1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN

192 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập dưới góc độ tăng trưởng kinh tế tạo ra sự gia tăng thu nhập và do đó dẫn tới bất bình đẳng thu nhập

Trang 1

i

VIỆN HÀN LÂM

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Vũ Sỹ Cường

2 PGS.TS Bùi Quang Bình

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào của người khác

Tác giả luận án

NCS Hồ Thị Hòa

Trang 3

iii

MỤC LỤC

Trang bìa i

Lời cam đoan ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 8

1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 8

1.2 Các nghiên cứu trong nước 23

1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và khoảng trống nghiên cứu 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 30

2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về bất bình đẳng thu nhập và TTKT 30

2.2 Đánh giá mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế 44

2.3 Giới thiệu về các phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế 48

2.4 Kinh nghiệm quốc tế và một số vùng ở Việt Nam về giải quyết mối quan hệ giữa BBĐ thu nhập và tăng trưởng kinh tế Bài học cho Tây Nguyên 52

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN 62

3.1 Giới thiệu về Tây Nguyên 62

3.2 Bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Tây Nguyên 63

3.3 Phân tích thực trạng mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên 89

Trang 4

iv

3.4 Đánh giá chung kết quả nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và

tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên 112

CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN 126

4.1 Quan điểm kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 126

4.2 Cơ hội, thách thức trong việc giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế 128

4.3 Hàm ý chính sách giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên 131

4.4 Kiến nghị đối với Nhà nước 146

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 164

Trang 5

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Nghĩa

15 KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư

17 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

18 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 6

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3 1: Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng chia theo 5 nhóm thu nhập, chênh lệch thu nhập nhóm 5 và nhóm 1 ở Tây Nguyên (ĐVT: 1000 VNĐ) 64 Bảng 3 2: Chi tiêu bình quân nhân khẩu một tháng chia theo khoản chi của Tây Nguyên 65 Bảng 3 3: Chênh lệch chi tiêu bình quân đầu người một tháng năm 2016 giữa nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập thấp nhất theo Vùng 66 Bảng 3 4: Chênh lệch thu nhập nhóm 5/ nhóm 1 theo Tỉnh ở Tây Nguyên (ĐVT: lần) 67 Bảng 3 5: Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chia theo thành thị và nông thôn ở Tây Nguyên năm 2016 (ĐVT:1000đ) 68 Bảng 3 6: Cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng theo nguồn thu nhập (ĐVT:%) 69 Bảng 3 7: Tỷ lệ đi học chung theo cấp học cả nước và chia theo vùng năm 2016 (ĐVT: %) 72 Bảng 3 8: Tỷ trọng chi cho giáo dục theo 5 nhóm ở Tây Nguyên (ĐVT:%) 73 Bảng 3 9: Tỷ lệ người khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú có bảo hiểm y tế hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí chia theo 5 nhóm thu nhập, theo vùng năm

2016 (ĐVT: %) 73 Bảng 3 10: Chi tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe bình quân một nhân khẩu chia theo khoản chi (ĐVT: 1000 đồng) 74 Bảng 3 11: Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại hình nhà cả nước và Tây Nguyên năm

2016 (ĐVT: %) 75 Bảng 3 12: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch ở Tây Nguyên (ĐVT:%) 77 Bảng 3 13: Tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt theo thành thị và nông thôn ở Tây Nguyên (ĐVT:%) 78 Bảng 3 14: Tỷ trọng GDP các tỉnh Tây Nguyên (Giá so sánh 2010) (ĐVT:%) 80

Trang 7

vii

Bảng 3 15: Số lượng và tỷ trọng lao động của các tỉnh trong vùng Tây Nguyên 82

Bảng 3 16: Tăng trưởng lao động các tỉnh Tây Nguyên (ĐVT: %) 83

Bảng 3 17: NSLĐ các tỉnh Tây Nguyên (ĐVT: triệu đồng, giá so sánh 2010) 83

Bảng 3 18: Vốn đầu tư và tỷ trọng vốn của các tỉnh Tây Nguyên 84

Bảng 3 19: Tăng trưởng vốn các tỉnh và Vùng Tây Nguyên (ĐVT: %) 85

Bảng 3 20: Cơ cấu vốn đầu tư chia theo khu vực kinh tế (ĐVT:%) 85

Bảng 3 21: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo Vùng năm 2016 86

Bảng 3 22: Số Doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 theo tỉnh và Vùng Tây Nguyên 87

Bảng 3 23: Hệ số ICOR Tây Nguyên giai đoạn 2001 – 2016 87

Bảng 3 24: Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế Tây Nguyên trong giai đoạn 2001-2016 88

Bảng 3 25: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) của Tây Nguyên năm 2016 ĐVT:% 92

Bảng 3 26: Việc làm ở các tỉnh Tây Nguyên (ĐVT:%) 96

Bảng 3 27: TTKT và tỷ lệ nghèo ở Tây Nguyên qua các năm 2002 - 2016 98

Bảng 3 28: Kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia về mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên 100

Bảng 3 29: Tóm tắt một số thống kê cơ bản về các biến (Phụ lục 2) 105

Bảng 3 30: Kết quả ước tính GMM thực hiện bởi pvar ( Phụ lục 1) 106

Bảng 3 31: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger (Phụ lục 1) 107

Bảng 3 32: Kết quả ước lượng tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập (đo bằng hệ số Gini) tác động ngẫu nhiên (phụ lục 2,3,4) 108

Bảng 3 33: Kết quả ước lượng tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập (đo bằng hệ số Gini) tác động cố định (Phụ lục 2,3,4) 109

Bảng 3 34: Kết quả ước lượng tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập (đo bằng hệ số Gini) tác động cố định (Phụ lục 2,3,4) 110 Bảng 3 35: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của các tỉnh Tây Nguyên 116

Trang 8

viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ

Đồ thị 2 2: Hệ số Gini của Singapore 53

Đồ thị 2 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Brazil giai đoạn 2001 – 2016 (ĐVT:%) 56

Đồ thị 2 4: Hệ số Gini của Brazil 2001 -2015 57

Đồ thị 2 5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Gini vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ giai đoạn 2001 – 2016 58

Đồ thị 3 1: Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng Tây Nguyên theo giá hiện hành (ĐVT:1000 VNĐ) 63

Đồ thị 3 2: So sánh đường cong Lorenz năm 2001, 2005, 2010, 2016 64

Đồ thị 3 3: Hệ số Gini Tây Nguyên 65

Đồ thị 3 4: GDP và tốc độ TTKT Tây Nguyên giai đoạn 2001 – 2016 80

Đồ thị 3.5: Tăng trưởng GDP (%) các khu vực chính (Nông lâm thủy sản, công nghiệp – xây dựng, dịch vụ) trong nền kinh tế Tây Nguyên 2001 – 2016 81

Đồ thị 3 6: Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng năm 2016 của Tây Nguyên 90

Đồ thị 3 7: Xu hướng tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập theo hệ số Gini ở Tây Nguyên 105

Hình vẽ 2 1: Đường cong Lorenz 32

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là chủ đề thu hút sự quan tâm, tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách trên thế giới trong thời gian qua, xem xét mối quan hệ này khá phức tạp Tăng trưởng kinh tế thường đề cập mục tiêu gia tăng thu nhập cho nền kinh tế bằng việc huy động và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế hiệu quả; Còn công bằng xã hội (đặc biệt là công bằng trong phân phối thu nhập) không chỉ phụ thuộc vào tổng thu nhập của nền kinh tế, mà còn liên quan trực tiếp đến cách thức phân phối thu nhập đó và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển (như vốn, đất đai, y tế, giáo dục,…) giữa các nhóm dân cư trong xã hội Chính sách phát triển chỉ nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh có thể trả giá đắt nếu bất bình đẳng thu nhập, cơ hội học tập, tiếp cận dịch vụ xã hội và đói nghèo gia tăng, thậm chí dẫn đến xung đột trong xã hội Ngược lại, chính sách phát triển chỉ thiên về đạt được mục tiêu công bằng xã hội có thể làm triệt tiêu các động lực kích thích tăng trưởng [58,tr18] Một số nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập dưới góc độ tăng trưởng kinh tế tạo ra sự gia tăng thu nhập và do đó dẫn tới bất bình đẳng thu nhập; đến lượt mình bất bình đẳng thu nhập sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế của chu kỳ sau đó Cần hiểu rõ tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song chỉ chú trọng tăng trưởng thôi chưa đủ mà cần phải biết hướng tăng trưởng vào thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội Bên cạnh đó, cần xem xét tác động trở lại của BBĐTN đến TTKT để đưa ra các chính sách gia tăng những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của mối quan hệ này Nghiên cứu mối quan hệ hai chiều (nhân quả) giữa TTKT và BBĐTN qua các thời kỳ có vai trò quan trọng nhằm đề xuất các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp

Ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN là “thực hiện dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh” [22] Do vậy, bên cạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng một

cách bền vững, Nhà nước còn phải đóng góp vai trò quan trọng trong việc thực hiện

Trang 10

2

tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người chứ không phải chỉ một vài nhóm người được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế của đất nước Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều thách thức và cơ hội đặt ra

Thực tế cho thấy rằng, nền kinh tế Việt Nam ngày càng khởi sắc, có tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, tuy nhiên quá trình này làm gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư và giữa các vùng

Tây Nguyên là một trong sáu vùng kinh tế lớn của Việt Nam, vùng gồm 5 tỉnh xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắc xuống Nam là: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tình hình kinh tế

- xã hội trên địa bàn Tây Nguyên đã có những bước phát triển đáng ghi nhận Riêng năm 2016, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân của các tỉnh Tây Nguyên vẫn đạt 7,5% Tuy nhiên, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vẫn còn nhiều khó khăn, sự phân cực giàu nghèo giữa cộng đồng dân cư và trong chính vùng dân tộc thiểu số đang ngày càng rõ nét Tây Nguyên là vùng gồm nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Kinh như: Bana, Giarai, Êđê, Cơho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông…Sự đa dạng các thành phần dân tộc là thách thức lớn đối với xã hội khi mà khác biệt theo vùng bị ảnh hưởng bởi yếu tố dân tộc Trong nhiều nghiên cứu mức sống hộ gia đình trước đây cho thấy người Kinh có xu hướng sống ở khu vực thành thị và mức sống cao hơn các nhóm dân tộc thiểu số khác [32]

Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập là những chủ đề được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên hầu hết các công trình mới bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về bất bình đẳng thu nhập Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế ở nước ta là việc còn mới mẻ Đặc biệt là các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Tây Nguyên – một trong sáu vùng kinh tế lớn ở nước

ta còn khá ít Việc nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế giúp đưa ra những luận cứ khoa học làm cơ sở đề

Trang 11

3

xuất quan điểm và hàm ý chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng thu nhập ở Tây Nguyên trong thời gian tới có ý nghĩa cấp thiết về cả lý luận

và thực tiễn

Xuất phát từ ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài : “ Mối quan hệ bất bình đẳng

thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên” làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án: tìm ra chính sách giải quyết mối quan hệ bất bình

đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan

hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

- Hệ thống hóa lý luận chung và kinh nghiệm thực tiễn về bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

- Phân tích tình hình bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên (trong đó có phân tích định tính và định lượng mối quan hệ BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên)

- Đề xuất hàm ý chính sách nhằm giải quyết tốt mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh ở Tây Nguyên

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT

Phạm vi nội dung: bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Phạm vi không gian: vùng Tây Nguyên (gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) Phạm vi thời gian: trong giai đoạn 2001 – 2016

Nguồn số liệu: dựa trên số liệu niên giám thống kê từ Cục thống kê các tỉnh Tây Nguyên, niên giám thống kê Việt Nam được thu thập từ Tổng cục Thống kê,

số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) các năm 2002, 2004,

2006, 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 Sử dụng nguồn tư liệu từ chương trình Tây

Trang 12

4

Nguyên 3 để bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu Một số chỉ tiêu bài học kinh nghiệm có sử dụng nguồn số liệu của Ngân hàng Thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu: Thực tiễn đã và đang đặt ra tại Tây Nguyên một số vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết:

Tăng trưởng kinh tế tác động tới bất bình đẳng thu nhập như thế nào ở Tây Nguyên ?

Bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên?

4.2 Khung phân tích

Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên

Bất bình đẳng thu nhập

Tăng trưởng kinh tế

điện lưới, nước sạch

Điều kiện tự nhiên

Thể chế Văn hóa – xã hội

Tăng trưởng kinh tế tác động tới bất bình đẳng thu nhập?

Bất bình đẳng thu nhập tác động tới tăng trưởng kinh tế?

Hệ số Gini, Khoảng cách giàu

nghèo

GDP, Tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người

Các nhân tố đặc thù Tây Nguyên: tỷ lệ nghèo, dân tộc thiểu số, diện tích cây CN

Trang 13

5

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

- Nghiên cứu định tính: nhằm nghiên cứu và phát hiện, đề xuất những luận điểm khoa học Phân tích dữ liệu định tính bao gồm thu thập, tổ chức sắp xếp, giải thích ý nghĩa dữ liệu Trước khi thu thập dữ liệu có một số ý tưởng và giả thuyết từ các nghiên cứu trước Những ý tưởng, giả thuyết này dùng như những điểm xuất phát cho việc sắp xếp, phân loại, giải thích dữ liệu.Tiến hành mã hóa dữ liệu bao gồm: Tổng hợp các dữ liệu, xác định danh mục các chủ đề được nói tới trong dữ liệu, nghiên cứu khái niệm, ý tưởng mới từ dữ liệu

Kỹ thuật khảo sát lấy ý kiến chuyên gia:: Nghiên cứu xây dựng bảng hỏi

phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia – những người có trình độ chuyên môn cao đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTKT và BBĐTN, các nhà quản lý địa phương ở Tây Nguyên Xem xét các ý kiến, nhận định của chuyên gia về vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu định lượng: lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố thông qua việc sử dụng các công cụ thống kê toán, kinh tế lượng và toán học đơn thuần

+ Phân tích mô tả: Phương pháp này mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau như sử dụng các con số để lập bảng biểu hoặc vẽ sơ đồ (đây là bước ban đầu – phân tích mô tả – của nghiên cứu định lượng) phân tích các vấn đề về TTKT, BBĐTN…

+ Phương pháp mô hình hóa: mục đích bao gồm: (i) Kiểm nghiệm lý thuyết bằng cách xây dựng mô hình kinh tế phù hợp; (ii) Kiểm tra mô hình đó xem chúng đưa ra kết quả chấp nhận hay phủ quyết lý thuyết kinh tế Nghiên cứu này xây dựng mô hình định lượng để kiểm định và ước lượng mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên qua kênh: GDP, hệ số Gini, một số biến đặc thù vùng

Trên cơ sở lý luận được đề xuất bởi các đề tài đi trước, nghiên cứu sẽ tiến hành xây dựng mô hình phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên nhằm cung cấp những cơ sở thực chứng cho các phân

Trang 14

6

tích định tính Kết quả thu được giúp luận án xem xét mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên diễn ra theo xu hướng như thế nào

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

(i) Thông qua phân tích thực trạng BBĐTN và TTKT, cũng như xem xét mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên, luận án chỉ rõ Tây Nguyên đã có nhiều chính sách thúc đẩy TTKT đi kèm với thực hiện công bằng xã hội, tuy nhiên quá trình này còn tồn tại nhiều hạn chế TTKT chưa ổn định, chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào vốn, lao động), nông nghiệp vẫn là khu vực chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, xuất hiện sự gia tăng BBĐTN

(ii) Luận án đồng ý với quan điểm cần có tầm nhìn dài hạn khi xem xét mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên, có thể chấp nhận BBĐTN trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, không thể “cào bằng” hay giảm bất bình đẳng bằng mọi giá Cần nhìn nhận BBĐTN ở nhiều khía cạnh (tích cực và tiêu cực), từ

đó đề xuất những chính sách hợp lý đạt được mục tiêu TTKT và công bằng xã hội ở Tây Nguyên

(iii) Kết quả sử dụng kỹ thuật khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia cho thấy phần lớn các chuyên gia nghiên cứu Tây Nguyên và các nhà quản lý địa phương đồng ý TTKT có tác động đến BBĐTN, tuy nhiên BBĐTN chưa thể hiện rõ tác động đối với TTKT ở Tây Nguyên

(iv) Kết quả phương pháp định lượng chứng minh không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa TTKT và BBĐTN ở Tây Nguyên, chỉ tồn tại quan hệ một chiều khi TTKT tác động làm gia tăng BBĐTN, BBĐTN chưa thể hiện tác động ngược lại đối với TTKT, một trong những nguyên nhân là do khả năng tích lũy vốn ở Tây Nguyên chưa đủ lớn, chính sách phân phối lại theo Vùng chủ yếu là chính sách thuế đánh vào thu nhập cá nhân (mà ở đây chủ yếu là người làm công ăn lương) nên các

sự gia tăng BBĐTN chưa thể hiện tác động đối với TTKT

(v) Luận án cũng đưa ra những bàn luận về kết quả nghiên cứu, chỉ ra thành quả đạt được, một số vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân khi giải quyết mối quan hệ

Trang 15

vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, an sinh xã hội), chính sách di dân và ứng phó với biến đổi khí hậu; kiến nghị với nhà nước về chính sách phân phối tài sản, thu nhập

và cơ hội phát triển trong nền kinh tế phù hợp với đặc thù vùng Tây Nguyên

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

(i) Đây là nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng khi xem xét mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên

Từ đó đưa ra những nhận định xác thực hơn cho vấn đề nghiên cứu

(ii) Nghiên cứu trên phạm vi một vùng (Tây Nguyên), luận án chứng minh chỉ tồn tại quan hệ nhân quả một chiều giữa BBĐTN và TTKT Chỉ ra thành quả, tồn tại và nguyên nhân trong việc giải quyết mối quan hệ này Cung cấp căn cứ cần thiết cho việc đưa ra các chính sách tác động đến TTKT và BBĐTN ở Tây Nguyên

(iii) Luận án đã chứng minh vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và BBĐTN ở Tây Nguyên, làm cơ sở cho việc đề xuất các chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Tây Nguyên trong thời gian tiếp theo

7 Cơ cấu của luận án: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương cơ bản

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu mối quan hệ BBĐTN và TTKT Chương 3: Thực trạng mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên

Chương 4: Các hàm ý chính sách giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên

Trang 16

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH

ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Xem xét các nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở các khía cạnh sau: xu hướng thể hiện mối quan

hệ này, phương pháp nghiên cứu, những ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu đi trước Từ đó xác định khoảng trống trong nghiên cứu của đề tài

1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết

Quan điểm của Karl.Marx (1818 – 1883): Karl Marx đưa ra khái niệm

tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm mà xã hội sản xuất trong năm Giá trị xã hội của hàng hóa gồm: c + v + m (Trong đó c là giá trị của toàn bộ các tư liệu sản xuất, v + m là giá trị xã hội mới tạo ra hay còn gọi là thu nhập quốc dân của xã hội) Quan điểm của Marx, tư bản bao gồm “tư bản khả biến” là quỹ tiền lương phải trả cho người lao động (v), “tư bản bất biến” là quỹ tiền mua hàng hóa tư bản, các sản phẩm trung gian (c) Marx cho rằng, nhà tư bản phải mua nguyên vật liệu và máy móc thiết bị với giá bằng giá trị mà “tư bản bất biến” đó tạo ra, vì vậy việc sử dụng “tư bản bất biến” không tạo ra giá trị thặng dư (hay còn gọi là lợi nhuận) Mặt khác, nhà tư bản sẽ áp đặt mức tiền lương thấp hơn giá trị mà người lao động làm

ra Khi đó, chỉ có “tư bản khả biến” mới mang lại giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa Tỷ suất lợi nhuận giảm dần sẽ khuyến khích các nhà tư bản tiếp tục giảm tiền lương công nhân và từ đó đẩy cuộc sống của người lao động rơi vào khó khăn Marx mô tả quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa nhất thiết đi đôi với sự bất bình đẳng thu nhập ngày càng cao, thu nhập của người công nhân ngày càng giảm so với thu nhập của nhà tư bản do hiệu ứng tiết kiệm lao động khi sử dụng công nghệ hiện đại và họ luôn phải chịu sự đe dọa bị sa thải [24, tr37] Marx cho rằng chính quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là nguồn gốc của bất bình đẳng thu nhập, vì vậy cần xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu để giải

Trang 17

9

quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội Ý nghĩa phương pháp luận trong lý thuyết của Marx thể hiện ở hai khía cạnh chính sau đây: (i) Công bằng xã hội là kết quả của quá trình phát triển lịch sử đời sống xã hội theo quy luật khách quan; (ii) mặc

dù trong giai đoạn phát triển thấp của chủ nghĩa cộng sản có thiết lập chế độ công hữu nhưng hình thức phân phối mới chưa đạt tới mục tiêu thực sự công bằng Marx nhấn mạnh cần phát triển năng lực của mỗi cá nhân, khai thác hết tiềm năng của người lao động hướng tới sự phát triển tự do và công bằng chân chính [70]

Quan điểm của Simon Kuznets (1955)

Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ năm 1955 đã đưa ra một mô hình nghiên cứu khi xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

“Những gì chúng ta quan sát thấy về cấu trúc phân phối thu nhập của hai khu vực là: (a) thu nhập bình quân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp hơn các khu đô thị; (b) Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cho người dân ở nông thôn có phần hẹp hơn so với dân số ở đô thị thậm chí khi dựa trên thu nhập hàng năm” [124, tr7]

Theo mô hình này, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển các nước thường không quan tâm đến phân phối lại thu nhập Giai đoạn này cùng với việc đạt được các thành tựu về tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu người tăng) thì sự bất bình đẳng lại có xu hướng tăng, kết quả của tăng trưởng chỉ tập trung vào một số nhóm người Khi nền kinh tế đã đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cao thì

sự bất bình đẳng mới có xu hướng giảm dần cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế Bigsten và Levin (2001) khi nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế cũng đồng tình với quan điểm cho rằng ở các nước kém phát triển tình trạng bất bình đẳng có xu hướng gia tăng Có thể chấp nhận được bất bình đẳng nếu bất bình đẳng tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tốt hơn, từ đó tạo tiền

đề vật chất giúp xóa đói giảm nghèo [102] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau này chỉ ra quan điểm của Kuznets không phải luôn chính xác Hạn chế của Kuznets là không phân tích làm rõ nguyên nhân dẫn tới tình trạng bất bình đẳng

Trang 18

10

Quan điểm của A.Lewis (1915 - 1991)

Nhất trí với quan điểm cho rằng bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được tới mức độ nhất định của Kuznets Tuy nhiên, quan điểm của Lewis giải thích được nguyên nhân của xu thế này Sở dĩ bất bình đẳng tăng lên

ở giai đoạn đầu cùng với sự gia tăng phát triển công nghiệp ở khu vực đô thị: trong khi lương công nhân ở mức tối thiểu (không thay đổi), thì thu nhập của tư bản lại gia tăng do mở rộng quy mô sản xuất và do lao động của công nhân mang lại Ở giai đoạn sau, bất bình đẳng sẽ giảm vì khi lao động dư thừa trong nông nghiệp đã được thu hút hết vào khu vực thành thị Nhu cầu lao động vẫn tăng lên, nhưng lao động khan hiếm; do đó, phải tăng tiền công trong công nghiệp, lúc này bất bình đẳng sẽ giảm [127]

Theo quan điểm này, bất bình đẳng không chỉ là kết quả mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng Bất bình đẳng làm cho các nhà tư bản và các nhóm thu nhập cao nhận được nhiều thu nhập hơn, do đó họ sẽ tiết kiệm được nhiều hơn để tích lũy, mở rộng sản xuất Các nhà kinh tế theo trường phái này còn cho rằng bất bình đẳng không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà khi sử dụng các chính sách phân phối lại hấp tấp và nóng vội có thể dẫn đến nguy cơ kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết mô hình kinh tế chính trị

Alesia và Rodrik (1994); Pesson và Tabellini (1994) [93],[139] đã cố gắng xây

dựng cầu nối giữa lý thuyết kinh tế chính trị nội sinh và lý thuyết tăng trưởng nội sinh Nghiên cứu này cho rằng, trong những xã hội dân chủ, mức thuế được xác định bởi những cử tri trung bình Thuế được đánh tỷ lệ thuận với thu nhập và mang tính lũy tiến (thuế lũy tiến nhằm phân phối lại thu nhập cho mọi người một cách công bằng hơn) Lúc này lợi ích mà người nghèo nhận được sẽ lớn hơn người giàu,

vì vậy người nghèo sẽ thích đánh thuế lũy tiến để phân phối lại nhiều hơn Trong xã hội không bình đẳng, thu nhập của cử tri trung bình thấp hơn so với thu nhập trung bình, quy tắc đa số sẽ quyết định mức phân phối lại cao Mặc dù cách thức phân phối này có thể tác động làm giảm nghèo đói tức thì, nhưng tăng trưởng sẽ chậm

Trang 19

11

hơn Mô hình này có thể có giá trị nhất định đối với những nền kinh tế phát triển, nhưng dường như chưa thích hợp với những nền kinh tế đang phát triển, cơ chế này đòi hỏi sự ủng hộ của dân chúng và cơ quan quyền lực chính trị phân phối lại thu nhập thông qua việc đánh thuế cao vào đầu tư và từ đó làm giảm thu nhập trên vốn đầu tư Rất khó tìm kiếm bằng chứng về vấn đề này ở các nước đang phát triển, một

số nền kinh tế Đông Á thực hiện phân phối lại thông qua chi tiêu công hay cải cách ruộng đất chứ không dựa vào các quyết định chính trị liên quan đến thuế (Morrissey

và Nelson, 1998) [135]

Lý thuyết xung đột xã hội

Mô hình này nhấn mạnh sự phân phối không bình đẳng các nguồn lực chính là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng chính trị và xung đột xã hội, đây được xem

là lý thuyết kinh tế chính trị thích hợp với các nền kinh tế đang phát triển Theo mô hình bất ổn về chính trị xã hội, bất bình đẳng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự bất ổn chính trị xã hội và có tác động tiêu cực đến tăng trưởng do lợi nhuận đầu tư thấp hơn mức mong đợi Trong xã hội mà người nghèo đói chiếm tỷ lệ tương đối cao, cũng như các hoạt động chống phá xã hội và tội phạm gia tăng, sẽ không khuyến khích việc tích lũy khi quyền tài sản không đảm bảo Alesina và Perotti (1996) cho rằng bất bình đẳng lớn sẽ dẫn đến những bất ổn về chính trị và do đó mức đầu tư không tối ưu [94] Benhabib và Rustichini (1996) nhận thấy các nước nghèo có mức đầu tư thấp hơn các nước giàu, các tác giả cung cấp mô hình lý thuyết trò chơi xung đột giữa các nhóm xã hội trong phân phối thu nhập, kết quả cho thấy sự giàu có thấp hơn có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế thấp hơn và việc cân nhắc phân phối lại thu nhập có thể gây suy yếu các động lực tích lũy [101]

Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo

Chatterjee (1991), Tsiddon (1992) [109] [146] đề xuất dòng tư tưởng tín dụng đặt nền móng dựa trên thực tế là đầu tư không đều và việc tiếp cận nguồn tín dụng phụ thuộc vào sự tồn tại thế chấp Từ đó, có một sự ràng buộc tín dụng phát sinh từ phân phối tài sản ban đầu không bình đẳng, điều này gây cản trở cho tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu này khẳng định bất bình đẳng trong việc nắm giữ đất đai

Trang 20

12

biểu hiện sự ràng buộc đối với tăng trưởng trong ngành nông nghiệp (ngành sản xuất chính ở các nước nghèo) Điều này nhất quán với những lập luận nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các cải cách địa điền nhằm thúc đẩy tăng trưởng Galor và Zeire (1993), Chiu (1998) [116] [110] đưa ra lập luận cho rằng ở những nước mà các chủ thể không được tiếp cận tự do nguồn vốn vay, khi đó bất bình đẳng thu nhập cao hàm ý rằng một bộ phận lớn dân số không có vốn đầu tư vào nhân lực Nếu tăng trưởng dựa vào đầu tư vào nguồn nhân lực thì tăng trưởng sẽ thấp Người nghèo có khuynh hướng đối mặt với những ràng buộc tín dụng khó khăn, họ khó có thể thoát nghèo khi mà phần lớn dân số ở dưới ngưỡng chuẩn giáo dục Cần có những chính sách can thiệp để giảm nghèo Trong trường hợp này, phân phối lại sẽ tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội đầu tư vào nguồn nhân lực, từ đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đối với nền kinh tế phát triển thị trường tín dụng sẽ hoàn thiện hơn đối với các nước nghèo, khi đó những tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế sẽ quan trọng hơn ở các nước nghèo

Lý thuyết liên kết phân phối thu nhập và tăng trưởng của Benabou

(1996) Lý thuyết này kết hợp nền kinh tế chính trị và lý thuyết thị trường vốn không

hoàn hảo Mô hình của Benabou cho thấy sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích phân

phối lại có thể biểu diễn bằng đường cong chữ U ngược [99] “Tăng trưởng có liên kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối, trong khi đó tái phân phối có liên kết

hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng” [34] Đề xuất có hai tác động ngược chiều

nhau của mối quan hệ này Ở một nước có thị trường vốn không hoàn hảo thì phân phối lại là tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáo dục, tuy nhiên phân phối lại sẽ mang tác động tiêu cực nếu nó chỉ chuyển đổi thu nhập từ người giàu sang người nghèo vì điều này làm giảm lợi tức và quyết định đầu tư của người giàu

Lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi

Perotti (1996), Kremer và Chen (2000), De la Croix và Doepke (2003)

Theo lý thuyết này, bất bình đẳng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh sản Bố mẹ có thể tối

ưu hóa việc sử dụng những nguồn lực gia đình bằng cách thông qua cải thiện chất

Trang 21

13

lượng giáo dục hoặc số lượng con cái của họ Xã hội bất bình đẳng là xã hội có tỷ lệ phần trăm lớn các hộ gia đình không thể đầu tư vào vốn nhân lực thông qua giáo dục Do giáo dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ mất

đi khi ở trường, các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục và thay vào đó là lựa chọn tăng số lượng con cái Nếu tăng trưởng chủ yếu xuất phát từ đầu tư vào nguồn nhân lực, tỷ lệ sinh sản cao của xã hội này dẫn đến tăng trưởng thấp và bất bình đẳng thu nhập sẽ tăng [138] [123] [112]

Lý thuyết so sánh xã hội của Knell (1998)

Knell (1998) đưa ra lời giải thích cho gợi ý rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng có thể mạnh hơn ở nước giàu [121] Mô hình này được xây dựng trực tiếp dựa vào nghiên cứu của Benabou (1996) trên cơ sở so sánh các cá nhân trong xã hội Knell giả định rằng tối đa hóa nhu cầu cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức tiêu thụ riêng mà còn phụ thuộc vào mức tiêu thụ trung bình của một số nhóm tham chiếu Trong một xã hội bất bình đẳng, người nghèo bị cám dỗ tuân thủ các tiêu chuẩn và đáp ứng các nhu cầu và kỳ vọng xã hội, bằng cách tham gia vào các hoạt động tiêu dùng cao hơn thông qua giảm đầu tư vào giáo dục để giảm khoảng cách với những hộ giàu Những hoạt động như vậy sẽ tối đa hóa phúc lợi hiện tại nhưng gây tổn hại đến phúc lợi và tăng trưởng trong tương lai Kết quả kéo theo là đầu tư vốn nhân lực thấp và giảm tăng trưởng kinh tế Knell xác định đồng thời ba yếu tố ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng bao gồm: (i) sự lựa chọn của nhóm tham chiếu; (ii) mức độ giảm lợi nhuận đầu tư; (iii) sức mạnh của các so sánh xã hội trong tương lai so với các nhóm hiện tại Tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng sẽ cao hơn ở các nước phát triển nơi mà các so sánh xã hội có tầm quan trọng lớn hơn

Như vậy, theo lý thuyết truyền thống, mục tiêu tăng trưởng kinh tế có thể mâu thuẫn với mục tiêu hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng khi sử dụng cơ chế lấy thu nhập người giàu chia cho người nghèo của chính phủ, bằng việc thực hiện các chính sách tái phân phối như dùng thuế hay các chương trình phúc lợi xã hội Để kiểm nghiệm các lý thuyết này, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành

Trang 22

14

1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm

Các nghiên cứu thể hiện mối quan hệ tiêu cực giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Persson và Tabellini (1994) với nghiên cứu “Is Inequality Harmful for Growth?” [139], sử dụng số liệu của 9 quốc gia (Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Đức,

Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Hoa Kỳ Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) trong giai đoạn

20 năm (từ năm 1830 đến 1850) Mô hình sử dụng trong giai đoạn 20 năm (trước chiến tranh) Nghiên cứu này sử dụng các chỉ tiêu bao gồm: INCSH là tỷ lệ thu nhập nhóm giàu nhất so với nhóm nghèo nhất (là chỉ tiêu đánh giá bất bình đẳng thu nhập); NOFRAN là tỷ lệ nhóm tuổi, giới tính (chỉ tiêu thể hiện phân biệt đối xử về chính trị của phụ nữ và các giới hạn độ tuổi khác nhau cho việc bỏ phiếu giữa các quốc gia); SCHOOL là tỷ lệ trung bình nhóm tuổi dân cư ghi danh đi học; GDPGAP là tỷ lệ giữa GDP bình quân đầu người và mức GDP bình quân đầu người cao nhất trong mẫu tại cùng thời điểm (là chỉ tiêu đại diện cho mức độ phát triển của một nước)

Ước lượng OLS cho kết quả đáng chú ý nhất là ảnh hưởng của bất bình đẳng đến tăng trưởng Hệ số INCSH có ý nghĩa tiêu cực ở mức ý nghĩa thống kê; Biến NOFRAN có ảnh hưởng không đáng kể, điều này phản ánh sự thiếu biến động của biến số này trong phần lớn các mẫu; GDPGAP là thước đo liên quan đến nước dẫn đầu luôn có ý nghĩa tiêu cực, hệ số tiêu cực của nó có thể nhận được các hiệu ứng

cụ thể gắn liền với hai cuộc chiến tranh thế giới, nhưng nó cũng chỉ ra một số hội tụ

về mức GDP theo thời gian; chỉ tiêu SCHOOL không có ý nghĩa thống kê

Mô hình sử dụng cho giai đoạn 25 năm (sau chiến tranh từ năm 1960 đến 1985) gồm 56 nước khi phân tích độ nhạy của các biến: MIDDLE là khoản thu nhập chia sẻ cho nhóm thứ ba (phần trăm 41 đến phần trăm thứ 60 của hộ gia đình), bình đẳng về thu nhập càng lớn thì MIDDLE càng cao, do đó dấu hiệu dự đoán của nó trong hồi quy là tích cực Biến MIDDLE được tính theo phần trăm PSCHOOL là tỷ

lệ phần trăm của nhóm học sinh có liên quan (là thước đo giáo dục) và biến GDP bình quân đầu người

Trang 23

15

Kết quả cho thấy MIDDLE luôn luôn có hệ số có ý nghĩa cao Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong mẫu này có các thể chế chính trị phi dân chủ, lý thuyết này dự đoán rằng sự tăng trưởng phải liên quan nghịch với bất bình đẳng trong một cuộc nổi dậy dân chủ, nhưng không nhất thiết là trong chế độ độc tài Để kiểm chứng ý nghĩa này, nghiên cứu đã chia mẫu ra thành hai nhóm quốc gia: những nước dân chủ ít nhất 75% (thời gian giữa năm 1960 và năm 1985) và tất cả các nước khác Kết quả nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng có ý nghĩa tiêu cực đến tăng trưởng kinh

tế đối với các nước dân chủ nhưng có quan hệ nghịch đối với các nước phi dân chủ nhưng không có ý nghĩa

Clarke (1995), “More Evidence on Income Distribution and Growth” [111],

nghiên cứu ủng hộ mối quan hệ tiêu cực giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bằng các bằng chứng thực nghiệm, nhưng trái ngược với Alesina và Rodrik (1994), tác giả nhấn mạnh rằng mối quan hệ này không phụ thuộc vào chế độ chính trị (liệu quốc gia đó có phải là một nền dân chủ hay không) Điều này cho thấy, bất bình đẳng cũng có ảnh hưởng tương tự đối với cả chế độ dân chủ và phi dân chủ Ông ủng hộ mô hình kinh tế chính trị như là phương tiện chuyển đổi cho mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng (đặc biệt thông qua tác động của thuế đến việc phân phối lại thu nhập trong nền kinh tế)

Alesina và Perotti (1996), “Income distribution, political instability, and investment” [94], các tác giả xây dựng mô hình liên quan đến tăng trưởng kinh tế,

bất bình đẳng thu nhập và các tổ chức chính trị dựa vào lý thuyết tăng trưởng nội sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng có tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế Nếu bất bình đẳng thu nhập cao gây ra những bất ổn về chính trị, các nhà đầu tư sẽ giảm nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế khó khăn hơn Sau khi đánh giá mô hình của mình với số liệu 70 quốc gia thông qua phương pháp OLS, kết quả cho thấy rằng “ Khi có một độ lệch chuẩn trong cổ phần của tầng lớp trung lưu tăng lên sẽ dẫn tới chỉ số bất ổn chính trị giảm xuống 3,3 đơn

vị Điều này sẽ làm tăng tỷ trọng đầu tư GDP lên khoảng một phần trăm”

Trang 24

Josten S.D (2003), “social capital, Inequality and Economic growth” [119], nghiên cứu đã phát triển mô hình trong đó đề cập yếu tố cơ bản về vốn con người và

tính không ổn định về chính trị - xã hội, xem xét vốn xã hội là một biến tác động lên tăng trưởng và bị ảnh hưởng bởi bất công bằng Dù là điều đó không được xác nhận qua thực nghiệm, tác giả đã phát triển ý tưởng của ông thông qua các tác nhân đa dạng bao trùm mô hình cùng thời liên quan đến vốn xã hội thêm vào các yếu tố tăng trưởng nội sinh Kết quả nghiên cứu là có sự tăng lên của bất bình đẳng thu nhập làm cho vốn xã hội của cộng đồng giảm, từ đó tác động tiêu cực đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế

Causa, Orsetta, Alain de Serres and Nicolas Ruiz (2014), “Can enhancing policies lift all boats? An analysis based on household disposable incomes” [106], để khám phá thêm câu hỏi nghiên cứu mối quan hệ BBĐTN và

growth-TTKT, các tác giả ước tính mối quan hệ với GDP bình quân đầu người, trong đó sự thay đổi về bất bình đẳng thu nhập đã được thêm vào các động lực tăng trưởng như vốn vật chất và nhân lực Ý tưởng này kiểm tra xem sự thay đổi của bất bình đẳng thu nhập theo thời gian có tác động đáng kể đến GDP bình quân đầu người trung bình trên các quốc gia OECD hay không và liệu ảnh hưởng này có khác nhau tùy theo mức độ bất bình đẳng được đo ở phần dưới hay phần trên của phân phối Kết quả cho thấy tác động luôn luôn tiêu cực và có ý nghĩa thống kê: sự gia tăng bất

Trang 25

17

bình đẳng 1% làm giảm GDP từ 0,6% xuống 1,1% Vì vậy, ở các nước OECD ít nhất, mức độ bất bình đẳng cao hơn có thể làm giảm GDP bình quân đầu người Hơn nữa, mức độ của hiệu ứng là tương tự nhau, bất kể sự gia tăng bất bình đẳng diễn ra chủ yếu ở nửa trên hay nửa dưới của phân phối

Các nhà kinh tế học theo quan điểm này hầu hết nhận định rằng bất bình đẳng có một tác động tiêu cực đến tăng trưởng Các mối quan hệ thông qua các nguồn vốn con người hoặc biến số đầu tư và cộng hưởng bằng một vài hiệu ứng trung gian như

sự khác biệt chính trị - xã hội ổn định, phân phối lại và các loại thuế liên quan (chủ yếu là thuế liên qua đến vốn đầu tư) hay sự khác biệt về xã hội

Mối quan hệ tích cực giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Li và Zou (1998), “Income inequalty is not harmful for Growth: Theory and evidence” [128], các tác giả xem xét lại mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và

tăng trưởng kinh tế, đề xuất mối quan hệ lý thuyết dựa vào mô hình kinh tế chính trị với điển hình tập trung vào thuế thu nhập, lập luận đưa ra là phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể dẫn đến thuế thu nhập cao hơn và tăng trưởng kinh tế thấp hơn Theo nghiên cứu thực nghiệm, ước lượng cơ bản và phân tích độ nhạy cảm cho thấy bất bình đẳng về thu nhập có tác động tích cực tới tăng trưởng Phát hiện này trái ngược mối liên hệ tiêu cực giữa sự bất bình đẳng và tăng trưởng được đề xuất bởi Alesina và Rodrik (1994) và Persson và Tabellini (1994)

Các tác giả đã trình bày phân tích thống kê rộng rãi để kiểm tra mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở dữ liệu được cải thiện và mở rộng về phân phối thu nhập của Deininger và Squire (1996), bao gồm

112 quốc gia trong giai đoạn 1947-1994 Đưa ra hai bộ phương trình khác nhau: (i) Trong phương trình đầu tiên, đưa các nhân tố cụ thể về thời gian, dân chủ vào mô hình, xây dựng một hàm hồi quy cơ bản, và sử dụng ước lượng tác động cố định và ngẫu nhiên Kết quả cho thấy, trong tất cả trường hợp, biến số GINI là dương và lớn, tuy nhiên, tất cả những ước lượng ngẫu nhiên đều dẫn đến hệ số hồi quy thấp hơn và ý nghĩa thấp đối với các giải pháp bất bình đẳng Uớc lượng cố định cho kết quả có ý nghĩa hơn, giải thích rằng tăng độ lệch chuẩn trong hệ số GINI sẽ dẫn đến việc tăng tốc độ tăng trưởng GDP một khoảng 0,5%

Trang 26

18

(ii) Trong phương trình sau, nghiên cứu đưa thêm các biến số thường được sử dụng trong các nghiên cứu về tăng trưởng (như: tỷ lệ tăng trưởng dân số - PGRWW, tỷ lệ đô thị hóa - URB, độ mở của thị trường - XGDP, cơ cấu đầu tư - INVSHR, thị trường chợ đen – BMP và phát triển thị trường tài chính - FNDP) Kết quả thấy rằng khi đưa vào một bộ hoàn chỉnh tất cả các biến số trên vào mô hình thì biến số bất bình đẳng sẽ mất đi độ lớn nhưng vẫn dương Tuy nhiên, khi chỉ đưa một vài biến vào mô hình, và sau khi triển khai ước lượng lùi, các hệ số hồi quy sẽ duy trì mức cao và dương trong mọi hàm hồi quy Trong đó nhận thấy yếu tố tỷ suất đầu tư vào sẽ làm sụt giảm ý nghĩa của mô hình

Forbes (2000),“A reassessment of the relationship between inequality and growth” [114], nghiên cứu đề cập đến ba vấn đề: (i) Nhiều ước tính cho thấy có tác

động tiêu cực của bất bình đẳng đến tăng trưởng nhưng không mạnh, chẳng hạn như khi bổ sung các biến giải thích hoặc biến giả trong khu vực được đưa vào, hệ số về bất bình đẳng thường trở nên không đáng kể (mặc dù nó vẫn còn âm) Deininger và

Squire (1998) nhấn mạnh điểm này, điều này dẫn họ đến "đặt câu hỏi về tính mạnh

mẽ và tính hợp lệ của mối liên hệ tiêu cực giữa bất bình đẳng và tăng trưởng" [114,

tr269]; (ii) Thứ hai, tất cả các nghiên cứu quan hệ tiêu cực có hai vấn đề kinh tế lượng tiềm tàng là sai số đo lường trong bất bình đẳng và sai lệch biến thiên Sai số

đo ngẫu nhiên có thể tạo ra một sự chênh lệch suy giảm và làm giảm tầm quan trọng

của kết quả từ các nghiên cứu đi trước; (iii) Nghiên cứu phạm vi quốc gia những

thay đổi bất bình đẳng không nhất định là có liên quan như thế nào đến sự tăng trưởng của quốc gia đó Phương pháp trực tiếp để ước lượng mối quan hệ này là sử dụng ước lượng bảng Các kỹ thuật bảng có thể ước tính cụ thể mức độ thay đổi mức bất bình đẳng của một quốc gia dự báo sự thay đổi tốc độ tăng trưởng của nước

đó như thế nào

Forbes sử dụng bộ dữ liệu có chất lượng cao, chỉ bao gồm các quốc gia có ít nhất hai quan sát liên tục và kết thúc với một mẫu 45 quốc gia và 180 quan sát cho giai đoạn 1966-1995 Các biến sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:Growth là tốc độ tăng trưởng kinh tế, Inequality là bất bình đẳng thu nhập (Gini), Income là

Trang 27

19

GNP thực bình quân đầu người, Male/Famel Education là số năm đi học trung bình của nam/nữ, PPPI là mức giá đầu tư (đo bằng PPP của đầu tư/tỷ giá hối đoái tương đối so với Mỹ)

Forbes đưa ra kết luận rằng trong thời gian ngắn và trung hạn, bất bình đẳng ảnh

hưởng một cách tích cực và đáng kể đến phát triển kinh tế, “Một sự gia tăng mười điểm trong hệ số Gini của 1 quốc gia tương đương với 1,3 phần trăm trong tăng trưởng bình quân hàng năm của quốc gia đó trong vòng 5 năm tới" [114, tr10] Garbis (2005), “Inequality, poverty, and growth: Cross – country evidence”

[117], xem xét mối quan hệ thực nghiệm giữa bất bình đẳng và tăng trưởng; phân tích tác động của tăng trưởng, bất bình đẳng và chi tiêu của chính phủ đối với giảm nghèo Một tập dữ liệu mảng mới được tập hợp về bất bình đẳng và nghèo đói làm giảm sai số đo lường và đảm bảo tính so sánh giữa các quốc gia theo thời gian Các kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu này thách thức niềm tin rằng sự bất bình đẳng về thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng và khẳng định tính hiệu lực của đường cong Kuznets Sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình sẽ làm tiết kiệm cao hơn và đẩy mạnh tăng trưởng tích lũy vốn vật chất, đây được xác định là nguyên nhân dẫn đến mối quan

hệ tích cực giữa bất bình đẳng và tăng trưởng trong thời gian ngắn hạn và trung hạn Tác giả đã đưa ra minh chứng trong dài hạn, không tìm thấy bất cứ liên hệ tích cực nào giữa tăng trưởng và bất bình đẳng Tuy nhiên, trong dài hạn khi nguồn nhân lực trở thành yếu tố ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng, bất bình đẳng cao khiến người lao động không có điều kiện tiếp cận nguồn tín dụng để đầu tư vào nhân lực hoặc các hoạt động tiềm năng khác, chất lượng nhân lực giảm từ đó gây trở ngại cho hoạt động kinh tế Đây là kết quả của sự thiếu hiệu quả phân bổ được tạo ra bởi các thị trường tín dụng không hoàn hảo

Armit Rubin (2015), “The effects of economic growth on income inequality

in the US” [144] Bài viết phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và

tăng trưởng kinh tế ở Mỹ trong những năm sau thế chiến thứ hai (1953 - 2008) Tác giả chỉ ra rằng thu nhập của các nhóm có thu nhập cao nhất thì nhạy cảm hơn với

Trang 28

20

tăng trưởng Bằng chứng cho thấy rằng sự nhạy cảm này phát sinh bởi hai lý do: (i) các nhóm thu nhập cao nhất nhận được một phần lớn thu nhập của họ từ sự giàu có, nhạy cảm với sự phát triển hơn so với thu nhập của lao động, và (ii) các nhóm thu nhập cao nhất nhận được một phần lớn thu nhập của lao động theo hình thức trả tiền cho hiệu suất (bồi thường công bằng), cũng là nhạy cảm với tăng trưởng Do đó, nghiên cứu kết luận rằng sự tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập có liên quan tích

cực

Những nghiên cứu này đề xuất một tác động tích cực của sự bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng kinh tế Điều cần lưu ý rằng dấu hiệu tích cực này được chứng minh về mặt lý thuyết chủ yếu thông qua các tranh cãi về kinh tế và chính trị, và các vấn đề về phương pháp đại diện cho một phần đáng kể các đối số cho lợi ích của mối quan hệ tích cực đáng kể về mặt thống kê…

Những nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế

Lập luận thứ ba dung hòa hai lập luận trước đây hoặc tương phản và phức tạp hơn so với ảnh hưởng thực tế của sự bất bình đẳng trong thu nhập đối với tăng trưởng kinh tế

Barro (2000), “ Inequality and growth in a panel of countries” [97], đánh giá

bất bình đẳng và tăng trưởng trong thời gian 10 năm (1965 – 1995) với dữ liệu mảng lớn các quốc gia và thấy rằng mối quan hệ tổng thể giữa bất bình đẳng được

đo bằng hệ số Gini và tốc độ tăng trưởng là phi tuyến, (với mức thu nhập trung bình khoảng $2000 – trị giá năm 1985) Ông nhận thấy, bất bình đẳng hơn đi cùng với tăng trưởng thấp hơn ở các nước có thu nhập thấp và tăng trưởng cao hơn ở các nước có thu nhập cao hơn hoặc các nước phát triển Ông cũng phát hiện thấy hệ số của Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê trong toàn mẫu bao gồm tất cả các quốc gia khi bỏ qua biến tỷ lệ sinh Như vây, các quốc gia có tỷ lệ sinh cao hơn (thường là các nước chậm phát triển) cũng có bất bình đẳng cao hơn và việc bỏ sót biến tỷ lệ sinh trong các nghiên cứu trước đây có thể tạo sai lệch âm trong các ước lượng về tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng

Trang 29

Barro(2008), “Inequality and growth revisited” [98], xem xét lại nghiên cứu

của mình năm 2000 với cơ sở dữ liệu được cải thiện và thực tế hóa từ ngân hàng dữ liệu của Liên Hợp Quốc về bất bình đẳng thu nhập Tác giả xác nhận các kết quả trước đó của mình về mối quan hệ cùng chiều giữa bất bình đẳng và tăng trưởng ở các nước giàu, cũng như quan hệ ngược chiều ở các nước nghèo với sự khác biệt là

ở đây điểm thay đổi thu nhập cao hơn đáng kể, ở mức khoảng 11,900 USD Điều này ngụ ý rằng mức độ thay đổi thu nhập tăng lên đã ít khiêu khích các nước nằm ở phía tích cực của mối tương quan hơn

Castello-Climent(2010) với đề tài “Inequality and growth in advance economices: an empirical investigation” [107] Tác giả đề xuất quan điểm cho rằng

một mặt có thể tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng và tăng trưởng, mặt khác, có mối quan hệ cùng chiều ở các quốc gia phát triển khi thực hiện các ước lượng cho các mẫu của các quốc gia với mức độ thu nhập khác nhau Castello-Climent tập hợp 3 bộ dữ liệu cho bất bình đẳng, một bao gồm cập nhật và cải thiện cho dữ liệu về bất bình đẳng của Deininger và Squire (1996) với 55 quốc gia, trong

đó số lượng các quốc gia phát triển đã giảm đi, mẫu thứ 2 bao gồm thông tin cho một nhóm nhỏ hơn các quốc gia có thu nhập cao, mở rộng từ nghiên cứu về thu nhập của Luxemburg, một tập dữ liệu rộng hơn so với nghiên cứu trước đây của tác giả, với sự đo lường bất bình đẳng về nhân lực của 108 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1960 đến 2000

Trang 30

22

Một nghiên cứu gần đây của Causa et al (2009) [105] đã điều tra tác động dài hạn mà các cải cách cơ cấu đã có đối với GDP bình quân đầu người và phân phối thu nhập hộ gia đình Dựa trên phân tích này, các cải cách ủng hộ tăng trưởng có thể được phân biệt tùy theo việc chúng tăng, giảm hay không có tác động đến bất bình đẳng thu nhập khả dụng Một số cải cách tăng trưởng đã góp phần thu hẹp sự bất bình đẳng bằng cách mang lại thu nhập mạnh hơn cho các hộ gia đình ở dưới mức phân phối so với hộ gia đình trung bình Chẳng hạn như trường hợp giảm các rào cản pháp lý đối với cạnh tranh trong nước, thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ và tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, việc thắt chặt trợ cấp thất nghiệp đối với những người thất nghiệp dài hạn làm tăng thu nhập trung bình các hộ gia đình trong nghiên cứu, nhưng làm giảm thu nhập khả dụng ở phân phối cuối cùng, dấu hiệu cho thấy có thể làm tăng bất bình đẳng thu nhập

Một mức độ nhất định của bất bình đẳng thu nhập và sự giàu có là một đặc điểm của nền kinh tế thị trường, dựa trên niềm tin, quyền tài sản, doanh nghiệp và pháp luật Quan niệm rằng có thể tận hưởng những lợi ích từ những nỗ lực của riêng mình luôn là một động lực mạnh mẽ để đầu tư vào vốn nhân lực, ý tưởng mới và sản phẩm mới, cũng như thực hiện các dự án thương mại đầy rủi ro Tuy nhiên ở khía cạnh khác, sự bất bình đẳng thu nhập ngày càng tăng có thể làm suy yếu nền tảng của các nền kinh tế thị trường Cuối cùng có thể dẫn đến sự bất bình đẳng về

cơ hội Điều này làm mất đi tính di động xã hội, và làm suy yếu các động cơ đầu tư vào kiến thức Kết quả là sự phân bổ sai các kỹ năng, và thậm chí lãng phí thông qua thất nghiệp nhiều hơn, cuối cùng làm suy yếu hiệu quả và tiềm năng tăng trưởng Các quan điểm phi tuyến chủ yếu được định hướng về sự quan trọng của mức độ thu nhập cũng như nguồn lực xác định dấu hiệu của mối quan hệ Sự giải thích này

có thể thu được các quan điểm đối lập trong phạm vi cuộc tranh luận về bất bình đẳng – tăng trưởng vì nó cung cấp một hình mẫu mà cả hai quan điểm đều phù hợp Tuy nhiên, nó cũng đặt ra một số câu hỏi về sự tồn tại của một cơ chế hoạt động đặc biệt, có lẽ ở các mức độ khác nhau, trong phạm vi các mức thu nhập khác nhau, và người chịu trách nhiệm có ảnh hưởng lên tăng trưởng

Trang 31

23

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), đề tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế: Một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam” [6], nghiên cứu này tiến hành đánh

giá ban đầu về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam Các phân tích tập trung vào ba vấn đề liên quan tới chất lượng tăng trưởng gồm: hình thái đầu tư vào hình thành tài sản vốn vật chất và vốn con người; nhận dạng mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2003, đặc biệt chú trọng tới đóng góp của vốn con người và phân tích diễn biến bất bình đẳng về phân phối thu nhập cũng như ảnh hưởng của tăng trưởng và bất bình đẳng tới tỷ lệ giảm nghèo Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị Nghiên cứu đưa ra bức tranh bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tuy nhiên khi chạy mô hình chỉ mới dừng lại xem xét tác động bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế đến nghèo đói ở Việt Nam Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế đóng góp lớn vào giảm nghèo, trái lại bất bình đẳng làm tăng nghèo đói nhưng ở mức thấp hơn

Ngô Quang Thành (2005),“Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập và chiến lược phát tiển kinh tế Việt Nam” [61] Nghiên cứu chỉ ra được mối

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập nằm ở ba vấn đề then chốt: thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản tạo ra sự thay đổi bất bình đẳng trong phát triển, cũng như nguồn gốc tạo nên tăng trưởng kinh tế Trong khi các nhà kinh

tế hiểu rõ về nguyên nhân tăng trưởng kinh tế, thì họ lại hiểu sơ sài về nguồn gốc của bất bình đẳng trong phát triển; thứ hai, cả tăng trưởng và bất bình đẳng đều là kết quả của chính sách kinh tế, năng lực thể chế và phụ thuộc vào khuynh hướng phát triển cũng như những cú sốc từ bên ngoài Các nước rất khác biệt về những điều kiện, và chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập; thứ ba, chính sách kinh tế - xã hội cần coi mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện bất bình đẳng là một mục tiêu chung, không nên có sự đối xử riêng lẻ, nhưng cũng cần chú ý về chính sách đối với những nội dung tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng loại trừ có thể xảy ra trong các trình độ phát triển khác nhau Tuy nhiên, đề tài chỉ dựa vào nghiên cứu định tính, mô tả thống kê

Trang 32

24

Yuichi Kimura (2006), với nghiên cứu “Ảnh hưởng của tăng trưởng và toàn cầu hóa lên nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam (1993 – 2006)” [89] đã thu thập tài liệu

về những thay đổi trong sự giàu có và cấu trúc thu nhập bình đẳng trong những năm

1990 và 2000 Xem xét tác động có thể có của những chính sách như giảm can thiệp, tư nhân hóa và tự do thương mại được thực hiện như một phần của đổi mới

và bắt đầu chứng tỏ hiệu quả trong những năm 1990 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ mới nêu ra những ảnh hưởng của tăng trưởng và toàn cầu hóa lên nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam mà chưa đưa ra được những kiến nghị, giải pháp cụ thể cho vấn đề này, số liệu nghiên cứu đã lâu (1009 – 2006) không phù hợp với thực tế hiện nay của Việt Nam

Lê Quốc Hội (2010), với bài viết “ Sử dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [33] Đề tài

đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu các kênh bất bình đẳng thu nhập tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua sử dụng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình và số liệu 61 tỉnh thành trong giai đoạn 1991 – 2006 Nghiên cứu chỉ ra các kênh bất bình đẳng tác động tới tăng trưởng: Thứ nhất, kênh thị trường vốn không hoàn hảo; theo đó tỉnh/thành nào có bất bình đẳng cao hơn sẽ tăng trưởng kinh tế thấp hơn vì hạn chế khả năng tiếp cận vốn cho phát triển kinh tế Thứ hai, kênh giáo dục, bất bình đẳng cao hạn chế trình độ giáo dục, mối quan hệ cùng chiều giữa trình

độ giáo dục và tăng trưởng Thứ ba, kênh phân phối, kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa biến phân phối và biến tăng trưởng, tuy nhiên mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng và phân phối không có ý nghĩa thống kê Như vậy không thể kết luận sự phù hợp lý thuyết phân phối ở Việt Nam Cụ thể, không thể khẳng định rằng bất bình đẳng tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua kênh phân phối Ngược lại, cơ chế phân phối nguồn lực có ảnh hưởng mạnh đến bất bình đẳng Thứ tư, kênh dân số - sinh sản, kết quả cho thấy mối quan

hệ giữa biến bất bình đẳng và biến dân số - sinh sản là dương, hàm ý rằng những

tỉnh/thành có bất bình đẳng cao thì kéo theo tỷ lệ dân số/sinh sản cao Nghiên cứu

đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững và

Trang 33

25

công bằng xã hội Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đi vào ước lượng và kiểm định một

chiều tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Vũ Thanh Sơn (2010), bài viết “Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam” [57] Bài viết có tham khảo kết quả nghiên cứu

của TS Lê Thanh Tâm (đề tài KX04.2006/10) sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS như công cụ tin cậy trong việc xác định tương quan tăng trưởng với bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1993 – 2006 Kiểm định tương quan tăng trưởng và bất bình đẳng sử dụng các biến: INEQUALITY là mức độ bất bình đẳng thu nhập (được đo lường bằng hệ số Gini); GDPi2 là giá trị tuyệt đối của GDP theo giá so sánh năm 1994; Z là các biến số kinh tế và xã hội tác động đến tốc độ tăng trưởng (hoặc mức độ bất bình đẳng) như: chỉ số tuổi thọ trung bình, chỉ số giáo dục trung bình

Nghiên cứu rút ra kết luận sau: thứ nhất, xét tổng thể nền kinh tế bất bình đẳng

có quan hệ thuận chiều với tăng trưởng (+) trong điều kiện Việt Nam, tăng trưởng trong thời gian đầu phát triển tại Việt Nam gây ra mức bất bình đẳng tương đối, nhất là tại các tỉnh thuộc vùng kinh tế phát triển mạnh Thứ hai, xét phạm vi vùng kinh tế, mức độ bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế cao hơn có mối quan hệ dương (+) ở các vùng kinh tế tốt hơn như vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ Khu vực này có nhiều thuận lợi về điều kiện địa lý, kinh

tế nên thu hút lượng vốn đầu tư lớn cho quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa

Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty (2010), “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” [58] Nghiên cứu chỉ ra rằng qua gần 25 năm đổi mới, nền

kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn thay đổi sâu sắc Hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng khi thực hiện chính sách đổi mới đã làm thay đổi nền sản xuất và thương mại Tăng trưởng kinh tế đã góp phần thu hẹp một cách ấn tượng các hộ nghèo đói Bước quá độ sang kinh tế thị trường về cơ bản đã được hoàn tất và Việt Nam đã gia nhập hàng ngũ các nước Đông Á có nền kinh tế tăng trưởng tốc độ cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vượt bậc đó, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam cũng gặp những

Trang 34

2008, và 2010 và dựa trên bộ số liệu của cả nước Sử dụng các biến: GROWTH là biến tốc độ tăng trưởng GDP, INQUALITY là biến đo lường bất bình đẳng thu nhập (GINI, INCGAP) Thống kê tính toán hệ số GINI là biến biểu thị bất bình đẳng phân phối thu nhập, và INCGAP là biến đo lường khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất Sử dụng phương pháp ước lượng tác động cố định và tác động ngẫu nhiên.

Kết quả ước lượng cho thấy gia tăng bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở một ngưỡng nhất định Chấp nhận bất bình đẳng cao hơn sẽ có được tăng trưởng kinh tế cao hơn khi hệ số Gini lớn hơn 0,37 và

sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế khi hệ số Gini nhỏ hơn 0,37 Như vậy, hệ số bất bình đẳng thu nhập sẽ tăng tới mức hợp lý (hay tăng đến ngưỡng) 0,37 thì vẫn tốt cho tăng trưởng và đảm bảo ổn định xã hội Đây cũng chính là điểm phát hiện mới của luận án Bên cạnh những kết quả và điểm mới nghiên cứu cũng có hạn chế như sau: về vấn đề nội sinh giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế chưa được giải quyết đầy đủ trong mô hình dữ liệu mảng, do vậy cần thu thập thêm số liệu để có thể giải quyết vấn đề này qua các phương pháp ước lượng khác

Phan Thăng An (2015), luận án nghiên cứu “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh

tế và bất bình đẳng thu nhập ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ” [1], nghiên cứu

này thực hiện trong phạm vi một Vùng (gồm 5 tỉnh: Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) Sử dụng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình và niên giám thống kê giai đoạn 2001 – 2013, kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu của mình, nghiên cứu đã chỉ ra được mối quan hệ nhân quả tồn tại

Trang 35

27

trong ngắn hạn giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, từ đó đề xuất một số chính sách lồng ghép tăng trưởng kinh tế

và chính sách xã hội trên địa bàn

Khi nghiên cứu tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập ở Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ sử dụng các biến bao gồm: Inequalityit: biến đại diện cho BBD thu nhập; Growthit: biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế; Z là biến đặc trưng kinh tế xã hội vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ Nghiên cứu này khẳng định bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế là hai hiện tượng đi liền trong quá trình phát triển kinh tế Trong giai đoạn 2000 – 2013, tăng trưởng kinh tế đã làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ

Đánh giá tác động bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế vùng kinh

tế trọng điểm Miền Trung sử dụng các biến gồm: lngdp là biến đại diện tăng trưởng kinh tế; lnkcgn là khoảng cách giàu nghèo giữa 20% nhóm thu nhập cao nhất với 20% nhóm thu nhập thấp nhất – là biến đại diện bất bình đẳng thu nhập; Zi là biến đại diện đặc trưng của Vùng Sử dụng ước lượng tác động cố định và tác động ngẫu nhiên cho kết quả bất bình đẳng thu nhập có tác động đến tăng trưởng kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa xử lý được các vấn đề nội sinh trong mô hình kinh tế lượng

Các nghiên cứu trong nước chủ yếu đề cập xu hướng của mối quan hệ (tích cực, tiêu cực) thông qua sử dụng phương pháp định tính, sau này có một số nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng trong nghiên cứu mối quan hệ BBĐTN và TTKT

1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và khoảng trống nghiên cứu

Dựa vào nền tảng các nghiên cứu lý thuyết đã được để cập, các nhà kinh tế học hiện đại tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau này nhận thấy được mối quan hệ của bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên còn tồn tại nhiều tranh cãi về mối quan hệ này Thậm chí, trong phạm vi mối quan hệ được đề xuất (tích cực, tiêu cực, hoặc phi tuyến tính), không có một kết luận chung về làm

Trang 36

và phù hợp với cơ cấu đặc thù riêng của từng quốc gia phải xuất phát từ thực tiễn của quốc gia đó

Nhiều nghiên cứu trong nước cũng nêu lên xu hướng mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu này nhấn mạnh, mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT là mối quan hệ phức tạp, tăng trưởng kinh tế làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập trong thời kỳ đầu của nền kinh tế, bất bình đẳng thu nhập trong một số trường hợp tác động ngược trở lại, kìm hãm tăng trưởng kinh tế Những đề xuất nên lên khẳng định cần có những chính sách gia tăng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của mối quan hệ này

Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng

kinh tế ở Việt Nam, song vẫn còn khoảng trống nghiên cứu sau đây:

+ Các công trình trong nước giai đoạn trước chủ yếu là nghiên cứu định tính Gần đây có một số công trình nghiên cứu định lượng nhưng chủ yếu nghiên cứu tác động một chiều của mối quan hệ này và thực hiện chủ yếu trên phạm vi quốc gia, lãnh thổ Hiện có rất ít nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập

và tăng trưởng kinh tế trên phạm vi một vùng (Vùng 5 tỉnh như Tây Nguyên)

+ Các nghiên cứu về Tây Nguyên hiện nay chủ yếu đề cập đến mô hình tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, một số có đề cập đến vấn đề chênh lệch thu nhập ở Tây Nguyên, tuy nhiên chưa có nghiên cứu đi sâu phân tích mối quan hệ BBĐTN và TTKT trên địa bàn Tây Nguyên

Trang 37

29

+ Nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên – một vùng kinh tế lớn ở nước ta với những đặc thù kinh tế - xã hội khác biệt (như: tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số đông, khoảng cách giàu nghèo càng gia tăng…) từ đó đề xuất những chính sách phù hợp với đặc thù Vùng có vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn phát triển tiếp theo của Tây Nguyên

Kết luận chương 1

Tổng quan nghiên cứu đi trước về mối quan hệ BBĐTN và TTKT cho thấy có

ba quan điểm được đề xuất trong thời gian qua (tích cực, tiêu cực, phi tuyến), dựa vào tổng quan nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, cách thức nghiên cứu đo lường giúp luận án xác định khoảng trống nghiên cứu, lựa chọn biến số phân tích mối quan hệ BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên được thực hiện với số liệu cụ thể ở các chương sau

Trên cơ sở kế thừa nền tảng những nghiên cứu đi trước (các thước đo, phương pháp đáng giá TTKT, BBĐTN và mối quan hệ giữa TTKT và BBĐTN), tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên ở chương sau để thu được hiệu quả về mặt lý luận và thực tiễn cao hơn

Trang 38

30

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BẤT

BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế với việc xem xét các lý thuyết về mối quan hệ này (được đề cập trong chương 1), từ

đó đề xuất một số tiêu chí đánh giá mối quan hệ BBĐTN và TTKT Phân tích bài học kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ này ở Singapore, Brazil và Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ của Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm cho Tây Nguyên

2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

2.1.1 Lý luận cơ bản về bất bình đẳng thu nhập

2.1.1.1 Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập

Bất bình đẳng là khái niệm rộng, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau trong đời sống xã hội Bất bình đẳng thu nhập là một khía cạnh quan trọng trong bất bình

đẳng xã hội Nghiên cứu nhiều khái niệm bất bình đẳng thu nhập được đưa ra:

Kuznets (1955) bất bình đẳng thu nhập được xem là tình trạng hầu hết người dân sống dưới mức thu nhập trung bình trong khi đó chỉ có một bộ phận nhỏ dân số

có thu nhập tương đối cao trong một quốc gia hay vùng lãnh thổ [124]

Theo Fletcher, Michael A (2013), bất bình đẳng thu nhập xuất hiện khi có sự chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối tài sản, sự giàu có hay thu nhập [113]

Hoàng Thủy Yến (2015), “bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong nền kinh tế” [88, tr 17]

Như vậy các nghiên cứu trên đều đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc các nhóm trong nền kinh tế Bất bình đẳng thu nhập là sự chênh lệch thu nhập giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong nền kinh tế Lưu ý khi đánh giá bất bình đẳng thu nhập cần đề cập đến hai khía cạnh cả

Trang 39

31

thu nhập lẫn chi tiêu của nhóm dân cư trong xã hội Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất so với nhóm giàu nhất được phản ánh thông qua khả năng sinh kế và chất lượng cuộc sống, cơ cấu chi tiêu các nhóm dân cư [58]

Để đánh giá BBĐTN cần nghiên cứu việc phân phối thu nhập để biết được các

cá nhân có được thu nhập là bao nhiêu và nguồn gốc để tạo ra thu nhập là từ đâu

Theo Mark, phân phối thu nhập có hai hình thức: (i) phân phối thu nhập quốc dân lần đầu (phân phối thu nhập theo chức năng) liên quan đến phân chia thu nhập theo

các yếu tố sản xuất khác nhau như lao động, máy móc thiết bị, đất đai… Theo cách phân phối này, người lao động được hưởng tiền lương (hoặc tiền công) từ việc cung cấp sức lao động; chủ doanh nghiệp được hưởng lợi nhuận với tư cách là lợi tức từ

sở hữu vốn và phần trả công cho sức lao động cũng như tài năng kinh doanh của họ Bên cạnh đó việc sở hữu vốn, tài sản khi tham gia và quá trình sản xuất được hưởng

phần lợi tức hay tiền cho thuê tài sản tương ứng; (ii) Phân phối lại thu nhập chủ yếu

liên quan đến sự can thiệp của Nhà nước tới phân phối thu nhập lần đầu Phương thức phân phối lại thu nhập thường được thực hiện qua đánh thuế thu nhập, các chương trình trợ cấp và chi tiêu công của Chính phủ nhằm giảm bớt mức thu nhập của người giàu và nâng cao thu nhập của người nghèo [31]

2.1.1.2 Đo lường bất bình đẳng thu nhập

Phân phối quy mô cho biết tỷ trọng thu nhập (hay chi tiêu) của các hộ khác nhau nhận được, đây là phương pháp dễ nhận biết hơn mức độ bất bình đẳng phân phối được thể hiện

Hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm dân cư giàu nhất và nghèo nhất

Simon Kuznets (1955) đưa ra hệ số căn cứ vào tỷ số giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm 20% giàu nhất so với tỷ trọng thu nhập của nhóm 20% dân số nghèo nhất làm thước đo bất bình đẳng (tỷ số Kuznets) Hệ số chênh lệch (giãn cách) càng lớn thì tình hình bất bình đẳng càng cao [124]

Đường cong Lorenz

Max Lorenz (1905), xây dựng đường cong Lorenz bằng cách biểu diễn trên hai trục: trục tung biểu thị % thu nhập cộng dồn sắp xếp tương ứng với tỷ lệ % dân số

Trang 40

32

cộng dồn, trục hoành biểu thị % dân số cộng dồn được sắp xếp theo thứ tự thu nhập

tăng dần “Đoạn thẳng nối điểm có tọa độ 0% dân số và 0% thu nhập với điểm có tọa độ 100% dân số và 100% thu nhập tạo thành đường chéo của hình vuông xuất phát từ trục tọa độ, đây chính là đường công bằng tuyệt đối Xác định giao giữa tỷ

lệ % dân số và tỷ lệ % thu nhập theo phương pháp cộng dồn Sau đó nối những điểm này lại với nhau bắt đầu tư 0% dân số và 0% thu nhập đến điểm cuối cùng là 100% dân số và 100% thu nhập xác định được đường cong Lorenz” [31, tr283] Bất

bình đẳng càng lớn thì đường cong Lorenz càng xa “đường công bằng tuyệt đối”

Hình vẽ 2 1: Đường cong Lorenz

(Nguồn: Giáo trình Kinh tế phát triển – Học viện Tài chính)

Hệ số Gini: Corrado Gini (1912) kế thừa kết quả nghiên cứu đường cong

Lorenz đưa ra hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Lorenz) [31] Về mặt hình học, hệ số này được xác định bằng cách lấy diện tích hình A, được xác định bằng đường cong Lorenz và đường chéo OD chia cho diện tích nửa hình vuông có chứa đường Lorenz

đó, hình (A + B)

G = (1)

Công thức tính cụ thể của hệ số Gini trực tiếp

)

3 2 ( 2 1

ybq n n

(2)Trong đó: y1, y2, y3….yn: Thu nhập của từng nhóm hộ (theo thứ tự giảm dần); Ybq là thu nhập bình quân của hộ; n là tổng số nhóm hộ

Ngày đăng: 09/04/2019, 12:17

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w