đề bao gồm dạy học theo chủ đề đơn môn hoặc dạy học theo chủ đề liên môn

Dạy học theo chủ đề đơn môn có nghĩa là GV có thể hệ thống kiến thức lại thành những chủ đề riêng biệt, các chủ đề này có thể nằm trong chương trình một khối lớp, hai khối lớp hoặc ba khối lớp GV có thể chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận và báo cáo các chủ để của mỗi nhóm, GV nhận xét và bổ sung kiến thức Ví dụ sinh học 12 chúng ta có thể sắp xếp mỗi chương là 1 chủ đề để dạy

Dạy học theo chủ đề liên môn có nghĩa là GV có thể hệ thống kiến thức lại thành những chủ đề riêng biệt, các chủ đề này có nội dung kiến thức liên quan đến 2 môn hoặc

3 môn Các chủ đề này có nội dung kiến thức nằm trong chương trình 1 khối lớp, 2 khối lớp hoặc 3 khối lớp GV có thể chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận và báo cáo các chủ để chủa mỗi nhóm, GV nhận xét và bổ sung kiến thức Qua việc dạy học theo chủ đề, HS có thể vận dụng kiến thức học được ở 1 môn, 2 môn hoặc 3 môn để giải quyết những tình huống trong thực tiễn trong cuộc sống Ví dụ GV có thể sắp xếp kiến thức môn sinh học thành những chủ đề có liên quan đến những môn học khác (như lí, hóa, ) như chủ đề đột biến nhiễm sắc thể, đột biến gen, gen, prôtêin,…

- Dạy học theo dự án: Dạy học theo dự án là hình thức dạy học mà học sinh thực

hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Mỗi nhóm cùng nhau thảo luận tìm kiếm thông tin, hình ảnh, số liệu,…tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập mà GV phân công Mỗi nhóm có tạo ra các sản phẩm có thể công bố sản phẩm Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều nguyên lý và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, Ví dụ khi dạy bài 46 sinh học 12, GV có thể cho mỗi nhóm hoàn thành 1 chủ đề (như tình trạng

ô nhiễm môi trường đất, nước khí,…) ở địa phương mà các em đang sinh sống, có tìm, số liệu minh chứng và báo cáo

- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học: Môn sinh học là một môn gắn lý thuyết với thực tiễn, vì vậy phương tiện dạy

học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính tích cực và trãi nghiệm sáng tạo của HS thì các phương tiện trực quan và thí nghiệm, thực hành có ý nghĩa rất quan trọng Phương tiện dạy học sinh học rất đa dạng, GV có thể sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, mẩu vật thật như cây, con,… hoặc kết hợp các phương tiện công nghệ thông tin như video, trình chiếu, e-learning, trường học kết nối,…Bằng cách riêng GV có thể đặt câu hỏi gợi mở giúp học sinh khai thác kiến thức từ những phương tiện hoặc công nghệ thông tin trong dạy học Ví dụ để dạy nội dung kiến thức về cấu tạo hoa trong sinh sản hữu tính ở thực vật thì GV có thể đưa mẩu vật đó là 1 cành hoa hoặc chiếu hình ảnh 1 cành hoa, GV đặt câu hỏi giúp HS gợi mở để rút ra nội dung kiến thức về cơ quan sinh sản đực và cái của hoa

- Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học: Sơ đồ tư duy trong dạy học môn sinh học là

một trong những hình thức dạy học giúp học sinh có thể hệ thống được kiến thức môn sinh học 1 cách tổng thể và vận dụng kiến thức môn học 1 cách linh hoạt để giải các đề

Trang 19

thi Ví dụ để dạy nội kiến thức phần biến dị trong chương trình sinh học 12, GV có thể

đưa sơ đồ tư duy giúp HS hệ thống kiến thức, hiểu và vận dụng kiến thức tốt hơn

- Sử dụng thí nghiệm, thực hành trong dạy học sinh học: Thí nghiệm, thực hành

trong dạy học môn sinh học là 1 phương pháp dạy học có thể phát triển năng lực của HS, giúp HS chủ động tìm kiến thức và vận dụng kiến thức linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống

Ví dụ để dạy kiến thức khuếch tán trong chương trình sinh học 10, 11 thì GV có thể đưa

ví dụ hoặc làm thí nghiệm, yêu cầu HS rút ra đặc điểm cơ bản của khuếch tán và vận dụng nó linh hoạt đời sống hàng ngày như rửa rau, trái cây,…

4 Kết quả

Năm học 2015-2016, Tôi được nhà trường phân công dạy 2 khối là khối 11 và khối 12 Sau khi Tôi áp dụng việc đổi mới phương pháp dạy học phát triển năng lực của HS Tôi

có thu được kết quả điểm trung bình môn qua bảng thống kê sau:

Bảng 1: Thống kê kết quả giảng dạy học năm học 2015-2016

TL (%) SL

TL (%)

Qua phân tích bảng 1, tôi nhận thấy học sinh đạt loại giỏi là 46%, loại khá là 39%

và loại trung bình là 17%, không có loại yếu Vì vậy, với việc dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh đã mang lại hiệu quả cao cho người học Đồng thời cũng góp phần thúc đẩy hiệu quả đào tạo của ngành giáo dục tiến thêm bước nữa trong tương lai

GV cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hoạt động dạy và HS thì cần phải chủ động, tích cực trong hoạt động học Nhà trường cũng cần tạo điều kiện về phương tiện, cơ sở vật chất cho hoạt động dạy học,

Cần cung cấp thêm sách báo, tài liệu tham khảo khác có liên quan đến chuyên ngành sinh học để cho GV và HS có thêm tài tham khảo

Đối với giáo viên, cần tích cực học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để nâng cao kiến thức và phương pháp dạy học bộ môn./

Trang 20

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TẠI TRƯỜNG

THPT DTNT HUỲNH CƯƠNG

Thạch Thị Si Viêl Trường THPTDTNT Huỳnh Cương

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực.Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 29-NQ/TW8 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo là “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo” Trong xu hướng chuyển đổi đó, việc đổi mới dạy và học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học đang được chú trọng Bên cạnh đó việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải theo hướng phát triển năng lực Trong bài tham luận này tôi xin trình bày một hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực

II NỘI DUNG

Để hướng việc dạy và học theo hướng phát triển năng lực học sinh, tôi sẽ áp dụng phương pháp dạy học theo chủ đề, HS làm việc theo nhóm là chủ yếu Ở phương pháp này GV phải tự thiết kế một chủ đề cụ thể và hướng dẫn học sinh làm việc theo mục tiêu tiếp cận năng lực mà chủ đề hướng tới Như vậy một chủ đề cần đảm bảo các bước sau:

- Xác định chủ đề

- Mạch kiến thức của chủ đề: trong phần nay GV liệt kê các kiến thức cần đạt được trong chủ đề

- Xác định các năng lực hướng tới của chủ đề

- Bảng mô tả mức độ câu hỏi/bài tập/thực hành thí nghiệm đánh giá năng lực của học sinh qua chủ đề

- Hệ thống câu hỏi, thực hành thí nghiệm theo mức độ đã mô tả

- Tiến trình dạy học của chủ đề

Dưới đây là một hoạt động cụ thể:

CHỦ ĐỀ: HỆ SINH THÁI, SINH QUYỂN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1 Mạch kiến thức của chủ đề:

- Khái niệm hệ sinh thái

- Thành phần cấu trúc của hệ sinh thái

- Các kiểu hệ sinh thái chủ yếu trên trái đất

- Trao đổi vật chất trong hệ sinh thái

- Tháp sinh thái

- Chu trình sinh địa hóa

+ Chu trình cacbon: trong chu trinh cacbon đặc biệt chú ý tới hiệu ứng nhà kính

+ Chu trình nước: liên hệ với việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước

- Dòng năng lượng trong hệ sinh thái và hiệu suất sinh thái

- Thực hành: Quản lí và sử dụng bên vững tài nguyên thiên nhiên

2 Xác định các năng lực hướng tới của chủ đề

a Các năng lực chung:

Trang 21

Tên năng lực Các kĩ năng thành phần

Giải quyết tình huống gặp trong thực tế tại khuôn viên trường

- Các hệ sinh thái cụ thể (có hình ảnh kèm theo)

- Thực trạng về môi trường (trong phòng ở, lớp học và khuôn viên nhà trường) và hướng giải quyết

- Chu trình Cacbon trong trường và khu vực lận cận, hướng khắc phục hiệu ứng nhà kính

- Thực trạng điện và nước sạch sử dụng trong khu nội trú, đề ra các biện pháp sử dụng tiết kiệm điện, nước

NL tư duy

HS tự đề suất ra ý tưởng:

- Bảo vệ môi trường sinh thái tại trường

- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiện có tại địa phương

- Nghiên cứu tốt tài liệu liên quan; biết sử dụng tốt các phần mềm

hỗ trợ như: power point, projestor, video, flash, …

NL sử dụng

ngôn ngữ

Diễn đạt thành thạo khi lên trình bày các báo cáo của nhóm

NL giao tiếp Tuyên truyền cách bảo vệ môi trường

b Các năng lực chuyên biệt:

Các kĩ năng khoa học

Các kĩ năng Các kĩ năng ứng với nội dung chủ đề

Quan sát

- Các kiểu hệ sinh thái trong nhà trường

- Môi trường xung quanh

- Mối quan hệ dinh dưỡng trong hệ sinh thái tại cánh đồng của gia đình

Phân loại

- Phân loại các kiểu hệ sinh thái

- Phân loại chuỗi thức ăn và lưới thức ăn

- Phân loại các bậc dinh dưỡng và tháp sinh thái

- Phân loại các chu trình sinh địa hóa Tìm mối liên hệ - Mối liên hệ giữa việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi

Trang 22

trường Tính toán - Hiệu suất sinh thái qua các bậc dinh dưỡng

Đưa ra các tiên

đoán, nhận định

- Tiên đoán về môi trường tại trường học và địa phương

Thí nghiệm - Thiết kế thí nghiệm: Quản lý và sử dụng bền vững tài

nguyên thiên nhiên

3 Bảng mô tả mức độ câu hỏi/bài tập/thực hành thí nghiệm đánh giá năng lực của

học sinh qua chủ đề

Nội dung

Mức độ nhận thức Nhận biết Thông hiểu Vận dụng

NL tự học

NL phân loại

- So sánh hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo

NL tư duy

- Ví dụ về hệ sinh thái tại trường

NL quan sát

- Phân tích thành phần cấu trúc của hệ sinh thái vừa ví dụ

- Thực trạng về hệ sinh thái tại trường

NL tư duy

- Hướng phát triển trong tương lai đối với hệ sinh thái tại trường

NL tư duy và NL giải quyết tình huống

- Nêu ví dụ cụ thể cho từng khái niệm

NL tự học

- So sánh các chuỗi thức ăn

- So sánh lưới thức ăn trong

hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo

NL tự học

NL tư duy

- Phân biệt 3 loại tháp sinh thái

NL phân loại

- Lấy ví dụ cụ thể về chuỗi thức ăn và lưới thức tại nới mình đang sống

- Lập sơ đồ về chu trình cacbon và chu

Trang 23

- Hướng khắc phục hiệu ứng nhà kính

- Thực trạng nước sạch sử dụng trong khu nội trú, đề ra các biện pháp sử dụng tiết kiệm nước

NL tư duy, NL quan sát và NL giải quyết tình huống

- khái niệm hiệu suất sinh thái

NL tự học

- Giải thích về

truyền năng lượng qua các bậc dinh dưỡng trong hệ sinh thái

Đề suất biện pháp

sự dụng điện, nước tiết kiệm mà đem lại hiệu quả cao nhất

NL thí nghiệm

NL giải quyết tình huống

4 Hệ thống câu hỏi, thực hành thí nghiệm theo mức độ đã mô tả

Trang 24

Một hình ảnh được ghi nhận tại thành phố Sóc Trăng Từ hình ảnh trên hãy trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1 Trong hình có các kiểu hệ sinh thái nào?

A Hệ sinh thái tự nhiên

B Hệ sinh thái nhân tao

C Cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo

D Không phải là một hệ sinh thái

Câu 2 Phân tích thành phần cấu trúc của hệ sinh thái vừa nêu trong hình

Câu 3 Thiết lập sơ đồ chu trình cacbon cho hệ sinh thái trong hình ảnh? Em có nhận xét

gì trong chu trình cac bon trên Dự đoán về thực trạng và đề suất các biện pháp nhằm cải thiện hệ sinh thái thành phố Sóc Trăng

Hình ảnh trên ghi nhận tại khuôn viên trường THPT DTNT Huỳnh cương Năm học 2016 – 2017 trường với tổng số HS là 594 Tháng 11/2016 toàn trường tiêu thụ 2114m 3 nước và 11.710 kWh điện, đây là mức tiêu thụ rất cao Từ thông tin trên hãy trả lời các câu hỏi sau:

Câu 4 Em có nhận xét gì về môi trường sinh thái tại nhà trường? Đế suất các biện pháp nhằm cải thiện tốt hơn môi trường sinh thái tại trường

Câu 5 Đề suất các giải pháp nhằm sử dụng tiết kiệm điện và nước trong nhà trường nhưng đem lại hiệu quả cao nhất

5 Tiến trình dạy học của chủ đề

Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

- Chia nhóm hoạt động

- Theo dõi hoạt động của các nhóm

- Kết nối hoạt động của các nhóm

- Nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động

- Đặt các câu hỏi về chủ đề mà nhóm gặp trong quá trình làm việc

- Đại diện các nhóm lên báo cáo

- Các nhóm tranh luận

Trang 25

III K T LUẬN:

Trong những bước đầu tìm hiểu về phương pháp dạy học theo định phát huy năng lực của học sinh tôi nhận thấy phương pháp dạy học này có nhiều ưu điểm, vì nó giúp người học chủ động và tích cực hơn trong học tập và sáng tạo, ngoài ra còn tạo điều kiện để các

em làm việc hợp tác và tìm kiếm thông tin góp phần khắc phục được những hạn chế của phương pháp dạy học theo định hướng nội dung

Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc áp dụng phương pháp dạy học môn Sinh học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh Do kinh nghiệm còn hạn chế nên bài tham luận còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý vị lãnh đạo cùng quý đồng nghiệp./

Trang 26

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TỔ CHỨC THAM QUAN THỰC T

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Nguyễn Thị Thu Hương Trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai

MỞ ĐẦU

Hoạt động ngoại khóa trong nhà trường là thành phần quan trọng không thể tách rời trong chương trình giáo dục Sự việc này góp phần làm cho các môn học thêm sinh động, thực tế, vui hơn và quan trọng nhất là những giá trị thiết thực mà học sinh nhận được từ hoạt động này tạo tiền đề để các em phát triển nhân cách, tri thức, năng khiếu một cách toàn diện Vì lẽ đó, bên cạnh những hoạt động ngoại khóa được tổ chức trong nhà trường, từ năm học 2011 – 2012 đến nay, tổ Sinh – KTNN cùng một số tổ chuyên môn khác của trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai đã tổ chức các chuyến tham quan thực tế ngoài tự nhiên cho học sinh lớp chuyên Mỗi chuyến tham quan đều gắn với việc thực hiện một chuyên đề cụ thể nhằm tăng cường kỹ năng nghiên cứu và tinh thần học tập nghiêm túc của các em học sinh

PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC

Thời gian và địa điểm tham quan

Chuyến tham quan được tổ chức ít nhất một lần mỗi năm, ngay khi vừa kết thúc thi học kì 1, vào tuần trả bài thi Như vậy, học sinh có thể đi tham quan nhiều ngày mà không ảnh hưởng đến việc học các môn khác

Tùy vào từng chuyên đề cụ thể mà chọn địa điểm tham quan phù hợp Ví dụ: Để thực hiện chuyên đề “Tìm hiểu đa dạng sinh học rừng ngập mặn Sóc Trăng”, chúng tôi đã phối hợp với các Cán bộ Kiểm lâm hướng dẫn học sinh tham quan rừng ngập mặn tỉnh nhà; thực hiện chuyên đề “Trồng rau thủy canh và bán thủy canh”, học sinh được tham quan vườn cà chua bán thủy canh của nông dân Nguyễn Văn Đẹp ở tỉnh Bình Dương; thực hiện chuyên đề “Tìm hiểu về các nguồn năng lượng sạch”, học sinh được tham quan Nhà máy Điện gió tỉnh Bạc Liêu; thực hiện chuyên đề “Tìm hiểu sự đa dạng sinh vật biển”, học sinh được tham quan Viện Hải dương học Nha Trang; thực hiện chuyên đề

“Tìm hiểu qui trình sản xuất cà phê chồn và trà”, học sinh được tham quan các trang trại

cà phê và đồi chè ở TP Đà Lạt,…

Tổ chức tham quan

Ban tổ chức cần khảo sát trước nơi tham quan, đảm bảo các điều kiện vệ sinh thực phẩm và nhất là sự an toàn tuyệt đối cho học sinh Nên giới hạn số lượng học sinh tham gia phù hợp với sức chứa của nơi đến Cố gắng vận động các nguồn tài chính hỗ trợ cho học sinh vượt khó học giởi, miễn hoặc giảm giá vé cho các em đạt giải cao trong các kì

thì,…Điều này sẽ tạo nên phong trào học tập tích cực trong nhà trường

Lập kế hoạch chặt chẽ với lịch trình tham quan chi tiết, nội dung các chuyên đề sẽ thực hiện, kinh phí đóng góp, đơn đăng kí tham gia với chữ kí của phụ huynh… Cho học sinh tự nguyện đăng kí trước khi tham quan khoảng 2 tuần, nếu số lượng học sinh quá đông có thể hợp tác với một công ty du lịch uy tín tổ chức theo yêu cầu của tổ chuyên môn

Trang 27

Nhiều tổ chuyên môn có thể kết hợp với nhau hướng dẫn các em thực hiện nhiều chuyên đề thuộc nhiều lĩnh vực trong cùng một chuyến đi Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức tổ chức, đồng thời có sự chia sẻ trách nhiệm quản lí học sinh cũng như tăng cường sự kết nối giữa nhiều giáo viên và học sinh trong trường

Trước khi tham quan, học sinh được phổ biến lịch trình và phân nhóm để thực hiện nội dung chuyên đề Nên chia thành nhiều chuyên đề nhỏ, mỗi chuyên đề phân công cho tối đa 15 học sinh thực hiện và có ít nhất một giáo viên trực tiếp hướng dẫn

Cụ thể, khi tham quan rừng ngập mặn Sóc Trăng, học sinh được phân thành nhóm thu mẫu thực vật và nhóm thu mẫu động vật Phương pháp thu mẫu và xử lí mẫu vật, giáo viên phổ biến trước khi đi và trực tiếp hướng dẫn ngoài thực địa Ở mỗi nơi thu mẫu, học sinh đều ghi chép cẩn thận các đặc điểm sinh thái của các loài sinh vật thông qua quan sát hoặc phỏng vấn nhân dân địa phương Hoặc trước khi tham quan vườn cà chua thủy canh, học sinh được hướng dẫn nghiên cứu tài liệu về kỹ thuật trồng cây thủy canh, tìm hiểu những thông tin sơ bộ trên báo đài về nơi mình sẽ đến tham quan

Chương trình tham quan cụ thể sẽ được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm từng nơi đến Chẳng hạn khi tổ chức tham quan rừng ngập mặn, dựa vào đặc điểm sinh thái khu vực, chúng tôi cho học sinh tham quan ở 2 địa điểm: 1 Rừng bần trồng ở bãi bồi rừng ngập mặn huyện Cù Lao Dung; 2 Rừng đước và vườn ươm cây ngập mặn huyện Vĩnh Châu Ngoài ra, để chuyến đi thật sự hiệu quả và thuyết phục, chúng tôi còn liên hệ với với cán bộ hoặc người dân trực tiếp hướng dẫn các em tìm hiểu những thông tin thực

tế của địa phương Học sinh sẽ ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn, quay clip,… làm nguồn tư liệu cho chuyên đề

Hiệu quả giáo dục của chương trình tham quan thể hiện rất rõ rệt Hầu hết các em học sinh đều thích thú, hào hứng khi được tự mình khám phá nhiều điều mà trước đây chỉ được biết qua sách vở Các em rất chăm chú khi nghe cán bộ hoặc dân địa phương chia sẻ nhiều thông tin thú vị về rừng hay qui trình trồng cà chua thủy canh, chủ động nêu ra nhiều câu hỏi thắc mắc hay rất hăng hái trong khi thu thập các mẫu vật Học sinh được bổ sung kiến thức khoa học và mở rộng tầm hiểu biết về xã hội, về cuộc sống đa dạng của người dân địa phương, đây cũng là dịp tốt nhất để giáo viên thực hiện công tác giáo dục môi trường cho các em Bên cạnh mục tiêu học tập, tham quan thực tế còn giúp học sinh giải trí, thư giãn hiệu quả sau những giờ học căng thẳng trong nhà trường Các học sinh

có thêm sự khăng khít, tình đoàn kết giữa các thành viên, trang bị cho các em kinh nghiệm sống tập thể trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội

K T LUẬN

Trang 28

Tham quan thực tế đã trở thành hoạt động thường niên của một số tổ chuyên môn của trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai Các chuyến đi đã được tổ chức thành công tốt đẹp, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của học sinh, và trên hết là sự tin tưởng

và ủng hộ của phụ huynh vào nhà trường ngày càng được nâng lên rõ rệt Đi thực tế ngoài tự nhiên không chỉ là cách bổ trợ kiến thức vô cùng hiệu quả cho các môn học trong nhà trường mà còn là dịp để các em nâng cao kỹ năng sống cho bản thân, rèn luyện tính tự lập, là dịp để các em chứng minh cho cha mẹ thấy rằng mình đã thực sự trưởng thành, đã thực sự biết tự lo cho bản thân khi không có người thân bên cạnh Đây sẽ là sự chuẩn bị rất cần thiết cho học sinh tự tin bước vào các bậc học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CÁC CHUY N THAM QUAN

Hình 1 Tham quan vườn cà chua thủy

canh - tỉnh Bình Dương

Hình 2 Báo cáo chuyên đề về rừng ngập mặn

Trang 29

PHẦN II KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN

NGUYỄN THỊ MINH KHAI

Đặng Như Ngọc Trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nếu như trước đây chất lượng giáo dục của một trường THPT được đánh giá dựa trên

tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT và đậu vào các trường đại học, cao đẳng thì vài năm gần đây, kết quả thi học sinh giỏi (HSG) cũng góp phần không nhỏ vào việc khẳng định thương hiệu nhà trường Thực tế này đã tạo động lực để các trường THPT trong tỉnh quan tâm nhiều hơn công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu

Đối với trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai, bồi dưỡng học sinh giỏi được xem là nhiệm vụ trọng tâm của toàn thể giáo viên nhà trường, góp phần khẳng định vị thế

và uy tín của nhà trường trong hệ thống trường chuyên của quốc gia Trong 3 năm trở lại đây, thành tích học sinh giỏi của trường trong các kì thi cấp tỉnh, cấp khu vực và cấp quốc gia không ngừng tăng về số lượng và thứ hạng giải thưởng Tuy vậy, kết quả này chưa đều ở các bộ môn và môn Sinh học vẫn nằm trong nhóm có thành tích HSG quốc gia thấp Để cải thiện kết quả học sinh giỏi bộ môn, các thầy cô tổ Sinh chúng tôi không ngừng tìm biện pháp, thay đổi cách giảng dạy cũng như tự rèn luyện về mặt chuyên môn

Và chúng tôi xin mạnh dạn chia sẽ với quý thầy cô thông qua bài tham luận “Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh ở Trường THPT Chuyên NTMK”

2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

2.1 Đặc điểm tình hình dạy học sinh giỏi tại trường THPT Chuyên NTMK

 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm của Sở Giáo dục – Đào tạo về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

- Được sự chỉ đạo tận tình của lãnh đạo nhà trường

- Các em học sinh chăm ngoan, cần cù và chịu khó

- Toàn thể giáo viên trong tổ rất quyết tâm với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đam mê nghiên cứu và giảng dạy tận tình các chuyên đề được phân công

- Tổ luôn tạo sự đoàn kết thống nhất cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

 Khó khăn:

- Ít được dự hội nghị chuyên đề về bồi dưỡng học sinh giỏi

- Khả năng tự nghiên cứu của học sinh còn hạn chế

- Nguồn học sinh giỏi môn Sinh từ cấp THCS trên địa bạn chưa phát huy hết tiềm năng

Trang 30

- Các học sinh có năng lực còn e dè, phân vân lựa chọn giữa thi học sinh giỏi và thi đại học

- Chế độ bồi dưỡng cho giáo viên tham gia dạy đội tuyển chưa được quan tâm nhiều

2.2 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường

2.2.1 Thành lập đội tuyển

Từ năm học 2014 – 2015 trở về trước, chúng tôi lựa chọn đội tuyển theo hình thức tập trung một lần Cụ thể, khi bắt đầu học kì I, GV sẽ thông báo tất cả các lớp về thời gian thành lập đội tuyển để các em đăng ký Song song đó, khi giảng dạy trên lớp, nếu phát hiện học sinh ưu tú, giáo viên sẽ khuyến khích để các em tham gia vào đội tuyển Sau đó, tiến hành dạy và chọn đội tuyển để đi thi vào khoảng cuối tháng 8 Sau khi có kết quả học sinh giỏi tỉnh, giáo viên sẽ tiếp tục bồi dưỡng và chọn lựa học sinh tham gia các kì thi khác như Olympic 30/4, Trại hè phương nam

Do thời gian thi học sinh giỏi cấp tỉnh là vào giữa tháng 9, nên với cách làm này, chúng tôi thường bỏ sót cũng như chưa đánh giá hết năng lực của học sinh Kết quả, khi các em tham gia các kì thi cấp khu vực và cấp quốc gia, thành tích chưa cao

Từ năm học 2015 – 2016, chúng tôi thay đổi cách thức tuyển chọn HSG Đối với đội tuyển có sẵn (những học sinh đạt kết quả cao trong các kì thi cấp tỉnh và khu vực), chúng tôi tổ chức bồi dưỡng ngay sau khi các em kết thúc học kì II và hoàn thành những nội dung cơ bản trước khi bắt đầu năm học mới Đây là đội tuyển chủ lực tham dự các kì thi cấp tỉnh và khu vực cho bộ môn

Đối với đội dự tuyển, chúng tôi tổ chức đăng kí và dạy ngay sau khi có kết quả trúng tuyển vào lớp 10 Lúc bắt đầu, giáo viên chỉ dạy vài chuyên đề với nội dung đại cương và đưa tài liệu, hướng dẫn các em cách nghiên cứu tài liệu Trong suốt quá trình dạy, giáo viên sẽ có những bài kiểm tra đánh giá theo định kì Đến giữa tháng 8, các em sẽ làm một bài thi cấp trường Dựa trên kết quả bài thi và các bài kiểm tra, chúng tôi sẽ chọn đội tuyển chính thức tham dự kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh Đây là nguồn để chúng tôi tiếp tục

bổ sung vào đội tuyển của bộ môn

2.2.2 Xây dựng chương trình bồi dưỡng

 Phân công giáo viên bồi dưỡng

Đối với môn Sinh, chúng tôi phân thành các chuyên đề chính: sinh học tế bào, vi sinh vật, sinh lí thực vật, sinh lí động vật, di truyền – tiến hóa, sinh thái học và thực hành thí nghiệm Mỗi giáo viên trong tổ phụ trách từ 1 đến 2 chuyên đề và giảng dạy theo nguyên tắc từ cơ bản đến nâng cao

 Tài liệu

- Bộ sách giáo khoa Sinh học 10, 11, 12

- Bộ sách chuyên đề dành cho học sinh trường chuyên

- Sinh học Campbell – tài liệu dịch

2.2.3Phương pháp bồi dưỡng

- Giáo viên lập kế hoạch giảng dạy và chịu trách nhiệm về chuyên đề mình phụ trách

- Tiến hành dạy từ cơ bản đến nâng cao

Trang 31

- Xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá kết hợp giải các đề thi

- Giáo viên chấm và sửa bài, chỉ ra những điểm mạnh, yếu cơ bản của mỗi bài

2.3 Kết quả thi học sinh giỏi từ năm 2014 – 2016

quốc gia

2016 - 2017 (chưa thi) Olympic

Trên đây là một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi của tổ sinh được đút kết qua thực tế giảng dạy đội tuyển tại trường Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy cô để chúng tôi tiếp tục làm tốt công việc này trong những năm học tiếp theo./

Trang 32

KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

- Trong những năm gần đây, qua các kỳ thi HSG vòng Tỉnh, trường THPT Phú Tâm đã đạt được thành công nhỏ góp phần vào việc thúc đẩy phong trào chung của toàn trường Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày các vấn đề dưới hình thức trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp

II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

1 Thuận lợi:

- Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời của BGH, có kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị tương đối đầy đủ

- Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, có lòng đam mê và nhiệt tình trong công việc

- Học sinh giỏi được chọn và bồi dưỡng khi kết thúc học kì I của lớp 10, 11 và trong dịp hè nên các em có nhiều thời gian học tập

2 Khó khăn:

- Giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng và công tác kiêm nhiệm do đó việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có phần bị hạn chế

- Tốn nhiều thời gian nghiên cứu khi giải các bài toán khó

- Vào đầu năm học, học sinh học chương trình chính khóa phải học nhiều môn, cộng thêm chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi nên các em rất hạn chế về thời gian tự học và tự nghiên cứu

- Trong một thời gian ngắn các em phải nhớ nhiều kiến thức và các dạng bài tập một cách khái quát, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao của toàn cấp

III GIẢI PHÁP:

1 Công tác tuyển chọn học sinh giỏi:

Trang 33

Đây là khâu đầu tiên và rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng

Vì vậy trong công tác tuyển chọn học sinh giỏi cần lưu ý các vấn đề:

Việc chọn học sinh giỏi ở lớp 11 sẽ giảm áp lực cho khối 12 và tạo tính ổn định về chất lượng của đội tuyển qua các năm học

1.2 Yêu cầu đối với học sinh giỏi:

- Học sinh phải có khả năng tự học cao

- Học sinh phải có lòng tự tin, đam mê bộ môn, thích nghiên cứu, hiểu thế giới sống và có nguyện vọng muốn tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi

- Học sinh phải giỏi, chuyên cần, có trí nhớ tốt, có độ nhạy về chuyên môn, chữ viết khá rõ ràng, cẩn thận, sạch đẹp Đặc biệt lưu ý các học sinh ở bậc THCS các em đã tham gia kì thi HSG môn Sinh và đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh

- Có khả năng hệ thống hóa được kiến thức trong từng bài, từng chương và từng phần ở từng khối, kể cả kiến thức đã được học ở cấp II

- Biết cách nhận biết suy luận được vấn đề, không gập khuôn, vận dụng được kiến thức cơ bản để giải thích các câu hỏi nâng cao

- Có kĩ năng sử dụng dụng cụ thiết bị thực hành thí nghiệm, biết các phản ứng hóa học đặc trưng được dùng trong bộ môn Sinh

- Học sinh phải có định hướng thi đại học khối B

1.3 Yêu cầu đối với người thầy:

- Phải có kế hoạch giảng dạy cụ thể, nắm vững phương châm: dạy chắc cơ bản mới nâng cao

- Nhiệt tình, tâm huyết và có năng lực chuyên môn vững

- Luôn phối hợp với GVBM để tìm ra những em học sinh có năng khiếu

- Phải đạt “ cái tâm ” và phải luôn luyện “ cái tầm” Cái tâm thể hiện ở cách nghĩ, cách làm Luyện cái tầm: phải đầu tư nghiên cứu kiến thức bộ môn sâu và rộng, phải có nhiều tài liệu phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi

- Lựa chọn trang Web hữu ích, chuyên đề hay trên mạng internet

- Luôn lắng nghe và học hỏi kinh nghiệm từ các bạn đồng nghiệp

- Tham khảo các đề thi học sinh giỏi tỉnh, đề thi học sinh giỏi quốc gia…

2 Quy trình bồi dưỡng học sinh giỏi:

2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi:

Trang 34

Sau khi đã phát hiện và thành lập được đội tuyển để dự thi HSG cấp tỉnh, việc tiếp theo là xây dựng kế hoạch, phân công giáo viên giảng dạy theo chuyên đề, bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và phân bố thời gian hợp lí Trong đó có một giáo viên chịu trách nhiệm chung để kiểm tra từng chuyên đề

2.2 Nội dung bồi dưỡng:

Do đối tượng học sinh bồi dưỡng là học sinh lớp 10,11 nên giáo viên dạy theo hướng vừa ôn, vừa học trong thời gian 8 tháng theo kế hoạch gồm các nội dung:

* Tháng 01, 02, 03 : gồm các chuyên đề:

- Ôn lý thuyết nội dung chương trình sinh 10 cơ bản và nâng cao

- Lý thuyết và phương pháp giải bài tập về cơ chế của hiện tượng di truyền và biến dị:

- Cơ chế của hiện tượng di truyền và biến dị ở cấp độ tế bào

- Cơ chế của hiện tượng di truyền và biến dị ở cấp độ phân tử

- Học sinh làm bài kiểm tra

* Tháng 04, 05: gồm các chuyên đề:

- Sinh học cơ thể chương trình Sinh 11 cơ bản và nâng cao

- Hệ thống câu hỏi vận dụng kiến thức, giải thích hiện tượng phần sinh học cơ thể

- Học sinh làm bài kiểm tra

* Tháng 06, 07: gồm các chuyên đề:

- Lý thuyết và phương pháp giải bài tập về tính quy luật của hiện tượng di truyền: Quy luật Menđen, tương tác gen, liên kết gen, hoán vị gen và quy luật di truyền liên kết với giới tính

- Lý thuyết và phương pháp giải bài tập về di truyền học quần thể

- Lý thuyết và phương pháp giải bài tập về di truyền học người

- Học sinh làm bài kiểm tra

* Tháng 08: gồm các chuyên đề:

- Tiến hóa và sinh thái lớp 12 cơ bản và nâng cao

- Hướng dẫn làm các bài thực hành có trong chương trình Sinh học THPT và bài phúc trình: làm tiêu bản, giải thích các hiện tượng có trong thí nghiệm

- Học sinh làm bài kiểm tra tổng hợp

Trang 35

Một là: Phát huy tính tự giác, chủ động và khả năng hệ thống hóa kiến thức của học sinh:

Học không có nghĩa là thụ động tiếp thu tất cả những kiến thức giáo viên truyền đạt mà học sinh cần phải tự giác chủ động tìm tòi thêm kiến thức, biết hệ thống hóa kiến thức Ngoài tài liệu giáo viên cung cấp học sinh cần sưu tầm thêm những tài liệu, bài tập

bổ sung sẽ giúp học sinh nhớ lâu, nhớ kĩ và vận dụng linh hoạt trong quá trình làm bài

Học sinh phải yêu thiên nhiên, biết tìm hiểu và nghiên cứu thực tế hoặc từ các phim tài liệu về con người, thực vật, động vật, y học … sẽ vận dụng kiến thức giải thích các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và trong cuộc sống

Hai là: Lắng nghe ý kiến của học sinh:

Khi bồi dưỡng học sinh giỏi do số lượng học sinh ít nên giáo viên có điều kiện tiếp xúc với từng học sinh, thầy không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức mà còn phải lắng nghe những ý kiến từ phía học sinh, từ đó điều chỉnh và giúp học sinh tiến bộ Đặt biệt người thầy không nên áp đặt, mà cần khuyến khích cho học sinh nhận định được vấn đề, phát hiện được cái hay, cái sáng tạo khi giải bài tập Với kiến thức và kinh nghiệm giáo viên sẽ giúp học sinh sàng lọc và khắc sâu được kiến thức

Ba là: Kiểm tra đánh giá:

Sau khi hoàn thành xong một buổi học hoặc một chuyên đề, giáo viên sẽ yêu cầu học sinh học bài và kiểm tra để xem học sinh có thực hiện tốt nhiệm vụ về nhà không Nếu em nào chưa hoàn thành tốt thì trình bày rõ lý do, rút kinh nghiệm và khắc phục

* Kiểm tra đánh giá theo từng chuyên đề :

- Kiểm tra đánh giá là một việc rất quan trọng trong suốt thời gian bồi dưỡng, qua

đó sẽ giúp cho giáo viên phát hiện được phần kiến thức nào học sinh chưa nắm vững, đồng thời bổ sung đáp án hoàn chỉnh Chẳng hạn như sau khi ôn phần sinh học tế bào, yêu cầu học sinh phải nắm được:

+ Cấu trúc và chức năng cacbohiđrat, nước, lipit, protêin, axit nuclêic

+ Cấu trúc và chức năng của các bào quan

+ So sánh được điểm giống và khác nhau giữa AND và ARN; giữa tế bào nhân sơ

và tế bào nhân thực, giữa tế bào động vật và tế bào thực vật, giữa các bào quan

+ So sánh phương thức vận chuyển các chất qua màng sinh chất

+ Câu hỏi vận dụng

- Một cách kiểm tra đánh giá nữa là cho học sinh tự đánh giá, từ đó rút ra được những sai sót cần tránh khi giải bài tập, tự rút kinh nghiệm cho bản thân

* Kiểm tra đánh giá tổng hợp: Qua thời gian bồi dưỡng theo từng đơn vị kiến

thức giáo viên ra đề tổng hợp gồm các nội dung:

+ Sinh học tế bào, vi sinh vật, ứng dụng

+ Sinh học cơ thể: Thực vật, động vật và cơ thể người, câu hỏi vận dụng

+ Cơ chế di truyền và biến dị, các quy luật di truyền, tiến hóa, sinh thái

+ Bài tập: Các dạng bài tập từ cơ bản đến nâng cao, bám sát từng chuyên đề + Bài thực hành: Cách làm tiêu bản, cách tiến hành, cách làm bài phúc trình

Trang 36

Số lượng bài kiểm tra từ 8  10 bài hay nhiều hơn, trong đó bao gồm đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh của các năm trước kết hợp với đề của giáo viên, sau đó giáo viên sửa bài và rút kinh nghiệm, khắc phục các lỗi trong cách trình bày, lỗi về nội dung, biết cách làm thế nào cho ngắn gọn mà đủ ý, tránh mất thời gian vào những ý không có trong đáp

án

IV K T QUẢ: Trong những năm qua, kết quả đạt được như sau:

- Năm học 2011 - 2012: Đạt 2 giải (II,III)

- Năm học 2012 - 2013: Đạt 1 giải khuyến khích

- Năm học 2013 - 2014: Đạt 2 giải III

- Năm học 2014 - 2015: Đạt 3 giải ( 2 giải II, 1 giải III)

- Năm học 2015 - 2016: Đạt 1 giải II

Để có được kết quả trên, chúng tôi luôn xem công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một niềm vui, thành tích của các em đạt được chính là phần thưởng lớn nhất Đó là động lực thúc đẩy chúng tôi phải luôn tự học và trao dồi thêm kiến thức

V KI N NGHỊ VÀ K T LUẬN:

- Về phía nhà trường:

+ Trang bị thêm các loại sách tham khảo

+ BGH có kế hoạch theo dõi, quan tâm, động viên và nhắc nhở giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công

Trang 37

PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP SINH HỌC

Trịnh Hoàng Nam Trường THPT Trần Văn Bảy

I LÝ DO

Trong bộ môn sinh học bài tập thể hiện khá ít nhưng dựa trên cơ sở lý thuyết để giải, it

có công thức, trong chương trình sinh học 10,11,12 rất ít tiết chỉ có 1 hoặc 1,5 tiết/tuần, còn bài tập chỉ có 1, 2 tiết/hk nên việc ôn luyện kỹ năng làm bài tập cho các em là một vấn đề rất khó khăn, hơn nữa trong các kỳ thi hiện nay (TNTHQG, HSG, …) bài tập khá nhiều và rất đa dạng, việc giải bài tập có một ý nghĩa rất quan trọng đối với giáo viên và học sinh Ngoài việc rèn luyện kỹ năng vận dụng, đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, bài tập cũng được dùng để ôn tập, rèn luyện một số kỹ năng về học

lý thuyết, nắm vững kiến thức Thông qua giải bài tập, giúp học sinh rèn luyện tính tích cực, trí thông minh, sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú trong học tập

Việc lựa chọn phương pháp thích hợp để giải bài tập lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn Mỗi bài tập có thể có nhiều phương pháp giải khác nhau cũng như có những dạng bài tập có những phương pháp giải đặc trưng Nếu biết lựa chọn phương pháp hợp lý và nắm vững các dạng bài tập cơ bản thường gặp, sẽ giúp học sinh nắm vững hơn bản chất của các hiện tượng, cơ chế sinh học

Qua nhiều năm giảng dạy ôn thi TN, HSG (đặc biệt là ôn luyện Casio) tôi xin đưa ra một số bài tập và phương pháp giải, xin chia sẽ và được nhận nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô

II NỘI DUNG

I/ SINH HỌC LỚP 10

1 Bài 5, 6 Axitnucleic sinh học 10 và bài 1 Nhân đôi ADN sinh học 12

Ví dụ : một gen chứa 1498 lien kết hoa trị giữa cac nuclêôtit Gen tiến hành nhân đôi ba

lần và đã sữ dụng của môi trường 3150 nucleotit loại adenin Xác định số lượng từng loại nucleotit moi trường cung cấp, số liên kết hydro bị pha vỡ va số liên kết hoa trị được hình

thành trong qúa trình nhân đôi của gen

Hướng dẫn giải

Khi gen nhân đôi ba lần :

Gọi N la số nucleotit của gen ta có : N - 2 = 1498 => N = 1500 ( nu)

- Theo đề bài ta suy ra : (23 -1) a = 3150

- Vậy số lượng từng loại nuclêôtit của gen :

A = T = 3150 / ( 23 -1 ) = 450 (nu)

G = X = N/2 - A = 1500/2 -450 = 300 (nu)

- Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp :

Amt = Tmt = 3150 ( nu )

Trang 38

Gmt = Xmt = ( 23 - 1 ).300 = 2100 (nu)

- Số liên kết hyđrô bị phá vỡ : Hpv = HADN ( 2n - 1 )

- Số liên kế hyđrô của gen : 2A + 3G = 2.450 + 3.300 = 1800

- Số liên kết hyđrô bị phá vỡ qua nhân đôi : ( 23 - 1 ).1800 = 12600 liên kết

- Số liên kết hoá trị hình thành : ( 23 -1 ).1498 = 10486 liên kết

2 Bài 8 tế bào nhân sơ

DIỆN TÍCH BỀ MẶT VÀ THỂ TÍCH CỦA VI KHUẨN DẠNG CẦU

- Diện tích bề mặt: S=4.π R2

- Thể tích V=4/3.π.R3

Ví dụ : Giả sử, đường kính của 1 trứng cóc là 30µm và của 1cầu khuẩn là 2µm Tính

diện tích bề mặt, thể tích của trứng cóc và cầu khuẩn So sánh tỉ lệ diện tích và thể tích (S/V) của trứng cóc và cầu khuẩn, từ đó rút ra kết luận

- Tỉ lệ S/V của cầu khuẩn là: 12,56 / 4,1867 ≈ 2,9999

=> Tỉ lệ S/V của cầu khuẩn so với trứng cóc là: 2,9999/0,2 ≈ 15lần

a/ Nếu đường kính của tế bào hình cầu này là 1 µm, thì nồng độ phân tử tính theo mol của ADN trong tế bào này là bao nhiêu ?

b/ Nếu phân tử ADN trên có dạng cấu hình được mô tả lần đầu tiên bởi Watson và Crick, thì chiều dài của phân tử ADN này là bao nhiêu mét?

c/ Để thu được 1 mg ADN, cần có bao nhiêu tế bào vi khuẩn

Trang 39

a/ Mỗi tế bào vi khuẩn chứa 1 phân tử ADN

Số mol ADN trong 1 tế bào vi khuẩn là: = 1,6667 x 10-24 (mol)

Thể tích tế bào hình cầu tính theo công thức

V = 4/3 πr3 = 4/3 x 3,1416,x (1/2)

3 = 0,5236 (µm

3) = 0,5236 x 10

-15 (dm

3

) = 0,5236 x 10

-15 Vậy nồng độ ADN trong tế bào là: = 3,1832 x 10-9 (mol/l)

b/ Chiều dài của phân tử ADN này là: 4 x 106 x 3,4 x 10

– 9 = 1,36 x 10

- 3 (mét) c/ Để thu được 1 mg ADN, cần có bao nhiêu tế bào vi khuẩn

1 cặp nucleotit có khối lượng phân tử 660 đvC → 6 x 1023 (1 mol), có khối lượng = 660g

→ 1 phân tử ADN có 4 x106 nu có khối lượng = = 4,4 x 10

-15

g

- Để có 1 mg ADN = 10

-3

g ADN thì cần = = 2,2727 x 1011 phân tử ADN

- Mà mỗi tế bào vi khuẩn chỉ có 1 phân tử ADN

- Vậy số tế bào vi khuẩn cần có để thu được 1mg ADN là 2,2727 x 10

11

tế bào

II/ SINH HỌC LỚP 11

1 Bài 11 sinh học 10, bài 1, 8 sinh học 11

Ví dụ 1: Một tế bào thực vật có áp suất thẩm thấu là 4.0 atm Thả tế bào này vào dd

chứa NaCl 0.01M, CaSO4 0,02M, CaCl2 0,03M Sau 30 phút, hãy xác định sức trương nước T của tế bào Biết nhiệt độ phòng thí nghiệm là 250

C

Hướng dẫn giải

Chât tan NaCl có hệ số i = 2, Chất tan CaSO4 có hệ số i = 2,Chất tan CaCl2 có hệ số i = 3

- Áp suất thẩm thấu do NaCl gây ra = 0.082 x (273 + 25) x 0.01 x 2 = 0.487 atm

- Áp suất thẩm thấu do CaSO4 gây ra = 0.082 x (273 + 25) x 0.02 x 2 = 0.974 atm

- Áp suất thẩm thấu do CaCl2 gây ra = 0.082 x (273 + 25) x 0.03 x 3 = 2.191 atm

- Áp suất thẩm thấu do dd này = 0.487 + 0.974 + 2.191 = 3,652 atm

- Sau 30 phút đặt tế bào thực vật vào dd thì giữa tb và dd thiết lập được trạng thái cân bằng nước khi đó sức hút nước của tế bào cân bằng với áp suất thẩm thấu của dd

Khi đó S = Ptb – Ttb = Pdd → T = Pdd - Ptb = 4.0 – 3.652 = 0.348 atm Vậy T = 0.348 atm

Ví dụ 2: Theo dõi sự trao đổi khí của 2 thực vật A và B trong bình thủy tinh kín được

cung cấp đầy đủ đk sống, người ta ghi nhận được số liệu dưới đây:

23

106

1

x

15 24

10 5236 , 0

10 6667 , 1

x x

23 6

106

660104

x

x x

15 3

10 4 , 4

10

x

Trang 40

Đối tượng Lượng CO2 giảm khi được

chiếu sáng

Lượng CO2 tăng khi không có ánh sáng

38 , 15

- Trong 1 giờ , số mol nước được quang phân li là :

44 1000

38 , 15

x 2

- Số gam nước mà thực vật A đã quang phân li trong suốt 6 giờ chiếu sáng là:

44.1000

38,15

x

2 x18 = 0.0126

b/ Cường độ quang hợp thực của thực vật B: 18 + 1.8 = 19.8 mg/dm2/giờ

- Trong 1 giờ , số mol CO2 được đồng hóa là :

44 1000

8 19

- Trong 1 giờ , số mol nước được quang phân li là:

44 1000

8 19

x 2

- Số gam nước mà thực vật B đã quang phân li trong suốt 6 giờ chiếu sáng là:

44 1000

8 19

x 2 x18 = 0.0162

3 Bài 6 sinh học 11

Ví dụ: Cho biết công thức hóa học của một số loại phân đạm tương ứng sau: Phân Ure:

(NH4)2CO; Phân nitrat: KNO3 , phân đạm sunphat: (NH4)2SO4 , Phân đạm nitrat amon:

NH4NO3

a/ Hãy tính hàm lượng nito trong các loại phân đạm nói trên

b/ Tính lượng phân đạm mỗi loại cần cho lúa để đạt năng suất trung bình 65 tạ/ha Biết rằng để thu được 100kg thóc cần 1,2kg N Hệ số sử dụng nito ở cây lúa chỉ đạt 70% Trong mỗi ha đất trồng lúa luôn có khoảng 15kg N do vi sinh vật cố định đạm tạo ra

Hướng dẫn giải

a/ Hãy tính hàm lượng nito trong các loại phân đạm nói trên

- Phân ure có khối lượng phân tử = 2 x (14 + 4) + 12 + 16 = 62

Hàm lượng N trong ure là =

64

2.14

= 43,75%

- Phân nitrat có khối lượng phân tử = 39 + 14 + 3 x 16 = 101

Ngày đăng: 09/04/2019, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w