Kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo Kiểm định cơ sở đào tạo sẽ xem xét, đánh giá toàn bộ các mục tiêu, kếhoạch và hoạt động toàn diện của đơn vị, bao gồm đào tạo, nghiên cứu khoahọc, quản
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
TÀI LIỆU ĐÀO TẠO CÁN BỘ TỰ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ,
Trang 2MỤC LỤC
III Kiểm định chất lượng đào tạo ở một số nước trên thế giới 17
III Mục tiêu và vai trò của kiểm định chất lượng dạy nghề 31
IV Hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề của cơ quan quản lý
I Tự kiểm định chất lượng dạy nghề của trường nghề 46
II Kiểm định chất lượng dạy nghề của cơ quan quản lý nhà nước về
dạy nghề
49
III Công nhận kết quả kiểm định chất lượng dạy nghề, cấp và thu
hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạynghề
Trang 3nghề, trường trung cấp nghề
PHẦN 3 Tự kiểm định chất lượng dạy nghề của trường cao đẳng nghề,
trường trung cấp nghề
62
Chương I Giới thiệu chung về tự kiểm định chất lượng dạy nghề và quy
trình tự kiểm định chất lượng dạy nghề
62
I Giới thiệu chung về tự kiểm định chất lượng dạy nghề 62
II Quy trình tự kiểm định tự kiểm định chất lượng dạy nghề 63Chương II Nội dung các bước tiến hành tự kiểm định chất lượng dạy nghề
tại trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề
64
I Thực hiện công tác chuẩn bị tự kiểm định chất lượng dạy nghề 64
II Thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy nghề của các đơn vị trong
trường
64
III Thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy nghề của Hội đồng kiểm
định chất lượng dạy nghề của trường
66
IV Công bố báo cáo kết quả tự kiểm định chất lượng dạy nghề
trong trường và gửi báo cáo kết quả tự kiểm định chất lượng dạynghề
67
PHẦN 4 Các kỹ năng cần thiết khi thực hiện tự kiểm định chất lượng dạy
nghề
68
Chương I Xác định thông tin, minh chứng tự kiểm định chất lượng dạy
nghề của trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề
68
II Các thông tin, minh chứng tự kiểm định chất lượng dạy nghề của
trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề
Chương III Yêu cầu và quy trình viết báo cáo kết quả tự kiểm định chất
Trang 4III Yờu cầu và quy trỡnh viết bỏo cỏo kết quả tự kiểm định chất
III Một số điểm cần lưu ý khi đỏnh giỏ tự kiểm định 131
V Cỏc nhúm thực hiện tự kiểm đinh chất lượng trường cao đẳng
nghề, trường trung cấp nghề, bỏo cỏo kết quả và nộp sản phẩm
Phụ lục 02: Quyết định số 01/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày
17/01/2008 quy định Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩnkiểm định chất lợng trờng trung cấp nghề
Phụ lục 11a: Hướng dẫn đỏnh giỏ cỏc chỉ số kiểm định chấtlượng trường cao đẳng nghề
230
Phụ lục 11b: Hướng dẫn đỏnh giỏ cỏc chỉ số kiểm định chất 284
3
Trang 5lượng trường trung cấp nghề
Phụ lục 12: Thông tin trường trung cấp nghề cung cấp để đoàn
kiểm định thực hiện chọn mẫu
345
Phụ lục 13: Thông tin trường cao đẳng nghề cung cấp để đoàn
kiểm định thực hiện chọn mẫu
346
Phụ lục 14: Hướng dẫn trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề
được tham gia kiểm định chất lượng dạy nghề năm 2014
347
Phụ lục 15: Một số câu hỏi mẫu thường sử dụng khi nghiên cứu
và đánh giá các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở
dạy nghề
355
4
Trang 6PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Chương I QUAN NIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
I Khái niệm về chất lượng đào tạo
1 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu vào”
Theo quan điểm này, một trường tuyển được học viên giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các thiết bị tốt nhấtcho các phòng thí nghiệm, giảng đường, xưởng trường, khu thực hành… đượcxem là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đadạng và liên tục trong thời gian ở trường Thực tế, theo cách đánh giá này, quátrình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” vàphỏng đoán chất lượng “đầu ra”
2 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Đầu ra”
Một quan điểm khác về chất lượng đào tạo cho rằng “đầu ra” của đào tạo
có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra”chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng năng lực chuyên môn nghiệp
vụ và tay nghề của người học tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt độngđào tạo của trường đó Năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thànhchương trình đào tạo gồm 5 thành tố: khối lượng, nội dung và trình độ kiến thứcđược đào tạo; kỹ năng, kỹ xảo thực hành được đào tạo; năng lực nhận thức; nănglực tư duy được đào tạo; phẩm chất nhân văn được đào tạo
- Thứ nhất, khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức: được quy địnhtrong chương trình đào tạo phải đảm bảo chất lượng cho trình độ đào tạo tươngứng, đồng thời thực hiện được các mục tiêu đào tạo của chương trình đào tạo đã
đề ra
- Thứ hai - Kỹ năng, kỹ xảo (năng lực thực hành): được chia thành 5 cấp
độ từ thấp đến cao như sau:
Bắt chước: quan sát và cố gắng lặp lại một kỹ năng nào đó.
Thao tác: hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn không còn là bắt
chước máy móc
Chuẩn hoá: lặp lại kỹ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng, đúng
đắn, thường thực hiện một cách độc lập, không phải hướng dẫn
Phối hợp: kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác định một cách
nhịp nhàng và ổn định
5
Trang 7Tự động hoá: hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một cách dễ dàng và trở
thành tự nhiên, không đòi hỏi một sự gắng sức về thể lực và trí tuệ
- Thứ ba - Năng lực nhận thức: được chia thành 8 cấp độ như sau:
Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà
học viên đã được học
Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, học viên phải có khả năng diễn giải,
mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được
Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với
tình huống đã học
Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa
các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng
Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể
ban đầu
Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên
cơ sở các tiêu chí xác định
Chuyển giao: có khả năng diễn giải và truyền thụ kiến thức đã tiếp thu
được cho đối tượng khác
Sáng tạo: sáng tạo ra những giá trị mới trên cơ sở các kiến thức đã tiếp
thu được
- Thứ tư - Năng lực tư duy: chia thành 4 cấp độ như sau:
Tư duy logic: suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và có hệ
khuôn khổ định sẵn, tạo ra những cái mới
- Thứ năm - Phẩm chất nhân văn (năng lực xã hội): có 3 cấp độ như sau:
Năng lực hợp tác: sẵn sàng cùng đồng nghiệp chia sẻ và thực hiện các
nhiệm vụ được giao
Năng lực thuyết phục: thuyết phục đồng nghiệp chấp nhận các ý tưởng,
kế hoạch, dự kiến, để cùng thực hiện
Năng lực quản lý: khả năng tổ chức, điều phối và vận hành một tổ chức
để thực hiện một mục tiêu đã đề ra
6
Trang 83 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”
Quan điểm thứ 3 về chất lượng đào tạo cho rằng một trường có tác độngtích cực tới học viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ
và tay nghề của người học “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của
“đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” màtrường đã đem lại cho người học và được đánh giá là chất lượng đào tạo
Nếu theo quan điểm này về chất lượng đào tạo, một loạt vấn đề phươngpháp luận nan giải sẽ nảy sinh, khó có thể thiết kế được một thước đo thống nhất
để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng
và đánh giá chính xác chất lượng của trường đó
4 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường phương Tây, chủ yếu dựavào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật và tay nghề của độingũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhậnchất lượng đào tạo Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giáo viên giỏi,
có uy tín khoa học và tay nghề cao thì được xem là trường có chất lượng cao
5 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được “Văn hoá
tổ chức” riêng của mình, hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậymột trường được đánh giá là có chất lượng khi nó xây dựng được “Văn hoá tổchức” riêng với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượngđào tạo
6 Chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “Sự xuất sắc”
Theo quan niệm truyền thống, thuật ngữ “chất lượng” luôn gắn liền với sựxuất sắc hay nổi bật Ví dụ như tại Hoa Kỳ, từ cuối thế kỉ 19 trong bối cảnhngười Mỹ thấy khó khăn khi phân biệt thời điểm kết thúc giáo dục phổ thông vàthời điểm bắt đầu giáo dục đại học Hai trường đại học Yale và Havard đã đượcHiệp hội các trường Đại học và Phổ thông vùng New England mới thành lập lúcbấy giờ lựa chọn là mô hình giáo dục xuất sắc duy nhất Do vậy tất cả cáctrường để được lựa chọn và công nhận là trường đại học đều phải đáp ứng đượccác yêu cầu như mô hình hai trường Yale và Havard
7 Quan niệm của Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế
Ngoài 6 quan niệm trên, Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại họcquốc tế (INQAAHE - International Network of Quality Assurance Agencies inHigher Education) đã đưa ra 2 quan niệm về CLGD là (i) Tuân theo các chuẩnquy định; (ii) Đạt được các mục tiêu đề ra
Theo quan niệm trên, cần có Bộ tiêu chuẩn cho giáo dục đại học về tất cảcác lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu
7
Trang 9chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chuẩn, việc thẩm định chất lượng GDĐH sẽ dựatrên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xáclập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điềukiện đặc thù của trường đó.
Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng Bộ tiêuchí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiệncác mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, cáctrường sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêucầu; (3) Chất lượng không đạt yêu cầu Cần chú ý là các tiêu chuẩn phải đượclựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định
8 Quan niệm về chất lượng giáo dục đào tạo ở Việt Nam
Quan điểm về chất lượng giáo dục, đào tạo cũng đồng thời là quan điểm
về mục tiêu giáo dục, chính là nội hàm về những kiến thức, năng lực, phẩm chất
mà một nền giáo dục nói chung, hay một cấp học, một bậc học, một ngành học
cụ thể nào đó phải cung cấp, bồi dưỡng cho người học Đánh giá chất lượng củamột nền giáo dục là đánh giá xem nền giáo dục đó thực hiện được đến đâu sovới mục tiêu giáo dục của nó
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta có một quan niệm đầy
đủ và rõ ràng về chất lượng giáo dục, đào tạo Trước hết đó là quan điểm chấtlượng toàn diện, Nói theo kiểu các nhà giáo dục tiến bộ phương Tây tức là “Trí,Đức, Thể, Mỹ” Nói theo truyền thống phương Đông là “Đức và Tài” (hoặc hiền
và tài) Còn theo thuật ngữ giáo dục học xã hội chủ nghĩa là “Chính trị vàChuyên môn” hoặc bóng bảy hơn là “Hồng và Chuyên”
Từ quan điểm đó, nền giáo dục của ta đã cụ thể hoá nội dung của hai kháiniệm đức và tài, tuỳ theo nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng
Năm 1945, đó là người lao động tốt, người công dân tốt, người chiến sĩtốt, người cán bộ tốt
Năm 1958, đó là người lao động trung thành với chủ nghĩa xã hội, có vănhoá, có khoa học – kỹ thuật, có sức khoẻ
Năm 1979, trong Nghị Quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục,diễn giải rõ hơn các ý kiến trên đây và bổ sung một tiêu chuẩn mới là biết xâydựng sự nghiệp làm chủ tập thể của nhân dân lao động
Trong thời kỳ đổi mới giáo dục (từ năm 1987), quan điểm về chất lượnggiáo dục, đào tạo được bổ sung thêm một tiêu chuẩn là năng động, biết tự tìmviệc làm và tự tạo lấy việc làm, biết làm giàu cho mình và cho đất nước mộtcách chính đáng (theo phương châm dân giàu, nước mạnh )
Qua lịch sử giáo dục của nước ta (cũng như trên thế giới), việc quan niệmcho đúng, cho đủ các yêu cầu về chất lượng tuy không dễ, nhưng việc xác định
8
Trang 10được tính khả thi của các yêu cầu đó còn khó hơn nhiều, nếu không, các quanniệm về chất lượng chỉ là những mong ước, khó (hay không thể) biến thành hiện thực.
Quan niệm về chất lượng giáo dục đào tạo ở mỗi thời kỳ có sự khác nhau,tùy vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Văn kiện Đại hội Đảnglần thứ XI có đề ra yêu cầu đối với chất lượng giáo dục đào tạo phải gắn với
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, đáp ứngđược yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cụ thể hóa quan điểm này, ngày 29/5/2012 Thủ tướng Chính phủ banhành Quyết định số 630/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghềthời kỳ 2011 – 2020 với mục tiêu “thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lýnhà nước về dạy nghề, nhằm tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩnhóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”, “nâng cao chấtlượng và phát triển quy mô dạy nghề” Một trong các giải pháp được đưa ra là
“kiểm soát và đảm bảo chất lượng dạy nghề”, trong đó yêu cầu “Thực hiện kiểmđịnh cơ sở dạy nghề và kiểm định chương trình Các cơ sở dạy nghề chịu tráchnhiệm đảm bảo chất lượng dạy nghề; đảm bảo chuẩn hóa "đầu vào", "đầu ra"; tựkiểm định chất lượng dạy nghề và chịu sự đánh giá định kỳ của các cơ quankiểm định chất lượng dạy nghề”
II Đảm bảo chất lượng đào tạo
1 Khái niệm đảm bảo chất lượng đào tạo
Trong đào tạo, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chínhsách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạtđược, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998) Định nghĩanày cũng được Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Australia sử dụng
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng đượctính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng(Kells, 1988; Neave & Van Vaught, 1991) Theo Russo (1995), đảm bảo chấtlượng là sự “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuấtsản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm”
2 Mục đích của hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo
2.1 Hỗ trợ những nỗ lực cải cách, đổi mới
Hệ thống đảm bảo chất lượng góp phần xác định mong đợi của kháchhàng, cộng động xã hội đối với các trường và những chương trình đào tạo của
họ Nói cụ thể hơn, các trường được mong đợi gì hay hi vọng sẽ phát triển nhưthế nào Đây là động lực để các trường thực hiện cải cách, đổi mới
2.2 Là cơ sở cho công tác hoạch định tương lai
9
Trang 11Dựa vào hệ thống đảm bảo chất lượng, các trường hiểu rõ hơn thực trạnghiện tại của mình để có thể xây dựng những chiến lược, hoạch định phát triển tốthơn cho tương lai
2.3 Là cơ sở cho hoạt động cải thiện chất lượng đào tạo
Mục đích của đảm bảo chất lượng không chỉ nhằm mục đích đánh giá màcòn phục vụ mục đích khắc phục những mặt còn hạn chế để nâng cao chất lượngđào tạo
2.4 Tăng cường tính linh hoạt của hệ thống giáo dục
Mỗi bộ tiêu chuẩn quốc gia và quá trình áp dụng các tiêu chuẩn đảm bảochất lượng sẽ góp phần tăng cường năng lực của quốc gia đó trong việc xâydựng những cơ sở dữ liệu so sánh trong toàn bộ hệ thống giáo dục của mìnhcũng khả năng chuyển tiếp từ bậc học phổ thông lên bậc đại học, giáo dục nghềnghiệp và liên thông trong hệ thống giáo dục của người học
2.5 Giúp những người sử dụng kết quả của hoạt động đảm bảo chất lượng đưa ra những quyết định chính xác hơn
Các bên liên quan: người học, phụ huynh, chính phủ…có những quyếtđịnh phù hợp, chính xác dựa trên kết quả của hoạt động đảm bảo chất lượng
3 Các phương thức quản lý chất lượng
3.1 Đánh giá chất lượng (Quality Assessment)
Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể củaviệc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác địnhmục đích của việc đo lường, đánh giá Từ đó mới xác định được việc sử dụngphương pháp cũng như các công cụ đo lường tương ứng
Đánh giá sẽ tập trung vào câu hỏi “Kết quả các hoạt động như thế nào?”(tức là tập trung vào kết quả đầu ra) Hoạt động đánh giá đơn thuần thườngkhông bao gồm mục đích cải thiện chất lượng Hiện nay xu hướng đánh giángày càng trở nên phụ thuộc vào phương pháp đánh giá định lượng thay vì đánhgiá định tính (ví dụ như khi đánh giá người ta có thể đặt ra câu hỏi về số lượngsách trong thư viện hơn là hỏi về chất lượng của những cuốn sách đó có nộidung cập nhật hay không? Có liên quan đến chương trinh đào tạo nào? Có đượcgiáo viên và người học nào đọc tham khảo hay không?) Trong khu vực Đông Á– Thái Bình Dương, Ấn độ và Trung Quốc là 2 nước đã sử dụng phương phápđánh giá (theo hình thức xếp hạng các cơ sở đào tạo ở Ấn Độ hoặc xếp hạnggiáo viên ở Trung Quốc) kết hợp cùng với quá trình kiểm định
3.2 Kiểm toán chất lượng (Quality Audit)
Kiểm toán là hoạt động kiểm tra những gì một trường đã công bố côngkhai hoặc không công khai về bản thân nó Một trường thường công bố về
10
Trang 12những gì họ sẽ làm và hoạt động kiểm toán chất lượng sẽ kiểm tra liệu trường đó
đã đạt được các mục tiêu đề ra ở mức độ nào Kiểm toán chất lượng thường hayđặt câu hỏi “Bạn đã thực hiện những gì mình tuyên bố tốt đến mức độ nào?”Chính phủ các nước thường thích hoạt động kiểm định hơn hoạt động kiểm toánchất lượng, bởi vậy mà hiện nay quá trình kiểm toán chất lượng chỉ được ápdụng phổ biến trong những hệ thống giáo dục đã có từ lâu đời và các cơ sở đàotạo của nó vốn có truyền thống thực hiện tự đánh giá Ở khu vực Đông Á – TháiBình Dương, Úc và Niu-Di-Lân là 2 quốc gia tiêu biểu trong việc áp dụng quitrình kiểm toán chất lượng
3.3 Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation)
Thuật ngữ này được sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ Kiểm định có thể được
áp dụng cho một trường, hoặc chỉ cho một chương trình đào tạo của một mônhọc Kiểm định đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằngmột trường (hay một chương trình một môn học nào đó) có những mục tiêu đàotạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt đượcnhững mục tiêu đó, và có khả năng phát triển bền vững
Kiểm định sẽ chú trọng đến câu hỏi “Liệu chất lượng hoạt động của bạn
có đủ tốt để được chấp thuận (cho việc cấp chứng chỉ/bằng)?” Kiểm định nhằmhai mục đích: (i) Đảm bảo với những đối tượng tham gia vào công tác đào tạorằng một chương trình đào tạo, hay một trường, khoa nào đó đã đạt hay vượtnhững chuẩn mực nhất định về chất lượng; (ii) Hỗ trợ trường liên tục cải tiếnchất lượng Bên cạnh đó, kiểm định chất lượng cũng xem xét đến yếu tố đầu vàođồng thời vẫn tính đến yếu tố đầu ra
Nói một cách tổng quát, một trường hoặc chương trình đào tạo được côngnhận đạt chất lượng kiểm định phải cho thấy rằng nó:
- Có mục tiêu đào tạo phù hợp và được xác định rõ qua thời gian bởi cộngđồng giáo dục;
- Có đủ các nguồn lực tài chính, con người, vật chất cần thiết để đạt đượcnhững mục tiêu đã đề ra;
- Chứng tỏ rằng nó đã, đang và sẽ đạt được những mục tiêu đó;
- Đưa ra được đầy đủ minh chứng nhằm giúp mọi người tin tưởng rằng nó
sẽ tiếp tục đạt được mục tiêu của mình trong một khoảng thời gian nữa trongtương lai
Trong 3 cách thức đảm bảo chất lượng đã nói ở trên, cách thức được sửdụng rộng rãi nhất trong các khu vực và trên thế giới cũng như hữu hiệu nhất khiphục vụ mục đích phát triển và nâng cao chất lượng cho các trường là cách thứcthứ ba: kiểm định chất lượng
11
Trang 13III Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
Một số hệ thống các trường đang theo đuổi cơ chế chính sách thị trường
trong quản lý, trong đó có mô hình BS 5750/ ISO 9000; mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) (Ashworth và Harvey, 1994) và mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) (SEAMEO, 1999).
1 Mô hình BS 5750/ ISO 9000
Bản chất của mô hình BS 5750/ISO 9000 là một hệ thống các văn bản quyđịnh tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trìnhsản xuất đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quycách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra
“phù hợp với mục đích” BS 5750/ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đốivới những người sử dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực vàthời gian Mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trìnhmột cách nghiêm túc BS 5750/ISO 9000 hiện đang được sử dụng hạn chế đốivới giáo dục Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá, nên ngôn ngữcũng như nội dung và phương pháp dùng trong bộ tiêu chuẩn này còn nhiều vấn đềcần nghiên cứu
2 Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management TQM)
-Quản lý chất lượng tổng thể là một chiến lược tổ chức và phương phápquản lý trong đó bao gồm tất cả các nhân viên nhằm mục đích không ngừngnâng cao hiệu quả của tổ chức trong việc đạt được sự hài lòng của khách hàng.Các khái niệm và ứng dụng của TQM có nguồn gốc từ Nhật Bản Việc sử dụng
hệ thống các nguyên tắc và phương pháp TQM trong lĩnh vực sản xuất làm chođất nước này thành một siêu cường kinh tế chỉ trong vài thập kỷ Các thành côngban đầu của TQM góp phần vào việc truyền bá các nguyên tắc và phương phápcủa nó trên các lĩnh vực khác, bao gồm cả các dịch vụ công cộng và các tổ chứcphi lợi nhuận Logic chính của việc áp dụng TQM như sau:
■ Sự cạnh tranh ngày càng tăng đòi hỏi phải liên tục cải tiến chất lượng vànăng suất;
■ Khách hàng quyết định mua lựa chọn dựa trên nhận thức của họ về chấtlượng, và do đó xác định vị thế cạnh tranh của các nhà cung cấp;
■ Một tổ chức phải áp dụng các mô hình TQM để thu hút được kháchhàng và tạo ra chất lượng cao với thời gian với chi phí thấp nhất có thể
Bởi vì điều này, TQM đã trở thành phương pháp chủ yếu để đạt được chấtlượng trong khu vực tư nhân, và ngày càng được sử dụng trong các khu vựckhác của hoạt động kinh tế Kể từ đầu những năm 80, giá trị của TQM đã ngàycàng được công nhận bởi kinh doanh tại Mỹ và sau đó là châu Âu
12
Trang 14Trong những năm qua một số mô hình chung cho Quản lý chất lượng đãđược phát triển Mô hình Quản lý chất lượng tổng thể - một mô hình có xuất xứ
từ thương mại và công nghiệp nhưng tỏ ra phù hợp hơn với giáo dục Đặc trưngcủa mô hình Quản lý chất lượng tổng thể là ở chỗ nó không áp đặt một hệ thốngcứng nhắc cho bất kỳ cơ sở đào tạo nào, nó tạo ra một nền “Văn hoá chất lượng”bao trùm lên toàn bộ quá trình đào tạo Tại Hoa Kỳ, các mô hình đầu tiên đượcdựa trên ý tưởng của một số chuyên gia chất lượng như Deming, Juran vàCrosby Hệ thống chi tiết hơn đã được phát triển thành tập hợp các tiêu chí chogiải thưởng Malcolm Baldridge và trở thành mô hình tham chiếu tiêu chuẩn choTQM tại Hoa Kỳ, với sự thích nghi cho các lĩnh vực cụ thể (bao gồm cả giáodục) Tại châu Âu, các mô hình quan trọng nhất là phát triển cho Giải thưởngChất lượng Châu Âu (EQA) Sự thích ứng của mô hình EQA được áp dụngtrong ngành giáo dục, bao gồm cả dạy nghề và giáo dục đại học Cần lưu ý rằngcác hệ thống kiểm soát chất lượng nhất trong giáo dục chủ yếu dựa trên nguyêntắc đảm bảo chất lượng, trong đó có phản ánh một số tinh thần của tiêu chuẩnISO 9000
Người ta có thể xác định một mô hình TQM thông qua bốn điểm:
* Thứ nhất: Các quan niệm cơ bản, gồm 5 quan niệm sau:
- Định hướng khách hàng rõ ràng;
- TQM yêu cầu cải tiến liên tục trong tất cả mọi thứ của một tổ chức;
- Đảm bảo chất lượng của các quy trình nội bộ;
- Định hướng cả quá trình;
- Phòng ngừa thay vì kiểm tra để đạt được chất lượng
* Thứ hai: Nguyên tắc hoạt động, gồm có 5 nguyên tắc:
- Lãnh đạo quản lý và cam kết;
- Yêu cầu làm việc theo nhóm;
- Chất lượng là công việc của tất cả mọi người;
- Tập trung vào các sự kiện;
- Dựa trên hệ thống thích hợp (các công cụ và phương pháp) giải quyếtvấn đề
* Thứ ba: Đặc điểm thực hiện
Trang 15- Quyết định giao cho các cấp độ thấp nhất có thể;
- Khách hàng được yêu cầu cho ý kiến phản hồi tất cả các thời gian,thường là thông qua các cuộc điều tra khách hàng thường xuyên nhằm vào nhucầu hiểu biết và mong đợi, kiểm tra sự hài lòng với chất lượng cung cấp, và pháthiện xu hướng mới
* Thứ tư: Kết quả điển hình
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp tốt hơn và phù hợp hơn;
- Giảm đáng kể các khuyết tật, chất thải, các vấn đề, khiếu nại, sự chậm trễ…;
- Đổi mới thường xuyên và kịp thời trong các sản phẩm và dịch vụ;
- Chi phí hiệu quả và hiệu quả quá trình trong toàn tổ chức;
- Lực lượng lao động năng động, có trình độ và tự tin
Rõ ràng, tính chất, mức độ kết quả đạt được sẽ rất khác nhau giữa các tổchức Mức độ và tốc độ đạt được không chỉ phụ thuộc vào cách các khái niệm,nguyên tắc và đặc điểm được liệt kê được đưa vào thực hiện thế nào mà còn phụthuộc vào các yếu tố khác như môi trường kinh tế và pháp lý, quy mô của các tổchức, chất lượng và sự mong đợi của khách hàng
Trong các mô hình quản lý chất lượng giáo dục (GD) nêu trên, nếu xem
“chất lượng GD là sự trùng khớp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình TQM là
phù hợp hơn cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lượccủa GD trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đấtnước và các chính sách lớn của Chính phủ đối với GD Từ đó tùy thuộc vàonguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng GD có thể chủ động tác động tớinhững khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và
từ đó nâng cao dần chất lượng giáo dục theo kế hoạch đã đề ra
14
Trang 16Chương II KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
I Khái niệm về kiểm định chất lượng đào tạo
1 Kiểm định chất lượng đào tạo
Có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm định và kiểm định chất lượng đàotạo Nói chung, kiểm định và kiểm định chất lượng đào tạo thường được xem xétdưới dạng một quá trình Sau đây là một số định nghĩa về kiểm định chất lượngđào tạo:
- Kiểm định được xác định là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát đánh giá các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng và các ngành đào tạo đại học nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” (CHEA, 2003)
- Kiểm định chất lượng là “một quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ra một quyết định công nhận một cơ sở giáo dục đại học hay một ngành đào tạo của cơ sở giáo dục đại học đáp ứng các chuẩn mực qui định” (SEAMEO, 2003)
Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là người học sựđảm bảo chắc chắn rằng một trường đã được chứng minh thoả mãn các yêu cầu
và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trường này sẽ tiếp tục đạt cácyêu cầu và tiêu chí đã đề ra
2 Lược sử kiểm định chất lượng đào tạo
Kiểm định chất lượng là một trong những hoạt động đảm bảo chất lượngbên ngoài các trường Kiểm định chất lượng đào tạo đã có một lịch sử phát triểnlâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, trước tiên là áp dụng cho các cơ sở giáo dục đạihọc, sau này mở rộng cho tất cả các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục Tuynhiên, trước đây ít được các nước khác biết đến Trong quá trình xã hội hoá giáodục, các chuẩn mực giáo dục có sự khác nhau giữa các trường bởi sự tác độngcủa các yếu tố bên ngoài Đặc biệt, giáo dục của thế giới đang dần dần chuyển từnền giáo dục theo định hướng học thuật sang nền giáo dục theo nhu cầu của thịtrường Trong bối cảnh đó, kiểm định chất lượng trở thành một công cụ hữu hiệucủa nhiều nước trên thế giới để duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục vàkhông ngừng nâng cao chất lượng dạy và học
3 Mục đích của kiểm định chất lượng đào tạo
Mục đích của kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo trường có trách nhiệmđối với chất lượng đào tạo và mang lại động lực cải tiến và nâng cao chất lượngchương trình đào tạo cũng như chất lượng toàn trường
Một hoạt động kiểm định được coi là hoạt động có hiệu quả khi không chỉđánh giá xem một trường hay một chương trình đào tạo có đạt chất lượng hay
15
Trang 17không mà còn phải có vai trò như những “chuyên gia tư vấn” sẵn sàng giúptrường giải quyết các vấn đề tồn đọng và nâng cao chất lượng các hoạt động.
4 Đặc trưng của kiểm định chất lượng đào tạo
- Kiểm định chất lượng không thể tách rời công tác tự kiểm định
- Tất cả các quy trình kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng nghiệp
- Các chuẩn mực đánh giá rất mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp vớimục tiêu, nhiệm vụ của từng trường
- Kiểm định cấp trường và kiểm định chương trình đào tạo không chỉ tậptrung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn tập trung vào cả quá trình đào tạo vàchất lượng học viên khi ra trường
II Các loại hình kiểm định chất lượng đào tạo
1 Kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo
Kiểm định cơ sở đào tạo sẽ xem xét, đánh giá toàn bộ các mục tiêu, kếhoạch và hoạt động toàn diện của đơn vị, bao gồm đào tạo, nghiên cứu khoahọc, quản lý và điều hành, đội ngũ nhà giáo, học viên, dịch vụ, các nguồn lực vềtài chính, cơ sở vật chất của đơn vị (và của đơn vị khác mà giáo viên và học viênđược sử dụng) để đảm bảo học viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, tư vấn vàdịch vụ của đơn vị đáp ứng các chuẩn mực và yêu cầu của người sử dụng
2 Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo
Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo là quá trình đánh giá các điềukiện đảm bảo chất lượng một chương trình đào tạo cụ thể tại một trường theotiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng do cơ quan quản lý nhà nước dạy nghề ở trungương ban hành
Ở Việt Nam hiện nay, Luật dạy nghề chưa có quy định về kiểm địnhchương trình đào tạo nhưng để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển dạynghề thời kỳ 2011-2020 về việc triển khai các công tác kiểm định chất lượngdạy nghề trong đó có kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, ngày 26 tháng
12 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phê duyệt Kếhoạch xây dựng và thực nghiệm hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng chương trình đào tạo tại Quyết định số 1714/QĐ-LĐTBXH Thực hiệnQuyết định số 1714/QĐ-LĐTBXH, Tổng cục Dạy nghề tiến hành dự thảo hệthống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo và thựcnghiệm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo tại một số cơ sở dạy nghềnhằm hoàn thiện quy trình, hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chương trìnhđào tạo
16
Trang 18III Kiểm định chất lượng đào tạo của một số nước trên thế giới
1 Thái Lan
1.1 Mô hình đảm bảo chất lượng đào tạo của Thái Lan
Vai trò trung tâm được dành cho các trường, nơi mọi hoạt động học tập vàgiảng dạy được diễn ra, và cũng là nơi mà chất lượng của các hoạt động cầnđược đảm bảo Tuy nhiên, không phải đơn vị nào cũng có điều kiện, khả nănghoặc mong muốn đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động của mình, và cầnphải có sự giám sát của các cơ quan nhà nước Ở Thái Lan, sự giám sát đó đótrở thành quy định pháp lý với sự ra đời của Đạo luật giáo dục quốc gia năm
1999, theo đó tất cả các trường cũng như tất cả các ngành mới mở của tất cả cáctrường đều phải đươc kiểm định theo chu kỳ là 5 năm một lần Quy định nàythể hiện quyết tâm của giáo dục Thái Lan trong việc đảm bảo chất lượng đàotạo để tăng tính cạnh tranh và được xây dựng trên nền tảng mô hình đảm bảochất lượng đầu tiên của Thái Lan (bắt đầu từ năm 1996) với thành tố, một bên làcác trường và bên kia là cơ quan giám sát thực hiện kiểm định
Tác động tích cực của việc thực hiện kiểm định là rất hiển nhiên, với kếtquả của việc kiểm định là chính là sự công nhận những đơn vị đạt chuẩn vàkhông công nhận đối với những đơn vị không đạt chuẩn, vì vậy để có thể tồn tạithì các trường sẽ bắt buộc phải phấn đấu để đảm bảo chất lượng theo quy định.Nhưng ở những nơi mà phong trào đảm bảo chất lượng đào tạo cũng non trẻnhư ở khu vực Đông Nam Á, việc quá nhấn mạnh kiểm định sẽ chỉ có thể dẫnđến một trong hai tình trạng: (1) hoặc sẽ có rất nhiều trường không được côngnhận để giữ được tiêu chuẩn chất lượng phù hợp, (2) hoặc sẽ phải hạ thấp cáctiêu chuẩn chất lượng để có nhiều trường được công nhận Vì cả hai lựa chọnnày đều khó có thể chấp nhận, Thái Lan đã xem xét sửa đổi lại mô hình để xâydựng nên một hệ thống hợp lý hơn trong đó hệ thống đảm bảo chất lượng quốcgia được thiết kế với 3 thành tố vững chắc, trong đó trung tâm là các trường, nơithực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng, và bên cạnh các trường là 2 cơquan nhà nước, một bên là hệ thống hỗ trợ cho các đơn vị trong các hoạt độngđảm bảo chất lượng và phía bên kia là hệ thống giám sát thông qua quá trìnhkiểm định của nhà nước Mô hình mới này được đưa ra vào năm 2000, và đãgiúp phong trào đảm bảo chất lượng đào tạo của Thái Lan ngày càng trở thànhnhững hoạt động thường xuyên trong quản lý các trường
1.2 Nội dung hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại Thái Lan
Bộ Giáo dục và Thanh niên Thái Lan đã đưa ra 9 lĩnh vực trong đó có 26tiêu chí được dùng để đánh giá chất lượng giáo dục đại học Thái Lan về các tiêuchí dùng trong giáo dục đại học Thái Lan Các trường đại học ở Thái Lan đãdùng những tiêu chí này để tự đánh giá các hoạt động trong trường và đồng thờithiết lập kế hoạch để đảm bảo chất lượng đào tạo của trường mình
17
Trang 19Lĩnh vực 9: Đảm bảo và nâng cao chất lượng
2 Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng khu vực New England
2.1 Tổ chức bên trong của Hiệp hội các Trường Cao đẳng và Trung học ở khu vực New England
Hiệp hội các Trường Đại học và Cao đẳng khu vực New England do Hộiđồng Quản trị trong đó hầu hết các thành viên của hội đồng được bầu từ số cáccán bộ giảng dạy và quản lý được các trưòng thành viên đề cử lên Ngoài nhữngthành viên này, các thành viên của hiệp hội cũng có thể được lựa chọn trong sốnhững cán bộ lãnh đạo cộng đồng không chính thức tham gia trong lĩnh vựcgiáo dục hay bất kỳ một cơ quan nhà nước khác có ảnh hưởng đến hiệp hội hay
bị hiệp hội gây ảnh hưởng Công việc kiểm định thực sự được Hiệp hội cácTrường Đại học và Cao đẳng khu vực New England giao cho một trong nhiềutiểu ban, mỗi tiểu ban gồm các thành viên được chọn từ số cán bộ được đề cửnhưng không theo các nguyên tắc chọn uỷ viên Hội đồng Quản trị Tiểu ban nàygồm có 7 thành viên điều phối công việc kiểm định tất cả các trường đại họccao đẳng Số cán bộ này đứng đầu là Giám đốc tiểu ban tổ chức quy trình kiểmđịnh và lưu giữ hồ sơ nhưng không tự tiến hành công tác kiểm định Công táckiểm định thực sự được các cán bộ tình nguyện đồng cấp từ các trường đại họccao đẳng thành viên đảm trách Tất cả các quyết định về những vấn đề có ảnhhưởng đến công tác kiểm định ở tất cả các trường đại học và cao đẳng đều dotiểu ban trực tiếp quyết định
2.2 Các chuẩn mực kiểm định
Mỗi cơ sở giáo dục được kiểm định dựa trên 11 chuẩn mực do Hiệp hội ởNew England đưa ra Các chuẩn mực này được các thành viên Hiệp hội thốngnhất thông qua và sau đó được chỉnh lý sửa đổi Tất cả những điều chỉnh đềuphải đệ trình lên các trường thành viên để thông qua Các chuẩn mực giốngnhau nhưng không giống nhau tuyệt đối so với các chuẩn mực của 5 cơ quankiểm định khu vực khác tại Hoa Kì
- Chuẩn mực thứ nhất: Mục đích và Nhiệm vụ của trường
18
Trang 20- Chuẩn mực thứ hai: Lập kế hoạch và Đánh giá
- Chuẩn mực thứ ba: Tổ chức và Quản lý
- Chuẩn mực thứ tư: Chương trình đào tạo và hoạt động giảng dạy
- Chuẩn mực thứ năm: Đội ngũ cán bộ giảng dạy
- Chuẩn mực thứ sáu : Các dịch vụ cho sinh viên
- Chuẩn mực thứ bảy: Thư viện và dịch vụ thông tin
- Chuẩn mực thứ tám: Các nguồn lực vật chất
- Chuẩn mực thứ chín: Các nguồn lực tài chính
- Chuẩn mực thứ mười: Phổ biến Thông tin
Khi một trường lần đầu tiên được đoàn kiểm định đến làm việc xem cóđựợc tiến hành kiểm định hay không thì đồng thời trường đó cũng được xem xét
cơ chế thành viên của Hiệp hội các trường cao đẳng và trung học ở NewEngland (hay bất kỳ một hiệp hội kiểm định khu vực nào phù hợp với địa lý củatrường) Tất cả các trường thành viên đã được kiểm định sẽ tham gia ký vàothoả thuận tự nguyện nộp đơn xin được thẩm định thường kỳ nhằm gia hạn quychế thành viên và giá trị thẩm định Các chuyến làm việc này, được gọi lànhững chuyến thăm thực địa toàn diện, được tiến hành tối thiểu 10 năm một lần
và với quy mô như vậy nên trường cần phải có ba năm để chuẩn bị
Mỗi năm các trường được kiểm định cần phải cập nhật các thông tin, dữliệu cơ bản của mình để làm thành bộ hồ sơ của trường và có nhiệm vụ thôngbáo cho các cơ quan kiểm định khu vực về bất kỳ những thay đổi lớn trong kếhoạch Năm năm một lần, trường sẽ chuẩn bị báo cáo tương đối chi tiết nộp lên
cơ quan kiểm định khu vực Nếu trường có những thay đổi lớn như bổ sung cáckhoá học cấp bằng, xây thêm trường sở, hay có thay đổi trong cơ chế quản lý(ví dụ như thay đổi về sở hữu, nếu là trường tư), trường phải nộp một báo cáongay lên cơ quan kiểm định khu vực Nếu vì một lí do nào đó, cơ quan kiểmđịnh cho là cần thiết thì sẽ có kế hoạch chuyến công tác kiểm định ‘‘theo chủđiểm’’ để xem xét các khía cạnh mà cơ quan này lo ngại Các chuyến công táckiểm định toàn diện và là phần cốt lõi của quy trình kiểm định khu vực Chu kỳnày bắt đầu khi Hiệp hội các Trường Cao đẳng và Trung học ở New England
19
Trang 21thông báo các trường về chuyến công tác kiểm định toàn diện hai năm trước khibắt đầu tiến hành kiểm định
3 Kiểm định chất lượng dạy nghề tại Hoa Kỳ
Cũng giống như các cơ sở đào tạo khác, các trường đào tạo nghề ở Hoa
Kỳ cũng cần phải được kiểm định để công nhận chất lượng đào tạo Mặt khác, đểđược thực hành các kỹ năng nghề nghiệp, học viên tốt nghiệp phải được cấpphép hành nghề, do vậy, các nhà tuyển dụng thường không xem xét hồ sơ nếuứng viên không được đào tạo ở một cơ sở đã được công nhận, được kiểm định.Chứng nhận kiểm định chất lượng của chương trình, nghề đào tạo đảm bảo họcviên học nghề đạt được kỹ năng nghề ở cơ sở đào tạo đáng tin cậy và có chấtlượng phù hợp
Việc kiểm định chất lượng dạy nghề tại Hoa Kỳ được thực hiện bởi cácHiệp hội kiểm định chất lượng đào tạo
Hiện nay, có 6 Hiệp hội kiểm định ở sáu vùng địa lý đang được coi là uytín nhất tại Mỹ, phân bố 6 vùng địa lý bao gồm:
Hiệp hội các trường học và cao đẳng miền Nam
Hiệp hội các trường học và cao đẳng vùng Bắc Trung Mỹ
Hiệp hội các trường học và cao đẳng miền Tây
Hiệp hội các trường học và cao đẳng miền Tây Bắc Mỹ
Hiệp hội các trường học và cao đẳng các bang miền Trung
Hiệp hội các trường học và cao đẳng vùng New England (NEASC)
Ngoài ra còn có 11 cơ quan kiểm định cấp quốc gia khác và khoảng 66 cơquan độc lập cấp vùng hoặc cấp quốc gia Các Hiệp hội trên được cả hai cơ quanUSDE hoặc CHEA thừa nhận hay cả hai cơ quan trên thừa nhận
Kiểm định chất lượng các cơ sở đào tạo nghề được thực hiện trên cơ sở tựnguyện với hai hình thức: kiểm định cơ sở đào tạo và kiểm định chương trình/nghề đào tạo Đối với cơ sở đào tạo, để được kiểm định chất lượng, các cơ sởđào tạo nghề phải đăng ký tham gia hiệp hội với tư cách thành viên Đối với cácchương trình hoặc nghề đào tạo, việc kiểm định chất lượng có thể được thực hiệnbởi các tổ chức kiểm định chất lượng nghề nghiệp thông qua đăng ký và nộp cáckhoản phí theo quy định Các Hiệp hội kiểm định chất lượng cấp vùng hay quốcgia đều phải được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE) hoặc/ và Hội đồng kiểm địnhchất lượng Giáo dục Đại học (The Council on Higher Education Accreditatinon)tên viết tắt CHEA thẩm định và công nhận Tuy vậy cũng tồn tại các tổ chứckiểm định chất lượng giả - các tổ chức kiểm định chất lượng không được côngnhận, cũng như cơ sở đào tạo giả - không được kiểm định chất lượng hoặc đượckiểm định bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giả
20
Trang 22Quy trình kiểm định chất lượng thông thường trải qua 4 giai đoạn:
1 Đánh giá sơ bộ
2 Chuẩn bị đánh giá ngoài/ đánh giá đồng cấp
3 Đánh giá ngoài
4 Hậu đánh giá ngoài
Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề và quy trình thực hiện ở mỗi
tổ chức kiểm định chất lượng khu vực hoặc nghề nghiệp/ chương trình là do các
tổ chức này quy định, do vậy có những điểm khác biệt về cả nội dung và sốlượng các tiêu chí, tiêu chuẩn Ví dụ bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cáctrường trung cấp nghề của Ủy ban các cơ sở dạy nghề và kỹ thuật (CTIT -Commission on Technical and Career Institutions) thuộc Hiệp hội các trường học
và cao đẳng vùng New England có 12 tiêu chuẩn và 135 tiêu chí, trong khi Tổchức Kiểm định chất lượng các trường đào tạo nghề (Accrediting Commission ofCareer Schools and Colleges – ACCSC) đặt ra 9 tiêu chuẩn khác nhau vớikhoảng 50 tiêu chí và nhiều chỉ báo chi tiết Tuy vậy, về căn bản, các nội dungđược đánh giá bao phủ toàn diện các mặt hoạt động của cơ sở đào tạo nghề
Về chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề cũng có những khác biệt.Theo quy định về kiểm định chất lượng của CTCI, chu kỳ kiểm định chất lượng
là 10 năm, sau 5 năm phải tiến hành đánh giá ngoài lại tập trung vào một số điểm(Focused Report) và cứ mỗi chu kỳ 2 năm, cơ sở dạy nghề phải gửi báo cáo tiếntrình (Progress Report) về mức độ triển khai thực hiện các kế hoạch đảm bảochất lượng theo các báo cáo trước đó Trong khi đối với một số tổ chức kiểmđịnh chất lượng khác, chu kỳ kiểm định chất lượng kéo dài 5 năm Các báo cáo
mà cơ sở đào tạo được kiểm định chất lượng cần phải nộp trong một chu kỳ baogồm báo cáo hàng năm, báo cáo tiến trình, báo cáo đột xuất trong trường hợptrường có những thay đổi lớn
Toàn bộ biểu mẫu báo cáo và các tài liệu khác liên quan đến quá trìnhkiểm định chất lượng đều được đăng tải công khai trên các trang web của các tổchức kiểm định chất lượng Các khoản phí như phí tham gia thành viên, phí đánhgiá ngoài… cũng được cung cấp đầy đủ ở các trang web này để các trường có thểtham khảo và chuẩn bị nguồn lực tài chính
Kiểm định chất lượng đào tạo ở Hoa Kỳ đã trở thành nhân tố quan trọngđối với cơ sở đào tạo Hệ thống kiểm định được thiết kế ra để công nhận các cơ
sở và chương trình đào tạo trong các cơ sở đó, nhằm đáp ứng một mức độ hiệuquả, chất lượng và tính chất toàn vẹn để tạo nên niềm tin trong cộng đồng giáodục và công chúng mà hệ thống đó phục vụ Đặc điểm nổi bật của hệ thống kiểmđịnh giáo dục Hoa Kỳ là tính chất phi chính phủ Về bản chất là tự nguyện, hệthống kiểm định giáo dục Hoa Kỳ gồm các thành viên của các hội khác nhau, họ
có trách nhiệm thiết lập các chỉ tiêu kiểm định, sắp xếp các cuộc đến thăm cơ sở
21
Trang 23đào tạo và đánh giá các cơ sở đào tạo mong muốn được kiểm định Thông báodanh sách các cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo đào tạo đáp ứng các tiêuchuẩn kiểm định.
4 Kiểm định chất lượng dạy nghề tại Australia
Hệ thống đảm bảo chất lượng dạy nghề của Australia được thực hiện chặtchẽ và thống nhất ngay từ khâu cấp phép thành lập các cơ sở dạy nghề cho đếnviệc giám sát hoạt động của các cơ sở này cũng như việc kiểm định chất lượngcác chương trình/ khóa đào tạo nghề Khác với hệ thống đảm bảo chất lượng
của Hoa Kỳ, trong hệ thống ĐBCL của Australia tồn tại hai hình thức Thẩm định chất lượng (Audit) và Kiểm định chất lượng (Accreditation) Việc thẩm
định được thực hiện đối với cơ sở đào tạo nghề khi đăng ký thành lập, sau khi đãhoạt động được 12 tháng và khi xin gia hạn hoạt động cứ mỗi 5 năm Việc thẩmđịnh cơ sở dạy nghề cũng có thể được tiến hành khi cơ sở mở rộng hoặc thay đổiphạm vi hoạt động, đào tạo, mở thêm ngành nghề đào tạo, bị khiếu nại khiếukiện về chất lượng đào tạo (VETAB1) Trong khi đó, kiểm định chất lượng đượcthực hiện với các khóa/ chương trình đào tạo bởi các tổ chức kiểm định chươngtrình/ khóa đào tạo Các tổ chức kiểm định chất lượng này chịu sự giám sát và
đánh giá của Hội đồng Chất lượng Quốc gia (National Quality Council) theo Bộ tiêu chuẩn quốc gia AQTF 2007 2 đối với tổ chức kiểm định chất lượng thuộc bang và vùng lãnh thổ Các chương trình/ khóa đào tạo được đánh giá, kiểm định theo Bộ tiêu chuẩn quốc gia AQTF 2007 đối với chương trình/ khóa đào tạo nghề Điều này có nghĩa là Bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình/ khóa đào
tạo nghề được sử dụng thống nhất ở tất cả các bang
Kể từ 6/2011 trở về trước, các tổ chức cấp phép thành lập trường và kiểmđịnh chất lượng CTDN hoạt động theo cấp bang và vùng lãnh thổ, do vậy có quytrình thực hiện khác nhau Tuy nhiên từ 7/2011, việc cấp phép thành lập và kiểmđịnh chất lượng, tức là hoạt động Thẩm định và Kiểm định chất lượng trong khuvực dạy nghề được chuyển giao thực hiện cho một cơ quan cấp quốc gia quản
lý Đó là Cơ quan quản lý chất lượng kỹ năng nghề Australia (ASQA) (chỉ ápdụng đối với khóa đào tạo ngoài gói đào tạo), là tổ chức quản lý cấp quốc giahoạt động độc lập được thành lập với mục đích điều tiết hiệu quả và đảm bảo sự
áp dụng nhất quán về tiêu chuẩn, quy trình, công cụ thẩm định, kiểm định chấtlượng trong toàn hệ thống dạy nghề của Australia Như vậy, có thể nói hoạt độngđánh giá, kiểm định chất lượng dạy nghề (cả đối với trường và CTDN) sẽ đượcthực hiện theo hướng sử dụng quy trình và tiêu chuẩn chung
1 http://www.vetab.nsw.gov.au/when_do_audits_occur.php
2 Khung chuẩn Chất lượng đào tạo Australia (Australian Quality Training Framework) ban hành năm 2007 Đây
là Bộ tiêu chuẩn quốc gia được xây dựng năm 2001, đưa vào áp dụng năm 2002 nhằm đảm bảo chất lượng cao
và tính nhất quán trên phạm vi quốc gia đối với các dịch vụ đào tạo và đánh giá trong hệ thống dạy nghề của Australia
22
Trang 24Việc kiểm định chất lượng chương trình đào tạo được thực hiện thông quahai cách:
- Quy trình kiểm chứng tính phù hợp với “Gói chương trình đào tạo” (Hộiđồng Chất lượng quốc gia Australia xây dựng và phát triển các “Gói chươngtrình đào tạo” (GCTĐT) và quy trình kiểm chứng tính phù hợp của các chươngtrình/ khóa đào tạo nghề so với các GCTĐT này GCTĐT là một bộ tiêu chuẩn
và trình độ được áp dụng ở cấp quốc gia được dùng để công nhận và đánh giánhững kỹ năng, kiến thức người học cần đạt được để có đủ năng lực hành nghềhiệu quả Các GCTĐT được xây dựng theo ngành, nghề thông qua các ủy ban kỹnăng nghề quốc gia hoặc các doanh nghiệp nhằm xác định những yêu cầu đàotạo của các ngành, nghề cụ thể.)
- Quy trình kiểm định chất lượng khóa/ chương trình đào tạo (dành chonhững nghề không có trong các “gói chương trình đào tạo”)
Điều kiện để một chương trình được ASQA chấp nhận tiến hành kiểmđịnh bao gồm:
- Thị trường lao động có nhu cầu lao động về nghề này
- Nghề/ chương trình đào tạo không trùng với các nghề đã quy định theocác “gói chương trình đào tạo”
Tên gọi và trình độ đào tạo phù hợp với Khung trình độ của Australia AQF (Australian Qualifications Framework) và được xây dựng dựa trên các tiêuchuẩn AQTF
-Trước khi đưa ra quyết định kiểm định chương trình, một ban đánh giángoài sẽ đánh giá chương trình theo các tiêu chuẩn AQF Chu kỳ kiểm địnhchương trình là 5 năm Sau 5 năm, cơ sở dạy nghề phải gửi đề xuất xây dựngchương trình mới cho cơ quan kiểm định chất lượng để đăng ký Cũng như ởHoa Kỳ, toàn bộ các biểu mẫu báo cáo, đơn đăng ký, đề xuất và các văn bảnhướng dẫn tự đánh giá, các quy trình thực hiện… đều được cập nhật thườngxuyên và đăng tải trên trang web của cơ quan KĐCL
- AQTF có 2 bộ các tiêu chuẩn và điều kiện đối với các cơ sở đào tạo gồm: + Bộ điều kiện và tiêu chuẩn đăng ký hoạt động ban đầu (innitialregistration) Bộ tiêu chuẩn này sử dụng khi cơ sở đào tạo đăng ký hoạt độngban đầu
+ Bộ điều kiện và tiêu chuẩn trong quá trình duy trì hoạt động (continuingregistration)
Bộ điều kiện và tiêu chuẩn này sử dụng đối với cơ sở đào tạo đã được cấpphép hoạt động ban đầu Giấy phép đăng ký hoạt động của cơ sở dạy nghề cóthời hạn trong vòng 5 năm do vậy các đơn vị phải thực hiện đăng ký lại (renewalregistration) 5 năm/lần và trường phải tự đánh giá trên bộ tiêu chuẩn này khi nộp
23
Trang 25đơn xin đăng ký hoạt động lại Ngoài ra, đối với các cơ sở đào tạo mới được cấpphép hoạt động sẽ được kiểm định toàn diện trong vòng 3 năm liền và cũng ápdụng bộ tiêu chuẩn này.
Ngoài ra, đối với các cơ sở đào tạo mới được cấp phép hoạt động sẽ đượckiểm định toàn diện trong vòng 3 năm liền và cũng áp dụng bộ tiêu chuẩn này
- Thực chất nội hàm các điều kiện và tiêu chuẩn trong 2 Bộ điều kiện vàtiêu chuẩn trên không khác nhau Điểm khác nhau là đối với đăng ký hoạt động,
cơ sở đào tạo phải chứng minh khả năng sẵn sàng và có đủ điều kiện cung cấpdịch vụ đào tạo đảm bảo yêu cầu, còn đối với kiểm định duy trì hoạt động, cơ sởđào tạo phải chứng minh đã, đang và không ngừng nâng cao
IV Các hình thức tổ chức cơ quan kiểm định
1 Hình thức tổ chức các cơ quan kiểm định và kinh phí hoạt động
1.1 Cơ quan kiểm định trung ương (Centralized Governmental)
Cơ quan kiểm định trung ương thường trực thuộc Bộ giáo dục hoặc BộLao động và được coi là một cơ quan trực thuộc chính phủ Với trường hợp của
Úc, cơ quan kiểm định quốc gia bao gồm các giám đốc phụ trách giáo dục củacác lãnh thổ/ bang Một mô hình cơ quan kiểm định khác gần tương tự như vậy
là thành lập các cơ quan kiểm định trực thuộc các tỉnh và thành phố, phổ biến ởĐức, Nga và Trung Quốc áp dụng hình thức thứ hai liên quan tới cơ quan kiểmđịnh cấp thành phố (ví dụ như cơ quan kiểm định Bắc Kinh và Thượng Hải).Không phải tất cả các cơ quan kiểm định trung ương nào cũng có thể độc lậpđưa ra các quyết định của mình trong quá trình kiểm định
1.2 Cơ quan kiểm định phối hợp Chính phủ và các trường Governmental)
(Quasi-Cơ quan kiểm định quốc gia được chính phủ cấp kinh phí hoạt độngnhưng nằm dưới sự quản lý của các trường đại học Đây chính là mô hình tổchức cơ quan kiểm định tiêu biểu ở Đông Âu/Trung Âu (như là Rumani,Hunggari và Estonia) ra đời vào thời điểm quá trình kiểm định bắt đầu đượcthực hiện ở khu vực này vào những năm 90 của thế kỉ XX Mô hình này đảmbảo được quyền độc lập/tự chủ trong quá trình kiểm định, tránh tình trạng đưa ranhững quyết định mang tính trung hoà
1.3 Cơ quan kiểm định phi chính phủ (Non-Governmental)
Mặc dù hoạt động kiểm định chuyên môn thường mang tính chất độc lập
và không phụ thuộc chính phủ, nhưng thực tế chỉ có một số ít mô hình kiểmđịnh cơ sở đào tạo mang tính độc lập thực sự Một trong những mô hình tổ chứcnhư vậy là hệ thống kiểm định tại Mỹ, hiện tại đang tiến hành kiểm định cho6.000 trường trung học và đại học và hàng chục ngàn chương trình đào tạothông qua hoạt động kiểm định của các cơ quan kiểm định độc lập quốc gia và
24
Trang 26khu vực Một ví dụ khác là hoạt động kiểm toán chất lượng tại New Zealand do
cơ quan kiểm định độc được thành lập và quản lý bởi Hiệp hội Hiệu trưởng cáctrường đại học (New Zealand Vice Chancellor’s Association) Trong nhữngtrường hợp này, kinh phí cho cơ quan kiểm định và quá trình thực hiện kiểmđịnh sẽ lấy từ các trường muốn đăng kí kiểm định Những người Mỹ - vốnkhông muốn sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động kiểm định, sẽ tranh luậnrằng chỉ có cơ chế hoạt động độc lập mới hoàn toàn không phụ thuộc vào chínhphủ, kể cả độc lập về tài chính Tuy nhiên, do bối cảnh của hầu hết các quốc giacho nên kinh phí của các trường đều lấy từ ngân sách chính phủ và vì thế màmong muốn tự chủ về tài chính cho các trường là không thể thực hiện được
1.4 Cơ quan kiểm định liên kết chính phủ và phi chính phủ (Parallel Governmental and Non-Governmental)
Tại một số quốc gia vẫn còn tồn tại các cơ quan kiểm định hoạt động trên
cơ chế liên kết giữa chính phủ và thành phần tư nhân
Có hai mô hình tổ chức nổi bật của các cơ quan nổi bật hiện đang phổbiến trên toàn thế giới, đó là: cơ quan kiểm định hoạt động theo hình thức tậptrung trung ương (Centralized Governmental) và cơ quan kiểm định hoạt độngtheo hình thức phối hợp giữa chính phủ và các trường (Quasi-Governmental).Trong cả hai hình thức này, kinh phí hoạt động đều được lấy từ phía chính phủ.Trong 2 hình thức trên, hình thức cơ quan kiểm định hoạt động phối hợp giữachính phủ và các trường sẽ duy trì được tính độc lập và tự chủ trong mọi quyếtđịnh mà không chịu ảnh hưởng của bất cứ lý do chính trị nào mặc dù người Úcluôn tranh luận rằng mô hình thứ nhất là lý tưởng bởi nó phù hợp với nhu cầucủa họ Trong hầu hết các hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục quốc gia đượcthành lập thông qua việc tham gia vào dự án giáo dục đại học do Ngân hàng Thếgiới tài trợ, hình thức tổ chức nổi bật luôn là kết hợp hoạt động giữa nhà nước vàcác trường (quasi-governmental) (ví dụ như là: Rumani, Hunggari, Malaixia,Inđônêxia, Achentina và Chilê) Tuy nhiên, nhìn chung trong những hệ thống
25
Trang 27kiểm định về bản chất có tính ôn hoà, trung lập; không có (chưa có) nhiều thànhphần cá nhân tham gia, và hầu như không có sự khác biệt giữa hình thức tậptrung và hình thức phối hợp (chính phủ và giáo dục đại học) thì quá trình đảmbảo chất lượng theo hình thức tập trung (của chính phủ ) (thậm chí không có sựđộc lập khi đưa ra quyết định) thì vẫn tốt hơn là không có bất cứ quá trình kiểmđịnh hay đảm bảo chất lượng nào được thực hiện (ví dụ như tại Trung Quốc,Việt Nam và Mông Cổ)
Có thể áp dụng đồng thời các hình thức: Ví dụ ở Hà Lan có có 3 hình thứcsong song đã tồn tại đồng thời, đó là: (1) kiểm định trường theo cơ chế tập trung;(2) kiểm định chương trình theo cơ chế phi chính phủ được quản lý bởi một tổchức duy nhất do hiệp hội chính nghề đó tài trợ; (3) kiểm định phi chính phủdưới sự quản lý của Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học và với kinh phí từcác trường (mà kinh phí của trưởng cũng từ ngân sách chính phủ) Tại Canada,quá trình kiểm định trường được tiến hành bởi chính quyền địa phương (cấptỉnh), còn hoạt động kiểm định nghề/ chương trình đào tạo được quản lý trêntoàn quốc bởi các hiệp hội nghề nghiệp không trực thuộc chính phủ
Một mô hình hoạt động kiểm định chính phủ và phi chính phủ khác ở cácnước đó là các quốc gia đó lựa chọn các cơ quan kiểm định “được chứng nhận”đạt tiêu chuẩn quốc gia, để cho phép thực hiện chức năng kiểm định Tại Mỹ,nơi mà toàn bộ hoạt động kiểm định đều do các tổ chức độc lập/phi chính phủthực hiện thì không chỉ chính quyền liên bang mà còn cả cơ quan kiểm định độclập/phi chính phủ ở cấp quốc gia sẽ chịu trách nhiệm kiểm định các cơ quankiểm định trên Ở Chilê, cơ quan kiểm định chương trình đào tạo của chính phủ
đã phát triển hệ công nhận quốc gia cho các tổ chức nghề nghiệp - những tổchức mà sau đó được phép tiến hành hoạt động kiểm định nghề nghiệp/chương trình
2 Trách nhiệm của các cơ quan kiểm định quốc gia
Cơ quan kiểm định quốc gia bao gồm những người đại diện cho chínhphủ, các trường và công chúng, được một ban thư ký hỗ trợ trong việc cung cấpcác hỗ trợ nguồn nhân lực cần thiết cho hoạt động của mình Theo thời gian,trách nhiệm của cơ quan kiểm định bao gồm:
- Xây dựng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn về chất lượng với sự tham khảo ýkiến từ các trường và những đối tượng sử dụng chính;
- Phát triển và cập nhật những tài liệu về chính sách pháp luật liên quanđến hoạt động kiểm định nhằm phục vụ mục đích sử dụng của chính cơ quan đó
và các trường;
- Xây dựng một đội ngũ các chuyên gia kiểm định/kiểm định viên;
- Lên kế hoạch cho khảo sát đánh giá thực tế (đánh giá ngoài) khi tiếnhành kiểm định cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo;
26
Trang 28- Duy trì cơ sở dữ liệu lưu trữ về các hoạt động kiểm định;
- Duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia về các cơ sở đào tạo;
- Tiến hành thực hiện các chương trình đào tạo cho:
+ Các thành viên của cơ quan kiểm định quốc gia;
+ Các trường trong quá trình tự kiểm định;
+ Các thành viên đoàn kiểm định trong quá trình khảo sát thực tế (đánhgiá ngoài);
- Phối hợp với các ủy ban giáo dục nghề nghiệp (như là ngành xây dựng,
y, luật, kinh doanh v.v.);
- Hợp tác với cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục trong khu vực và quốc tế;
- Hợp tác với các tổ chức, cơ quan giáo dục nghề nghiệp quốc gia;
- Công bố quyết định đảm bảo chất lượng ra công chúng;
- Đánh giá và đổi mới quy trình quá trình kiểm định
Hai trách nhiệm lớn nhất của cơ quan kiểm định quốc gia đó là: (1) lựa
chọn và (2) đào tạo những chuyên gia kiểm định, những người được coi là sứ giả chính của quá trình kiểm định Chính những chuyên gia kiểm định này là
những người sẽ tiến hành nghiên cứu báo cáo kết quả tự kiểm định của cơ sởđào tạo/chương trình đào tạo, thực hiện khảo sát đánh giá thực tế và gửi báo cáokết luận kiểm định (trong một số trường hợp phải gửi kiến nghị/đề xuất về côngnhận mức độ kiểm định) cho cơ quan kiểm định quốc gia Bởi vậy cơ quan kiểmđịnh cần lựa chọn một số lượng tương đối lớn các chuyên gia trong số thànhviên của các trường và cộng đồng nghề nghiệp Họ phải là những người:
- Có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn mà họ đảm trách;
- Không vi phạm mâu thuẫn về lợi ích;
- Linh hoạt và biết cách đảm đương những nhiệm vụ khác nhau;
- Mở rộng thành phần chuyên gia kiểm định trong hoạt động đánh giá;
27
Trang 29- Mở rộng diễn đàn thảo luận về cách hiểu/ứng dụng các tiêu chí, tiêuchuẩn kiểm định trong cộng đồng giáo dục;
- Đảm bảo tính liên tục trong việc giải thích và ứng dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng
28
Trang 30PHẦN 2 KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TẠI VIỆT NAM
Chương I KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ TẠI VIỆT NAM
I Sự cần thiết của kiểm định chất lượng dạy nghề
Các cơ sở dạy nghề có chất lượng đào tạo như thế nào là vấn đề được toàn xã hội rất quan tâm Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống nhân loại, mang lại cả cơ hội và thách thức đối với mỗi quốc gia Trong đó, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, gay gắt Lợi thế cạnh tranh
sẽ thuộc về quốc gia nào có nhiều nhất nguồn nhân lực được đào tạo từ các
cơ sở đào tạo có chất lượng cao.
Các cơ sở dạy nghề hàng năm cung cấp một tỷ lệ đáng kể cho nguồn nhân lực được đào tạo của quốc gia Do vậy, chất lượng dạy nghề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các doanh nghiệp, của phụ huynh, cũng như người học và toàn xã hội Hiện ở Việt Nam đang có tình trạng học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở không muốn vào học tại các trường dạy nghề Tình trạng học sinh đổ xô vào các trường đại học có thể có nguyên do tâm lý, nhưng cũng có nguyên nhân về chất lượng
và uy tín của các cơ sở dạy nghề còn hạn chế trong sự đánh giá của xã hội Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế lại gặp nhiều khó khăn trong tìm nguồn nhân lực cho đơn vị mình Việc phàn nàn của các doanh nghiệp, của những người sử dụng lao động về sự yếu kém về kỹ năng nghề của học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề có nguyên nhân do chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất
Trong thời gian vừa qua, các cơ sở dạy nghề, các cơ quan quản lý nhànước về dạy nghề đã quan tâm đến chất lượng dạy nghề Không ít các cơ sở dạynghề đã tổ chức xây dựng lại chương trình dạy nghề gắn liền với các yêu cầucủa doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cơ sở vậtchất - kỹ thuật của các cơ sở dạy nghề cũng đã được tăng cường, đổi mới mộtphần Đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên được đào tạo lại và bồi dưỡng nângcao trình độ…
Tuy nhiên, muốn chất lượng dạy nghề ngày càng được bảo đảm và nângcao cần phải hoàn thiện và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng dạy nghềhơn nữa Vì vậy, kiểm định chất lượng dạy nghề là một hoạt động không thểthiếu được trong hoạt động quản lý nhà nước về dạy nghề, điều này càng trở nênquan trọng khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Trong khi chất
29
Trang 31lượng nguồn nhân lực là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất thì một trong nhữngkhâu yếu nhất của giáo dục nói chung và của dạy nghề nói riêng ở nước ta làchất lượng đào tạo chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do các yếu tố đầu vào vàcác điều kiện đảm bảo trong quá trình đào tạo như: cơ sở vật chất kỹ thuật, trangthiết bị thực hành, thực tập thiếu, không đáp ứng được nhu cầu dạy và học; một
số nội dung chương trình, tài liệu giảng dạy cho một số nghề đang sử dụng trongcác cơ sở dạy nghề đã lạc hậu chưa kịp thời đổi mới; đội ngũ giáo viên thiếu về
số lượng, yếu về trình độ tay nghề, một số giáo viên chưa đạt chuẩn
Đồng thời, một nguyên nhân quan trọng khác là việc quản lý chất lượngdạy nghề của các cơ sở dạy nghề chưa có chuẩn mực để vừa ràng buộc, vừa thúcđẩy các cơ sở dạy nghề từng bước nâng cao chất lượng đào tạo trong những điềukiện hiện có, bằng những thước đo cụ thể, khách quan
II Khái niệm về kiểm định chất lượng dạy nghề
Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm định là kiểm tra để xác định giá trị và đánh giá chất lượng Còn thuật ngữ kiểm định chất lượng được bắt đầu dùng ở
Việt Nam từ năm 1997 trong Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật Dự án Giáo dục kỹthuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ngân hàng phát triển Châu Á Thuật ngữ
này ở bản tiếng Anh của Dự án được viết là accreditation, trong một số tài liệu khác viết là quality accreditation Trong bản tiếng Việt của Dự án thuật ngữ accreditation được dịch là kiểm định chất lượng
Có nhiều cách định nghĩa thuật ngữ kiểm định chất lượng, nhưng có hai yếu tố luôn luôn được nhắc đến là đánh giá và công nhận Kiểm định chất lượng
là sự xem xét, đánh giá độc lập và có hệ thống nhằm xác định xem các hoạtđộng và kết quả liên quan đến chất lượng có đáp ứng được các quy định đã đề ra
và các quy định này có được thực hiện một cách có hiệu quả và thích hợp để đạt
được mục tiêu hay không
Theo quy định của Luật Dạy nghề năm 2006 thì “Kiểm định chất lượngdạy nghề nhằm đánh giá, xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nộidung dạy nghề đối với cơ sở dạy nghề” (khoản 1 Điều 73)
Như vậy, kiểm định chất lượng các cơ sở dạy nghề là một hệ thống đánhgiá, công nhận các cơ sở dạy nghề và các chương trình dạy nghề đáp ứng cáctiêu chí tiêu chuẩn về chất lượng tạo cho công chúng sự tin cậy Kiểm định chấtlượng có một số chức năng quan trọng, trong đó có sự khuyến khích mọi cốgắng của cả Nhà nước, các thành phần kinh tế có quan tâm đến dạy nghề và các
cơ sở dạy nghề để hướng tới hiệu quả đào tạo nghề có chất lượng và hiệu quả nhất
Quá trình kiểm định chất lượng, trước hết, đòi hỏi các cơ sở dạy nghề phải
tự đánh giá về mục tiêu, về hoạt động điều hành và kết quả đạt được của bảnthân từng cơ sở dạy nghề, từng chương trình dạy nghề Tiếp đến là việc đánh giácủa cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề do các kiểm định viên và chuyên gia
30
Trang 32đánh giá Cuối cùng sẽ là những khuyến nghị của cơ quan kiểm định chất lượngnhằm từng bước khắc phục tồn tại và cải thiện chất lượng dạy nghề Vì kiểmđịnh chất lượng được tiến hành thường xuyên nên thông qua kiểm định chấtlượng, các cơ sở dạy nghề có động cơ phấn đấu hướng tới việc tự hoàn thiện đểnâng cao chất lượng dạy nghề.
Kiểm định chất lượng dạy nghề chỉ đề cập đến các điều kiện của cơ sở dạynghề hoặc chương trình dạy nghề mà không đi sâu vào chi tiết của những sảnphẩm mà cơ sở dạy nghề đào tạo, nên kiểm định chất lượng không thể đảm bảochất lượng cho từng cá nhân tốt nghiệp hoặc từng khoá đào tạo riêng rẽ, nhưng
nó có thể góp phần củng cố đáng kể về nội dung và chất lượng đào tạo nghề củacác khoá đào tạo nghề
III Mục tiêu và vai trò của kiểm định chất lượng dạy nghề
1 Mục tiêu của kiểm định chất lượng dạy nghề
Kiểm định chất lượng dạy nghề hướng tới hai mục tiêu cơ bản là:
- Xác nhận các cơ sở dạy nghề có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượngđào tạo nhằm khẳng định với cộng đồng giáo dục và công chúng rằng cơ sở dạynghề đó đào tạo nghề có chất lượng và đạt hiệu quả cao
- Khuyến khích việc nâng cao chất lượng của từng cơ sở dạy nghề, từngchương trình đào tạo thông qua việc tự xem xét và tự đánh giá thường xuyên
2 Vai trò của kiểm định chất lượng dạy nghề
Hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề là một hoạt động có vai trò và ýnghĩa to lớn đối với xã hội, người có nhu cầu học nghề, cơ sở dạy nghề, cơ sở sửdụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề Nói cụ thể hơn, kiểmđịnh chất lượng dạy nghề có vai trò quan trọng trên các phương diện sau:
2.1 Đối với xã hội: hoạt động kiểm định thường mang tính xã hội rất cao,
thể hiện ở chỗ:
- Đó là sự đảm bảo trước xã hội về chất lượng “sản phẩm” của cơ sở dạy
nghề hoặc của chương trình dạy nghề
- Xác nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo của cơ sở dạy nghề
- Là cơ sở cho việc tuyển dụng, xem xét tư cách hành nghề của nhữngngười học nghề
- Là cơ sở cho việc trao đổi và di chuyển lao động giữa các cơ sở sản xuất,kinh doanh, dịch vụ sử dụng lao động trong và ngoài nước
- Thông qua quá trình kiểm định, các cơ sở dạy nghề luôn chủ động và có
ý thức trong việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nghề của mình,nâng cao hiệu quả của đầu tư cho đào tạo nghề
31
Trang 332.2 Đối với người học: mục đích của các dịch vụ cho người học là nhằm
đáp ứng những đòi hỏi, sự ham muốn và phát huy các khả năng tiềm tàng củangười học đối với các chương trình dạy nghề Dịch vụ nhân sự cho người họcphải xây dựng các chương trình định hướng và lập hệ thống hồ sơ nhân sự phùhợp gồm: dịch vụ tư vấn cá nhân; chương trình định hướng cho học sinh- sinhviên; dịch vụ lưu giữ các hồ sơ của người học; dịch vụ tài chính cho người học;dịch vụ ăn và ở; dịch vụ giới thiệu việc làm
Vì thế, kiểm định chất lượng sẽ đảm bảo độ tin cậy đối với cơ sở dạynghề hay một chương trình dạy nghề mà người học đó đang theo học, họ có thểyên tâm vì nhu cầu học tập của họ được đáp ứng một cách tốt nhất Giúp chongười học chuyển đổi việc học tập giữa các trường hoặc được công nhận khi họ
có nhu cầu bồi dưỡng, nâng cao trình độ Điều quan trọng hơn là nếu được học ởnhững cơ sở dạy nghề có uy tín và những chương trình dạy nghề phù hợp đãđược khẳng định qua kiểm định chất lượng thì người học sẽ dễ tìm được việchoặc tự tạo làm khi ra trường, là tiền đề giúp cho người học được công nhậntrong việc hành nghề
2.3 Đối với bản thân các cơ sở dạy nghề: kiểm định chất lượng có vai
trò như là một động lực bên trong với sự hỗ trợ, khuyến khích từ bên ngoài giúp
cơ sở dạy nghề có điều kiện đánh giá lại mình một cách toàn diện, đầy đủ thôngqua việc xem xét và xây dựng báo cáo tự đánh giá, nâng cao năng lực hoạt độngcủa mình để tiến tới xây dựng một cơ sở dạy nghề có chất lượng cao Hay nóicách khác thông qua kiểm định chất lượng, thương hiệu, uy tín của một cơ sởdạy nghề sẽ được xã hội biết đến và thừa nhận
2.4 Đối với cơ quan quản lý các cấp: kiểm định chất lượng được coi là
một công cụ đảm bảo đánh giá một cách khách quan về cơ sở dạy nghề hoặcmột chương trình dạy nghề, phát hiện những nhân tố mới trong số các cơ sở dạynghề đã thực hiện tốt các giải pháp cải tiến, tự hoàn thiện mình để nâng cao chấtlượng đào tạo Việc các cơ quan kiểm định áp dụng các "tiêu chuẩn kiểm địnhchất lượng" sẽ tránh được những tác động bên ngoài có hại tới uy tín của cơ sở dạy nghề
Hơn nữa, nếu kiểm định chất lượng nói chung và tự kiểm tra, tự đánh giánói riêng được tiến hành tốt sẽ thúc đẩy các cơ sở dạy nghề cải tiến nâng cao chất lượng
2.5 Đối với người sử dụng lao động: học sinh tốt nghiệp từ các chương
trình dạy nghề đã được kiểm định chất lượng, từ các cơ sở dạy nghề đã được cấpgiấy chứng nhận "chất lượng" giúp họ yên tâm hơn
Dạy nghề là một hoạt động dịch vụ Chất lượng hoạt động dịch vụ nàykhông nằm ngoài những vấn đề chung về chất lượng và quản lý chất lượng Bởivậy, kiểm định chất lượng dạy nghề thông qua việc đánh giá và chứng nhận các
cơ sở dạy nghề đạt “chất lượng” là một việc làm cần thiết để hoạt động dạy nghề
32
Trang 34đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề thông qua đóđáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
IV Hoạt động kiểm định chất lượng dạy nghề của cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được Chính phủ phân công quản
lý nhà nước về dạy nghề Tháng 10 năm 2006, Bộ đã quyết định thành lậpPhòng kiểm định chất lượng thuộc Tổng cục Dạy nghề Ngày 03/7/2008 Thủtướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 86/2008/QĐ-TTg quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề, trong đóquy định rõ Tổng cục Dạy nghề là tổ chức thuộc Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội quản lý nhà nước về dạy nghề; trong cơ cấu tổ chức của Tổngcục Dạy nghề có Vụ Kiểm định chất lượng dạy nghề
Ngày 16/7/2013 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số43/2013/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thay thếQuyết định số 86/2008/QĐ-TTg ngày 3/7/2008, theo đó cơ cấu tổ chức củaTổng cục Dạy nghề có Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề
Khoản 10 Điều 2 của Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg quy định nhiệm vụ
và quyền hạn của Tổng cục Dạy nghề về kiểm định chất lượng dạy nghề như sau:
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về kiểm định chấtlượng dạy nghề;
- Quản lý và tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề đối với cơ
sở dạy nghề, chương trình đào tạo nghề Chủ trì thẩm định và công nhận cơ sởdạy nghề, chương trình dạy nghề đạt chuẩn tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạynghề;
- Hướng dẫn và kiểm tra việc đảm bảo chất lượng dạy nghề, việc tự kiểmđịnh chất lượng dạy nghề của các cơ sở dạy nghề;
- Công nhận, cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chấtlượng dạy nghề;
- Tổ chức công bố công khai danh sách các cơ sở dạy nghề, chương trìnhđào tạo đã được kiểm định chất lượng;
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho kiểm định viênchất lượng dạy nghề và cán bộ quản lý chất lượng của cơ sở dạy nghề; cấp, thuhồi thẻ kiểm định viên chất lượng dạy nghề;
- Chủ trì tổ chức thẩm định việc thành lập hoặc cho phép thành lập tổ chứckiểm định chất lượng dạy nghề;
- Hướng dẫn việc thành lập, tổ chức và hoạt động của trung tâm kiểm địnhchất lượng dạy nghề do tổ chức và cá nhân thành lập; việc công nhận tổ chứccủa nước ngoài có thẩm quyền kiểm định chất lượng chương trình dạy nghề củanước ngoài đào tạo tại Việt Nam
33
Trang 35Ngày 12 tháng 9 năm 2013 Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề đã có quyết định số 564/QĐ-TCDN quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề, cụ thể:
Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề là đơn vị thuộc Tổng cục Dạy nghề,giúp Tổng Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kiểm định chất lượng dạy nghề và quản lý chất lượng dạy nghề trên phạm vi cảnước
Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề có tên giao dịch quốc tế là VietNamVocational Training Accreditation Agency, viết tắt là VVTAA
Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạnsau đây:
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xây dựng, trình Tổng Cụctrưởng các chính sách, kế hoạch, biện pháp phát triển kiểm định chất lượng dạynghề và quản lý chất lượng dạy nghề
- Xây dựng, trình Tổng Cục trưởng các văn bản quy phạm pháp luật vềkiểm định chất lượng dạy nghề và quản lý chất lượng dạy nghề
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị các tài liệu, điềukiện để trình Tổng Cục trưởng ký kết các thoả thuận, điều ước quốc tế về gianhập hoặc công nhận lẫn nhau về kiểm định chất lượng dạy nghề theo quy định
- Xây dựng, trình Tổng Cục trưởng phê duyệt chương trình, đề án, kếhoạch hoạt động về kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề, chương trình đào tạo;triển khai thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho kiểm định viênchất lượng dạy nghề và cán bộ quản lý chất lượng của cơ sở dạy nghề; trìnhTổng Cục trưởng xem xét cấp, thu hồi thẻ kiểm định viên chất lượng dạy nghề
- Quản lý và tổ chức thực hiện kiểm định chất lượng dạy nghề đối với cơ
sở dạy nghề, chương trình đào tạo Tổ chức thẩm định và trình Tổng Cục trưởng
để trình Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định công nhậnhoặc thu hồi Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng dạy nghề
- Tổ chức công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng dạy nghề vàdanh sách các cơ sở dạy nghề, chương trình đào tạo đã được kiểm định chấtlượng dạy nghề
- Hướng dẫn việc thành lập, tổ chức và hoạt động của của trung tâm kiểmđịnh chất lượng dạy nghề do tổ chức và cá nhân thành lập
- Trình Tổng Cục trưởng tổ chức thẩm định việc thành lập hoặc cho phépthành lập tổ chức kiểm định chất lượng dạy nghề; việc công nhận tổ chức của
34
Trang 36nước ngoài có thẩm quyền kiểm định chất lượng chương trình dạy nghề củanước ngoài đào tạo tại Việt Nam
- Hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quy định về kiểm định chấtlượng dạy nghề và quản lý chất lượng dạy nghề
- Phối hợp với Văn phòng xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về kiểm địnhchất lượng dạy nghề và bảo đảm chất lượng dạy nghề
- Phối hợp với Vụ Pháp chế - Thanh tra tổ chức thẩm tra, giải quyết khiếunại, tố cáo về kết luận của Đoàn kiểm định chất lượng dạy nghề
- Thực hiện hợp tác quốc tế theo phân công của Tổng cục
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Cục trưởng giao
Cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề
Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề có Cục trưởng và không quá 03 PhóCục trưởng
Các phòng chức năng:
- Văn phòng
- Phòng Kiểm định và Công nhận chất lượng
- Phòng Đào tạo kiểm định chất lượng dạy nghề
- Phòng Đảm bảo chất lượng dạy nghề
Tổng cục Dạy nghề đã tiến hành một số công việc sau:
1 Xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng dạy nghề
- Quyết định số 01/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 17/01/2008 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy định hệ thống tiêu chí, tiêuchuẩn kiểm định chất lượng trường trung cấp nghề;
- Quyết định số 02/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 17/01/2008 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy định hệ thống tiêu chí, tiêuchuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề;
- Thông tư số 19/2010/TT-BLĐTBXH ngày 07/7/2010 quy định hệ thốngtiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trung tâm dạy nghề;
- Quyết định số 07/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 25/3/2008 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy định về kiểm định viênchất lượng dạy nghề;
- Thông tư số 42/2011/TT-BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Bộtrưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định về quy trình kiểm định
35
Trang 37chất lượng dạy nghề (Thay thế Quyết định số 08/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày25/3/2008 và khoản 2 Điều 4, Điều 13 và Điều 14 của Quyết định số07/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 25/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội Quy định về kiểm định viên chất lượng dạy nghề)
2 Xây dựng các chương trình, tài liệu đào tạo về kiểm định chất lượng dạy nghề
Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề phối hợp vớicác đơn vị liên quan biên soạn các chương trình, tài liệu đào tạo:
- Chương trình, tài liệu đào tạo cán bộ tự kiểm định chất lượng trườngtrung cấp nghề, trường cao đẳng nghề;
- Chương trình, tài liệu đào tạo cán bộ tự kiểm định chất lượng trung tâm dạy nghề;
- Chương trình, tài liệu đào tạo kiểm định viên chất lượng dạy nghề
- Bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu cho kiểm định viênchất lượng dạy nghề gồm 07 quyển
- Chương trình, tài liệu đào tạo cán bộ tự kiểm định chất lượng chươngtrình đào tạo phục vụ thí điểm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo năm
3.1 Đào tạo cán bộ tự kiểm định
Từ năm 2008 đến 2013 Tổng cục Dạy nghề đã tổ chức 134 lớp đào tạocán bộ tự kiểm định cho 2.639 cán bộ, giáo viên và công nhận hoàn thành khóađào tạo cho 2.611 người là thành viên trong Hội đồng kiểm định cho 407 lượtđơn vị (là các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, SởLao động - Thương binh và Xã hội) gồm Lãnh đạo cơ sở dạy nghề, trưởng phócác phòng khoa và một số cán bộ, giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, cụ thể:
Năm 2008: 07 lớp đào tạo cán bộ tự kiểm định cho 177 cán bộ, giáo viêntrong Hội đồng kiểm định của 15 trường được lựa chọn thí điểm và cán bộ quản
lý dạy nghề của 2 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội;
36
Trang 38Năm 2009: 10 lớp đào tạo cán bộ tự kiểm định cho 246 cán bộ, giáo viêntrong Hội đồng kiểm định của 20 trường được lựa chọn thí điểm;
Năm 2010: 15 lớp đào tạo cán bộ tự kiểm định cho 350 cán bộ, giáo viêntrong Hội đồng kiểm định của 29 trường CĐN và TCN và 5 lớp đào tạo cán bộ
tự kiểm định cho 110 cán bộ, giáo viên trong Hội đồng kiểm định của 10 TTDN;
Năm 2011: 38 lớp đào tạo cán bộ tự kiểm định cho 570 cán bộ, giáo viêntrong Hội đồng kiểm định của 28 trường CĐN và TCN và 10 TTDN;
Năm 2012: 34 lớp đào tạo 760 cán bộ tự kiểm định trong 218 cơ sở dạynghề trên cả nước và công nhận hoàn thành khóa học cho 741 người 10 lớp đàotạo 150 cán bộ tự kiểm định chất lượng chương trình đào tạo cho 10 trường cónghề được thí điểm kiểm định chương trình đào tạo năm 2012
Năm 2013: 9 lớp đào tạo cho 167 cán bộ tự kiểm định chất lượng cơ sởdạy nghề của 56 cơ sở dạy nghề và công nhận hoàn thành khóa đào tạo cho 158người; 04 lớp đào tạo cho 60 cán bộ tự kiểm định chất lượng chương trình đàotạo là cán bộ, giảng viên trong Hội đồng kiểm định của 04 trường có nghề đượcthí điểm kiểm định năm 2013
Năm 2013 Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề đã phối hợp với Cơ quanhợp tác quốc tế Tây Ban Nha tổ chức đào tạo 2 lớp cho 49 cán bộ tự kiểm địnhchất lượng chương trình đào tạo cho 5 trường cao đẳng nghề được lựa chọn thíđiểm kiểm định năm 2013
3.2 Đào tạo kiểm định viên
Giai đoạn 2008 - 2013 Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề đã tổ chức 27khóa đào tạo kiểm định viên chất lượng cơ sở dạy nghề và công nhận cho 665người, 5 khóa đào tạo thí điểm kiểm định chất lượng chương trình đào tạo vàcông nhận cho 118 kiểm định viên chất lượng chương trình đào tạo, 01 khóa bồidưỡng kiểm định viên trở thành giảng viên kiểm định chất lượng dạy nghề cho
30 người, trong đó:
37
Trang 39- Năm 2008: Tổ chức 04 khóa đào tạo cho 107 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là cán bộ quản lý dạy nghề ở các Bộ, ngành, địa phương, nghiêncứu viên của Viện NCKHDN, giáo viên, cán bộ quản lý của các cơ sở dạy nghề;
- Năm 2009: Tổ chức 03 khóa đào tạo cho 75 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là cán bộ quản lý dạy nghề ở địa phương, giáo viên, cán bộ quản
lý của các trường CĐN, TCN;
- Năm 2010: Tổ chức 05 khoá đào tạo cho 116 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là cán bộ quản lý dạy nghề ở địa phương, giáo viên, cán bộ quản
lý của các trường CĐN, TCN, TTDN;
- Năm 2011: Tổ chức 07 khoá đào tạo cho 174 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là cán bộ quản lý dạy nghề ở địa phương, giáo viên, cán bộ quản
lý của các trường CĐN, TCN, TTDN
- Năm 2012: Tổ chức đào tạo 04 khoá cho 92 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là cán bộ quản lý dạy nghề ở địa phương, giáo viên, cán bộ quản
lý của các trường CĐN, TCN, TTDN 03 khóa thí điểm điểm kiểm định viênchất lượng chương trình đào tạo cho 72 kiểm định viên chất lượng chương trìnhđào tạo là cán bộ của các trường CĐN, TCN
- Năm 2013: Tổ chức đào tạo 04 khóa cho 101 kiểm định viên chất lượng
cơ sở dạy nghề là giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý của các trường CĐN,TCN; 01 khóa cho 22 kiểm định viên chất lượng chương trình đào tạo là cán bộ,giáo viên, giảng viên của các trường cao đẳng nghề có chuyên môn nghề hoặcđang giảng dạy những nghề được thí điểm kiểm định chương trình năm 2013
Về đào tạo bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ kiểmđịnh viên: Năm 2010 Tổng cục Dạy nghề đã phối hợp với Đại sứ quán Australia
tổ chức 01 khóa đào tạo kỹ năng kiểm định cho 30 kiểm định viên do 02 chuyêngia kiểm định giáo dục dạy nghề tại bang Queensland của Úc trực tiếp tham giagiảng dạy
Năm 2011, 2012 Tổng cục Dạy nghề tiếp tục phối hợp với Đại sứ quánAustralia tổ chức 02 khóa tập huấn về kiểm định chất lượng cho kiểm định viên
38
Trang 40do chuyên gia kiểm định giáo dục dạy nghề của Australia trực tiếp tham giagiảng dạy.
Năm 2013 Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề đã phối hợp với Cơ quanhợp tác quốc tế Tây Ban Nha tổ chức đào tạo 1 lớp cho 24 kiểm định viên chấtlượng chương trình đào tạo
4 Kiểm định chất lượng các CSDN giai đoạn 2008 -2012
4.1 Giai đoạn 2008 - 2010
Từ năm 2008 đến năm 2010, Tổng cục Dạy nghề tiến hành thí điểm kiểmđịnh đối với 76 cơ sở dạy nghề (46 trường cao đẳng nghề, 18 trường trung cấpnghề và 12 trường) như sau:
+ 53 cơ sở dạy nghề đạt cấp độ 3 (đạt tỷ lệ 69,8%) gồm 38 trường caođẳng nghề, 06 trường trung cấp