T: Nghệ đen Curcuma zedoaria Rosc. (Zingiberaceae) là loài cây thân thảo lâu năm, có thân rễ được tìm thấy ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan. Thân rễ của loại cây này tích lũy tinh dầu được dùng để làm gia vị, nước hoa và thuốc. Tăng trưởng của các thân rễ bắt nguồn từ hoạt động của mô phân sinh dày cấp một giúp tạo một lượng lớn nhu mô hướng vào trong. Các hạt tinh dầu ở các lát cắt ngang từ thân rễ được quan sát dưới kính hiển vi quang học. Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và mối quan hệ giữa tăng trưởng và tạo tinh dầu trong thân rễ Nghệ đen được thảo luận. Từ khóa: Curcuma zedoaria Rosc., tinh dầu, mô phân sinh dày cấp một, thân rễ. MỞ ĐẦU Trong y học cổ truyền, thân rễ (củ) Nghệ đen được dùng để trị bệnh xanh xao, thiếu máu, viêm loét dạ dày… Thành phần quan trọng củT: Nghệ đen Curcuma zedoaria Rosc. (Zingiberaceae) là loài cây thân thảo lâu năm, có thân rễ được tìm thấy ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan. Thân rễ của loại cây này tích lũy tinh dầu được dùng để làm gia vị, nước hoa và thuốc. Tăng trưởng của các thân rễ bắt nguồn từ hoạt động của mô phân sinh dày cấp một giúp tạo một lượng lớn nhu mô hướng vào trong. Các hạt tinh dầu ở các lát cắt ngang từ thân rễ được quan sát dưới kính hiển vi quang học. Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và mối quan hệ giữa tăng trưởng và tạo tinh dầu trong thân rễ Nghệ đen được thảo luận. Từ khóa: Curcuma zedoaria Rosc., tinh dầu, mô phân sinh dày cấp một, thân rễ. MỞ ĐẦU Trong y học cổ truyền, thân rễ (củ) Nghệ đen được dùng để trị bệnh xanh xao, thiếu máu, viêm loét dạ dày… Thành phần quan trọng củT: Nghệ đen Curcuma zedoaria Rosc. (Zingiberaceae) là loài cây thân thảo lâu năm, có thân rễ được tìm thấy ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan. Thân rễ của loại cây này tích lũy tinh dầu được dùng để làm gia vị, nước hoa và thuốc. Tăng trưởng của các thân rễ bắt nguồn từ hoạt động của mô phân sinh dày cấp một giúp tạo một lượng lớn nhu mô hướng vào trong. Các hạt tinh dầu ở các lát cắt ngang từ thân rễ được quan sát dưới kính hiển vi quang học. Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và mối quan hệ giữa tăng trưởng và tạo tinh dầu trong thân rễ Nghệ đen được thảo luận. Từ khóa: Curcuma zedoaria Rosc., tinh dầu, mô phân sinh dày cấp một, thân rễ. MỞ ĐẦU Trong y học cổ truyền, thân rễ (củ) Nghệ đen được dùng để trị bệnh xanh xao, thiếu máu, viêm loét dạ dày… Thành phần quan trọng củT: Nghệ đen Curcuma zedoaria Rosc. (Zingiberaceae) là loài cây thân thảo lâu năm, có thân rễ được tìm thấy ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan. Thân rễ của loại cây này tích lũy tinh dầu được dùng để làm gia vị, nước hoa và thuốc. Tăng trưởng của các thân rễ bắt nguồn từ hoạt động của mô phân sinh dày cấp một giúp tạo một lượng lớn nhu mô hướng vào trong. Các hạt tinh dầu ở các lát cắt ngang từ thân rễ được quan sát dưới kính hiển vi quang học. Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và mối quan hệ giữa tăng trưởng và tạo tinh dầu trong thân rễ Nghệ đen được thảo luận. Từ khóa: Curcuma zedoaria Rosc., tinh dầu, mô phân sinh dày cấp một, thân rễ. MỞ ĐẦU Trong y học cổ truyền, thân rễ (củ) Nghệ đen được dùng để trị bệnh xanh xao, thiếu máu, viêm loét dạ dày… Thành phần quan trọng củ
Trang 1Trang 5
SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ TÍCH LŨY TINH DẦU TRONG THÂN RỄ CỦA CÂY NGHỆ
ĐEN CURCUMA ZEDOARIA ROSC
Nguyễn Thị Duy Bình, Bùi Trang Việt
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG – HCM
(Bài nhận ngày 21 tháng 03 năm 2011, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 14 tháng 09 năm 2011)
TÓM TẮT: Nghệ đen Curcuma zedoaria Rosc (Zingiberaceae) là loài cây thân thảo lâu năm, có
thân rễ được tìm thấy ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan Thân rễ của loại cây này tích lũy tinh dầu được dùng để làm gia vị, nước hoa và thuốc Tăng trưởng của các thân rễ bắt nguồn từ hoạt động của mô phân sinh dày cấp một giúp tạo một lượng lớn nhu mô hướng vào trong Các hạt tinh dầu ở các lát cắt ngang từ thân rễ được quan sát dưới kính hiển vi quang học Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và mối quan hệ giữa tăng trưởng và tạo tinh dầu trong thân rễ Nghệ đen được thảo luận
Từ khóa: Curcuma zedoaria Rosc., tinh dầu, mô phân sinh dày cấp một, thân rễ
MỞ ĐẦU
Trong y học cổ truyền, thân rễ (củ) Nghệ đen
được dùng để trị bệnh xanh xao, thiếu máu,
viêm loét dạ dày… Thành phần quan trọng của
củ Nghệ đen là tinh dầu có tính kháng khuẩn,
kháng nấm, kháng virus, diệt côn trùng và
chống oxi hóa (Đỗ Tất Lợi, 2009; Lobo và cs,
2008; Nguyễn Thị Phúc Lộc và cs, 2010)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu về sự
tăng trưởng và tích lũy tinh dầu trong củ của
cây Nghệ đen
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
- Củ Nghệ đen từ các cây được trồng trong
vườn, ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, ở giai
đoạn cây 4 tháng tuổi (đang tăng trưởng) và 10
đến 12 tháng tuổi (khi thân khí sinh héo rủ, cây
không mang hoa, và người trồng thu hoạch củ)
- Cây Nghệ đen in vitro 3 tháng tuổi được
trồng với môi trường MS có bổ sung BA 2 mg/l và IBA 0,5 mg/l
Phương pháp
Quan sát hình thái giải phẫu
Các lát cắt ngang và dọc qua thân cây in
vitro 3 tháng tuổi được quan sát dưới kính hiển
vi quang học, sau khi nhuộm hai màu đỏ carmin và xanh iod
Theo dõi sự tích lũy tinh dầu ở cây trong vườn
Củ cấp một (từ củ mẹ đầu tiên được trồng) ở giai đoạn 4 tháng tuổi của cây Nghệ đen trong vườn được chia thành ba phần: ngọn, giữa và đáy Cắt ngang qua vùng giữa của mỗi phần (khi chia mỗi phần thành ba vùng có chiều dài bằng nhau) thành 15 lát cắt Đếm số hạt tinh dầu trong thị trường khi dùng vật kính x10, ở vùng vỏ và vùng lõi của các lát cắt
Trang 2Kết quả là giá trị trung bình của các lần đếm
trên 15 lát cắt Lặp lại ba lần trên ba củ khác
nhau
Xác định tỉ lệ trọng lượng khô trên trọng
lượng tươi (TLK/TLT) bằng cách sấy khô 5 g
trọng lượng tươi từ vùng giữa được cắt ra từ
các phần của củ cấp một ở 1200C trong 1 giờ,
tiếp theo ở 800C cho đến khi trọng lượng không
đổi (khoảng 72 giờ) để xác định trọng lượng
khô
Đo cường độ hô hấp (lượng oxygen hấp
thu/g TLT/giờ) bằng máy Hansatech với điện
cực oxygen, ở 270C, trong tối Trong sự đo,
vùng giữa của mỗi phần củ (khi chia mỗi phần
thành ba vùng có chiều dài bằng nhau) được
cho vào buồng đo của máy
Xác định lượng tinh bột theo phương pháp
của Coombs và cộng sự (1987), bằng cách
nghiền vùng giữa của các phần của củ cấp một
(khi chia mỗi phần thành ba vùng có chiều dài
bằng nhau) trong ethanol nóng Phần bã được
sấy khô, đun cách thủy với nước và thủy giải
tinh bột với HClO4 9,2N Xác định lượng tinh
bột dựa vào đường cong chuẩn glucose
Lập đường chuẩn : Pha glucose theo các
nồng độ 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80 µg/l
Nhuộm dung dịch glucose bằng phenol 5% và
H2SO4 đậm đặc theo tỉ lệ glucose: phenol 5%:
H2SO4 đậm đặc (1: 1: 5 theo thể tích) Đo mật
độ quang ở bước sóng 490 nm với chuẩn là
nước cất: phenol 5%: H2SO4 đậm đặc (1: 1: 5
theo thể tích) Từ các giá trị thu được, vẽ
đường chuẩn để dùng cho việc xác định hàm
sự phân ly trên bản mỏng sắc kí Silicagel F254
với dung môi di chuyển là hỗn hợp chloroform: methanol: acid acetic (tỷ lệ 80: 15: 5 theo thể tích), ở nhiệt độ 300C Vị trí của IAA, ABA và zeatin trên bản sắc kí được phát hiện trực tiếp dưới tia UV 254 nm so với chuẩn là IAA, ABA
và zeatin Hoạt tính của IAA, zeatin, GA3 và ABA được xác định bằng sinh trắc nghiệm (Bùi Trang Việt, 1992; Meidner, 1984) Hoạt tính auxin và acid abscisic được đo
bằng sinh trắc nghiệm với diệp tiêu lúa (Oryza
sativa L.) Sự gia tăng về chiều dài diệp tiêu lúa
được đo sau 24 giờ, trong tối Hoạt tính auxin
tỷ lệ thuận với sự sai biệt chiều dài khúc cắt diệp tiêu so với chuẩn (dung dịch IAA 1 mg/l) Hoạt tính acid abscisic tỷ lệ nghịch với sự sai biệt chiều dài khúc cắt diệp tiêu so với chuẩn (dung dịch ABA 1 mg/l)
Hoạt tính cytokinin được đo bằng sinh trắc
nghiệm với tử diệp dưa chuột (Cucumis sativus
L.) Hoạt tính cytokinin tỷ lệ thuận với sự sai biệt trọng lượng tươi của các tử diệp so với chuẩn (dung dịch Zeatin 1 mg/l) sau 48 giờ chiếu sáng
Hoạt tính gibberellin được đo bằng sinh trắc
nghiệm với cây mầm xà lách (Lactuca sativa
L.) Hoạt tính gibberellin tỷ lệ thuận với sự sai biệt chiều dài trụ hạ diệp so với chuẩn (dung dịch GA 10 mg/l) sau 72 giờ chiếu sáng
Trang 3Trang 7
KẾT QUẢ
Sự tăng trưởng của củ cây Nghệ đen trong
vườn
Từ củ mẹ đầu tiên được trồng (thường là củ
cấp hai có mang 1 – 3 củ cấp ba được chọn khi
thu hoạch, sau 12 tháng trồng), các củ cấp một,
hai và ba lần lượt phát triển từ chồi mầm trên
củ mẹ, củ cấp một và củ cấp hai Đôi khi, củ
cấp bốn xuất hiện từ chồi mầm của củ cấp ba
Thân Nghệ đen gia tăng đường kính từ vùng
mô với các tế bào phân chia mạnh, được gọi là
mô phân sinh dày cấp một Lát cắt dọc qua
vùng mô phân sinh ngọn của thân cây Nghệ
đen in vitro 3 tháng tuổi cho thấy mô phân sinh
dày cấp một phân bố ngay dưới mô phân sinh
ngọn và các sơ khởi lá (Hình 2A) Ở lát cắt ngang thân gần mô phân sinh ngọn, mô phân sinh dày cấp một sắp xếp thành một vòng tròn xung quanh bó mạch (Hình 2B) Mô phân sinh dày cấp một xuất hiện ở vùng trụ bì, ở giữa vùng vỏ có tương đối ít bó mạch và vùng trung tâm có sự tập trung nhiều bó mạch hơn, và bao gồm các tế bào dẹp, dài, xếp xuyên tâm Các tế bào này phân chia tiếp tuyến hình thành nhu
mô vỏ và nhu mô lõi (Hình 2B, C) Trong khi
đó, ở các lát cắt ngang qua thân tại vị trí xa mô phân sinh ngọn hơn, một số vùng mô phân sinh dày cấp một phân chia lộn xộn hình thành nên
bó mạch hướng vào trong (Hình 2D)
Sự tích lũy tinh dầu của củ Nghệ đen cấp một trong vườn
Ở vùng vỏ, số hạt tinh dầu của phần giữa củ cao hơn so với phần ngọn và đáy củ, trong khi
ở vùng lõi, số hạt tinh dầu tăng dần từ phần ngọn đến phần đáy củ Khi tính tổng cộng, số hạt tinh dầu tập trung nhiều hơn ở phần giữa và đáy, thấp hơn ở phần ngọn của củ (Bảng 1)
Bảng 1 Số hạt tinh dầu/thị trường kính có trong lát cắt ngang ở các phần của củ Nghệ đen cấp một
trong vườn
Vị trí Số hạt tinh dầu/thị trường kính
Vùng vỏ Vùng lõi Tổng cộng Ngọn 2,22 ± 0,23a 6,55 ± 0,20a 8,85 ± 0,12aGiữa 2,93 ± 0,19b 7,21 ± 0,17b 10,11 ± 0,23bĐáy 2,13 ± 0,22a 7,97 ± 0,19c 10,20 ± 0,15b
Các số trung bình trong cột với các mẫu tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05
Trang 4Bảng 2 Tỉ lệ trọng lượng khô/trọng lượng tươi (TLK/TLT), cường độ hô hấp (CĐHH) và hàm lượng
tinh bột ở các phần của củ Nghệ đen cấp một trong vườn
Vị trí TLK/TLT CĐHH (µmolO2/gTLT/h) Hàm lượng tinh bột (mg/g TLK) Ngọn 0,10 ± 0,004a 12,49 ± 0,57c 78,23 ± 7,90a
Giữa 0,11 ± 0,004a 9,65 ± 0,41b 77,91 ± 5,11a
Đáy 0,24 ± 0,002b 6,88 ± 0,44a 169,05 ± 17,64b
Các số trung bình trong cột với các mẫu tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05
Hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực
vật của củ Nghệ đen cấp một trong vườn
Hoạt tính auxin cao nhất ở phần ngọn nhưng
giảm ngay ở phần giữa và đáy củ, trong khi
hoạt tính cytokinin, gibberellin và acid abscisic
nói chung cao ở các phần ngọn và giữa củ và thấp hơn ở phần đáy củ (Bảng 3)
Bảng 3 Hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật ở các phần của củ Nghệ đen cấp một trong vườn
Vị trí Hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật (mg/g TLT)
Auxin Cytokinin Gibberellin Acid abscisic Ngọn 0,37 ± 0,03b 0,20 ± 0,04b 0,61 ± 0,04ab 0,73 ± 0,12bGiữa 0,28 ± 0,02a 0,28 ± 0,05b 0,70 ± 0,04b 0,61 ± 0,08b
Đáy 0,26 ± 0,03a 0,06 ± 0,01a 0,49 ± 0,02a 0,18 ± 0,05a
Các số trung bình trong cột với các mẫu tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05
THẢO LUẬN
Ở Nghệ đen cũng như những cây đơn tử diệp
khác hầu như không xảy ra sự tăng trưởng hậu
lập từ tượng tầng Sự dày lên của thân Nghệ
đen (gia tăng đường kính), giống như ở đa số
cây đơn tử diệp, nhờ hoạt động của vùng mô
phân sinh dày cấp một, nơi tập trung các tế bào
phân chia mạnh (Hình 2A) Mô phân sinh dày
cấp một hình thành từ vài lớp tế bào có nguồn
gốc từ mô phân sinh ngọn, xếp thành hàng
xuyên tâm, nằm ngay dưới mô phân sinh ngọn
và các sơ khởi lá, và ở vùng ngoại vi của đỉnh
thân (Esau, 1967; Rodrigues và Estelita, 2009;
Rudall, 1991) Phân tích lát cắt ngang thân cây
Nghệ đen (vùng gần mô phân sinh ngọn) cho
thấy mô phân sinh dày cấp một tạo thành một vòng tròn xung quanh các bó tiền tượng tầng (Hình 2B), phù hợp với nhận xét về vị trí của
mô phân sinh dày cấp một của Rudall (1991)
và Rodrigues và Estelita (2009)
Cùng với mô phân sinh ngọn, mô phân sinh dày cấp một có chức năng hình thành các cơ quan cấp một Ở giai đoạn cây còn non, các bó mạch hình thành từ tiền tượng tầng có nguồn gốc từ mô phân sinh ngọn Về sau, sự gia tăng
số lượng bó mạch là do hoạt động của mô phân sinh dày cấp một Có điểm tương đồng giữa mô phân sinh dày cấp một ở cây đơn tử diệp và tượng tầng ở cây song tử diệp Đó là sự phân chia tiếp tuyến tạo lớp tế bào dẹp, dài, xếp
Trang 5Trang 9
xuyên tâm Tuy nhiên, khác với tượng tầng, mô
phân sinh dày cấp một phân chia để tạo các bó
mạch (libe và mộc) hướng vào trong (Hình
2D), trong khi tượng tầng phân chia để tạo libe
hướng ra ngoài và gỗ hướng vào trong Mặt
khác, mô phân sinh dày cấp một hoạt động theo
cả hai chiều: hoạt động ly tâm cho các dãy nhu
mô, và hoạt động hướng tâm, cho nhu mô cùng
với các bó mạch (Esau, 1967; Oriani, 2007;
Rodrigues và Estelita, 2002; Rudall, 1991)
Mô phân sinh cấp một hoạt động theo cả hai
chiều ở củ Nghệ đen có kích thước tương đối
lớn (đường kính khoảng 7cm) Tuy nhiên, theo
Rodrigues và Estelita (2009), tùy vào từng loài
và cách tăng trưởng của cây mà mô phân sinh
dày có hoạt động chức năng khác nhau: chỉ tạo
ra các dãy nhu mô phân bố xuyên tâm ở củ
Cyperus esculentus (đường kính chỉ vài mm);
chỉ hoạt động hướng vào trong để cho các bó
mạch ở Bulbostylis paradoxia
Mô phân sinh dày hoạt động dọc theo thân
cây, tạo nhiều mạch dẫn trong một thời gian
giới hạn hay trong suốt đời sống của thực vật
(Rudall, 1991) Ở Nghệ đen, mô phân sinh dày
cấp một không còn giữ các đặc tính phân sinh
(bao gồm các tế bào dẹp, dài, xếp xuyên tâm và
phân chia tiếp tuyến) khi ở xa mô phân sinh
ngọn chồi, vì các tế bào đã biệt hóa hoàn toàn
thành nhu mô vỏ, nhu mô lõi và các bó mạch
(Hình 2D) Kết quả này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Sherlija và cs (1998) Tuy
nhiên, ở Cọ, mô phân sinh dày cấp hai xuất
hiện nối tiếp và trực tiếp từ mô phân sinh dày
cấp một, và cả mô phân sinh dày cấp một và
mô phân sinh dày cấp hai được xem như hai
giai đoạn nối tiếp nhau của cùng một loại mô phân sinh dày (Dickson, 2000)
Tinh dầu tập trung ở phần giữa và đáy (Bảng 1), thấp hơn ở phần ngọn (non hơn) của củ trong khi hàm lượng auxin, gibberellin và cytokinin cao ở phần ngọn (Bảng 3) Như vậy, hoạt động của auxin, gibberellin và cytokinin
có vẻ tác động mạnh trên sự tăng trưởng của củ hơn sự tích lũy dầu Auxin kích thích sự phân chia của các tế bào tượng tầng (Bùi Trang Việt, 2000) Có lẽ sự hiện diện auxin cao ở phần ngọn củ đã giúp các tế bào vùng mô phân sinh dày cấp một của thân cây Nghệ đen phân chia mạnh để cung cấp một lượng lớn tế bào cho sự hình thành nhu mô vỏ, nhu mô lõi và các bó mạch về sau Hiệu ứng cản tăng trưởng của acid abscisic (với hàm lượng cao ở các phần ngọn và giữa) chắc chắn đã bị đẩy lùi bởi hiệu ứng đối nghịch của gibberellin Cùng với sự tập trung các hạt tinh dầu, trọng lượng khô và hàm lượng tinh bột tăng trong khi cường độ hô hấp giảm ở phần đáy củ (Bảng 2) Rõ ràng, phần đáy củ là phần dự trữ các chất cho cây, trong khi phần ngọn với mô phân sinh ngọn giúp sự kéo dài thân và mô phân sinh dày cấp một cho phép sự gia tăng đường kính
KẾT LUẬN
- Hoạt động của mô phân sinh dày có liên hệ
mật thiết với đường kính thân, chính hoạt động của mô phân sinh dày cấp một tạo lượng lớn nhu mô và các bó mạch ở phía trong mô phân sinh này giúp thân cây Nghệ đen gia tăng đường kính
- Tại phần ngọn và giữa củ, dưới tác động của auxin và cytokinin hoạt động phân chia tế
Trang 6bào và gia tăng kích thước tế bào xảy ra mạnh
là cơ sở cho sự tích lũy tinh bột và tinh dầu ở
phần giữa và đáy củ Trong tương lai, chúng tôi
sẽ tiếp tục tìm hiểu hoạt động của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật trong sự tăng trưởng
và tích lũy tinh dầu ở củ Nghệ đen
GROWTH AND ESSENTIAL OIL ACCUMULATION IN RHIZOMES OF CURCUMA
ZEDOARIA ROSC
Nguyen Thi Duy Binh, Bui Trang Viet
University of Science, VNU – HCM
ABSTRACT: Curcuma zedoaria Rosc (Zingiberaceae) is a herbaceous and rhizomatous
perennial species found in tropical countries, such as Viet Nam, India and Thailand Rhizomes of this plant accumulate essential oil which is used as a condiment, in perfumery, and as a medicine Growth of the rhizomes is derived from a primary thickening meristem which produces vast amounts of parenchyma to the inside Essential oil droplets in transverse thin sections from the rhizomes are observed under light microscope Roles of plant growth regulators on rhizome growth and relationship between growth and essential oil production were discussed
Keywords: Curcuma zedoaria Rosc, essential oil, primary thickening meristerm, rhizomes
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Trang Việt, Sinh lý thực vật – phát
triển, NXB ĐH Quốc gia TP Hồ Chí
Minh.(2000)
[2] Bùi Trang Việt, Tìm hiểu hoạt động của
các chất điều hòa tăng trưởng thực vật
thiên nhiên trong hiện tượng rụng
“bông” và “trái non” Tiêu (Piper nigrum
L.), Tập san khoa học Trường ĐH Tổng
hợp TP Hồ Chí Minh, số 1:
155-165.(1992)
[3] Combs J., Hind G., Leegood R C.,
Tieszen L L., Vonshak A Techniques in
bioproductivity and photosynthesis, In:
Measurement of starch and sucrose in
leaves, Edicted by J Combs, D O Hall,
S P Long, J M O Scurlock, Pergamon Press, pp 219 – 228 (1987)
[4] Dickison W C (2000), Intergrative
plant anatomy, Academic Press, Inc pp:
195-200
[5] Đỗ Tất Lợi (2009), Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam, NXB Y học – Thời
đại, 377 – 378
[6] Esau K (1967), Plant anatomy, The
second edidtion, Wiley J & Sons, Inc pp: 338 – 408
[7] Lobo R., Prabhu K S., Shirwaikar A
and Shirwaikar A (2009), Curcuma
Trang 7Trang 11
of its chemical, pharmacological and
ethnomedicinal properties, Journal of
Pharmacy and Pharmacology 61: 13 –
21
[8] Meidner H (1984), Class experiments in
Plant physiology, George Allen and
Uniwin, London
[9] Nguyễn Thị Phúc Lộc, Võ Châu Tuấn và
Nguyễn Hoàng Lộc (2010), Khảo sát
hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu chiết
xuất từ tế bào Nghệ đen (Curcuma
zedoaria Roscoe) trong hệ lên men 10
[12] Rodrigues A C., Estelita M E M
(2009), Morphoanatomy of the stem in
Cyperaceae, Acta Botannica Brasilica
23: 3
[13] Rudall P (1991), Lateral meristems and
monocotyledons, Botanical Review 57,
150 – 163
[14] Sherlija K K., Remashree A B., Unnikrishnan K and Ravindran P N (1998), Comparative rhizome anatomy
of four species of Curcuma, Journal of
Spices and Aromatic 7 (2): 103 – 109
Trang 8A Chồi mầm tái lập tăng trưởng trên củ mẹ sau 2 tuần trồng; B Thân khí sinh phát triển và cho củ cấp một (mũi tên); C Củ cấp hai hình thành từ củ cấp một sau 3 – 4 tháng trồng; D Củ ở các cấp một, hai, ba và bốn khi thu
Trang 9Trang 13
Hình 2 Mô phân sinh dày cấp một (PTM) ở thân Nghệ đen in vitro 3 tháng tuổi
A, Lát cắt dọc cho thấy mô phân sinh dày cấp một ngay dưới mô phân sinh ngọn
B, Lát cắt ngang ngay dưới mô phân sinh ngọn cho thấy mô phân sinh dày cấp một phân bố thành vòng tròn
C, Chi tiết vùng mô phân sinh dày cấp một ngay dưới mô phân sinh ngọn cho thấy các tế bào dài, dẹp và xếp xuyên
Trang 10KHẢO SÁT SỰ PHÁT SINH PHÔI THỂ HỆ Ở KHOAI MÌ ( Manihot esculenta Crantz)
Vũ Văn Kiên, Nguyễn Du Sanh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 21 tháng 03 năm 2011, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 23 tháng 09 năm 2011)
TÓM TẮT: Phôi thể hệ ở khoai mì dòng KM297 từ khúc cắt thùy lá non in vitro hay khúc cắt lá
mầm phôi thể hệ được cảm ứng trên môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l, sau 13 ngày nuôi cấy trong tối Các giai đoạn phát triển phôi được ghi nhận sau 10 ngày nuôi cấy ở ngoài sáng trên môi trường MS bổ sung BA 0,1mg/l và NAA 0,01mg/l Hoạt tính AIA và Zeatin nội sinh của giai đoạn phôi hình cầu đã được phân tích
Từ khóa: khoai mì, Manihot esculenta, phôi thể hệ, picloram
Chữ viết tắt: 2,4-D: 2,4-dichlorophenoxy acetic acid, BA: benzyladenine, CĐHTTTV: chất điều hòa tăng
trưởng thực vật, MS: Murashige và Skoog, 1962, MT: môi trường, NAA: naphthalene acetic acid, picloram: amino-3,5,6-trichloropicolinic acid
4-MỞ ĐẦU
Khoai mì cung cấp củ như một nguồn lương
thực quan trọng cho cư dân các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở châu Phi Hiện
nay ở Việt Nam, khoai mì đang trong quá trình
chuyển đổi nhanh chóng từ cây lương thực
truyền thống thành cây công nghiệp [3]
Việc cải tiến các giống hiện có cho mục đích
tăng năng suất, tăng hàm lượng protein và giảm
acid cyanhydric là vấn đề đang được quan tâm
trên toàn thế giới Điều kiện quan trọng cho
quy trình cải tiến giống thông qua các kỹ thuật
hiện đại như chuyển gen, dung hợp tế bào, đột
biến lý học cần một hệ thống tái sinh cây hoàn
chỉnh [11]
Trong những năm gần đây, bộ môn Sinh lý
Thực vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành một số
nghiên cứu trên cây khoai mì như: ghép giữa
mì cao su và khoai mì, tạo mô sẹo và dịch treo
tế bào, phát sinh chồi, phát sinh hình thái phôi thể hệ từ mô sẹo có nguồn gốc lá khoai mì dòng Cuống Trầu Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục khảo sát các biến đổi hình thái, sinh lý trong quá trình phát sinh phôi thể
hệ trên đối tượng KM297 và tiến hành các thí nghiệm bước đầu nhằm nâng cao hệ số phát sinh phôi
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Vật liệu
Cây khoai mì (Manihot esculenta Crantz),
dòng KM297 được trồng tại vườn thực nghiệm,
bộ môn Sinh lý Thực vật, trường Đại học Khoa Học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh, cơ sở phường Linh Trung, quận Thủ Đức Khúc cắt
đốt thân mang một chồi ngủ được đưa vào in
vitro sau khi khử trùng bằng dung dịch HgCl2
1,5‰ trong 20 phút Cây được giữ trong in
Trang 11Trang 15
vitro bằng phương pháp cấy chuyền chồi ngọn
và chồi ngủ trên môi trường MS cơ bản,
sucrose 20g/l Thùy lá trên phiến lá non (dài từ
3- 8mm) của cây in vitro được cắt vuông góc
với gân chính thành các mảnh cách nhau 2mm
và đặt ngửa trên MT nuôi cấy
Môi trường và điều kiện nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy là môi trường MS bổ
sung thêm sucrose 20g/l, CuSO4 0,3 mg/l, agar
6g/l, bổ sung các CĐHTTTV (2,4-D, BA,
NAA, picloram) theo các thí nghiệm khác
nhau, pH được chỉnh ở 5,7 ± 0,1 Môi trường
được hấp khử trùng ở nhiệt độ 121oC và áp suất
1 atm trong thời gian 18 phút
Điều kiện nuôi cấy: các thí nghiệm được
thực hiện tại Phòng thí nghiệm bộ môn Sinh lý
Thực vật, cơ sở phường Linh Trung, quận Thủ
Đức; quang kỳ 12 giờ/ngày, cường độ chiếu
sáng 2500 ± 500 lux, nhiệt độ 27 ± 3oC, độ ẩm
75 ± 10% 6 mẫu cấy được đặt trong erlen 50ml
có chứa 15ml môi trường cảm ứng Các mẫu
cấy sau đó được chuyển sang erlen 100ml chứa
30ml môi trường cho sự phát triển của phôi
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Khảo sát loại, nồng độ auxin
lên hiệu quả cảm ứng phát sinh phôi từ vật
liệu khúc cắt thùy lá non in vitro
Khúc cắt thùy lá non được đặt trên các môi
trường cảm ứng khác nhau, là môi trường MS
bổ sung 2,4-D (2, 4, 8) mg/l hoặc picloram (2,
4, 8) mg/l trong tối 21 ngày Sau đó, mẫu cấy
được chuyển sang môi trường MS cơ bản, đặt
ngoài sáng
Thí nghiệm 2: Khảo sát thời gian cảm ứng
lên hiệu quả phát sinh phôi
Khúc cắt thùy lá non được đặt cảm ứng trên môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l sau 6,
10, 13, 21 ngày rồi lần lượt chuyển mẫu cấy sang môi trường MS bổ sung NAA 1mg/l trong tối cho đủ 21 ngày Sau đó, tất cả các mẫu cấy
ở các nghiệm thức khác nhau được chuyển sang môi trường MS bổ sung BA 0,1mg/l + NAA 0,01mg/l
Thí nghiệm 3: Khảo sát môi trường thích hợp cho sự phát triển của phôi
Khúc cắt thùy lá non được đặt cảm ứng trên môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l trong tối sau 21 ngày Sau đó, mẫu cấy được chuyển sang các môi trường khác nhau gồm môi trường MS cơ bản (đối chứng) và MS bổ sung
BA (0,1; 0,5; 1) mg/l + NAA 0,01mg/l, đặt ngoài sáng theo dõi sự phát triển của phôi
Thí nghiệm 4: Khảo sát loại, nồng độ auxin lên hiệu quả cảm ứng phát sinh phôi từ vật liệu khúc cắt tử diệp phôi thể hệ
Phôi thể hệ thu được từ thí nghiệm 1 sau khi chuyển mẫu cấy sang môi trường MS cơ bản
21 ngày Các tử diệp phôi thể hệ được cắt vuông góc với gân chính thành các mảnh cách nhau 2mm và đặt ngửa trên MT cảm ứng khác nhau: MS bổ sung 2,4-D (4, 8) mg/l và picloram (4, 8) mg/l Sau 21 ngày trong tối mẫu cấy được chuyển sang MT MS bổ sung BA 0,1mg/l + NAA 0,01mg/l, đặt ngoài sáng cần cho sự phát triển của phôi
Thí nghiệm 5: Phân tích hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật
Khúc cắt thùy lá non đặt trên môi trường MS
bổ sung piloram 8mg/l ở ngày 0, 10, 13, 21
Trang 12được đo hoạt tính CĐHTTTV bằng sinh trắc
nghiệm theo cải tiến của Bùi Trang Việt, 1992
KẾT QUẢ
Thí nghiệm 1: Khảo sát loại, nồng độ auxin
lên hiệu quả cảm ứng phát sinh phôi từ vật
liệu khúc cắt thùy lá non in vitro
Mẫu cấy sau 3 ngày cảm ứng có sự giãn nở
về kích thước và bắt đầu tạo sẹo ở vị trí các vết
cắt Sau 8 ngày, có sự xuất hiện của khối mô
sẹo có khả năng sinh phôi; sau 13 ngày, có sự
xuất hiện phôi hình cầu Sau 21 ngày trên các
môi trường cảm ứng, có sự xuất hiện của phôi
ở các giai đoạn khác nhau trên bề mặt khối mô sẹo (Hình 1.1)
Sau 10 ngày chuyển mẫu cấy sang môi trường MS cơ bản, tất cả các nghiệm thức đều
có sự xuất hiện phôi, trên môi trường cảm ứng
MS bổ sung picloram 8mg/l trước đó cho tỉ số mẫu cấy xuất hiện phôi cao nhất (Bảng 1) Cấu trúc giải phẫu phôi ở giai đoạn có hai tử diệp cũng được quan sát thấy được cực chồi và cực
rễ phát triển (Hình 1.2)
Bảng 1 Tỉ lệ mẫu cấy khúc cắt thùy lá non in vitro trên các môi trường cảm ứng khác nhau trước đó, có
xuất hiện phôi sau khi được chuyển sang môi trường MS cơ bản 10 ngày
Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa ở mức p=0,05
Số phôi trung bình/mẫu cấy xuất hiện không
khác biệt nhiều ở các nghiệm thức khác nhau,
dao động trong khoảng từ 10- 20 phôi Trên
môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l, cho
trên 30 phôi
Thí nghiệm 2: Khảo sát thời gian cảm ứng
lên hiệu quả phát sinh phôi
Ở nghiệm thức cảm ứng 6 ngày, sau khi
chuyển mẫu cấy sang môi trường MS bổ sung
NAA 1mg/l, có sự xuất hiện và kéo dài của rễ
từ mô sẹo sau 7 ngày trên môi trường này; đến
ngày thứ 10, rễ ngưng kéo dài, trên bề mặt rễ
bắt đầu tạo mô sẹo và sau khi chuyển sang môi trường MS bổ sung BA 0,1mg/l + NAA 0,01mg/l các rễ lại tiếp tục kéo dài và không có
sự xuất hiện phôi
Ở các nghiệm thức còn lại, sau 10 ngày chuyển mẫu cấy sang môi trường MS bổ sung
BA 0,1mg/l + NAA 0,01mg/l, đều có sự xuất hiện phôi và không có sự có mặt của rễ; nghiệm thức cảm ứng sau 13 ngày cho kết quả tốt nhất (Bảng 2) Số phôi trung bình/mẫu cấy xuất hiện phôi không có sự khác biệt nhiều: từ 20- 30 phôi
Trang 13Các số trung bình bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa ở mức p=0,05
Thí nghiệm 3: Khảo sát môi trường thích
hợp cho sự phát triển của phôi
Sau 10 ngày chuyển mẫu cấy sang các môi
trường khác nhau cho sự phát triển của phôi, tỉ
lệ số mẫu cấy xuất hiện phôi ở các nghiệm thức
thử nghiệm không khác biệt so với đối chứng
(môi trường MS cơ bản), dao động trong
khoảng 20- 26,7% Tuy nhiên số phôi trung
bình/mẫu cấy xuất hiện phôi ở các nghiệm thức
thử nghiệm đều cao hơn (20- 30 phôi) so với
đối chứng (10- 20 phôi)
Thí nghiệm 4: Khảo sát loại, nồng độ auxin
lên hiệu quả cảm ứng phát sinh phôi từ vật
liệu khúc cắt tử diệp phôi thể hệ
Sau 3 ngày cảm ứng trên các môi trường
khác nhau, mẫu cấy bắt đầu tạo mô sẹo Sau 14
ngày, có sự xuất hiện phôi đạt đến giai đoạn hình cá đuối Sau 21 ngày trên môi trường cảm ứng, phôi ở các giai đoạn khác nhau xuất hiện với tần số cao trên bề mặt khối mô sẹo Cấu trúc giải phẫu phôi hình cầu được quan sát, phôi chưa phân hóa cực chồi và cực rễ nhưng
có dây treo ngắn gắn phôi vào mô sẹo (Hình 1.3)
Sau 10 ngày chuyển mẫu cấy sang môi trường MS bổ sung BA 0,1mg/l + NAA 0,01mg/l Tất cả các nghiệm thức đều xuất hiện phôi, môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l trước đó cho 91,7% mẫu cấy xuất hiện phôi (Bảng 3) Số lượng phôi trung bình/mẫu cấy từ khúc cắt tử diệp phôi thể hệ cao hơn so với vật
liệu khúc cắt từ lá non in vitro (Hình 1.4, Bảng
4)
Bảng 3 Tỉ lệ mẫu cấy có xuất hiện phôi ở các nghiệm thức khác nhau với khúc cắt tử diệp phôi thể hệ
Trang 14Bảng 4 Số lượng phôi trung bình/mẫu cấy khúc cắt tử diệp phôi thể hệ xuất hiện phôi ở các nghiệm
thức khác nhau sau khi mẫu cấy chuyển sang môi trường MS bổ sung BA 0,1 mg/l + NAA 0,01mg/l 10
Quy ước: +, số lượng phôi ít (1-10); ++, số lượng phôi tương đối ít (11-20); +++, số lượng phôi trung bình
(21-30); ++++, số lượng phôi tương đối nhiều (31-40); +++++, số lượng phôi nhiều (41-50); ++++++, số lượng phôi rất nhiều (> 50)
Thí nghiệm 5: Phân tích hoạt tính chất điều
hòa tăng trưởng thực vật
Sự thay đổi hoạt tính auxin, cytokinin trong
mẫu cấy khúc cắt phiến lá non in vitro theo thời
gian đặt trên môi trường cảm ứng (MS bổ sung 8mg/l picloram) được ghi nhận theo hình 2
Hình 1 Sự thay đổi hoạt tính auxin, cytokinin trong mẫu cấy khúc cắt phiến lá non in vitro theo thời gian đặt trên
môi trường cảm ứng MS bổ sung picloram 8mg/l Hoạt tính auxin và cytokinin đều tăng trong
quá trình cảm ứng tạo phôi đạt cao nhất vào
ngày thứ 13
Số phôi bất thường ghi nhận được trong
nghiên cứu này cao (80%), chủ yếu là phôi có
hay nhiều phôi dính nhau, phôi hình tách (cup shape)
Sự thay đổi hoạt tính auxin, cytoknin trong mẫu cấy khúc cắt phiến lá
non in vitro theo thời gian nuôi cấy
Trang 15Trang 19
Hình 1 1 Phôi ở các giai đoạn khác nhau từ khúc cắt thùy lá non in vitro sau 21 ngày đặt trên môi trường cảm ứng
MS bổ sung 2,4-D 4mg/l sau 21 ngày; 2.Phôi giai đoạn hai tử diệp với cực chồi và cực rễ sau 10 ngày chuyển sang môi trường MS cơ bản; 3 Phôi hình cầu vơi biểu bì sơ khởi từ vật liệu khúc cắt tử diệp phôi thể hệ sau khi đặt trên môi trường cảm ứng MS bổ sung picloram 4mg/l 21 ngày; 4 Một phần cụm phôi từ vật liệu khúc cắt tử diệp phôi
thể hệ sau khi chyển sang môi trường phát triển của phôi 10 ngày, trước đó đặt cảm ứng trên MT MS bổ sung
picloram 8mg/l
THẢO LUẬN
Trên đối tượng khoai mì, phôi đạt tới giai
đoạn có hai tử diệp sớm với hình thái bình
thường có thể thu nhận được ngay trên môi
trường có bổ sung auxin mạnh (2,4-D,
picloram) ở nồng độ cao trong môi trường nuôi
cấy (8mg/l) Kết quả này phù hợp với các
nghiên cứu khác [4], [5], [6], [8], [9], [10],
[11]
Theo nghiên cứu của Bùi Trang Việt và cs
(2004) [1], trên đối tượng cây lúa dòng Bằng
Ngọc, sau khi chuyển khối mô sẹo có khả năng
sinh phôi được tạo ra trên môi trường MS bổ sung 2,4-D 2mg/l + NAA 1mg/l + BA 0,5mg/l sang môi trường MS cơ bản, auxin ngoại sinh (NAA, 2,4-D) giảm nhẹ trong mẫu cấy Tuy nhiên, diển tiến quá trình phát sinh phôi có sự liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi auxin nội sinh; auxin nội sinh đạt đến đỉnh trong giai đoạn phôi hình cầu và sau đó giảm mạnh ở giai đoạn phôi hình chùy Trong nghiên cứu này, hoạt tính auxin và cytokinin nội sinh tăng ở ngày thứ 13 khi đặt mẫu cấy làkhúc cắt phiến
lá non in vitro trên môi trường cảm ứng bổ
Trang 16sung picloram 8mg/l Ngày thứ 13 là thời điểm
xuất hiện phôi hình cầu Có lẽ chính sự tăng
hoạt tính auxin và cytokinin nội sinh ở giai
đoạn này đã giúp cho sự phát triển tiếp theo của
phôi tới các giai đoạn sau đó
Auxin nội sinh giảm mạnh trong quá trình
tạo cơ quan phôi [1] Tuy nhiên, sau 21 ngày
nuôi cấy, ứng với thời điểm xuất hiện phôi hình
cá đuối và phôi có hai tử diệp, hoạt tính auxin
nội sinh không giảm so với ngày thứ 13 Kết
quả này do sự xuất hiện không đồng thời của
phôi ở các giai đoạn khác nhau sau 21 ngày
trên môi trường nuôi cấy (Hình 1.1) Có thể
phôi hình cầu tiếp tục xuất hiện trong ngày thứ
21 giúp cho hoạt tính auxin nội sinh trong mẫu
cấy cao Mẫu cấy còn đặt nuôi trên môi trường
auxin cao có lẽ cũng kích thích gia tăng hoạt
tính auxin nội sinh trong mô sẹo
Tóm lại, có thể do sự thu hút auxin từ khối
mô sẹo vào các tế bào ở giai đoạn tiền phôi và
khả năng sản xuất auxin cao từ các tế bào phía
trên phôi hình cầu giúp hoạt tính auxin nội sinh
cao ở ngày thứ 13 Sau đó, sự định hướng của
các PIN protein (protein vận chuyển auxin đi
ra) giúp cho sự di chuyển hữu cực của auxin
nội sinh từ phôi qua dây treo để vào khối mô
sẹo; auxin nội sinh từ mô sẹo sẽ đi vào môi
trường theo cơ chế khuếch tán Chính dòng
auxin nội sinh di chuyển hữu cực theo hướng
từ phôi hình cầu qua mô sẹo rồi vào môi trường
nuôi cấy cùng với sự gia tăng hoạt tính của
cytokinin là nhân tố quan trọng giúp cho phôi hình cầu tiếp tục phát triển trên môi trường có
bổ sung auxin ngoại sinh cao
Trong nghiên cứu này, số lượng phôi bất thường là cao (80%) Tần số phôi thể hệ bất thường cao đã được ghi nhận trong báo cáo của Trịnh Ngọc Nam và Nguyễn Du Sanh, 2009
trên đối tượng cây cà tím (Solanum melongena
phôi từ vật liệu lá non in vitro ở các nồng độ
được nghiên cứu
Thời gian cảm ứng trên môi trường MS bổ sung picloram 8mg/l sau 13 ngày (sau đó chuyển sang MT MS bổ sung NAA 1mg/l) cho hiệu quả phát sinh phôi cao hơn khi cho cảm ứng sau 21 ngày, với vật liệu làkhúc cắt lá non
Trang 17Trang 21
SOMATIC EMBRYOGENESIS OF CASSAVA (MANIHOT ESCULENTA CRANTZ)
VAR KM297
Vu Van Kien, Nguyen Du Sanh
University of Sciences, VNU-HCM
ABSTRACT: Somatic embryos of cassava var KM297 received from pieces of in vitro immature
leaf lobes or cotyledon of somatic embryos, were induced on the MS medium supplemented with 8mg/l picloram after 13 days inoculation in the dark condition Different states of embryo were obtained after
10 days cultured on MS medium supplemented with 0.1 mg/l BA and 0.01mg/l NAA, in the light condition Role of endogenous AIA and Zeatin of the globular state of embryos was studied
Keywords: Callus, cassava, induction, picloram, somatic embryos
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Trang Việt, Phan Ngô Hoang,
Nguyễn Thị Huệ, Trần Thanh Hương,
Trần Thị Bích Trinh, Đoàn Thị Phương
Thùy, Trịnh Cẩm Tú, Cao Minh Phương
Vai trò của auxin và cytokinin trong quá
trình sinh phôi thể hệ ở khoai tây, lúa,
chuối Tạp chí KHKT Nông Lâm nghiệp,
số 2: 64- 67 (2004)
[2] Đoàn Thị Phương Thùy và Bùi Trang
Việt Tìm hiểu sự phát sinh phôi thể hệ
từ mô sẹo có nguồn gốc lá khoai mì
(Manihot esculenta Crantz.) dòng cuống
trầu Tạp chí KHKT Nông Lâm nghiệp,
số 1: 19- 23 (2006)
[3] Hoàng Kim Anh, Ngô Kế Sương,
Nguyễn Xích Liên Tinh bột sắn và các
sản phẩm từ tinh bột sắn Nhà xuất bản
Khoa học và Kỹ thuật (2005)
[4] Le, B.V., Anh, B.L., Soytong, K., Danh,
N.D and Anh Hong, L.T Plant
regeneration of cassava (Manihot
esculenta Crantz.) plants Journal of Agricultural Technology 3(1): 121- 127
(2007)
[5] Ma, G., and Xu, Q Induction of somatic embryogenesis and adventitious shoots
from immature leaves of cassava Plant
Cell, Tissue and Organ Culture 70: 281–
288 (2002)
[6] Raemakers, C.J.J.M., Amati, M., Staritsky, G., Jacobsen E., and Visser, R.G.F Cyclic Somatic Embryogenesis and Plant Regeneration in Cassava
Annals of Botany 71: 289- 294 (1993)
[7] Stamp, J.A and Henshaw, G.G Somatic
embryogenesis in cassava Zeitschriff fur
(1982)
[8] Stamp, J.A and Henshaw, G.G
Secondary somatic embryogenesis and
plant regeneration in cassava Plant Cell,
Tissue and Organ Culture 10: 27- 33
(1987)
Trang 18[9] Stamp, J.A and Henshaw, G.G Somatic
embryogenesis from clonal leaf material
of cassava Annals of Botany 59: 45- 50
(1987)
[10] Szabados, L., Hoyos, R., Roca, W In
vitro somatic embryogenesis and plant
regeneration in cassava Plant Cell
Reports 6: 248- 251 (1987)
[11] Taylor, N.J., Edwards, M., Kiernan, R.J.,
Davey, C.D.M., David Blakesley, D.,
and Henshaw, G.G Development of
friable embryogenic callus and
embryogenic suspension culture systems
in cassava (Manihot esculenta Crantz)
Natural Biotechnology, volume 14: 721-
230 (1996)
[12] Trịnh Ngọc Nam, Nguyễn Du Sanh Khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát sinh
phôi thế hệ cà tím (Solanum melongena L.) Tạp chí Phát triển Khoa Học &
Công nghệ Đại Học Quốc Gia Tp.HCM,
Tập 12 (17): 71-80 (2009)
Trang 19Trang 23
KHẢO SÁT SỰ TẠO MÔ SẸO CÓ KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP CAPSAICINOID
TỪ CÂY MẦM ỚT CAPSICUM SP
Võ Thanh Phúc, Lê Thị Thuỷ Tiên
Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 21 tháng 03 năm 2011, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 20 tháng 11 năm 2011)
TÓM TẮT: Mô sẹo hình thành từ trụ hạ diệp và tử diệp của cây mầm ớt Capsicum sp in vitro
trên môi trường MS bổ sung kinetin 0,5 mg/l với 2,4-D hoặc NAA nồng độ thay đổi (1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và 3,0 mg/l) Sự hình thành mô sẹo từ tử diệp trong điều kiện tối tốt hơn trong điều kiện chiếu sáng, ngược lại, mẫu cấy từ trụ hạ diệp tạo sẹo tốt trong điều kiện chiếu sáng Mô sẹo có dạng bở và tăng trưởng tốt hơn trên môi trường bổ sung 2,4-D và kinetin Mô sẹo từ tử diệp tăng trưởng tốt nhất trên môi trường
có D 3,0 mg/l và kinetin 0,5 mg/l Mô sẹo từ trụ hạ diệp tăng trưởng tốt nhất trên môi trường có
2,4-D 1,5 mg/l và kinetin 0,5 mg/l Capsaicinoid có mặt trong mô sẹo ở tất cả các nghiệm thức thí nghiệm,
được xác định bằng phương pháp sắc kí bản mỏng
Từ khóa: capsaicinoid, cây mầm ớt, mô sẹo
GIỚI THIỆU
Ớt là một trong những loại cây trồng phổ
biến trên thế giới Thành phần tạo nên vị cay và
nóng của các loài ớt là một nhóm hợp chất
alkaloid liên quan đến capsaicin (8-methyl
6-nonenoyl- vanillylamine) được gọi là
capsaicinoid Các hợp chất này giúp thực vật
chống lại sự xâm hại của động vật, một số vi
khuẩn và nấm, …
Capsaicinoid được sử dụng trong công
nghiệp thực phẩm (sản xuất các sốt cay,…),
dược phẩm (sản xuất thuốc giảm đau cơ,…),
quân sự (thành phần chính trong thuốc xịt
phòng vệ,) Capsaicin còn được nhận thấy có
khả năng chống ung thư và chống oxi hóa
mạnh [2]
Hiện nay, nhu cầu về hợp chất này trong thực
phẩm cũng như dược phẩm đang tăng cao
Trong khi đó, qui trình sản xuất capsaicin
thương mại từ ớt phải trải qua nhiều bước tinh sạch phức tạp Do đó, nhiều nghiên cứu về khả năng sinh tổng hợp capsaicin của tế bào ớt
Capsicum sp in vitro đã được tiến hành nhằm
mục đích tiến tới sản xuất capsaicin ở qui mô công nghiệp có điều khiển chặt chẽ
Thí nghiệm này được tiến hành nhằm khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố lên sự hình thành, tăng trưởng và tổng hợp capsaicinoid
của mô sẹo từ cây mầm ớt Capsicum sp như
nguồn gốc mẫu cấy, chất điều hòa sinh trưởng thực vật và điều kiện chiếu sáng
THỰC NGHIỆM Vật liệu
Tử diệp và trụ hạ diệp từ cây mầm ớt trên môi trường MS bổ sung myo-inositol 100 mg/l, sucrose 20 g/l, agar 6 g/l Hột giống tạo cây
Trang 20con là hột giống ớt cay Capsicum sp F1TN
139 (công ty TNHH - TM Trang Nông)
Phương pháp
Khảo sát ảnh hưởng của nguồn gốc mẫu
cấy, chất điều hòa sinh trưởng và điều kiện
chiếu sáng lên sự hình thành và tăng trưởng
của mô sẹo
Môi trường tạo sẹo là môi trường MS có bổ
sung myo-inositol 100 mg/l, sucrose 30 g/l,
agar 6,5g/l, kinetin 0,5 mg/l và auxin (2,4-D,
NAA) với các nồng độ 1; 1,5; 2; 2,5 và 3 mg/l
Mẫu cấy được duy trì ở nhiệt độ 25 ± 2oC, ẩm
độ 70 ± 5% Thí nghiệm được tiến hành trong
điều kiện sáng (2800 lux, 16 giờ/ngày) và trong
tối Mô sẹo hình thành sẽ được cấy chuyền sau
mỗi 3 tuần
Thu nhận và xác định sự hiện diện của
capsaicinoid trong mô sẹo bằng phương pháp
sắc kí bản mỏng
Mô sẹo 9 tuần tuổi được sấy ở nhiệt độ
40-50oC cho đến khô, sau đó được nghiền nhuyễn
để thu bột nguyên liệu Dung môi sử dụng để ly
trích capsaicinoid là aceton khan Dung dịch sau trích ly được ly tâm với tốc độ 10 000 vòng/phút để thu dịch chiết có chứa capsaicinoid [6] Bản mỏng sắc ký được sử dụng là bản silicagel tráng nhôm (Merck 60
F254) 10 x 10 cm Tiến hành chấm sắc ký dịch chiết từ mô sẹo song song với dịch chiết từ trái
ớt để so sánh Hệ dung môi di chuyển là benzene: methanol 16: 1 (theo thể tích) Phát hiện capsaicinoid bằng cách ngâm bản sắc ký
phosphomolybdic acid 3%, sau đó, lấy bản mỏng ra và để khô tự nhiên Sau 12 giờ, thu kết quả sắc kí Vệt capsaicin sẽ hiện màu xanh dương với giá trị Rf = 0.16 [2]
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Sự hình thành mô sẹo từ mẫu cấy
Sự tạo mô sẹo trong nuôi cấy in vitro phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: kiểu gen, loại mô, cơ quan, chất điều hòa sinh trưởng thực vật nội sinh và ngoại sinh bao gồm loại, nồng độ và tỉ
lệ auxin/ cytokinin … (Pierik, 1987) [5]
Bảng 1 Sự hình thành mô sẹo từ tử diệp và trụ hạ diệp cây mầm ớt trên môi trường bổ sung kinetin 0,5
mg/l với 2,4-D nồng độ thay đổi sau 7 ngày nuôi cấy
2,4-D (mg/l) Kinetin (mg/l) Mẫu cấy Tỷ lệ mẫu cấy tạo sẹo (%)
Trang 21Trang 25
Bảng 2 Sự hình thành mô sẹo từ tử diệp và trụ hạ diệp cây mầm ớt trên môi trường bổ sung kinetin 0,5
mg/l với NAA nồng độ thay đổi sau 7 ngày nuôi cấy
Mô sẹo hình thành từ vết thương trên mẫu
cấy tử diệp và trụ hạ diệp cây mầm ớt Mô sẹo
mới hình thành có dạng bở, màu trắng đục,
chuyển dần sang màu vàng trong theo sự kéo
dài thời gian nuôi cấy (Hình 1a, 1b và 1c) Môi
trường có nồng độ auxin cao kích thích sự hình
thành mô sẹo nhanh hơn trên môi trường có
nồng độ auxin thấp (Bảng 1 và 2) Sự khởi tạo
mô sẹo chậm hơn trên các môi trường có nồng
độ auxin thấp có thể do sự giảm hoạt tính
enzyme RNA polymerase liên quan đến quá trình phiên mã cần thiết cho hoạt động phân chia tế bào [7]
Sự ảnh hưởng của điều kiện sáng tối lên quá trình hình thành mô sẹo không rõ ràng Tuy nhiên, nhìn chung điều kiện tối thuận lợi cho việc hình thành mô sẹo từ mẫu cấy tử diệp, điều kiện sáng thích hợp cho sự hình thành mô sẹo từ trụ hạ diệp
Hình 1 Sự tăng trưởng của mô sẹo có nguồn gốc từ tử diệp trên môi trường MS bổ sung 2,4-D 3,0 mg/l và
kinetin 0,5 mg/l trong điều kiện sáng (a) mô sẹo sau 2 tuần nuôi cấy, (b) mô sẹo sau 6 tuần nuôi cấy, (c) mô sẹo sau 9 tuần nuôi cấy
Mô sẹo trên môi trường chứa NAA và
kinetin có dạng chắc và có sự hình thành rễ bất
định Trong khi đó, mô sẹo trên môi trường
chứa 2,4-D tăng trưởng tốt mà không có sự
phát sinh hình thái Rễ bất định hình thành
nhiều hơn trên môi trường có nồng độ NAA
Trang 22thấp (1,0 và 1,5 mg/l) Trên các môi trường có
nồng độ NAA cao hơn, sự tăng trưởng của mô
sẹo chiếm ưu thế Sự cảm ứng rễ cần một nồng
độ auxin cao nhưng để kéo dài phác thể rễ thì
nồng độ auxin thấp là cần thiết [1] Cũng trên
môi trường có NAA, sự tạo rễ bất định từ mô
sẹo xảy ra mạnh trong điều kiện tối Sự phát
sinh rễ bất định trong điều kiện chiếu sáng ít
hơn trong tối có thể do auxin nội sinh bị phân
hủy [3]
Các yếu tố ảnh hưởng lên sự tăng trưởng
của mô sẹo
Auxin
Mô sẹo từ tử diệp tăng trưởng tốt trên môi
trường có 2,4-D 3,0 mg/l nhưng mô sẹo từ trụ
hạ diệp tăng sinh mạnh nhất trên môi trường có
2,4-D 1,5 mg/l (Hình 2, 3) Nhu cầu về nồng độ
auxin cho sự phân chia của tế bào khác nhau
tùy theo kiểu di truyền hay mức độ nhạy cảm
của tế bào trong mô hay cơ quan nào đó [1]
Với mẫu cấy là trụ hạ diệp, môi trường có
kinetin 0,5 mg/l phối hợp với 2,4-D 1,5 mg/l
hay NAA 1,5 mg/l thích hợp cho sự gia tăng
trọng lượng tươi của mô sẹo (Hình 2, 4) Nồng
độ auxin thấp hơn hoặc cao hơn đều hạn chế sự
gia tăng sinh khối Taiz và Zeiger (2002) cho
rằng nồng độ auxin tối ưu sẽ hoạt hóa một số
enzyme, dẫn đến tăng hàm lượng DNA, RNA
và protein giúp cho sự phân chia của tế bào mô
sẹo Nồng độ auxin ngoại sinh thấp hơn nồng
độ tối ưu sẽ làm giảm IAA nội sinh cần thiết cho sự hoạt hóa các enzyme liên quan đến sự phiên mã RNA [7] Trong khi đó, nồng độ auxin cao quá sẽ cảm ứng sinh tổng hợp ethylene Sự tích lũy ethylene dù chỉ một lượng nhỏ trong bình nuôi cấy có thể ức chế sự sinh trưởng và phát triển của nhiều mẫu cấy thực vật [3]
Sự phối hợp giữa 2,4-D và kinetin kích thích
sự hình thành và tăng trưởng của mô sẹo tốt hơn môi trường có sự phối hợp giữa NAA và kinetin Mô sẹo trên môi trường có 2,4-D và kinetin có màu trắng, dạng bở và tăng sinh nhanh, thích hợp để làm nguyên liệu tạo dịch treo tế bào Kết quả này phù hợp với kết luận của Phillips và Hubstenberger (1985) khi các ông cho rằng 2,4-D là chất điều hòa sinh trưởng tốt nhất trong sự tạo sẹo từ cây ớt
Capsicum [4]
Ánh sáng
Ánh sáng làm chậm sự tăng trưởng của mô sẹo (Hình 2 -5) Nguyên nhân có thể là do sự phân hủy của auxin tự nhiên trong mẫu cấy Bên cạnh đó, ánh sáng có thể kích thích sản xuất các hợp chất phenol trong mô sẹo ở một
số loài thực vật Các hợp chất phenol này có thể liên kết với các enzyme liên quan đến sự tăng trưởng của tế bào và ngăn cản sự hoạt động của các enzyme này [1]
Trang 23Trang 27
1.989
2.269 2.303
2.896 1.882.0171.827
1.832 1.61 1.752
2.202 2.589 2.628 2.856 2.973
3.676 3.23 3.993
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 5
Hình 2 Sự biến thiên trọng lượng tươi của mô sẹo từ trụ hạ
diệp trên môi trường có kinetin 0,5 mg/l và 2,4-D sau 6 tuần
nuôi cấy
Hình 3 Sự biến thiên trọng lượng tươi của mô sẹo từ tử
diệp trên môi trường có kinetin 0,5 mg/l và 2,4-D sau 6
tuần nuôi cấy
1.593 1.715 1.6981.896
1.4121.5951.314 1.534
0.776 1.316
0.652 0.767 0.754
1.357 0.952 1.631 1.209 1.234 0.8861.078
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 5
Hình 4 Sự biến thiên trọng lượng tươi của mô sẹo từ trụ hạ
diệp trên môi trường có kinetin 0,5 mg/l và NAA sau 6 tuần
nuôi cấy
Hình 5 Sự biến thiên trọng lượng tươi của mô sẹo từ tử
diệp trên môi trường có kinetin 0,5 mg/l và NAA sau 6
tuần nuôi cấy
Xác định sự hiện diện của capsaicinoid trong mô sẹo
Hình 6 Kết quả xác định sự hiện diện của capsaicinoid trong mô sẹo từ trụ hạ diệp trên môi trường bổ sung 2,4-D
và kinetin ở điều kiện sáng trên bản mỏng sắc kí
M1: dịch chiết ớt
M2, M3, M4, M5, M6: dịch chiết mô sẹo trên môi trường có 2,4-D (1; 1,5; 2; 2,5; 3 mg/l) và kinetin 0,5 mg/l
Trang 24Kết quả từ bản mỏng sắc kí cho thấy có sự
hiện diện của capsaicinoid trong mô sẹo qua sự
xuất hiện của các chấm màu xanh dương ở vị
trí Rf = 0.16 (Hình 6) Ngoài chấm màu xanh
dương ở vị trí Rf = 0.16, còn có sự xuất hiện
của các chấm khác ở các vị trí có giá trị Rf cao
hơn, được tạo ra do các hợp chất có tính khử
trong mẫu tác dụng với phosphomolybdic acid
Các vệt này xuất hiện ở cả mẫu dịch chiết ớt và
mẫu dịch chiết mô sẹo Điều này chứng tỏ mẫu
sẹo có thể chứa các hợp chất tương tự như
trong quả ớt
Các mẫu mô sẹo từ tử diệp và trụ hạ diệp
trên các môi trường và điều kiện nuôi cấy còn
lại đều thu được kết quả tương tự Như vậy,
qua kết quả thu được trên bản mỏng sắc ký, ban
đầu có thể nhận định sự hiện diện của nhóm
hợp chất capsaicinoid trong mô sẹo có nguồn
gốc từ tử diệp và trụ hạ diệp cây mầm ớt Tuy
nhiên, mẫu cấy, nồng độ chất điều hòa sinh
trưởng cũng như điều kiện nuôi cấy nào là tối
ưu cho tích lũy capsaicinoid vẫn chưa xác định được Vì vậy, việc định lượng capsaicinoid cần được tiến hành để xác định được nghiệm thức tối ưu cho sự tích lũy capsaicinoid trong mô sẹo làm nguồn nguyên liệu tạo dịch treo tế bào
D 3,0 mg/l, mô sẹo từ trụ hạ diệp tăng trưởng tốt nhất trên môi trường có kinetin 0,5 mg/l và 2,4-D 1,5 mg/l trong điều kiện tối Capsaicinoid có mặt trong mô sẹo ở tất cả các nghiệm thức thí nghiệm, được xác định bằng phương pháp sắc ký bản mỏng
STUDYING ON CALLUS FORMATION FROM CHILLI PLANTLET CAPSICUM SP
AND CAPSAICINOID ACCUMULATION IN VITRO
Vo Thanh Phuc, Le Thi Thuy Tien
University of Technology, VNU-HCM
ABSTRACT: Callus was initiated from hypocotyls and cotyledons explants of chilli Capsicum
sp in vitro on MS medium with 0,5 mg/l kinetin and 2,4-D /NAA (1,0; 1,5; 2,0; 2,5 and 3,0 mg/l) Callus from cotyledon explants was induced in the dark better than in the light, whereas callus from hypocotyl explants was initiated in the light better than in the dark Callus was more friable and grew faster on medium with 2,4-D and kinetin MS medium with 3,0 mg/l 2,4-D and 0,5 mg/l kinetin was optimal for the growth of callus from cotyledon explants Besides, callus from hypocotyl explants grew best on MS
Trang 25Trang 29
medium with 1,5 mg/l 2,4-D and 0,5 mg/l kinetin Capsaicinoid from callus which was determined by
thin layer chromatography was recognized in all treatment experiments
Key words: capsaicinoid, chilli plantlet, callus
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Đức Lượng, Lê Thị Thủy Tiên
Công nghệ tế bào Nhà xuất bản đại học
quốc gia TP Hồ Chí Minh (2006)
[2] De, A.K Capsicum – Medicinal and
aromatic plants- Industrial Profiles
Taylor and Francis Group (2003)
[3] George, E.F et al Plant Propagation by
Tissue Culture Springer (2008)
[4] Phillips, G.C., Hubstenberger
Organogenesis in pepper tissue cultures
Plant Cell Tissue Organ Culture 4,
261-269 (1985)
[5] Pierik In vitro culture of higher plants Martinus Nijhoff Publishers, Dordrecht,
Boston, Lancaster (1987)
[6] Sadasivam, S et al Biochemical
Publishers (1996)
[7] Taiz, L., Zeiger, E Auxin: Plant
Physiology Sinaver Associates Inc Pub
(2002)
Trang 26SÀNG LỌC VÀ THU NHẬN HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA TỪ
DỊCH CHIẾT CÂY DROSERA INDICA L NUÔI CẤY IN VITRO
Quách Ngô Diễm Phương, Hoàng Thị Thanh Minh, Lê Phi Yến, Nguyễn Kim Phi Phụng,
Bùi Văn Lệ
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 21 tháng 03 năm 2011, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 01 tháng 06 năm 2011)
TÓM TẮT: Dịch chiết các loài Drosera đã từng được chứng minh về khả năng kháng oxy hóa từ
rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như từ khả năng trị liệu trong những bài thuốc dân gian Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sàng lọc và ly trích thành công một hợp chất flavonoid từ phân đoạn cao chiết có hoạt tính kháng oxy hóa từ sinh khối cây Drosera indica L nuôi cấy in vitro Hợp chất được tinh sạch bằng các phương pháp sắc ký và xác định cấu trúc là quercetin bằng các kỹ thuật 1 H-, 13 C- NMR, DEPT và COSY, HSQC, HMBC Hàm lượng hoạt chất này trong cây cũng đã được xác định bằng
phương pháp sắc ký lỏng cao áp HPLC
Từ khóa: Drosera indica L., hợp chất kháng oxy hóa, quercetin
GIỚI THIỆU
Trong cơ thể con người có rất nhiều loại gốc
tự do, mà các gốc nguy hiểm hơn cả là
superoxide, ozone, hydrogen peroxide, lipid
peroxide và hydroxyl radical Theo các nhà
khoa học, gốc tự do có thể là thủ phạm gây ra
tới trên 100 bệnh, đáng kể nhất gồm có: bệnh
xơ vữa động mạch, ung thư, Alzheimer,
Parkinson, đục thủy tinh thể, tiểu đường, cao
huyết áp không nguyên nhân, xơ gan Mặc dù
đã có hệ thống kháng oxy hóa nội sinh giúp cơ
thể chống lại những tác nhân oxy hóa gây hại,
nhưng hệ thống này tỏ ra không hiệu quả, nhất
là khi con người ở giai đoạn cuối cuộc đời Do
đó, phương pháp hiệu quả nhất chính là bổ
sung các chất có hoạt tính kháng oxy hóa vào
cơ thể qua con đường tiêu hóa
Drosera là họ cây thuốc quý được nghiên
cứu nhiều trên thế giới về giá trị dược tính và
khả năng ứng dụng Từ xa xưa, Drosera đã
được dùng trong y học cổ truyền để chữa các bệnh: kháng lao, chống ung thư, chữa phong, chống hen suyễn, kháng viêm, kháng oxy hóa
Ở Việt Nam, hiện nay có 3 loài Drosera được tìm thấy: D.burmanni Vahl, D.peltata J.E.Sm
và D.indica L., nhưng vẫn chưa được quan tâm
đúng mức với số lượng nghiên cứu rất hạn chế
Trong khi, nhiều loài Drosera đã trở thành loài
có nguy cơ tuyệt chủng cao trên thế giới, trong
đó có cả 2 loài D.burmanni và D indica Vì lí
do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm sàng lọc và thu nhận hợp chất có hoạt tính
kháng oxy hóa từ cây D.indica L in vitro với
mục đích góp phần làm sáng tỏ giá trị dược tính của loài này và khả năng thu nhận hợp chất
thứ cấp từ nguyên liệu nuôi cấy in vitro
Trang 27Trang 31
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Điều chế và sàng lọc cao
Nguồn nguyên liệu là cây D indica L in
vitro do phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học
Thực vật - trường Đại học Khoa học Tự nhiên
cung cấp
Toàn cây tươi đem sấy khô ở 500C, xay
nhuyễn được bột cây khô Bột cây khô lần lượt
đem ngâm dầm trong các loại dung môi có độ
phân cực tăng dần: n-hexan, chloroform, ethyl
acetate, aceton, ethanol ở nhiệt độ phòng, sau ít
nhất 24 giờ đem lọc Dịch lọc tổng cộng sau
nhiều lần ngâm chiết (thu lấy đến khi dịch lọc
gần như trong suốt) được cô quay chân không
thu được các loại cao
Các loại cao được thử nghiệm hoạt tính
kháng oxy hóa bằng phương pháp dựa trên tính
khử của Yen và Duh (1993) Lặp lại 2 lần cho
mỗi nghiệm thức
Phương pháp của Yen và Duh (1993)
Hút 1ml chất thử nghiệm; 2,5ml dung dịch
đệm sodium phosphate 0,2M pH 6,6; 2,5ml
dung dịch potassium ferricyanide 1%; ổn định
ở 200C sau 20 phút; thêm 2,5ml acid
tricloroacetic 10%; ly tâm 2000 vòng/phút
trong 10 phút; thu dịch nổi; hút 1ml dịch nổi
qua ống nghiệm khác; thêm 2ml nước cất và
0,5ml dung dịch FeCl3 1%; lắc đều rồi để yên
sau 5 phút; đo ở bước sóng 700nm Giá trị hấp
thu càng cao thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa
càng mạnh
Trích ly và cô lập hợp chất kháng oxy hóa
Từ cao có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh
nhất, tiến hành cô lập hợp chất có hoạt tính
kháng oxy hóa bằng các phương pháp: sắc ký
cột silicagel với hệ dung môi giải ly là (chloroform: ethyl acetate), sắc ký gel sephadex với hệ dung môi (chloroform: methanol) cho đến khi sản phẩm thu được chỉ
có 1 vệt tròn rõ khi kiểm tra bằng sắc ký lớp mỏng
Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của hợp chất có hoạt tính kháng oxy hóa sau khi cô lập
Hợp chất được thử nghiệm hoạt tính kháng oxy hóa theo 2 phương pháp: Thiobarbituric acid (TBA) và Ferric thyocynate (FTC) Lập lại
2 lần cho mỗi thí nghiệm
Phương pháp Thiobarbituric acid (TBA)
Phương pháp này dựa theo phương pháp ức chế quá trình peroxide hóa lipid của Ottolenghi (1959) và nhóm tác giả Kikuzaki (1993), với cơ sở: trong suốt quá trình oxy hóa, peroxide được phân hủy dần thành các hợp chất có trọng lượng phân tử thấp hơn Một trong những hợp chất như vậy là malonaldehyde, có thể được đo lường bằng phương pháp TBA vào ngày cuối của chu kỳ ủ (1 ngày sau khi mẫu đối chứng đạt cực đại) Malonaldehyde là sản phẩm chính khi lipid bị oxy hóa, nó phản ứng với TBA cho phức chất có màu đỏ, hấp thu cực đại ở 532nm
Do đó, phương pháp tiến hành như sau: hòa tan 4mg mẫu thử trong 4ml ethanol 96%, thêm 4,1ml acid linoleic + 8ml đệm phosphate 0,05M với pH7 + 3,9ml nước cất; đem hỗn hợp
ủ trong tối ở 400C Cho vào một ống nghiệm: 1ml hỗn hợp + 2ml TCA 20% + 2ml TBA 20%, đặt ống nghiệm trong bể nước sôi trong
10 phút, sau đó làm lạnh, đem ly tâm 3000 vòng/phút trong 20 phút, dịch nổi sau ly tâm
Trang 28được đo độ hấp thu ở 532nm sau mỗi 24 giờ
Đo đến sau khi mẫu chứng âm đạt cực đại một
ngày
Phương pháp Ferric thyocynate (FTC)
Cũng là một trong những phương pháp phổ
biến được sử dụng để đo mức độ per-oxy hóa
trong suốt giai đoạn đầu tiên của sự oxy hóa
chất béo: hòa tan 4mg mẫu thử trong 4ml
ethanol 96%, thêm 4,1ml acid linoleic + 8ml
đệm phosphate 0,05M với pH7 + 3,9ml nước
cất; đem hỗn hợp ủ trong tối ở 400
C Cho vào một ống nghiệm: 0,1ml hỗn hợp + 9,7ml
ethanol 75% + 0,1ml FeCl2 0,02M; để yên ống
nghiệm trong 3 phút, đo độ hấp thu ở 500nm
sau mỗi 24 giờ Đo đến sau khi mẫu chứng âm
đạt cực đại một ngày
Chỉ tiêu đánh giá của 2 phương pháp
- Giá trị hấp thu càng thấp thể hiện hoạt tính
kháng oxy hóa càng mạnh
- Phần trăm hoạt tính kháng oxy hóa: AI (%)
= 100 X (A0 – A)/ A0
Trong đó, A0 là độ hấp thu của phản ứng đối
chứng (phản ứng không chứa chất kiểm tra) và
A là độ hấp thu của mẫu cần kiểm tra hoạt tính
chống oxy hóa
Xác định cấu trúc và đo hàm lƣợng hợp chất đã cô lập
Dùng phối hợp các phương pháp hóa lý hiện đại: phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều 1H-NMR, 13C-NMR; phổ 2 chiều 1H-1H COSY, HSQC, HMBC,và kỹ thuật DEPT (thực hiện trên máy cộng hưởng từ hạt nhân BRUKER AC.500 tần số cộng hưởng 500 MHz cho 1H và
125 MHz cho 13C-NMR) Hàm lượng hợp chất
cô lập được có trong cao ban đầu được xác định bằng phương pháp qui về 100% diện tích trong sắc ký lỏng cao áp (HPLC) với chất chuẩn là hợp chất cô lập từ cây đã xác định cấu trúc, với cột Hypersil 5 ODS, pha động là chloroform: methanol (9:1), tốc độ chảy 1 ml/phút, nhiệt độ phòng, detector phát hiện ở bước sóng 336nm, thể tích bơm là 25l
KẾT QUẢ-BIỆN LUẬN Điều chế và sàng lọc cao có hoạt tính kháng oxy hóa
Sau khi hút ẩm và sấy khô các loại cao đến khối lượng không đổi, so sánh với khối lượng khô ban đầu và thử nghiệm hoạt tính kháng oxy hóa, kết quả cho thấy cao chloroform là cao có năng suất thu được cao nhất đồng thời có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất
Bảng 1 Năng suất các loại cao thu được từ Drosera indica L với khối lượng khô ban đầu là 503,58 g
Dung môi Khối lƣợng cao (g) Thu suất cao so với khối lƣợng khô (%)
Trang 29Trang 33
Hình 1 Biểu đồ thể hiện tính khử của các loại cao
ĐC: đối chứng, VitE: vitamin E, I1-I5: các loại cao D.indica L theo thứ tự: n-hexan, chloroform, ethyl acetate,
aceton, ethanol
Trích ly và cô lập hợp chất kháng oxy hóa
Cao chloroform được sắc ký cột silicagel với
hệ dung môi chloroform và ethyl acetate với độ
phân cực tăng dần: ethyl acetate có nồng độ từ
0% - 100% trong chloroform, sắc ký gel
sephadex LH-20 với hệ dung môi chloroform: methanol (1:1) Hợp chất sau khi kết tinh lại trong chloroform: ethyl acetate (3:7) là tinh thể hình kim dài màu vàng (Hình 2), có điểm nóng chảy 3160C
Hình 2 Tinh thể hình kim dài của hợp chất cô lập và vệt chất khi giải ly bằng hệ dung môi chloroform: aceton (1:1)
+ 7 giọt acid acetic
Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của hợp
chất sau khi cô lập
Hợp chất thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa
mạnh ở cả hai phương pháp FTC và TBA (hoạt
tính kháng oxy hóa cao hơn chất chuẩn vitamin E) (Hình 3 -5)
Trang 30Hình 3 Đồ thị thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa của hợp chất theo phương pháp FTC
Hình 4 Đồ thị thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa của hợp chất theo phương pháp TBA
Hình 5 Biểu đồ thể hiện phần trăm hoạt tính kháng oxy hóa của hợp chất
biết hợp chất có hoạt tính kháng oxy hóa cô lập được chính là 2-(3,4-dihydrophenyl)-3,5,7-trihydroxy-4H-chromen-4-one (quercetin,
C15H10O7, M=302.226) (Hình 7)
Ngày Ngày
Trang 31Trang 35
Hình 6 Kết quả chạy phổ HSQC, HMBC (CDCl3)
O
OH HO
O
OH
OH
1 2
3 4 5
6
7 8 9
10
1' 2' 3'
4' 5' 6'
13 C-NMR (CDCl 3 ) ( ppm)
HMBC ( 1 H 13 C)
Trang 32Xác định hàm lượng
Cây tươi D.indica L in vitro được khảo sát
bằng HPLC, qua so sánh với mẫu chuẩn, cho
thấy sự hiện diện của quercetin với hàm lượng
là 0,058 mg/g (FW) trong cây D indica L in
vitro (mũi thứ 11, thời gian lưu là 6,622, chiếm
% diện tích là 5,42%)
KẾT LUẬN
Drosera indica L nuôi cấy in vitro có chứa 1
hợp chất có khả năng kháng oxy hóa mạnh được cô lập từ cao chloroform bằng sắc ký cột silicagel với hệ dung môi chloroform: ethyl acetate (3:7) và sắc ký cột sephadex với hệ dung môi chloroform: methanol (1:1), hợp chất được xác định là quercetin Hợp chất này có
hàm lượng 0,058mg/g cây in vitro tươi khi xác
University of Science, VNU-HCM
ABTRACTS: Extracts from Drosera species have been published as therapeutics, especially as
antioxidants In this research, quercetin was screened and isolated for antioxidant properties from D indica L in vitro plantlets Its structure has been elucidated on the basic of its spectral data mainly, 1 H-,
quercetin
Key words: Drosera indica L., antioxydants, quercetin
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Budzianowski J, Skrypczak L,
Kukulczanka K (1993) Phenolic
compounds of Drosera intermedia and
Drosera spathulata from in vitro
cultures Acta Hortic 330 Pp 277-280
[2] Culham A, Gornall RJ (1994) The
naphthoquinones in the Droseraceae
Biochem System Ecol 22 Pp 507-515
[3] Crouch, Finnie JF & Staden VJ (1990) Studies on isolation of plumbagin from
in vitro and in vivo grown Drosera
species Plant Cell, Tissue and Organ
Culture Vol.21 Pp 79-82
[4] Dalva TF, César CA, Helha OS, Terezinha JF, Elisangela V, Kátia EC,
Trang 33Trang 37
Juliana Feijó SD, Sílvio L, Dennis PS,
Raimundo BF (2004) Antimicrobial
Activity and Chemical Investigation of
Brazilian Drosera Mem Inst Oswado
Cruz, Rlo de Janeiro.Vol 99 No 7 Pp
753-755
[5] Grevenstuk T, Goncalves S, Almeida S,
Coelho N, Quintas C, Gaspar MN,
Romano A (2009), Evaluation of the
antioxidant and antimicrobial properties
of in vitro cultured Drosera intermedia
extracts, Nat Prod Commun Vol 4
Pp 1063-1068
[6] Houli LI, Guangxi Z, Weiwei Z, Yukun
M, Lingbing L (2006) Studies on the
preparation of quercetin solid lipid
nanoparticles and oral absorption in
mice, Nanoscience vol 11, pp 306-310
[7] Kolodziej H, Pertz HH, Humke A
(2002) Main constituents of a
commercial Drosera fluid extract and
their antagonist activity at muscarinic
M3 receptors in guinea-pig ileum, Die
[10] Mohd Z, Abdul-Hamid A, Osman A
(2002) Antioxidative activity of extracts from Mengkudu (Morinda citrifolia L.) root, fruit, leaf, Food Chemistry vol 78,
pp 227-231
[11] Zuofa Z, Jie jin, Liangen S (2008)
Antioxidant activities of the derivatives
of polysaccharide extracted from a
Chinese medical herb (Ramulus mori),
Food Sci Technol Res., vol 14, pp
160-168
Trang 34SỰ RA HOA IN VITRO CỦA CÂY DỀN XANH (Amaranthus viridis L.) TRONG ĐIỀU
KIỆN KHÔ HẠN DO PEG
Huỳnh Thị Diễm Phúc, Trịnh Cẩm Tú, Phan Ngô Hoang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 21 tháng 03 năm 2011, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 01 tháng 06 năm 2011)
TÓM TẮT: Sự thiếu nước là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển ở
thực vật Sự khô hạn gây ra bởi PEG 6000 cản sự tăng trưởng của rễ chính và kích thích sự phát triển
rễ phụ IAA 2mg/l kích thích sự ra hoa sớm thông qua sự cản kéo dài rễ chính và kích thích sự phát triển các rễ phụ Hoạt tính IAA tăng cao trong khi hoạt tính ABA trong rễ giảm mạnh khi cây chuyển từ giai đoạn dinh dưỡng sang giai đoạn ra hoa Vai trò của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật trong mối tương quan giữa phát triển rễ và ra hoa được thảo luận
Từ khóa: Amaranthus viridis, Polyethylene Glycol, phát triển rễ, sự khô hạn, sự ra hoa
MỞ ĐẦU
Thực vật có nhiều kiểu đáp ứng khác nhau
trước những điều kiện khô hạn để duy trì các
hoạt động sinh lý cần thiết như: tránh hạn (rễ
ăn sâu, đóng khí khẩu), chịu hạn (sản xuất
những tác nhân làm dịu stress), thoát hạn (hoàn
tất chu trình sống trong thời gian ngắn, trước
khi chết vì hạn) (Bùi Trang Việt 2002, Xiong
và cộng sự 2006) Dền xanh là loài thực vật có
khả năng chịu hạn tốt từng được sử dụng trong
các nghiên cứu đáp ứng với sự khô hạn (Liu và
Stützel 2004) Trong bài báo này, sự phát triển
của bộ rễ và sự ra hoa của cây Dền xanh đáp
ứng với sự khô hạn nhân tạo do PEG 6000
trong điều kiện in vitro được theo dõi Phân
tích sự biến đổi mô phân sinh, mối tương quan
giữa phát triển rễ và ra hoa cũng như vai trò
của các chất điều hòa tăng trưởng thực vật đã
được nghiên cứu
VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Cây Dền xanh (Amaranthus viridis L.) hai
ngày tuổi (rễ chính dài khoảng 4,2 ± 0,5mm với hai tử diệp ) được nảy mầm trong điều kiện
in vitro từ hạt trên môi trường MS½
(Murashige và Skoog 1962, khoáng đa lượng giảm 50%)
Phương pháp
Khảo sát sự phát triển hoa của cây Dền xanh (Amaranthus viridis L.)
Các cây Dền xanh in vitro hai ngày tuổi trên
môi trường MS½ được chuyển vào các ống nghiệm có chứa 12ml môi trường MS½ có hoă ̣c không có bổ sung IAA với nồng độ thay đổi từ 0,5 đến 2 mg/l Sự phát triển hoa (tỉ lệ ra hoa, thời điểm xuất hiện hoa) được theo dõi theo thời gian
Khảo sát sự phát triển rễ và ra hoa của cây Dền xanh trong điều kiện khô hạn được tạo bởi PEG
Trang 35Trang 39
Các cây Dền xanh in vitro hai ngày tuổi được
đặt cấy trên môi trường MS½ có hay không có
bổ sung PEG 6000 (Polyethylene Glycol ) với
nồng độ thay đổi từ 0,5 đến 5% Sự phát triển
của bộ rễ (số lượng rễ, chiều dài rễ chính, trọng
lượng tươi của bộ rễ) và sự phát triển hoa (tỉ lệ
ra hoa, thời điểm xuất hiện hoa ) được theo dõi
theo thời gian Tất cả các mẫu cấy đươ ̣c đă ̣t
trong điều kiện ánh sáng 3.000 ± 500lux
(12/12), nhiệt độ 28 ± 20C và ẩm độ 80 ± 5%
Biến đổi hình thái và giải phẫu học
Hình thái phát triển của bộ rễ cây Dền xanh
in vitro tăng trưở ng trong điều kiê ̣n khô ha ̣n
đươ ̣c theo dõi và chụp hình qua kính hiển vi soi
nổi Sự biến đổi của mô phân sinh ng ọn chồi
trong quá trình ra hoa của cây Dền xanh in
vitro được quan sát bằng cách thực hiê ̣n các lát
cắt do ̣c qua mô phân sinh ngo ̣n chồi , nhuộm
hai màu (đỏ carmin-xanh iod) và quan sát dư ới
kính hiển vi quang học
Hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng
thực vật
Hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng th ực
vâ ̣t nội sinh của bô ̣ rễ cây Dền xanh in vitro ở
giai đoa ̣n trước và sau giai đoạn ra hoa được
xác định bằng sinh trắc nghiệm sau sự ly trích
và cô lập trên sắc kí bản mỏng Silicagel F254,
với dung môi di chuyển là chloroform:
metanol: acetic acid (80: 15: 5), nhiệt độ 32oC
Xử lý số liệu
Các số liệu ghi nhận được xử lý thống kê
bằng phần mềm Statistical Program Scientific
System (SPSS) phiên bản 11.5
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN Sƣ̣ biến đổi của mô phân sinh và sự ra hoa
của cây Dền xanh trong điều kiện in vitro
Trong sự phát triển hoa của cây Dền xanh ,
mô phân sinh ngo ̣n dinh dưỡng với da ̣ng đỉnh nhọn đặc trưng sẽ tăng mạnh kích thước bề
rô ̣ng để trở thành mô phân sinh hoa tự với da ̣ng đỉnh bằng phẳng (Hình 1.1; 1.2), thời điểm này kích thước bề rộng của mô phân sinh hoa tự có thể đa ̣t đến 450 ± 40m Trong khi đó , ở trạng thái dinh dưỡng , kích thước bề rộng của mô phân sinh ngo ̣n chỉ khoảng 200 ± 30m Cùng với mô phân sinh ngo ̣n , các mô phân sinh dinh dưỡng ở vị trí nách lá ngay bên dưới cũng xảy
ra sự biến đổi tương tự để trở thành các mô phân sinh hoa tự ở nách lá
Khi mới hình thành, mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngọn hoạt động tạo ra các mô phân sinh hoa tự thứ cấp ở vùng ngoại vi trong khi các
mô phân sinh hoa tự ở vị trí nách lá hoạt động tạo các mô phân sinh hoa (Hình 1.3, 1.4, 1.5)
Mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngọn sau khi tạo một số mô phân sinh hoa tự thứ cấp sẽ tiếp tục tạo các mô phân sinh hoa bên dưới và sau cùng
sẽ trở thành mô phân sinh hoa ở đỉnh ngọn Dường như hoạt động của mô phân sinh hoa tự
ở vị trí nách lá gần giống hoạt động của mô phân sinh hoa tự thứ cấp dẫn xuất từ mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngọn Các mô phân sinh hoa khi được tạo ra sẽ tiếp tục phân hóa tạo các cơ quan hoa để hình thành một nụ hoa hoàn chỉnh (Hình 1.6; 1.7)
Như vậy, khác với Dendrobium, mô phân
sinh hoa tự luôn duy trì một vùng tế bào gốc đảm bảo cho sự kéo dài và tạo nụ hoa cho phát
Trang 36hoa (Trịnh Cẩm Tú và Bùi Trang Việt 2006) thì
ở Dền xanh, mô phân sinh hoa tự trở thành mô
phân sinh hoa trên cùng tương tự như cách phát
triển của hoa Tím Phi (Nguyễn Thị Luyến và
cô ̣ng sự 2008)
IAA kích thích sự ra hoa sớm cũng như gia
tăng tỷ lệ ra hoa cây Dền xanh Môi trường
MS½ bổ sung IAA với các nồng độ từ 0,5 đến
2mg/l đều tạo được hoa sớm hơn so với các cây
trên môi trường đối chứng MS½ Hơn nữa, sự
gia tăng nồng độ IAA từ 0,5 đến 2mg/l dẫn đến
sự gia tăng tỉ lệ ra hoa, đặc biệt là tỉ lệ này đạt
tỉ lệ 100% ở ngày thứ 67 trên môi trường có bổ
sung IAA 2mg/l (Bảng 1) Sự hiện diện của nụ
hoa đầu tiên được ghi nhận dưới kính hiển vi
soi nổi ở cây Dền xanh 55 ngày tuổi tăng
trưởng trên các môi trường MS½ có bổ sung
IAA trong khi ở cây Dền xanh tăng trưởng trên
môi trường MS½ là 94 ngày tuổi Ở thời điểm
này, các nụ hoa đã có lá đài màu xanh bao
ngoài cánh hoa, nhị và nhụy (Hình 8.1)
Ảnh hưởng của sự khô hạn lên sự phát
triển rễ và ra hoa cây Dền xanh in vitro
Phân tử PEG trơ, có cấu trúc chuỗi không
thấm nước, không bị hấp thu bởi thực vật,
thường được sử dụng như một tác nhân gây ra
sự khô hạn trong các nghiên cứu in vitro ở một
số cây họ đậu, Nho, Cà chua, Dền (Berg và
cộng sự 2006) Ở cây Dền xanh, sự hiện diện
của PEG trong môi trường nuôi cấy cản mạnh
sự kéo dài của rễ chính đồng thời kích thích sự
tạo mới rễ phụ và gia tăng trọng lượng tươi bộ
rễ Các biểu hiện thay đổi này của bộ rễ được
ghi nhận rõ nhất ở cây Dền xanh tăng trưởng
trên môi trường MS½ có PEG 1% trong giai
đoạn từ 24 đến 38 ngày tuổi (bảng 3 và 4) Đặc biệt, hoa chỉ xuất hiện trên môi trường MS½ có
bổ sung PEG 1% với tỷ lệ 33% ở 55 ngày tuổi
(Bảng 2) Như vậy, khác với Arabidopsis
thaliana, sự cản phát triển của rễ chính kích
thích sự ra hoa sớm (Trần Nguyễn Ngọc Sa, 2009), ở Dền xanh sự tăng số rễ phụ và trọng lượng tươi cả hệ rễ đã rút ngắn thời gian ra hoa
trong điều kiện khô hạn được tạo bởi PEG
Sự thay đổi hoa ̣t tính các chất điều hòa tăng trưởng thực vâ ̣t
Hoạt tính IAA trong rễ tăng mạnh khi các cây chuyển từ giai đoạn dinh dưỡng (38 ngày tuổi) sang ra hoa (55 ngày tuổi) ở môi trường
có bổ sung IAA 2mg/l hoặc thấp hơn khi được
bổ sung PEG 1% và không đổi ở môi trường không có sự tạo hoa (Bảng 5) Sự gia tăng hoạt tính của IAA nội sinh là cần thiết cho quá trình
ra hoa ở cây Dền xanh in vitro Mặt khác, IAA
được biết đến như một tác nhân gây kích thích tạo sơ khởi rễ nhưng cản tăng trưởng các sơ khởi này (Bùi Trang Việt, 2000) Có lẽ trong trường hợp này, IAA kích thích sự ra hoa sớm thông qua tác động cản sự tăng trưởng dài của
rễ chính và kích thích sự tạo nhiều rễ phụ Ngươ ̣c với IAA , hoạt tính ABA giảm trước và sau sự ra hoa ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i cho sự hình thành cơ quan hoa Sự khô hạn do PEG 1% làm gia tăng hoạt tính ABA trong rễ cây Dền xanh ở thời điểm trước và sau khi ra hoa đã ké o theo sự giảm tỷ lê ̣ ra hoa của các cây tăng trưởng trên môi trường này Theo Sharp
và cộng sự (2009), chính sự gia tăng ABA từ rễ dưới điều kiê ̣n khô ha ̣n cản sự cảm ứng của mô phân sinh trong quá trình ra hoa ở cây
Trang 37Trang 41
đóng vai trò cản sự phát triển hoa và chính điều
này đã làm giảm tỷ lệ ra hoa của các cây Dền
xanh tăng trưởng trong điều kiện khô hạn so
với các cây Dền xanh tăng trưởng trên môi
trường có bổ sung IAA 2mg/l
Tóm lại, điều kiện hạn đã thúc đẩy Dền xanh
rút ngắn chu trình phát triển với những biểu
hiện ở rễ như rễ phụ mới hình thành nhiều
nhưng bị cản kéo dài, trọng lượng gia tăng
mạnh sau khi rễ chính bị cản, từ đó thúc đẩy
hình thành hoa sớm Hoạt tính IAA cao dường
như thích hợp cho giai đoạn ra hoa và ABA
được sản xuất nhiều trong điều kiện khô hạn
góp phần cản sự phát triển hoa ở cây Dền xanh
KẾT LUẬN
Trong sự phát triển hoa cây Dền xanh, mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngọn hoạt động tạo mô phân sinh hoa thứ cấp và mô phân sinh hoa
Mô phân sinh hoa tự ở vị trí nách lá chỉ có thể tạo mô phân sinh hoa
Sự khô hạn gây ra bởi PEG 6000 ở nồng
độ 1% hoặc sự bổ sung IAA vào môi trường nuôi cấy kích thích sự ra hoa sớm cũng như gia tăng tỷ lệ ra hoa ở cây Dền xanh tăng trưởng
trong điều kiện in vitro
Trên môi trường có sự ra hoa sớm và mạnh (MS½ với IAA 2mg/l), hoạt tính IAA trong rễ tăng và hoạt tính ABA giảm khi cây chuyển từ
giai đoạn dinh dưỡng sang ra hoa
IN VITRO FLOWERING OF AMARANTHUS VIRIDIS L IN PEG-INDUCED
DROUGHT CONDITION
Huynh Thi Diem Phuc, Trinh Cam Tu, Phan Ngo Hoang
University of Science, VNU-HCM
ABSTRACT: Water deficit is one of the most important factors affecting plant physiology and
development Drought induced by PEG6000 inhibited main root and stimulated lateral root development 2mg/l IAA supplemented in MS½ media causes early flowering by suppressing main root elongation and stimulating lateral root development The increasing of IAA and decreasing of ABA in root are necessary in Amaranthus viridis flowering Roles of plant growth regulators on the relationship between root development and flowering were discussed
Key words: Amaranthus viridis, drought, flowering, Polyethylene Glycol, root development
Trang 38TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Berg L and Zeng Y.J., Response of
South African indigenous grass species
to drought stress induced by PEG 6000
South African Journal of Botany (72):
284-286 (2006)
[2] Bùi Trang Việt, Sinh lý thực vật – Phát
triển Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí
Minh, 333 tr (2000)
[3] Liu F and Stützel H., Biomass
partitioning, specific leaf area, and water
use efficiency of vegetable amaranth
(Amaranthus spp.) in response to
drought stress Scientia Horticulturae
(102): 15-27, (2004)
[4] Murashige T., and Skoog F., A revised
medium for rapid growth and bioassays
with tobacco tissue cultures Physiol
Plant 15: 473- 497 (1962)
[5] Nguyễn Thị Kim Luyến, Nguyễn Thị
Hồng Anh, Trịnh Cẩm Tú, Bùi Trang
Việt, Bùi Văn Lệ, Sự nuôi cấy mô phân
sinh ngọn và nụ hoa Tím phi
(Saintpaulia ionantha Wendl) Tạp chí
Phát triển Khoa học và Công nghệ ĐH
Quốc gia TP Hồ Chí Minh Vol 11 (7):
25-30 (2008)
[6] Sharp R.G., Else M.A., Cameron R.W and Davies W.J., Water deficits promote flowering in Rhododendron via regulation of pre and post initiation development Scientia Horticulturae
(120): 511-517 (2009)
[7] Trần Nguyễn Ngọc Sa, Ảnh hưởng của
sự tăng trưởng rễ lên sự ra hoa ở
(ecotype Columbia) Khóa luận cử nhân
Sinh học, 61 trang (2009)
[8] Trịnh Cẩm Tú và Bùi Trang Việt , Sử
dụng kỹ thuật nuôi cấy in vitro để nghiên cứu sự phát triển phát hoa Dendrobium
sonia Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh Vol 9 (9): 83-88 (2006)
[9] Xiong L., Wang R.G., Mao G., and Koczan J.M., Identification of drough tolerance determinants by genetic analysis of root response to drought stress and abscisic acid Plant Physiology (142): 1065-1074 (2006)
Trang 39Trang 43
Hình 1.1 Mô phân sinh dinh dưỡng ở đỉnh ngo ̣n cây Dền xanh 52 ngày tuổi trên môi trường MS½ với đỉnh nho ̣n
và hai phác thể lá
Hình 1.2 Mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngo ̣n cây Dền xanh 52 ngày tuổi trên môi trường MS½ có IAA 2mg/l
Hình 1.3 Mô phân sinh hoa tự ở đỉnh ngo ̣n cây Dền xanh với mô phân sinh hoa tự thứ cấ p đươ ̣c ta ̣o ra từ vùng ngoại vi
Hình 1.4 Mô phân sinh hoa tự ở vi ̣ trí nách lá (cấu trúc đỉnh nho ̣n gần giống mô phân sinh dinh dưỡng)
Hình 1.5 Mô phân sinh hoa tự ở vi ̣ trí nách lá với mô phân sinh hoa được ta ̣o ra từ vùng ngoa ̣i vi
Hình 1.6 Mô phân sinh hoa tự ở vi ̣ trí nách lá với mô ̣t nu ̣ hoa phát triển từ mô phân sinh hoa
Hình 1.7 Mô phân sinh hoa tự (a) và nụ hoa đang kéo dài cuống (b)
Hình 1.8 Các nụ hoa cây Dền xanh 55 ngày tuổi trên môi trường MS½ có bổ sung PEG 1%
Trang 40Bảng 1 Tỷ lệ ra hoa cây Dền xanh tăng trưởng
trên môi trường MS½ có bổ sung IAA
Bảng 2 Tỷ lệ ra hoa cây Dền xanh tăng trưởng trên
môi trường MS½ có bổ sung PEG
Các mẫu tự kèm theo sau số trung bình và sai số chuẩn biểu hiện sự khác biệt theo dòng ở mức p = 0,05 Các chữ số kèm theo sau số trung bình và sai số chuẩn biểu hiện sự khác biệt theo cột ở mức p = 0,05
Bảng 4 Sự thay đổi tổng số rễ phụ cây Dền xanh trên môi trường MS½ có bổ sung PEG
Đối chứng 6,0±1,0 a,1 5,7±0,3a,1 7,0±1,5a,1 7,3±0,3a,1,2 14,0±0,6b,1,2
PEG 1% 8,7±1,2a,1 9,3±0,3a,1,2 10,3±0,9a,1,2 13,7±2,3a,2,3 32,0±2,5b,3PEG 2,5% 11,0±1,5a,1,2 16,0±2,5ab,3 14,7±2,0ab,2 15,0±2,5ab,3 17,3±1,2b,2 PEG 5% 14,0±1,5a,2 12,8±1,8a,2,3 12,0±1,5a,2 15,0±2,9a,3 17,7±1,2a,2