Dõi theo tiến trình lịch sử dân tộc, có thể khẳng định Thanh Hóa có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm từ buổi đầu dựng nước đến thời cận hiện đại.. Tình hình
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ
Các trích dẫn, minh họa trong luận văn là chính xác, có tính khoa học
và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà nội, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Cao Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Người đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả rất trân trọng và biết ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy, Cô giáo khoa Lịch sử - Học viện khoa học xã hội đã giành cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp của Trường THPT Thụy Hương - Hải Phòng đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban quản lý thư viện Viện sử, thư viện tỉnh Thanh Hóa, Hội sử học Thanh Hóa, Ban quản lý các di tích lịch
sử Thanh Hóa đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình sưu tầm tài liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, cho tác giả gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân
đã luôn ủng hộ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Hà nội, ngày 20 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Cao Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THANH HÓA THẾ KỶ XIII - XIV 9
1.1 Khái quát vị trí địa lý và địa hình Thanh Hóa 9
1.2 Diên cách hành chính Thanh Hóa thời Trần (Lộ, Trấn) 11
1.3 Đặc điểm dân cư Thanh Hóa 14
1.4 Truyền thống yêu nước và đấu tranh của nhân dân 15
Chương 2 THANH HÓA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG THẾ KỶ XIII - XIV 22
2.1 Tình hình Đại Việt cuối thế kỷ XII đến thế kỷ XIII 22
2.2 Sự lớn mạnh và âm mưu xâm lược Đại Việt của đế quốc Mông Cổ 24
2.3 Khái quát cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược của nhà Trần thế kỷ XIII 26
2.4 Nhân dân Thanh Hóa kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược 37
Chương 3 THANH HÓA TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG CHIÊM THÀNH THẾ KỶ XIII - XIV 54
3.1 Sự suy thoái của nhà Trần và sự lớn mạnh của Chiêm Thành ở cuối thế kỷ XIV 54
3.2 Mối quan hệ giữa Đại Việt với Chiêm Thành thế kỷ XIII - XIV 55
3.3 Các cuộc xung đột giữa Đại Việt với Chiêm Thành cuối thế kỷ XIV 57 3.4 Cuộc kháng chiến chống Chiêm Thành của nhà Trần trên địa bàn Thanh Hóa 60
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chặng đường dài phát triển của lịch sử dân tộc, đất nước ta
đã tiến hành hàng loạt các cuộc đấu tranh đầy gian nan vất vả để trường tồn
và phát triển Thắng lợi của những cuộc đấu tranh đó đã khẳng định sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc và truyền thống yêu nước của nhân dân ta được lưu truyền từ ngàn xưa – mỗi khi tổ quốc lâm nguy cả dân tộc lại chung sức đấu tranh giành độc lập
Do điều kiện địa lý đặc thù, ngay từ thuở các vua Hùng dựng nước và qua nhiều thế kỷ tiếp theo, nước ta luôn bị các vương triều phong kiến nước ngoài, các thế lực thực dân - đế quốc nhòm ngó, đe dọa và xâm lược Từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần thế kỷ thứ III (trước công nguyên) đến nay, Việt Nam trải qua hơn 10 thế kỷ đấu tranh chống Bắc thuộc, tiếp đó là 2 cuộc kháng chiến chống Tống (thế kỷ X, XI), ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông (thế kỷ XIII); 20 năm kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ XV), kháng chiến chống quân Mãn Thanh (cuối thế kỷ XVIII) và hơn 80 năm chống thực dân Pháp, hơn 20 năm chống đế quốc Mĩ xâm lược (thế kỷ XIX-XX) Trong các cuộc đấu tranh ấy bằng sức mạnh của cả dân tộc, tài năng trí tuệ của người dân đất Việt chúng ta đã làm nên những thắng lợi vẻ vang buộc
kẻ thù xâm lược phải rút quân về nước
Thế kỷ XIII - XIV, quốc gia Đại Việt tồn tại và phát triển dưới sự trị vì của vương triều Trần Trải qua các đời vua Trần, đất nước ta đã có bước phát triển mạnh về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội Bên cạnh đó, nhà Trần cũng phải đương đầu với họa xâm lăng của đế chế Mông Cổ với 3 lần đưa quân tấn công xâm lược Đại Việt Hơn thế nữa, cũng trong thời gian này nhà Trần cũng phải đối mặt với cuộc tấn công của quân Chiêm Thành từ phía Nam đất nước Vua quan nhà Trần đã đã gồng mình cùng nhân dân cả nước chống các
Trang 8thế lực xâm lược Trong cuộc chiến chống xâm lược đó của nhà Trần đã có đóng góp không nhỏ của quân dân Thanh Hóa
Thanh Hóa là vùng đất có bề dày về lịch sử đấu tranh các mạng từ bao đời Lịch sử dân tộc đã chỉ ra rằng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 ( 1284 - 1285) Thanh Hóa vừa là hậu phương vừa là mặt trận chính của cuộc kháng chiến Mảnh đất anh hùng này không chỉ là chiến trường ác liệt mà còn là trung tâm đầu não bảo vệ, che chở cho các vua Trần thực hiện chiến lược “thanh dã” (vường không, nhà trống), rời Thăng Long cùng quân dân các địa phương tổ chức kháng chiến chống quân xâm lược Nhận rõ vị trí địa lí quan trọng cũng như truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Thanh Hóa, các vua Trần đã coi Thanh Hóa là điểm tựa vững chắc trong phong trào đấu tranh giành độc lập Trong kế sách chống giặc bình Nguyên ở thế kỷ XIII, Thanh Hóa là kho lương, kho lính, nguồn dự trữ hùng hậu khi tổ quốc lâm nguy Trong thời khắc nguy nan nhất, vua Trần
Nhân Tông đã rất tự tin mà viết nên vần thơ hào sảng: Cối Kê cựu sự quân tu ký; Hoan Ái do tồn thập vạn binh (Cối Kê chuyện cũ ngươi nên nhớ; Hoan Ái
còn đây chục vạn quân) Cũng từ Thanh Hóa kế sách giải phóng Thăng Long
đã được thực hiện trọn vẹn với những chiến thắng vang dội Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết…
Trong thế kỷ XIII-XIV, có những thời điểm, quốc gia Đại Việt ở trong một tình thế rất phức tạp, đặc biệt là vùng biên viễn phía Nam Lợi dụng sự suy yếu của triều Trần, nước Chiêm Thành hưng khởi và thường xuyên đem quân cướp phá vùng Hoá Châu, tấn công ra Thanh Nghệ, vượt biển tấn công
ra Thăng Long Từ giữa thập niên 50 (thế kỷ XIV) về sau, xung đột giữa Đại Việt với Chiêm Thành lên đến đỉnh cao mang tính chất đối đầu trực tiếp Một lần nữa, Thanh Hoá lại trở thành điểm nóng của cuộc xung đột kéo dài gần ½ thế kỷ Địa bàn Thanh Hóa là một trong những điểm thường xuyên bị quân
Trang 9Chiêm Thành đánh phá Nhiều cuộc đụng độ lớn giữa Chiêm Thành và Đại Việt đã diễn ra và cuối cùng thì công cuộc bình Chiêm thắng lợi Trong chiến thắng chung ấy nhân dân Thanh Hóa đã đóng góp một phần công sức đáng kể Dõi theo tiến trình lịch sử dân tộc, có thể khẳng định Thanh Hóa có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm (từ buổi đầu dựng nước đến thời cận hiện đại) Trong khuôn khổ của một luận văn Cao học, tôi hy vọng việc tìm hiểu, nghiên cứu Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và chống Chiêm Thành (thế kỷ XIII – XIV) sẽ giúp tôi
có thêm những tri thức mới về lịch sử Thanh Hoá, từ đó, với tư cách là một giáo viên dạy môn lịch sử sẽ trao truyền những kiến thức có được cũng như niềm tự hào về lịch sử quê hương cho các thế hệ trẻ - chủ nhân của tương lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông nói chung và Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và chống Chiêm Thành ở thế kỷ XIII - XIV nói riêng đã được nghiên cứu trên các bình
diện khác nhau
Về cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên- Mông có thể kể đến công
trình nghiên cứu Lịch sử Việt Nam và Tài liệu về cuộc kháng chiến của nhà Trần đã ngăn chặn sự bành trướng của Mông Cổ xuống Đông Nam Á của Đào Duy Anh; tác phẩm “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm; “Việt Nam ba lần đánh quân Nguyên toàn thắng” của Nguyễn Lương Bích Các tác phẩm đã viết rất rõ về bối cảnh, diễn
biến và nguyên nhân thắng lợi của ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông của Đại Việt thế kỷ XIII, đồng thời các tác phẩm này cũng dành một số trang viết về cuộc kháng chiến của nhân dân Champa Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII còn được phản ánh qua nhiều bộ thông sử, đó là các bộ giáo trình giảng dạy của khoa Lịch sử trường Đại học
Trang 10Tổng hợp; Đại học Sư phạm; là cuốn thông sử Lịch sử Việt Nam do UBKHXH xuất bản năm 1971; Lịch sử Việt Nam tập 2 do nhóm các nhà
nghiên cứu Viện Sử học biên soạn (xuất bản năm 2007, tái bản năm 2013 và 2016); các công trình nghiên cứu của Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng v.v… Ngoài ra, liên quan đến nội dung luận văn còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Lịch sử quân sự…
Về lịch sử Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ
XIII- XIV đã được nghiên cứu trong các công trình như: Lịch sử Thanh Hóa của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa; Địa chí Thanh Hóa tập 1
- Địa Lý và Lịch sử; Địa chí Hậu Lộc của Nxb KHXH: Các công trình đã
giành nhiều chương viết về cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân Thanh Hóa qua các triều đại phong kiến Việt Nam Đặc biệt cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của triều Trần trên địa bàn Thanh Hóa và nhân dân Thanh Hóa chống quân Nguyên Mông được viết rất cụ thể Bài viết:
“Một tấm bia đời Trần mới được phát hiện” của Phùng Văn Cường và Phạm
Văn Kính, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 156 (Tháng 5 và 6 năm 1974) đã mô tả lại cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhân dân Thanh Hóa thông qua việc tìm hiểu một tấm bia từ đời Trần ở làng Trường Tân, xã Quảng Hùng, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Công trình
nghiên cứu: “Vài nét về thái ấp Văn Trinh của Trần Nhật Duật” của Nguyễn
Thị Phương Chi, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 9 (340) năm 2004
đã làm nổi bật được vai trò hậu phương của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược Thanh Hóa là căn cứ địa vững chắc,
là nơi tập hợp lực lượng, nơi lui quân của triều Trần trong cuộc kháng chiến
Về cuộc kháng chiến chống quân Chiêm Thành xâm lấn thế kỷ XIII -
XIV cũng có nhiều bài viết đề cập đến như:“Quan hệ giữa Đại Việt với Chăm
Trang 11Pa thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)” của Nguyễn Thị Phương Chi, đăng trên tạp
chí nghiên cứu Đông Nam Á Bài viết đã tóm tắt gắn gọn về các cuộc xung đột giữa Đại Việt và Chiêm Thành qua các năm từ nửa cuối thế kỷ XIII đến
thế kỷ XIV Bài viết: “Hồ Quý Ly với vấn đề Chiêm Thành” của Nguyễn Đức
Nhuệ cũng đã lột tả được những quan hệ căng thẳng giữa Đại Việt với Chiêm Thành ở thế kỷ XIII - XIV (Tạp chí NCLS, 1992)
Về cuộc kháng chiến chống Chiêm Thành trên địa bàn Thanh Hóa có bài
viết:“Tìm hiểu những trận đánh quân Chiêm Thành và quân Minh của Hồ Quý
Ly ở Thanh Hóa” của Hà Mạnh Khoa (Tạp chí NCLS, 1992), bài biết đã mô tả
lại trận đánh của triều Trần chống quân Chiêm ở Thanh Hóa Ngoài ra còn có
nhiều bài viết khác đăng trên các Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (NCLS)…
Như vậy, Cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân ta thế kỷ XIII -
XIV nói chung và của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến này nói riêng đã được nhiều thế hệ các học giả quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình có giá trị Do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau nên những công trình trên mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề Với những vấn đề nghiên cứu nêu ở trên và cũng để hoàn thành đề tài của mình, chúng tôi kế thừa những thành tựu mà thế hệ người nghiên cứu đi trước đã đạt được và áp dụng những phương pháp nghiên cứu, hướng tiếp cận đa chiều với hy vọng có
được kết quả tốt nhất và đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài là làm sáng rõ vai trò của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và chống Chiêm Thành dưới thời Trần Qua đó thấy được sức
mạnh đoàn kết của dân tộc trong công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12- Đề tài khái quát lại cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông và chống
Chiêm Thành của triều Trần và quân dân Thanh Hóa ở thế kỷ XIII – XIV
- Làm sáng tỏ hai vai trò: Hậu phương và tiền tuyến của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông và cuộc kháng chiến chống quân Chiêm Thành dưới thời Trần
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài này là nghiên cứu, tìm hiểu
về những đóng góp của quân và dân Thanh Hóa trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông và chống Chiêm Thành, bảo vệ nền độc lập của quốc gia Đại Việt trong thời Trần (thế kỷ XIII-XIV)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian: Địa bàn Thanh Hóa thời Trần (lộ, trấn)
- Giới hạn về thời gian: Giai đoạn vương triều Trần trị vì quốc gia Đại Việt (1226-1400)
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chính sau: Giới thiệu những nét khái quát về mặt địa lý, hành chính và dân cư Thanh Hóa ở thế kỷ XIII – XIV
Những nét chính về cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông và chống Chiêm Thành của quân dân triều Trần
Vai trò của Thanh Hóa trong sự nghiệp chống Nguyên bình Chiêm ở thế
Trang 13một cách khách quan về vai trò của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược ở thế kỷ XIII – XIV
- Quan điểm sử học Mác xít cũng là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý nguồn tài liệu trên tinh thần khoa học và đảm bảo tính lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp được vận dụng chủ yếu và xuyên suốt trong đề tài là phương pháp lịch sử và logic Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên quan nhằm đạt được kết quả tốt nhất trong nghiên cứu của mình như phương pháp điền dã, khảo cứu thực địa (ví như tìm hiểu dấu vết thái ấp của Trần Nhật Duật ở Thanh Hoá, dấu vết các trận đánh quân Nguyên ở Quang Lộc, Liên Lộc huyện Hậu Lộc; khảo sát một số dấu vết
về cuộc chiến đấu của quân dân nhà Trần trên sông Bố Vệ )
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận của luận văn: Luận văn lược sử lại quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Đại Việt dưới thời Trần, đồng thời làm rõ vai trò của Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông và chống
Chiêm Thành dưới thời Trần (thế kỷ XIII – XIV)
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn là tài liệu tham khảo để nghiên cứu về lịch sử đấu tranh của nhân dân Thanh Hóa Từ những căn cứ khoa học, luận văn nhằm thể hiện rõ vai trò hậu phương và tiền tuyến của Thanh Hóa trong giai đoạn lịch sử thế kỷ XIII - XIV Từ đó, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử địa phương Thanh Hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn chia làm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Khái quát Thanh Hóa thế kỷ XIII - XIV
Chương 2: Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII - XIV
Chương 3: Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Chiêm Thành thế
kỷ XIII - XIV
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THANH HÓA THẾ KỶ XIII - XIV
1.1 Khái quát vị trí địa lý và địa hình Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh nằm ở cực bắc của Trung Bộ, có cảnh quan rất
đa dạng và phong phú, là hình ảnh thu nhỏ của cảnh quan Việt Nam trải rộng dài 200km trên lưu vực sông Mã có miền núi, trung du, đồng bằng và biển đảo Địa hình Thanh Hóa là đồi núi trập trùng hiểm trở ở phía tây vây quanh những thung lũng hẹp và dài, những dòng sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Yên với hàng chục chi lưu nhỏ lấy nước từ hàng trăm, hàng ngàn khe suối trên vùng cao đổ về làm nên sự hung dữ của dòng chảy trong mùa mưa , nhưng hiền hòa về mùa khô Vùng trung du trải dài với nhiều dải đồi núi chạy theo hướng đông tây đã tạo nên sự chia cắt địa hình dữ dội Đồng bằng cao thấp bậc thang, ở nơi đồng chiêm trũng, lại có thêm nhiều đồi núi sót Ngoài khơi là các đảo đá như: đảo Mê, đảo Nẹ… nhấp nhô xen kẽ các trũng biển sâu Ven biển là vùng đồng bằng cát mặn bãi triều, nơi sinh sôi của các loài sú vẹt và phù du Trạng thái lồi lõm, đứt nối của địa hình Thanh Hóa là một hình ảnh cổ xưa còn sót lại của lãnh thổ miền Bắc Việt Nam hình thành cách ngày nay hàng triệu năm
Xác định vị trí địa chính trị quan trọng có tính chiến lược của tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV đã coi miền đất Thanh Hóa là “phên dậu thứ
hai phía nam” đất nước Sách Đại Nam nhất thống chí biên soạn dưới triều
Nguyễn đã viết: “Thanh Hóa đông liền biển lớn, tây cắp rừng dài, Khe Lãnh Thủy chặn ở phía nam, núi Tam Điệp ngăn về phía bắc, sông lớn thì có Lương Mã và Ngọc Giáp, núi sông quanh bọc, cao thấp lẫn xen Hội Trào và
Y Bích là khóa then mặt biển, Lôi Dương và Vĩnh Lộc là xung yếu đường trên” Các triều đại phong kiến trước đây còn xác định Thanh Hóa là “một
Trang 16trấn quan trọng, nơi xung yếu” Hơn nữa đây còn là vùng đất thiêng nơi sinh
ra nhiều bậc vương tướng, văn nho
Với vị trí địa lý cộng thêm tài lực về con người đó trong lịch sử, Thanh Hóa đã từng là chỗ dựa vững chắc cho ông cha ta đánh giặc phương Bắc và là một điểm hậu cứ để mở cõi về phương Nam Trong suốt chiều dài đấu tranh giữ nước của dân tộc, vùng đất Thanh Hóa luôn được coi là vùng đất “phên dậu”, là cứ điểm quan trọng của cả nước Có thể chứng minh cụ thể đó là: Năm 980, khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, ông đã chọn vùng đất Thanh Hóa
để thực thi những chính sách phát triển kinh tế, kết hợp với quốc phòng, như
là đào các hệ thống sông ngòi chằng chịt nhằm mở mang giao thông đường thủy, phục vụ ý đồ chiến lược quân sự trong việc bảo vệ biên giới phía nam, trong đó có cả tác dụng phục vụ sản xuất kinh tế nông nghiệp, chuẩn bị một hậu phương lớn về nhân tài vật lực cho công cuộc chống Tống, bình Chiêm giữ vững nền độc lập dân tộc vào những thập kỷ cuối thế kỷ X Từ năm 1009
- 1225, thời kỳ tồn tại của vương triều Lý; sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long), Châu Ái, Hoan Châu trở thành miền đất xa trung tâm chính trị của đất nước và là đất
“Trại” sau đó là một phủ của quốc gia Đại Việt Các vua nhà Lý đặc biệt quan tâm đến vùng đất Thanh Hóa, coi đây là vùng đất “phên dậu” và đẩy mặt công cuộc xây dựng trên quy mô lớn về mọi mặt Nhà Lý đã cử các đại thần như
Lý Thường Kiệt, Chu Công, Phạm Tín, Đỗ Nguyên Thiện, Lương Cải, Dương Chưởng “coi giữ” miền đất quan trọng này Đặc biệt dưới đời vua Lý Thái
Tổ, Lý Thái Tông, Thanh Hóa trở thành hậu phương an toàn cho những lần dừng chân trước khi hành binh về phương Nam.Thời kỳ trị vì của vương triều Trần (1226 - 1400) tính chất “Trại” và “phên dậu” của Thanh Hóa lại một lần nữa lại khẳng định Nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi và những con người tài giỏi, yêu nước của vùng đất Thanh Hóa đã giúp triều Trần làm nên những
Trang 17chiến công hiển hách trong lịch sử dân tộc - Ba lần đại phá quân Nguyên Mông xâm lược
Từ những cứ liệu cụ thể được minh họa trên đây cho thấy rõ vị trí chiến lược của vùng đất Thanh Hóa cũng như vùng phên dậu phía Nam Đại Việt có tầm quan trọng hết sức đặc biệt cho sự hưng vong của đất nước
1.2 Diên cách hành chính Thanh Hóa thời Trần (Lộ, Trấn)
Năm 1226, Vương triều Trần thay Vương triều Lý, mở đầu bằng Trần Cảnh tức Trần Thái Tông
Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ và đặt các chức quan cai quản từ lộ đến xã
Cuối thời Lý đầu thời Trần Thanh Hóa là Phủ, năm nguyên Phong thứ 6 đời Trần Thái Tông (1256) đổi thành Trại, năm Bảo Phù thứ 3 (1275) đời Trần Thánh Tông lại gọi là Phủ Cuối Trần (không rõ năm) đổi là lộ rồi trấn Năm 1397, trấn Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Đô
Vùng đất Thanh Hóa từ cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIV gồm có 7 huyện, 3 châu (mỗi châu có 4 huyện)
Trong đó, 7 huyện là:
Huyện Cổ Đằng, với trung tâm là đất Kẻ Đừng - Phú Khê Niên hiệu
Hưng Long (1293 - 1314) nhà Trần đặt làm huyện Cổ Đằng, nay thuộc huyện Hoằng Hóa
Huyện Cổ Hoằng, ngày nay là một phần đất huyện Hoằng Hóa
Huyện Đông Sơn: Trước kia gọi là Đông Dương hoặc Đông Cương Đến
thời Trần gọi là huyện Đông Sơn Nay thuộc huyện Đông Sơn
Trang 18Huyện Cổ Lôi, ngày nay là huyện Thọ Xuân và một phần đất huyện Thường Xuân
Huyện Vĩnh Ninh, thuộc vào địa phận huyện Vĩnh Lộc ngày nay nằm ở
Ba châu gồm:
Châu Ái gồm 4 huyện: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga
- Huyện Hà Trung: Ngày nay là thị xã Bỉm Sơn và huyện Hà Trung
- Huyện Thống Bình, thuộc huyện Hậu Lộc ngày nay
- Huyện Tống Giang, là địa phận thuộc một số xã phía tây Nga Sơn, thị
xã Bỉm Sơn và một số xã phía đông Bắc Hà Trung
- Huyện Chi Nga: Phần đất hiện nay thuộc huyện Nga Sơn
Châu Cửu Chân gồm 4 huyện: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông
Trang 19- Huyện Nông Cống: Là phần đất phía Tây Nam Thanh Hóa gồm cả Như Xuân ngày nay
Châu Thanh Hóa gồm 4 huyện: Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang
- Huyện Nga Lạc: Địa phận huyện Ngọc Lặc ngày nay, là một phần đất Thọ Xuân ở tả ngạn sông Chu
- Huyện Tế Giang: Vùng đất phía tây Thạch Thành ngày nay
- Huyện Yên Lạc: Phần đất của huyện Cẩm Thủy, Bá Thước ngày nay
- Huyện Lỗi Giang: Tương đương với huyện Cẩm Thủy, Bá Thước ngày nay [ 3, tr.117 – 119]
Ở Thanh Hóa nhà Trần đặt các chức An phủ, Trấn phủ, hai viên chánh phó để cai trị Năm 1243, Vua Trần cử Trần Thủ Độ đi kiểm tra sổ đinh và ông được cử làm tri Thanh hóa phủ sự: “Phong Trần Thủ Độ làm Thống quốc Thái sư tri Thanh Hóa phủ sự” [25, tr.12] và 1238 “duyệt sổ đinh Thanh Hóa” [25, tr.15]
Nhà Trần rất quan tâm đến việc tổ chức xây dựng chính quyền cấp cơ sở Theo chế độ quản lý chung của nhà nước, các xã, sách ở Thanh Hóa đều có chức tiểu tư xã, đại tư xã thuộc ngạch quan chức của triều đình quản giữ cùng với xã sử, xã chính, xã giám, gọi là xã quan [25, tr.16] Hiệu lực của các tổ chức quản lý đó chặt chẽ và có tác dụng ở Thanh Hóa Bia 興 福 寺 (Bia chùa Hưng Phúc) ở hương Yên Duyên (nay thuộc xã Quảng Hùng huyện Quảng Xương) dựng và khắc năm Khai Thái thứ 13 (1324) nói rõ việc Đại toát Lê Mạnh người đứng đầu hương Yên Duyên vào đời Trần đã tổ chức và xây dựng làng xã góp công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 (1285)
Trang 20Thời Trần, cương vực các huyện, xã của Thanh Hóa đã rõ ràng, bộ máy chính quyền từ phủ hoặc trấn đến giáp hương, xã được kiện toàn và tổ chức chặt chẽ
1.3 Đặc điểm dân cư Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có dân số lớn thứ ba của Việt Nam, đồng thời cũng là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất trong cả nước (với 27 đơn vị
hành chính cấp huyện và tương đương)
Lịch sử hình thành và phát triển của Thanh Hóa gắn liền với quá trình cộng cư của người Việt với người Mường và các dân tộc khác, chủ yếu có 7 dân tộc là: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú Trong đó, người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp Các
dân tộc khác có dân số và địa bàn sống thu hẹp hơn
Trong lịch sử, quá trình di dân giữa các vùng miền là một quy luật khách quan và diễn ra thường xuyên Có sự nhập cư thì cũng có sự chuyển cư
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chuyển cư, có thể là các thầy đồ đi dạy học,
có người đi buôn bán, làm ăn xa không trở về quê cũ và cũng có thể vì lí do chính trị mà phải bỏ quê quán ra đi Trong tình hình tư liệu hiện nay việc xác định quá trình người Thanh Hóa chuyển cư đến các địa phương khác thời Lý - Trần là rất khó khăn Theo gia phả họ Bùi ở Thịnh Liệt (dòng Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích ) cho biết dòng họ này gốc từ Cát Xuyên (Hoằng Hoá), chuyển ra ở Thịnh Liệt vào thời cuối Trần; sau khi định cư ở xã Định Công một đời mới dời về Thịnh Liệt Dòng họ này từ thời Lê đã nổi danh nhiều người đỗ đạt (Tiến sĩ Bùi Xương Trạch -1478; Bảng nhãn Bùi Vĩnh -1532; Tiến sĩ Bùi Bỉnh Quân - 1619; Hoàng giáp Bùi Huy Bích -1769) v.v
Dựa vào các tài liệu lịch sử và các di tích khảo cổ học cho thấy địa bàn Thanh Hóa là nơi có cư dân sinh sống từ rất sớm Cùng với thời gian, địa bàn
tụ cư ngày càng được mở rộng
Trang 21Ở khu vực đồng bằng, đặc biệt là quanh khu vực đồng bằng sông Mã, từ
xa xưa, dân cư Thanh Hóa đã có hướng phát triển ra nhiều phía Từ rất sớm, ở vùng đồng bằng Thanh Hóa mà trung tâm là ngã ba sông Mã, sông Chu đã xuất hiện những tụ điểm dân cư thực sự đông đúc Đó là các địa điểm: Thiệu Dương, Đông Sơn, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ…Các di chỉ khảo cổ học từ thời Tiền sử, Sơ sử đã khẳng định quá trình tu cư sớm trên những địa bàn này Vùng trung du miền núi Thanh Hóa là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Mường, họ sống tập trung thành các làng bản, nằm dưới chân những dãy núi cao
Khu vực ven biển Thanh Hóa, diện cư trú của cư dân ngày càng được
mở rộng với những “làng cổ” Có thể nói, cư dân Thanh Hóa từ rất sớm đã có mặt trên khắp các miền của tỉnh
Dân cư vùng này chủ yếu sống bằng nghề nông trồng lúa nước, sống quần cư theo hình thức xóm, làng Luôn đoàn kết trong trị thủy, thủy lợi, trong đấu tranh chống giặc giữ nước
Người dân Thanh Hóa luôn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất và
có tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong đời sống, nhất là khi thiên tai, dịch bệnh Trải qua những giai đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân nơi đây vẫn bất khuất, kiên trung vượt qua mọi khó khăn để vươn lên Chính trên mảnh đất này người dân Thanh Hóa đoàn kết làm nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần vào những trang sử hào hùng của dân tộc
1.4 Truyền thống yêu nước và đấu tranh của nhân dân
Những tư liệu lịch sử còn lại ngày nay cho ta thấy, ngay từ buổi đầu hình thành cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất Thanh Hóa, biết bao thế hệ người dân nơi đây đã đoàn kết đấu tranh không ngừng để củng cố nền độc lập dân tộc cũng như chống lại chế độ cai trị hà khắc Trong
Trang 22các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc những người dân nơi đây đã không quản ngại gian khổ, hi sinh, góp phần xứng đáng vào những chiến công hiển hách của dân tộc
Thanh Hóa vốn là một vùng đất có vị trí và vai trò đặc biệt trong lịch
sử Việt Nam Về địa lý, đây là vùng đất trung gian nối miền Bắc với miền Nam của đất nước Về văn hóa, Thanh Hóa là nơi chứng kiến sự giao lưu tiếp xúc văn hóa vùng miền Bắc - Nam, là vùng đất tiếp nối những ảnh hưởng chính trị từ kinh đô Thăng Long lan truyền vào những vùng đất phía Nam của tổ quốc, và ngược lại Ngoài ra, đây còn là đất “thang mộc” của
cả hai triều đại: Lê sơ - Lê Trung Hưng và triều Nguyễn trong lịch sử Trung đại Việt Nam Thanh Hóa luôn là vùng đất “căn bản”, vùng đất "dấy nghiệp" của các vương triều ấy
Thanh Hóa là quê hương của nhiều anh hùng dân tộc, là đất anh hùng và
đế vương với nhiều danh nhân tiêu biểu như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Hồ Quý Ly, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn… Hơn thế nữa, trong suốt lịch sử nghìn năm bắc thuộc, Thanh Hóa luôn là căn cứ tử thủ của nghĩa quân trong phong trào chống xâm lược Năm 938, Ngô Quyền từ đất Ái Châu diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Thời chống giặc phương Bắc, cư dân vùng đất này đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chống ngoại xâm, không để cho giặc phương bắc xâm lược, đồng hóa, mà ngược lại đã Việt hóa những kẻ di dân hàng loạt xuống phương Nam
Từ thời Lý-Trần, sự nghiệp của một số nhân vật người Thanh Hóa được
sử sách ghi chép lại như Đào Cam Mộc - một công thần có công lớn trong việc phò trợ Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009; Lê Phụng Hiểu với công lao dẹp “loạn Tam vương”, phò Lý Phật Mã lên ngôi (tức Lý Thái Tông) năm 1028; một số người thi đỗ làm quan triều Trần v.v
Trang 23Từ thời Trần, nhiều văn thân người gốc Thanh Hóa đã có đóng góp cho
sự phát triển thịnh trị của vương triều Về khoa bảng có Lê Văn Hưu, Lưu Diễm, Lưu Miễn; về chính trị có Lê Quát, trung thần tiết nghĩa có Lê Giốc, võ tướng nổi tiếng trung liệt có Trần Khát Chân
Lê Văn Hưu: người Phủ Lý, Đông Sơn (nay là xã Thiệu Trung, huyện
Thiệu Hoá), đỗ Bảng nhãn khoa thi năm 1247 khi mới 18 tuổi, được cử làm Giám tu Quốc sử viện, được vua Trần giao biên soạn bộ Đại Việt sử ký từ thời Triệu Đà đến hết thời Lý và hoàn thành năm 1272 Ông được tôn vinh là nhà Sử học đầu tiên của nước ta
Lưu Miễn: Quê xã Hoằng Quang (Thành phố Thanh Hoá), đỗ Đệ nhất
giáp đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa thi Thái học sinh năm Kỷ Hợi (1239), đời vua Trần Thái Tông
Lưu Miễn làm quan tại triều, tước Minh Tự, năm 1250, ông được thuyên
bổ làm An phủ sứ lộ Thanh Hoa; năm 1255, vua Trần Thái Tông sai ông bồi đắp đê sông các xứ ở Thanh Hoa (Thanh Hoá)
Do có nhiều công lao và kinh nghiệm trị thuỷ, tài năng tổ chức, đốc thúc công việc khai khẩn điền địa và phòng hộ đê điều (các đê sông Mã, sông Lường đều do ông chỉ huy), Lưu Miễn tiếp tục được giao chức Hà đê chánh
sứ phủ Thiên Trường (Nam Định) và chỉ huy đắp đê quai vạc ở Thông Lựa (huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình), đê Phú Vật (huyện Hưng Nhân) Ông chính
là người phụ trách việc đào sông Thái Sư tiêu úng cho hai huyện Hưng Nhân
và Duyên Hà theo lệnh của Thái sư Trần Thủ Độ
Lê Quát: Ông tên tự là Bá Đạt, hiệu là Mai Phong, người làng Phủ Lý,
huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), học trò Chu An Lúc bé ông du học ở Kinh sư, thi đỗ, được Minh Tông biết đến Trải làm đến Bộc xạ, sau trải thăng Thượng thư hữu bật, Nhập nội hành khiển
Trang 24Lê Giốc: được sử gia Phan Huy Chú xếp vào hàng “bề tôi tiết nghĩa”
Ông là con Lê Quát, người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), thời Trần Nghệ Tông làm Tuyên phủ sứ Nghệ An Bấy giờ Nghệ Tông đi đánh Chiêm Thành không về, Ngự Câu vương là Trần Húc hàng giặc Năm 1377, người Chiêm Thành cho quân đưa Húc đến Nghệ An tiếm xưng vua Nhiều người theo mệnh lệnh của giặc, chỉ trừ có ông Ông bị giặc bắt, giặc bảo lạy, ông cả giận nói : "Tao là trọng thần nước lớn, há lại lạy mày là quân tiểu man
à ?" Chửi không ngớt miệng, bị giặc giết Việc đó đến triều đình, truy tặng là
Mạ Tặc trung vũ hầu
Trần Khát Chân: quê ở Hà Lương (Vĩnh Lộc) Cuối thời Trần, quốc gia
Đại Việt thường xuyên bị Chiêm Thành tấn công Năm 1389, chúa Chiêm là Chế Bồng Nga đem quân đổ bộ vào địa bàn trấn Thanh Hoá để từ đó tiến ra Thăng Long Quân nhà Trần không chống đỡ nổi, vua Trần phải cử Đô tướng Trần Khát Chân chỉ huy quân Long Tiệp đến đóng ở sông Hải Triều cự nhau với giặc Trong trận này, quân Trần đã bắn chết chúa Chiêm là Chế Bồng Nga, đánh tan quân Chiêm và quan trọng là dập tắt ý chí xâm lược Đại Việt của Chiêm Thành Trần Khát Chân được phong Nội vệ Thượng tướng quân, tước Vũ Tiết Quan nội hầu và được ban Thái ấp ở Hoàng Mai (nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội)
Đặc biệt trong thời kì chống giặc giữ nước của triều Trần, nhân dân Thanh Hóa cũng góp một phần sức lực cho thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Một hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của nhân dân Thanh Hóa đó là: Sau hội nghị Diên Hồng (1284) thầy giáo Chu Văn Lương, dạy học ở làng Nam Ngạn hăng hái đứng ra chiêu mộ dân binh, góp sức cùng quân dân Đại Việt đánh thắng giặc Nguyên - Mông, Kênh Bố
Vệ còn ghi dấu cuộc chiến đấu quyết liệt do Trần Nhật Duật chỉ huy chống
Trang 25quân Nguyên Mông xâm lược ở Thế Kỷ XIII, ca khúc khải hoàn, trăm họ được bình an, đất nước “ngàn thuở vững âu vàng”
Thời Trần là một thời đại anh hùng, thời đại của những chiến công vang dội: Ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông (1258, 1285 và 1288) Góp phần làm chói sáng thêm hào khí Đông A là chiến công của những người con đất Thanh Hoá, đó là Đỗ Hành bắt sống Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ vương tại Bạch Đằng, góp phần quan trọng nâng cao thêm tầm vóc oanh liệt, lẫy lừng chiến công của nhân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược Mông-Nguyên Đó còn là tướng quân Hoàng Phụng Thế, chỉ huy quân Thánh Dực chiến đấu với quân Chiêm Thành nhiều trận trên sông Ngu (năm 1382) Ông cũng chính là người tham gia dẹp tan cuộc nổi dậy của Phạm Sư Ôn (ở vùng Quốc Oai) năm 1389
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) chống quân Minh xâm lược, trên địa bàn Thanh Hóa có những gia đình theo Lê Lợi từ những ngày đầu Năm 1789, Quang Trung - Nguyễn Huệ đem đại quân ra bắc đại phá 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược Trên địa bàn Thanh Hóa có rất nhiều người tham gia nghĩa quân, đứng dưới lá cờ Quang Trung - Nguyễn Huệ…
Vùng đất Thanh Hóa từ buổi ban đầu do cư dân bản địa khai phá, giữ gìn, bảo vệ, phát triển, cư dân bốn phương về hội nhập, họ là những người có tính cương trực, cởi mở, giàu lòng nhân ái, yêu nước, hi sinh vì nghĩa lớn Đồng thời là chỗ dựa và là cái nôi sinh thành, nuôi dưỡng những lớp người cách mạng Truyền thống yêu nước, đấu tranh của dân tộc Việt Nam được hun đúc, thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân địa phương để khi thời cơ đến thổi bùng ngọn lửa đấu tranh giành lại độc lập cho tổ quốc, giành lại quyền sống của con người, quyền mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân
Ách áp bức bóc lột của bọn phong kiến, thực dân càng nặng nề bao nhiêu thì càng khơi dậy lòng căm thù sâu sắc và ý chí quật cường của nhân dân
Trang 26Thanh Hóa Truyền thống yêu nước của nhân dân Thanh Hóa được hình thành, tôi luyện và phát triển suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nó trở thành một tài sản vô cùng quý giá, là cơ sở, là nền tảng để nhân dân đón nhận và đi theo con đường đấu tranh trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc
Tiểu kết chương
Thanh Hóa là vùng đất được hình thành và phát triển lâu đời, nơi con người xuất hiện và sinh sống từ rất sớm Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, Thanh Hóa là mảnh đất lưu lại nhiều dấu ấn đậm nét về lịch sử
và văn hóa
Đây là vùng đất có vị trí địa chiến lược, địa chính trị quan trọng của Việt Nam, miền đất gợi về quá khứ hào hùng từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, một miền văn hóa cội nguồn Lịch sử đã chọn Thanh Hóa ở vào vị trí khá
“đặc biệt” của đất nước Là điểm cuối của Bắc Bộ và điểm đầu Trung Bộ, lại
là vùng Tây bắc nối dài, có rừng, có biển, có đồng bằng Nhờ vào vị trí địa lý
“đặc biệt” đó nên mảnh đất Thanh Hóa luôn đóng vai trò quan trọng trong suốt thời kỳ đấu tranh giữ nước của dân tộc Mỗi tên làng, mỗi di tích lịch sử
đều gắn với những chiến công của dân tộc cũng như con người Thanh Hóa
Mảnh đất Thanh Hóa còn được biết đến là mảnh đất của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Với những kì tích đó, Thanh Hóa được ví như hình ảnh thu nhỏ
của Việt Nam và được xem là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”
Linh khí của núi sông hun đúc nên khí chất của con người Thanh Hóa: Cần cù trong lao động, anh hùng trong đấu tranh, giữ khí tiết, giàu đạo lý nghĩa tình…Những con người không ngại khó, không ngại khổ đó đã góp
công làm nên nhiều trang sử hào hùng và vẻ vang của dân tộc Việt
Trang 27Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, truyền thống yêu nước của nhân dân, Thanh Hóa đã góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh dựng nước
và giữ nước của dân tộc Nổi bật cho những đóng góp to lớn của Thanh Hóa trong lịch sử dân tộc là thời kỳ thế kỷ XIII, XIV - Thời kỳ chống quân
Nguyên Mông xâm lược và sự xâm lấn lãnh thổ của Chiêm Thành
Trang 28
Chương 2 THANH HÓA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
NGUYÊN - MÔNG THẾ KỶ XIII - XIV 2.1 Tình hình Đại Việt cuối thế kỷ XII đến thế kỷ XIII
Ở thế kỷ XII, nhà Lý phát triển thịnh trị vào đời lý Nhân Tông (1072 – 1127) sau đó bắt đầu đi vào con đường suy yếu Các vua lên ngôi khi còn bé như vua Lý Anh Tông làm vua khi 5 tuổi, Lý Cao Tông 2 tuổi …quyền hành rơi vào tay những kẻ hại dân, vương triều Lý chỉ còn là một hơi thở thoi thóp Trước tình hình ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra góp phần làm lung lay
ngai vàng nhà Lý
Trong phần tư đầu tiên của thế kỷ XIII khi nhà Lý suy yếu, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực người chết đói nhiều, người sống sót phá sản, lưu vong Bọn phong kiến cát cứ lại bắt nhân dân làm phu dịch, đào hào, đắp lũy
và xua họ vào cuộc nội chiến đẫm máu Thời kỳ đen tối đó kéo dài dằng dặc trong suốt mười mấy năm trời Thế rồi, một thế lực phong kiến mạnh nhất họ Trần, đã dần dần chiếm được ưu thế, khống chế được chính quyền trung ương đang tàn tạ, chiến thắng được các tập đoàn phong kiến cát cứ khác, thống nhất đất nước Quyền lực họ Trần ngày càng lớn Năm 1225 vua Lý Huệ Tông trao ngai vàng cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 7 tuổi vì vậy mọi quyền hành trong triều đình đều nằm trong tay viên quan Điện tiền Trần Thủ Độ Dòng họ nhà Trần ngày càng chiếm giữ vị trí trọng yếu trong triều đình Cuối cùng ngày 11 tháng Chạp năm Ất Dậu (10/1/1226) dưới sự chỉ đạo của Trần Thủ
Độ, Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, triều Trần chính thức thành lập thực sự thay thế nhà Lý trên vũ đài chính trị, nắm
quyền điều hành đất nước
Hòa bình đã trở lại trên đất nước, nhân dân được yên ổn làm ăn Họ Trần khôi phục được chính quyền thống nhất, chấm dứt cuộc nội chiến phong kiến,
Trang 29về khách quan đã đáp ứng được đòi hỏi của nhân dân Đồng thời, nhà Trần
cũng bắt tay vào xây dựng và phát triển kinh tế, ổn định lại mọi mặt xã hội
Về kinh tế, để khôi phục lại sức sản xuất bị đình đốn cuối thời Lý, nhà Trần đã tổ chức khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, nhà nước rất chú ý việc đắp đê phòng lụt Năm 1248, vua Trần Thái Tông hạ lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bãi biển để đề phòng nước sông dâng to, gọi là đê “Đỉnh nhĩ” (Quai vạc), đặt chức Hà đê chánh sứ và phó sứ để trông coi việc đắp đê….Nhà Trần cũng đã cho đào thêm một số kênh và sông có tác dụng về mặt giao thông cũng như về mặt thủy lợi như kênh Trầm, kênh Hào từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam phủ Diễn
người Trung Quốc đời Nguyên, tác giả sách Đảo di chí lược, đã chép rằng: “
Nước Đại Việt…đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần
lớn phì nhiêu”
Bên cạnh sự phát triển của nông nghiệp, công thương nghiệp cũng được phục hồi và phát triển sau một thời kỳ đình đốn vì nội chiến cuối Lý Những ngành công nghiệp như: Làm gạch ngói, làm đá, khai thác khoáng sản, rèn sắt, đúc đồng, ươm tơ, dệt vải … tiếp tục phát triển Chất lượng sản phẩm hàng hóa ngày càng cao hơn Thủ công nghiệp phát triển đã đưa đến sự ra đời
của các làng nghề như: Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Giang)
Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng có bước phát triển mạnh Việc buôn bán trong nước và ngoài nước ngày càng được mở rộng và phát đạt Các chợ làng, chợ huyện mọc lên khắp nơi
Trang 30Đặc biệt cảng Vân Đồn là một địa điểm hải thương quan trọng đón thương
thuyền của các nước đến Đại Việt
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng sau khi họ Trần nắm chính quyền, kết thúc cuộc nội chiến cuối Lý, nền kinh tế của Đại Việt lại tiếp tục hưng
vượng lên, cả nông nghiệp lẫn công thương nghiệp
Về chính trị: Họ Trần ra sức củng cố và phát triển nhà nước phong kiến tập quyền Tất cả các chức vị quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do tôn thất họ Trần nắm giữ Từ giữa thế kỷ XIII trở đi, một bộ phận Nho sĩ mới có
vị trí nhất định trong triều Tổ chức bộ máy nhà nước đã được quy định ngay
từ buổi đầu thời Trần và được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương
Về luật pháp và quân đội: Từ năm 1226, ngay sau khi Trần Cảnh lên ngôi đã định các điều luật lệnh Bốn năm sau, định Hình luật Năm 1244, lại định hình luật một lần nữa Nhà Trần, để củng cố chính quyền phong kiến, ngay từ buổi đầu đã ra sức xây dựng một đội quân hùng mạnh và được trang
bị vũ khí đầy đủ Quân đội được luyện tập thường xuyên Trong những năm
chuẩn bị kháng chiến, thường có những cuộc diễn tập lớn
Như vậy, ở thế kỷ XIII tình hình Đại Việt đã có nhiều khởi sắc dưới sự trị vì của triều đại phong kiến nhà Trần Mọi mặt kinh tế và đời sống xã hội có bước phát triển Nhưng cũng chính trong thời gian này, đế quốc Mông Cổ ở phía Bắc đang lớn mạnh, mở rộng cuộc chinh phục xuống phương Nam Điều
đó đã đặt ra cho nhà Trần một sứ mệnh mới là đoàn kết, lãnh đạo nhân dân
đấu tranh chống giặc bảo vệ nền độc lập của dân tộc
2.2 Sự lớn mạnh và âm mưu xâm lược Đại Việt của đế quốc Mông Cổ
2.2.1 Sự lớn mạnh của đế quốc Mông Cổ
Năm 1206, Thành Cát Tư Hãn lên làm vua Nhà nước phong kiến Mông
Cổ được hình thành và phát triển, nhanh chóng trở thành một đế quốc lớn mạnh chưa từng có trong lịch sử thế giới từ trước đến giờ Quân Mông Cổ
Trang 31dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn và tập đoàn quý tộc phong kiến đã đem tất cả tinh lực của bộ tộc Mông Cổ vừa hình thành dốc vào cuộc chiến tranh xâm lược và nô dịch các dân tộc khác Những đoàn kỵ binh Mông Cổ lại ồ ạt kéo sang phương Đông và phương Tây, gieo rắc nỗi kinh hoàng và
chết chóc xuống những vùng xa hơn ở Châu Âu và Châu Á
Ở Châu Âu, vó ngựa của Mông Cổ đã tiến đến Ba Lan, Đức và Hunggari
và tới sát Ý vào năm 1242, khiến cả Châu Âu chấn động Theo sử biên niên của Pháp thì mối lo sợ trước quân Mông Cổ đã làm đình trệ cả sự buôn bán Các sử gia biên niên Anh cho chúng ta biết rằng bấy giờ việc thông thương giữa đất anh với lục địa bị gián đoạn Ở Đức xuất hiện bài kinh cầu nguyện “chúa cứu
vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tac ta (Mông Cổ)”…
Ở phía Nam, Mông Cổ chiếm Trung Quốc, Cao Ly (Triều Tiên), tấn công Nhật Bản…Đến năm 1279, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ xâm chiếm Trong và sau khi chinh phục miền Nam Trung Quốc, đế quốc Mông
Cổ đã gây chiến tranh xâm lược Việt Nam Đồng thời âm mưu phát triển thế
lực ra các nước khác ở Đông Á và Đông Nam Á
Như vậy, chỉ trong vòng nửa thế kỷ, bọn phong kiến Mông Cổ đã kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp Một đế quốc rộng mênh mông
được thành lập từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương
2.2.2 Âm mưu xâm lược Đại Việt của đế quốc Mông Cổ
Trong kế hoạch bành trướng của mình, quân Mông Cổ chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ biển Đông Á sang tận vùng biển Hắc Hải, sau
đó chúng tiến hành xuống phía Nam Năm 1251, Mông Ke (Mông Ka) lên ngôi Đại hãn, ráo riết chuẩn bị xâm lược Trung Quốc Năm 1252, Mông Ka sai Khubilai (Hốt Tất Liệt) đánh chiếm Đại Lý (rồi đổi tên là Vân Nam) lấy
đó làm bàn đạp rồi mở cuộc tấn công vào Đại Việt Năm 1257, chúa Mông Cổ Mông Ke tế cờ trên bờ sông Kêrulen, rồi xuất quân đánh Tống Theo kế
Trang 32hoạch của Mông Ke, quân Mông Cổ sẽ tấn công vào đất Tống từ bốn mặt Mông Ke thân dẫn đại quân tiến vào theo đường Tứ Xuyên Một cánh quân dưới quyền chỉ huy của Hốt Tất Liệt vượt Trường Giang đánh chiếm Châu Ngạc (Vũ Xương - Hồ Bắc) Một cánh quân khác do Tôgatra chỉ huy tấn công mạn hạ lưu Trường Giang vào vùng Kinh sơn Cánh quân của Uryangkhadai được lệnh từ Đại Lý đánh thẳng xuống Đại Việt, rồi từ đó đánh vào Châu Ung (Nam Ninh - Quảng Tây), Châu Quế (Quế Lâm - Quảng Tây), tiến lên gặp các cánh quân kia ở Châu Ngạc Cánh quân này sẽ trở thành một mũi dao đâm vào sau lưng Trung Quốc Như vậy, việc tiến quân xâm lược Đại Việt là nằm
trong kế hoạch thâm độc trên của tên bạo chúa Mông Cổ
Trước khi tấn công vào Đại Việt, Mông Ka đã vạch ra một kế hoạch hết sức chi tiết: Cánh quân của Uriang Khaidai (Ngột Lương Hợp Thai) thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Đại Việt và từ Đại việt đánh lên Nam Tống Chiếm được Đại Việt còn có ý nghĩa lớn sau này cho đế quốc Mông Cổ lập bàn đạp cho các cuộc viễn chinh xuống Đông Nam Á, do đó Đại Việt là mục tiêu chiến lược của kế hoạch Mông Ke và đó cũng là sự cố gắng rất lớn của chúng Để thực hiện mưu đồ thâm độc của mình, chỉ trong vòng 30 năm (1258 - 1288) quân
Nguyên - Mông đã tiến hành xâm lược nước ta 3 lần
2.3 Khái quát cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược của nhà Trần thế kỷ XIII
2.3.1 Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất (1258)
Sau khi chiếm được Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy 4 vạn quân tiến xuống biên giới nước ta Trước khi tiến vào biên giới Đại Việt, chúng dừng chân và cho sứ giả đưa thư vào Đại Việt đe dọa và dụ hàng Nhưng biện
pháp ngoại giao của chúng đã hoàn toàn bị thất bại
Triều đình Trần cũng như toàn dân Đại Việt không mảy may run sợ trước uy lực của Mông Cổ Khi được tin Mông Cổ sắp tấn công xâm lược,
Trang 33triều đình lập tức chuẩn bị khẩn trương để chống giặc “Tháng 10/1257, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho các tướng điều quân thủy bộ lên miền biên giới Tây Bắc và ra lệnh cho cả nước khẩn trương chuẩn bị đánh giặc” [25, tr.22] Để tỏ rõ ý chí kiên quyết của mình, vua Trần không một chút kiêng sợ,
đã ra lệnh tống giam tất cả những tên sứ Mông Cổ
Không thấy sứ giả về, Ngột Lương Hợp Thai quyết định tấn công Y sai Trêtrếchđu (Triệt Triệt Đô) và một tướng khác chia quân làm hai đạo tiến theo tả ngạn và hữu ngạn sông Thao (nhiệm vụ thăm dò, dẫn đường) theo sau
là hai đạo quân của hai cha con Ngột Lương Hợp Thai
Tháng 1/1258, hai đạo quân Mông Cổ đi trước cùng đến hội quân ở Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ) Sau đó chúng theo đường bộ, hướng về Thăng Long đến Bình Lệ Nguyên - nơi đây Trần Thái Tông đã lập phòng tuyến chặn giặc Phát hiện quân ta dàn trận bên sông, Aju (con của Ngột Lương Hợp Thai) vội báo cho Ngột Lương Hợp Thai thúc quân tiến xuống Ngày 17/1/1258 chúng kéo quân đến Bình Lệ Nguyên Trận chiến diễn ra, vua Trần trực tiếp chỉ huy chiến đấu Địa hình Bình Lệ Nguyên khá thuận lợi cho kỵ binh Mông Cổ phát huy sở trường của chúng Trận địa của ta bị lấn dần, quân của vua Trần rút lui an toàn nhờ vào sự giúp sức của quân và dân Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần hoàn toàn bị thất bại Ngột Lương Hợp Thai tức giận đổ lên đầu tướng tiên phong, Trêtrếchđu
hoảng sợ uống thuốc độc tự tử
Cố thủ không được trước thế giặc mạnh đang tấn công ồ ạt, triều đình quyết định rút lui khỏi kinh đô Thăng Long để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế dã thanh Thăng Long yên tĩnh, trống không Trước bốn cửa thành không còn bóng quân Tứ sương, quân Mông Cổ tiến vào kinh đô vắng lặng, gặp khó khăn về lương thực, chúng đánh ra vùng xung quanh Kinh đô để hòng cướp bóc lương thực Nhưng ở đây cũng bị nhân dân các hương ấp
Trang 34chống cự quyết liệt, tiêu biểu là dân Cổ Sở (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội) đã
tự tổ chức lực lượng vũ trang đào hào xung quanh làng, dựng lũy chiến đấu Khi giặc đến, kị binh không vượt qua được hào, lại bị cung nỏ bắn ra, lực lượng quân Mông Cổ đã bị thất bại đầu tiên trước những cuộc chiến đấu từ xóm làng Chỉ mấy ngày đến Thăng Long quân Mông Cổ đã hoàn toàn mất hết nhuệ khí chiến đấu Ngột Lương Hợp Thai và bọn tướng lĩnh đều hốt hoảng cực độ Nắm vững thời cơ, triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóng Thăng Long, nhanh chóng giành thắng lợi Kinh
thành sạch bóng quân thù
2.3.2 Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285)
Sau việc lập An Nam tuyên úy ti và sai 1000 quân hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt năm 1282 bị thất bại Hốt Tất Liệt luôn tìm cách sách nhiễu nhà Trần, gây sự tiến công xâm lược Khi Toa Đô thất bại ở Chiêm Thành và 2 vạn quân Ô Mã Nhi tan tác vì bão biển thì Hốt Tất Liệt càng muốn nhanh
chóng đánh Đại Việt
Rút kinh nghiệm từ thất bại trước, lần này Hốt Tất Liệt lại huy động 50 vạn quân, chỉ huy là Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt) và Arickhaya là những viên tướng chủ chốt chinh phục triều đình Nam Tống, được xếp loại
công thần của triều Nguyên
Để chuẩn bị kháng chiến, nhà Trần mở hội nghị Bình Than tập trung các vương hầu, quý tộc để bàn kế đánh giặc Sau Hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được phân chia đem quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, quan trọng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân đội cả nước Trần Quang Khải
được cử giữ chức Thượng tướng Thái sư
Trong khi quân dân cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến, Trần Quốc Tuấn ban bố Hịch tướng sĩ nêu nghĩa lớn cứu nước, cứu
mình Toàn văn bài Hịch là lời kêu gọi thiết tha, tràn đầy tinh thần yêu nước
Trang 35và chí căm thù cướp nước như ngọn lửu bốc cao Quân dân cả nước thích vào cánh tay của mình 2 chữ “Sát Thát” Tháng 1/1285, thượng hoàng Thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về kinh đô Thăng Long để hỏi
kế đánh giặc Trong bữa tiệc ở Điện Diên Hồng các bô lão đã đồng thanh hô
lớn “Đánh”…
Giữa năm 1284, Thoát Hoan và Arickhaya khẩn trương điều quân tiến vào Đại Việt Quân Nguyên - Mông muốn tiêu diệt Đại Việt bằng 3 gọng kìm đánh vào biên giới phía Bắc và phía Nam Ngày 2/2/1285, quân giặc chia làm
6 mũi đánh vào Nội Bàng (Bắc Giang) Trần Quốc Tuấn chỉ huy đại quân đánh chặn giặc Trước khí thế mạnh của giặc, quân ta bị tổn thất, Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về Vạn Kiếp Nghe tin quân ta rút lui, vua Trần Thánh Tông vội vã ra gặp Trần Quốc Tuấn và vờ hỏi thống soái “thế giặc như thế, ta phải hàng thôi” Trần Quốc Tuấn khảng khái trả lời “bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng” Tại Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn tập trung binh lực lớn đến
20 vạn quân
Ngày 11/2/1285, địch tấn công phòng tuyến Bình Than, quân ta chống trả quyết liệt, vua Trần dẫn quân về tăng viện cho Trần Quốc Tuấn Quân ta rút khỏi Vạn Kiếp, vua Trần và Trần Quốc Tuấn về Thăng Long Trước sức mạnh của giặc, Trần Nhật Duật (đóng quân tại Thu Vật - Yên Bái) rút quân về Bạch Hạc sau đó kéo về hạ lưu sông Hồng Thượng hoàng Thái Tông và và vua Nhân Tông về Thiên Trường (Nam Định) Thoát Hoan vừa chiếm được Thăng Long vội vàng đuổi quân theo Trần Quốc Tuấn thấy cần tăng cường cho mặt trận phía Nam, chặn đường tiến của Toa Đô bèn lệnh cho Trần Nhật Duật chịu trách nhiệm trấn giữ Nghệ An, Trần Kiện vào Thanh Hóa, Trần Quang Khải tăng cường cho Nghệ An Thoát Hoan cố gắng kiểm soát vùng chiếm đóng, bố trí quân sĩ dựng đồn ở nhiều nơi nhưng phân tán Ở biên giới phía Bắc, Nguyễn Thế Lộc còn giữ được Thất Nguyên (Lạng Sơn) Nắm vững
Trang 36được tình hình địch, Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem quân ngược sông Thái Bình đánh chiếm lại Vạn Kiếp không mấy khó khăn Thoát Hoan bị
cô lập
Ở phía Nam, Thanh - Nghệ Tĩnh quân ta gặp nhiều khó khăn, TRần Kiện (con Trần Quốc Khang) cùng Lê Trắc đầu hàng và dẫn đường cho giặc đánh quân ta Ngày 13/3, Trần Kiện lại dẫn đường cho giặc tấn công Trần Quang Khải, cuộc chiến ác liệt, thế trận lại thuộc về địch Trần Quang Khải cho rút quân Giữa tháng 3/1285, cuộc chiến vẫn diến ra gay go phức tạp Quân Trần
về Thăng Long, Thoát Hoan lại thúc quân xuống Thiên Trường Lúc ấy, Toa
Đô kéo quân từ Thanh Hóa ra Trường Yên (Ninh Bình) Y sai tướng ra Thiên Trường báo tin cho Thoát Hoan về nguy cơ của đại quân (đói ăn, bệnh tật, mệt mỏi…) Quân của Thoát Hoan cũng rơi vào tình thế đó nên ra lệnh cho
Toa Đô đóng quân và tự kiếm ăn
Tháng 5/1285, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật cùng nhiều tướng sĩ khác đem quân ra Bắc Chiến lược phản công bắt đầu Mục tiêu trước mắt của ta là đánh tan quân giặc ở Khoái Châu (Hưng Yên) để chia cắt quân Thoát Hoan và Toa Đô, đẩy quân Thoát Hoan vào thế cô lập, bị động Cuối tháng 5, quân của Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào Chương Dương và nhanh chóng giàng thắng lợi Tàn quân của địch rút về
Thăng Long Quân ta bao vây Thăng Long, địch ra sức cố thủ
Trước tình cảnh hiểm nghèo, chúng liều chết phá vây vượt sông Hồng chạy sang Gia Lâm, kinh thành được khôi phục hoàn toàn Sức tàn, thế yếu, Thoát Hoan rút quân theo hướng Vạn Kiếp Trần Quốc Tuấn đem quân đánh chặn, quân Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt lại gặp quân Trần Quốc Toản chặn đánh, khiến tổn thất nặng nề Thoát Hoan chạy sang Vạn Kiếp lại bị sa lầy vào bẫy phục kích của Trần Quốc Tuấn Hoảng sợ Thoát Hoan mở đường máu chạy về biên giới Lạng Sơn lại bị quân của ta
Trang 37đánh chặn ở cửa ải, Thoát Hoan hoảng sợ chui vào ống đồng cho quân lính khiêng chạy Các trận Tây Kết, Vạn Kiếp, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng
Long đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta
2.3.3 Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288)
Hai lần xâm lược, hai lần thất bại thảm hại, vua Nguyên Hốt Tất Liệt mất mặt, tức tối muốn tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược lần ba hòng trả thù, đồng thời để gấp rút đánh thông con đường bành trướng xuống Đông Nam Á Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng
cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần này
Toàn bộ quân viễn chinh lần này do Thoát Hoan chỉ huy gồm 30 vạn quân cả bộ binh lẫn thủy binh, mang theo lương thực đầy đủ Chúng tiến vào nước ta chia làm 3 đạo: Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào Đạo quân do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp… chỉ huy với 500 chiến thuyền từ Quảng Đông vào vịnh Hạ Long theo sông Bạch Đằng tiến vào hội quân ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương) Ngoài ra, có một đoàn thuyền vận tải do Trương Văn Hổ cầm đầu chở 70 vạn thạch lương theo sau Khác
với lần trước, lần này chúng chú ý đến thủy binh
Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tổng chỉ huy các lực lượng Ông đề ra
kế hoạch: Lúc đầu thế giặc mạnh, quân ta rút về vùng ven biển để bảo toàn lực lượng Nhân dân trên đường tiến quân của địch và trong vùng chiếm đóng
có nhiệm vụ cất giấu lương thực, kiên quyết triệt nguồn lương thực của địch, đồng thời cùng với dân binh đẩy mạnh hoạt động đánh địch làm tiêu hao sinh
lực của chúng, đẩy chúng vào thế bị động
Được tin giặc sắp tràn vào biên giới, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn “giặc tới, liệu tình hình thế nào?”, Trần Quốc Tuấn trả lời “năm nay đánh giặc nhàn” Lần này, Trần Quốc Tuấn chú trọng đến chiến trường biển
Trang 38Đông Bắc - đường tiến quân lương của địch Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm
về biên thùy ven biển và Trần Toàn có nhiệm vụ ngăn chặn thủy quân giặc
Trận Ngọc Sơn, do tương quan lực lượng của Ô Mã Nhi mạnh hơn nên Trần Toàn có nhiệm vụ tiêu diệt đội thuyền đi sau của chúng và đã thu được thắng lợi Nhưng do lực lượng giặc quá mạnh nên chúng vẫn vượt qua vùng biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh), gặp quân của Trần Khánh Dư, trận chiến xảy ra ác liệt Quân của Trần Khánh Dư không sao cản được đạo quân của của giặc, chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiếp hội quân với
Thoát Hoan
Trận Vân Đồn - Cửa Lục, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của giặc Tạo điều kiện cho quân dân ta nhanh chóng chuyển lên chiến lược phản công Ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng thành căn cứ quân sự Y để lại một số quân ở đây, còn lại tiếp tục
tiến về Thăng Long Quân dân ta tạm thời rút khỏi kinh thành
Hậu cần bao giờ cũng là một vấn đề then chốt của bất cứ một quân đội nào Quân Nguyên trông chờ vào thuyền lương của Trần Văn Hổ, giờ này mấy chục vạn quân Nguyên ở Thăng Long lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng Thoát Hoan sai quân đi tìm đoàn thuyền lương nhưng đều
bị ta đánh bại Sau khi biết được tin báo thuyền lương nằm trong tay ta, Thoát Hoan hoang mang lo sợ Đầu tháng 3, Thoát Hoan buộc phải quyết định bỏ Thăng Long về Vạn Kiếp tổ chức phòng thủ, sau đó quyết định chia đạo quân
làm hai theo đường thủy bộ rút về nước
Biết được ý đồ và đường hành quân của giặc, Trần Quốc Tuấn chuẩn bị một cuộc phản công chu đáo Sông Bạch Đằng được chọn làm điểm quyết chiến tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi Để bảo đảm cho thế trận bao vây địch thật hoàn hảo, ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu và lợi dụng Gềnh Cốc như một chướng ngại tự nhiên, Trần Quốc Tuấn còn xây dựng ở ở các
Trang 39cửa sông những trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn chỉ trong vòng không quá
20 ngày Đây là một trong những công tác quan trọng trong việc chuẩn bị chiến trường, thể hiện rõ tư tưởng chủ động tích cực tiêu diệt giặc của quân
dân thời Trần
Nhờ sự chuẩn bị chu đáo, quân dân ta lần lượt đánh bại quân giặc trên đường rút lui Trận quyết chiến đúng như dự định xảy ra trên sông Bạch Đằng Sau chiến thắng Bạch Đằng, ngày 18 tháng 4, hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ và các tên thiên hộ,vạn hộ về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ mừng thắng trận trước
lăng mộ vua Thái Tông, Trần Nhân Tông đọc:
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá Giang sơn mãi mãi vững âu vàng”
Như vậy, ba lần xâm lược nước ta là ba lần thất bại thảm hại của quân Nguyên - Mông Điều này đã chứng minh một chân lí: Một dân tộc nhỏ bé nếu biết đoàn kết sức mạnh của cả dân tộc thì bất kì một kẻ thù xâm lược nào,
dù có mạnh đến đâu cũng phải khuất phục Ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông là ba lần vệ quốc vĩ đại của ông cha ta, như được thổi lại từ thuở Vua Hùng dựng nước, bà Trưng, bà Triệu đánh giặc giữ nước Đồng thời đây cũng
là một cuộc chiến tranh nhân dân, bởi có sự kết hợp bền chặt giữa một bên là triều Trần và một bên là nhân dân yêu nước Trong thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh đó có đóng góp không nhỏ của quân dân Thanh Hóa Nhờ sự hi sinh, tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân và dân Thanh Hóa đã cùng với nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần làm nên thắng lợi vang dội Thắng lợi đó ghi vào lịch sử dân tộc như những trang chói lọi nhất Trong cuộc khánh chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba, danh tướng xứ Thanh có công lao đặc biệt to lớn, đó là Đỗ Hành
Trang 40Đỗ Hành năm sinh và năm mất không rõ, tài liệu Gia phả cho biết ông
thuộc dòng dõi Đỗ Cảnh Thạc - một trong 12 sứ quân, đóng ở Đỗ Động Giang (Thanh Oai - Hà Nội) Quê gốc dòng họ Đỗ này ở Hải Dương Đầu thế kỷ XIII một chi họ Đỗ đã dời đến cư trú tại làng Ngọc Mỹ nay là Nhân Ngọc -
Hoằng Ngọc, Hoằng Hoá, Thanh Hoá
Tại nhà thờ chi họ Đỗ ở làng Lương Hà nay là thôn Đại Long xã Hoằng Thanh (Hoằng Hoá), các cụ cao niên còn nhớ đôi câu đối ghi:
洋 義 侯 世 德 明 來 家 祥 長 發
“Dương nghĩa hầu thế đức minh lai, gia tường trường phát
杜 德 性 家 姜 天 錫 福 履 永 綏
Đỗ Đức tính gia khương, thiên tích, phúc lý vĩnh tuy”
Đây là đôi câu đối nói về chi họ Đỗ Hành ở Nhân Ngọc (Hoằng Ngọc) Làng Ngọc Mỹ, thế kỉ XIII ở cạnh sông Cung, một con sông như hình cánh cung do thuỷ triều lên xuống ở 2 cửa Lạch Trường và Lạch Trào tổng Ngọc Chuế mà thành Sông Cung giao thoa với hạ lưu sông Mã, nơi giao thủy ở khúc giữa thuộc làng Ngọc Mỹ Bởi vậy, sông Cung là vùng nước lợ có nhiều thuỷ tức sinh sống và cũng từ đó mà làng Ngọc Mỹ hình thành nghề khai thác thủy tức từ rất sớm
Sinh trưởng trong gia đình nghèo, bố mất sớm, Đỗ Hành làm nghề đánh giắt, bắt cua, lạch tại sông Cung Chính trong hoàn cảnh sống đó, tài năng bơi lội của ông được phát triển
Lớn lên ông đi kiếm sống ở Hải Dương và được tuyển vào làm gia nô của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp
Là người có sức khoẻ, lại có tài bơi lặn nên ông đã được Trần Hưng Đạo cho vào đội thuỷ binh cùng với Yết Kiêu, Dã Tượng, những gia nô đương thời