Tức là các máy tính được kết nối mạng ở đây có thể dùng để chia sẻ thông tin cho máy tính khác, máy này thường gọi là máy chủ hay máy phục vụ - Server.. Mạng WAN sử dụng nhiều loại đường
Trang 1Chương 5 MẠNG MÁY TÍNH
Trong các chương trước chúng ta đã tìm hiểu về máy tính
và một số phương thức khai thác máy tính Trong chương này của giáo trình sẽ đề cập đến một vấn đề rất cần thiết của tin học trong quá trình phát triển hiện nay Đó là mạng máy tính, mạng máy tính toàn cầu Internet và phương pháp sử dụng cơ bản một
số dịch vụ Internet thông dụng Đây là những kiến thức rất cần thiết cho sinh viên trong giai đoạn hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức
5 1 KHÁI NIỆM MẠNG MÁY TÍNH
5.1.1 Khái niệm mạng máy tính
Trong thời kỳ đầu, các máy tính chủ yếu được sử dụng độc lập với nhau Việc trao đổi thông tin số liệu giữa các máy tính diễn ra rất khó khăn, và phải nhờ vào các phương tiện nhớ trung gian để di chuyển thông tin số liệu từ máy tính này qua máy tính khác
Cùng với thời gian số lượng máy tính ngày càng nhiều, và nhu cầu trao đổi thông tin giữa các máy tính ngày càng lớn, do vậy mạng máy tính đã được hình thành để giải quyết vấn đề này Mạng máy tính là hai hay nhiều máy tính điện tử được nối với nhau bằng các thiết bị liên lạc để cùng chia sẻ tài nguyên, như phần cứng, phần mềm và dữ liệu
Mạng máy tính phải đảm bảo ba yếu tố:
- Thứ nhất, có nhu cầu chia sẻ thông tin và dữ liệu Tức là các máy tính được kết nối mạng ở đây có thể dùng để chia sẻ thông tin cho máy tính khác, máy này thường gọi
là máy chủ (hay máy phục vụ - Server) Hoặc, các máy tính ở đây là các máy có nhu cầu khai thác thông tin, đó
Trang 2là các máy trạm (Workstation) hay máy khách (Client) khai thác thông tin trên máy chủ
- Thứ hai, các máy tính đơn lẻ phải được kết nối với nhau thông qua phương tiện truyền thông (hay, đường truyền - Transmission Medium), có thể là vô tuyến (Wireless - không dây) hoặc hữu tuyến (Wired – có dây) Các thông tin phải được truyền tải một cách nhanh chóng và chính xác
- Thứ ba, hệ thống đường truyền phải tuân theo các quy tắc truyền thông chung gọi là các giao thức (Protocols), khi ấy hệ thống truyền và hệ thống nhận mới có thể hiểu nhau để gửi nhận được thông tin
5 1.2 Phân loại mạng
Có nhiều cách để phân loại mạng máy tính tùy theo các tiêu chí khác nhau Nguời ta có thể phân loại theo cách thức truyền thông (Protocol - giao thức), phổ biến nhất hiện nay là bộ giao thức TCP/IP Hoặc, phân loại theo vai trò khả năng của các thành viên trong mạng, hay theo cách thức kết nối mạng,…
a Phân loại theo quy mô và khoảng cách địa lý:
Đây là một cách phân loại phổ biến nhất hiện nay, do vậy khi nói đến loại mạng người ta thường ngầm định nói theo cách phân loại này Theo cách phân loại này, chúng ta có các loại mạng đó là LAN, WAN
Mạng cục bộ - LAN (Local Area Network):
Là hệ thống mạng thường được lắp đặt trong các văn phòng công ty nhỏ, trường học,… với quy mô nhỏ và bán kính hẹp đến vài trăm mét Số lượng các máy trạm trong mạng LAN chỉ từ hàng chục đến hàng trăm máy được kết nối với nhau bằng các đường truyền tốc độ cao
Về góc độ kỹ thuật, LAN có các tính chất quan trọng như: Tất cả các máy trạm trong mạng LAN cùng chia sẻ đường truyền chung, do đó thiết bị mạng hoạt động dựa trên kiểu
Trang 3truyền quảng bá (broadcast) Broadcast là chế độ trao đổi thông tin trong đó thông tin được gửi từ một điểm này tới tất cả các điểm khác, hay là từ một nguồn tới tất cả các đích có kết nối trực tiếp với nó Một LAN chuẩn không yêu cầu phải có hệ thống trung chuyển như các thiết bị bộ định tuyến (Router), chuyển mạch (Switch)
Trước đây hầu hết các mạng LAN đều sử dụng đường truyền là các cáp hữu tuyến (cáp xoắn, cáp đồng trục), tuy nhiên với sự phát triển vượt bậc về công nghệ hiện nay, nhiều văn phòng nhỏ đã có thể sử dụng hoàn toàn mạng LAN không dây (WiFi), hoặc các tổ chức lớn thì thường sử dụng kết hợp cả hai
có dây và không dây
Mạng diện rộng - WAN (Wide Area Network):
Là mạng thường được lắp đặt trong phạm vi địa lý rộng lớn trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia trong một châu lục Mạng WAN cũng có thể là sự liên kết nhiều mạng LAN với nhau thông qua các đường truyền Mạng WAN sử dụng nhiều loại đường truyền kể cả đường truyền vệ tinh, sóng viba, cáp quang, trong thực tế thường dựa vào các đường truyền hoặc dịch
vụ kết nối của công ty truyền thông, bưu điện Mạng WAN sử dụng nhiều loại thiết bị và công nghệ khác nhau, để kết nối cần
sử dụng hệ thống trung chuyển như các thiết bị Modem, bộ định tuyến (Router), chuyển mạch (Switch) Ví dụ: Mạng WAN được
sử dụng để kết nối mạng máy tính ở văn phòng công ty với các mạng máy tính của các chi nhánh trong toàn quốc
Trang 4Mạng WAN
Mạng xương sống (Backbone network)
Mạng xương sống còn gọi là mạng đường trục là một hệ thống mạng máy tính kết nối một số mạng con hoặc các mạng LAN Mạng đường trục có thể kết hợp chặt chẽ các mạng khác nhau trong cùng một cơ sở hạ tầng hoặc xây dựng hoặc trên các khu vực rộng hoặc trong các tòa nhà khác nhau, trong môi trường khuôn viên trường đại học, thường mạng Backbone có thể kết nối các mạng con trong một phạm vi đến vài ki lô mét Mạng Backbone sử dụng các thiết bị chuyển mạch (Switch), bộ định tuyến (Router) để kết nối Có nhiều mô hình Backbone, từ nhỏ đến lớn và tùy thuộc vào nhu cầu và quy mô của tổ chức như doanh nghiệp lớn, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin, ngân hàng, trường đại học lớn Mạng Backbone được thiết kế theo mô hình phân cấp chia nhiều lớp, ví dụ một mạng được thiết kế ba lớp, lớp quan trọng nhất là lớp lõi Lớp lõi thường sử dụng các bộ chuyển mạch, bộ định tuyến có tốc độ cao, lớp lõi có nhiệm vụ truyền một lượng lớn dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác Lớp phân phối gồm các bộ định tuyến, các bộ chuyển mạch thực hiện các chính sách truy cập
Trang 5mạng Nhiệm vụ chính của lớp này là cung cấp thông tin định tuyến, lọc gói dữ liệu, xác định khi nào thì gói dữ liệu được chuyển tiếp lên lớp lõi Lớp truy cập có chức năng kết nối từ người dùng tới hệ thống thông qua các bộ tập trung (Hub), chuyển mạch cấp thấp hay các bộ truy cập không dây đơn giản
Mạng Backbone
b Phân loại theo vai trò khả năng:
Trang 6Theo cách phân loại này, thì mạng máy tính được chia thành hai loại
Mạng khách chủ(Client/Server):
Là các hệ thống mạng mà trong đó có ít nhất một máy chủ (Server) đóng vai trò quản lý và cung cấp dịch vụ cho các máy khách (Client) Các máy khách sử dụng các dịch vụ từ máy chủ
và chịu sự quản lý và giám sát của máy chủ này
Trang 7c Phân loại theo cách thức kết nối mạng:
Theo cách phân loại này, ngưòi ta chỉ xem xét hình trạng mạng (topology) của hệ thống mạng LAN Hệ thống mạng thường được chia ra làm bốn loại chính
Mạng Bus (Tuyến tính): Trong mạng này tất cả các máy trạm cùng phân chia một đường truyền chung (bus) Đường truyền chính được giới hạn hai đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator Mỗi trạm được nối với trục chính qua một đầu nối chữ T (T-connector) hoặc một thiết bị thu phát (Transceiver)
Trang 8 Mạng Ring (vòng): Trên mạng hình vòng tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy nhất Mỗi trạm của mạng được nối với vòng qua một bộ chuyển tiếp (repeater)
do đó cần có giao thức điều khiển việc cấp phát quyền được truyền dữ liệu trên vòng mạng cho trạm có nhu cầu
Mạng Star (hình sao): Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín hiệu
từ các trạm và chuyển đến trạm đích Các thiết bị trung tâm
sử dụng phổ biến hiện nay là Hub hoặc Switch Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (hiện nay thường sử dụng cáp xoắn – CAT5 twisted-pair - với giới hạn 100m)
Trang 9 Mạng hỗn hợp: là mạng máy kết hợp các kiểu kết nối ở trên Trong thực tế do địa hình khác nhau của các tổ chức cơ quan, cũng như số lượng máy trạm ngày càng nhiều và việc dự phòng cho sự tăng trưởng số lượng máy trong tương lai, nên nhiều tổ chức cơ quan đã lựa chọn lắp đặt mạng LAN theo cách kết nối hỗn hợp
d Phân loại theo cách thức truy cập
Mạng LAN ảo (VLAN)
Một nhóm các máy tính, thiết bị mạng thuộc các mạng LAN vật lý khác nhau nhưng được cấu hình để có thể liên lạc với nhau giống như chúng ở trên một mạng LAN vật lý gọi là mạng LAN ảo (Virtual Local Area Network) Mạng VLAN giúp tăng hiệu suất mạng LAN cỡ trung bình và lớn vì nó hạn chế kiểu truyền quảng bá Khi số lượng máy tính và lưu lượng truyền tải tăng cao, số lượng gói tin quảng bá cũng gia tăng Do
đó VLAN được sử dụng trong những trường hợp sau: Mạng LAN có hơn 200 máy tính; lưu lượng dữ liệu trong LAN quá lớn; Các nhóm người dùng cần gia tăng bảo mật hoặc tốc độ truyền dữ liệu bị chậm; Các nhóm người dùng ở các mạng LAN khác nhau cần tổ chức thành một mạng riêng biệt
Trang 10Mô hình mạng VLAN
Mang riêng ảo (VPN)
Mạng được cấu hình để kết nối các máy tính của các công
ty, tổ chức, khách hàng với nhau thông qua mạng Internet gọi là mạng riêng ảo (VPN-Virtual Private Network) VPN sử dụng đường truyền qua Internet tạo ra các liên kết ảo để kết nối các máy tính thành một mạng riêng của doanh nghiệp, tổ chức
Mô hình mạng VPN cho doanh nghiệp
Trang 115 1.3 Các nguồn tài nguyên của mạng
Khi các máy tính kết nối với nhau tạo thành một mạng, hay một máy tính đơn lẻ kết nối để tham gia vào một mạng có sẵn, thì mục đích chính của quá trình này là để khai thác thông tin trên mạng hoặc cùng tham gia chia sẻ thông tin với mạng có sẵn đó
Vậy, các tài nguyên trên mạng máy tính gồm những gì?
a Tệp tin dữ liệu:
Một trong những nhu cầu thiết yếu nhất về việc chia sẻ tài nguyên trên máy tính, chính là tài nguyên thông tin dữ liệu Cụ thể ở đây là các tệp tin, là nơi chứa các thông tin dữ liệu cần chia sẻ Có rất nhiều cách thức và phương tiện khác nhau để một máy tính có thể chia sẻ thông tin với một máy tính khác trong mạng
Nếu chỉ là một mạng LAN khép kín, thì một máy tính có thể chia sẻ tệp tin dữ liệu với máy tính khác theo một trong hai cách thức:
- Hai máy tính sẽ chia sẽ trực tiếp các tệp tin dữ liệu thông qua chức năng chia sẻ tệp tin (file sharing) sẵn có trên các
hệ điều hành
- Các máy tính sẽ trao đổi tệp tin dữ liệu thông qua máy trung gian Máy trung gian này có thể là một máy trạm, hoặc một máy chủ chuyên dụng cho việc chia sẻ tệp tin
dữ liệu (file server)
Nếu có thêm kết nối mạng Internet (hoặc Intranet), thì các máy tính có thêm nhiều cách thức trao đổi tệp tin dữ liệu khác như:
- Sử dụng dịch vụ thư điện tử để đính kèm tệp tin dữ liệu
để gửi cho nhau Để sử dụng dịch vụ này, thì người sử dụng cần sử dụng trình duyệt Web (Web Browser) hoặc
Trang 12phần mềm chuyển dụng gửi nhận thư điện tử để kết nối đến máy chủ cung cấp dịch vụ này
- Sử dụng dịch vụ lưu trữ trực tuyến (online storage) làm nơi trung gian để trao đổi các tệp tin dữ liệu bằng cách thức tải lên (upload) hoặc lấy xuống (download) Dịch vụ này thường được hầu hết các hệ điều hành mạng cung cấp, tuy nhiên người sử dụng chức năng này trên các phần mềm chuyên dụng hoặc trên chính các trình duyệt Web
b Chương trình, phần mềm:
Mạng máy tính giúp mọi người chia sẻ các tệp tin dữ liệu một cách dễ dàng Nó còn giúp mọi người cùng khai thác và cập nhật cùng một nguồn thông tin mà không cần phải sao chép qua lại giữa các máy tính Đó là các phần mềm sử dụng chung được đặt một ở một máy tính và các máy tính khác cùng sử dụng, từ
đó máy tính này cập nhật thì các máy tính khác có thể khai thác được thông tin đó ngay (phần mềm nhiều người dùng)
Ngoài ra, có một số phần mềm bản quyền ta có thể cài đặt
ở một máy, để các máy tính khác có thể cùng sử dụng thay vì cài đặt mỗi máy tính một phiên bản gây lãng phí tài nguyên và chi phí
Tuy nhiên, việc chạy chương trình dùng chung ở trên mạng thì vấn đề tốc độ mạng phải phù hợp với tốc độ di chuyển
dữ liệu mà chương trình đòi hỏi Trước đây, các phần mềm dùng chung thường chỉ sử dụng trên mạng LAN, nhưng hiện nay các công nghệ mới ra đời giúp cải tiến bảo mật thông tin và giảm khối lượng dữ liệu di chuyển trên đường truyền nên ngày càng nhiều phần mềm sử dụng chung trên mạng WAN và trên Internet Online Software - phần mềm trực tuyến)
Hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng tìm được các phần mềm dùng chung trên mạng Internet miễn phí, và cũng có thể thuê phần mềm trực tuyến để sử dụng, mà không cần mua hẳn, nên
Trang 13tiết kiệm được khá nhiều chi phí trang bị máy tính cấu hình đủ mạnh để cài đặt và bảo trì phần mềm Phương án này rất phù hợp với các doanh nghiệp không có bộ phận chuyên trách về tin học
c Thiết bị phần cứng:
Để tiết kiệm diện tích lắp đặt thêm thiết bị, cũng như tiết kiệm chi phí mua thêm thiết bị, cũng như tiện cho việc quản lý, nên nhiều thiết bị phần cứng được sử dụng Các thiết bị sử dụng chung trong mạng phổ biến nhất là máy in (máy in gắn với một máy tính nào đó, hoặc máy in mạng được gắn thẳng vào hệ thống mạng)
Ngoài ra, còn có tài nguyên ổ đĩa cứng, ổ đĩa CD, ổ đĩa DVD,… và các đường truyền cung cấp dịch vụ dùng chung, như đường truyền Internet, đường truyền hình kỹ thuật số (IPTV) cũng được chia sẻ dùng chung
5.1.4 Đăng nhập sử dụng tài nguyên mạng
Để đảm bảo các tài nguyên mạng được quản lý khai thác, ngoài các tài nguyên được sử dụng tự do, thì các các tài nguyên khác nếu muốn sử dụng thì phải đăng nhập vào mạng Thường các hệ thống mạng sẽ quản lý quá trình đăng nhập này bằng việc
sử dụng mã đăng nhập, mật khẩu đăng nhập và cấp phát phiên làm việc
Mã đăng nhập, chính là mã cấp cho mỗi người sử dụng thường được gọi với các thuật ngữ tiếng anh là User ID (User Identify - định danh người sử dụng, là cách gọi phổ biến nhất) Tuy nhiên, cũng có những hệ thống mạng sử dụng User Name (tên người sử dụng) hoặc User Account (tài khoản người dùng) thay cho User ID Và một số hệ thống chuyên dụng có thể sử dụng những tên khác, như hệ thống thư điện tử sử dụng Mail Box ID là mã đăng nhập vào hệ thống
Trang 14Mật khẩu đăng nhập (Password), là một dãy ký tự đi kèm với mã đăng nhập tạo thành một cặp mật mã đăng nhập Do vậy khi đăng nhập mã đăng nhập, thì cần gõ đúng mật khẩu đăng nhập tương ứng với nó Người dùng luôn phải chú ý giữ kín mật khẩu của mình, tránh viết ra giấy và tránh tiết lộ để đảm bảo bí mật Những hệ thống đòi hỏi tính bảo mật cao thì mật khẩu được yêu cầu chặt chẽ hơn về độ dài (>= chẳng hạn) và các loại ký tự
sử dụng khác nhau (số, chữ thường, chữ hoa), cũng như thời gian thay đổi mật khẩu cũng được thiết lập
Khi đăng nhập thành công (một mạng, một phần mềm, một dịch vụ,…) tức là khi bạn nhập đúng tên đăng nhập, mã đăng nhập và yêu cầu hệ thống đăng nhập Lúc đó hệ thống mạng sẽ cấp phát một phiên làm việc tương ứng, tức là ấn định khoảng thời gian hiệu lực sử dụng tài nguyên mạng cho mã đăng nhập đó Khoảng thời gian này, có thể không giới hạn, nhưng cũng có thể giới hạn Thường quá trình đăng nhập sử dụng các dịch vụ trên mạng Internet thì khoảng thời gian này có thể bị giới hạn, và khi hết thì hết thời gian thì người dùng cần đăng nhập lại (tùy dịch vụ có thể tính theo đơn vị phút, giờ hoặc ngày)
Đi kèm với việc đăng nhập này, là việc thoát ra khỏi mạng khi không sử dụng nữa để giải phóng tài nguyên mạng, và đảm bảo an toàn cho người sử dụng (tránh người khác sử dụng) Trên các hệ thống mạng khi sử dụng và kết thúc phiên làm việc gọi quá trình đăng nhập và thoát ra, tiếng Anh thường dùng là Login/Logout, Logon/Logoff, Signin/Signout
5.2 THIẾT BỊ MẠNG
Hiện nay các thiết bị mạng ngày một đa dạng phục vụ cho nhiều loại mạng khác nhau, và một thiết bị mạng cũng có thể do nhiều hãng sản xuất khác nhau cùng sản xuất, các thiết bị này có thể cùng sử dụng trong một mạng Tuy nhiều hãng sản xuất song các thiết bị đó đều tuân theo các chuẩn đã đề ra đảm bảo sự
Trang 15tương thích trong lắp đặt và sử dụng Các thiết bị mạng thường được phân loại, đặt tên theo chức năng chính của chúng, tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu người ta đã sản xuất các thiết bị kết hợp nhiều chức năng, ví dụ Modem còn đảm nhận cả chức năng của Router, Hub thậm chí cả Access Point
Sau đây ta chỉ xem xét một số thiết bị mạng thông dụng
5.2.1 Dây cáp mạng (network cable)
Dây cáp đóng vai trò là phương tiện truyền tín hiệu giữa các nút mạng, có nhiều loại cáp nhằm đáp ứng qui mô của nhiều loại mạng khác nhau như sau:
- Cáp đồng trục (coxial cable): là loại cáp có một lõi
đồng chính giữa để truyền tín hiệu, còn bên ngoài là các lớp bỏ bọc bảo vệ và chống nhiều Đây là loại cáp sử dụng trong các mạng tuyến tính (Bus), và không còn phổ biến trong các mạng LAN nữa
Cáp đồng trục sử dụng các bộ nối cáp BNC để tạo kết nối giữa cáp và máy tính, giữa cáp và đoạn cáp khác Bộ nối gồm có: bộ nối hình chữ T (T-connector) để nối cáp và card mạng; bộ nối ống để nối giữa hai đoạn cáp (BNC-connector) và bộ nối cuối (Terminator) ở hai đầu cuối của cáp
10B2 Cable or "Thin Ethernet"
Trang 16Cáp xoắn: chủ yếu là các loại cáp, mà các sợi truyền tín
hiệu xoắn với nhau theo từng cặp (twisted-pair cable) Đây là
loại cáp sử dụng phổ biến nhất trong các mạng LAN hiện nay,
là loại cáp không có vỏ bọc chống nhiễu UTP (Unshielded
Twisted-Pair) Cáp xoắn đôi có nhiều loại từ CAT1 đến CAT6,
phổ biến là CAT5 dùng giắc cắm RJ45, tốc độ 100Mb/s, truyền
tải tín hiệu xa 100m, CAT6 truyền dữ liệu lên đến 300 Mb/s
Trang 17Kết nối cáp UTP vào Hub
- Cáp quang: là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng để truyền tín hiệu Dây cáp gồm những sợi cáp dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao, cáp quang có thể truyền tín hiệu xa hơn cáp đồng
Cáp quang và các loại đầu nối
Trang 185.2.2 Card mạng (Network Interface Card - NIC)
Là thiết bị được lắp đặt vào khe mở rộng (expansion slot)
của máy tính (hoặc tích hợp trên MainBoard) Trên card mạng
thường có ít nhất một cổng kết nối để gắn cáp mạng, hoặc là
cổng đầu thu phát tín hiệu để kết nối với mạng không dây Card
mạng có nhiệm vụ gửi và nhận dữ liệu từ máy tính với mạng
5.2.3 Bộ phát lặp (Repeater)
Thiết bị trung gian thực hiện chức năng hai nhánh mạng
để chuyển tiếp tín hiệu ở mức vật lý, nó có tác dụng khuyếch đại
tín hiệu trên đường truyền do đó được sử dụng để kéo dài cáp
mạng Nó không thể sử dụng để nối các mạng có công nghệ
khác nhau
Repeater chỉ khuyếch đại tín hiệu mà không xử lý nội
dung tín hiệu Số lượng Repeater trong một mạng có giới hạn
(tối đa 4)
5.2.4 Bộ tập trung (Hub)
Là trung tâm của mạng hình sao (điểm tập trung các đầu
dây trong mạng) Hub có nhiều cổng (port) loại nhỏ vài cổng,
Card mạng hỗ trợ cổng RJ45 Net card PCI
Net card onboard Net card PCMCIA for laptop
Trang 19loại lớn có thể 24 cổng, mỗi cổng liên kết được một thiết bị
Hub nhận tín hiệu tại một cổng và lặp lại tín hiệu đó trên tất cả
các cổng còn lại Nên, tại mỗi thời điểm chỉ có một trạm được
chuyển dữ liệu Vì vậy một hub tốc độ 10Mbps thì có tốc độ
tổng cộng của tất cả các cổng là 10Mbps
Hub thụ động (passive hub): chúng đóng vai trò như điểm
kết nối và không khuyếch đại (amplify) hay tái tạo (generate) tín
hiệu
Hub chủ động (Active hub): tái tạo và truyền lại tín hiệu
theo cách tương tự cách thức vận hành của bộ chuyển tiếp
(Repeater)
Hub lai (hybrid hub): công nghệ cải tiến chấp nhận nhiều
loại cáp khác nhau, có thể mở rộng mạng bằng cách liên kết
nhiều hub
Hub là thiết bị đa năng với nhiều tính năng có thể dùng
trong Topology: Star, Star-Bus, Star-Ring Khi thay đổi hoặc mở
rộng hệ thống, đường dây sẽ ít ảnh hưởng đến hoạt động của
mạng Thiết bị Hub có thể để tập trung, tiện cho quá trình bảo
dưỡng quản lý mạng
8-port 3Com Office Connect Hub
Trang 20Mạng máy tính đơn giản sử dụng Hub
5.2.5 Chuyển mạch (Switch)
Switch được thiết kế cho mạng nhiều đoạn, hoặc số lượng máy tính mạng lớn Switch cho phép nối mạng với nhau ở tốc độ cao
Switch nhận tín hiệu từ một cổng và chuyển tiếp tín hiệu đến cổng kết nối với thiết bị đích theo nguyên tắc Switch lưu lại bản ghi nhớ địa chỉ địa chỉ vật lý (MAC) của tất cả các thiết bị
mà nó kết nối tới Với thông tin này, switch có thể xác định hệ thống nào đang chờ ở cổng nào Khi nhận được khung dữ liệu, Switch sẽ biết đích xác cổng nào cần gửi tới, giúp tăng tối đa thời gian phản ứng của mạng
Switch có nhiều cổng (port), hình thức như Hub, loại lớn
có thể có 48 cổng, mỗi cổng liên kết được một thiết bị Ta có thể
sử dụng Switch thay cho Hub mà không cần thay đổi những thiết bị khác và cáp mạng Tại mỗi thời điểm Switch có thể có
Trang 21nhiều hơn một trạm truyền dữ liệu Vì vậy một switch có tốc độ 10Mbps thì có tốc độ tổng cộng có thể là 10Mbps, 20Mbps, … qua đó ta thấy tốc độ truyền dữ liệu của một Switch trên mạng hiệu quả hơn hub
Tùy theo tiêu thức phân loại người ta chia ra nhiều loại Switch, về công nghệ có hai nhóm thiết bị chuyển mạch cơ bản: quản lý được (managed switch) và không quản lý được (unmanaged switch) Một thiết bị chuyển mạch không được quản lý làm việc theo cấu hình định sẵn và không cho phép người sử dụng thay đổi cấu hình Các thiết bị chuyển mạch được
sử dụng ở các mạng nhỏ ví dụ tại một văn phòng có khoảng chục máy tính và sử dụng dịch vụ mạng thông thường có thể sử dụng các thiết bị chuyển mạch dạng này
Thiết bị chuyển mạch quản lý được cho phép người sử dụng truy cập vào và lập trình nó Điều này mang lại độ linh hoạt cao hơn bởi vì loại thiết bị chuyển mạch này có thể được giám sát và điều chỉnh từ xa để cung cấp khả năng kiểm soát về cách để lưu lượng được truyền tải trên mạng và ai có quyền truy cập vào mạng của bạn
Dựa vào chức năng người ta thường chia ra các nhóm như sau:
Work Group Switch (Access Switch) là loại switch được thiết kế nhằm để nối trực tiếp các máy tính lại với nhau hình thành một mạng máy tính đơn giản, hoặc nối các máy tính thành đoạn mạng trong mạng lớn Workgroup switch này không cần thiết phải có bộ nhớ lớn cũng như tốc độ xử lý cao
Segment Switch – Distribution Switch là loại được sử dụng để nối các Hub hay workgroup switch lại với nhau, hình thành một liên mạng Tương ứng với mỗi cổng trong trường hợp này sẽ có nhiều máy tính, vì thế bộ nhớ cần thiết phải đủ lớn Tốc độ xử lý đòi hỏi phải cao vì lượng thông tin cần xử lý tại switch là lớn
Trang 22Backbone Switch – Core Switch là loại Switch nối kết các Segment switch lại với nhau, Core Switch được dùng cho những mạng máy tính qui mô lớn có thể tới hàng ngàn máy tính Trong trường hợp này, bộ nhớ và tốc độ xử lý của switch phải rất lớn
để đủ chứa địa chỉ cho tất cả các máy tính trong toàn liên mạng cũng như hoán chuyển kịp thời dữ liệu giữa các nhánh Loại này được tích hợp nhiều chức năng như chức năng định tuyến (Routing), Bộ lọc gói IP (Filter IP package),
Ngoài ra người ta phân loại Switch như Switch đối xứng (Symetric Switch), Switch bất đối xứng (Asymetric Switch) Symetric switch là loại switch mà tất cả các cổng của nó đều có cùng tốc độ, nhu cầu băng thông giữa các máy tính là gần bằng nhau Thông thường workgroup switch thuộc loại này Switch bất đối xứng là loại switch có một hoặc hai cổng có tốc độ cao hơn so với các cổng còn lại của nó Thông thường các cổng này được thiết kế để dành cho các máy chủ hay là cổng để nối lên một switch ở mức cao hơn
5.2.6 Cầu nối (Bridge)
Nối các đoạn mạng phân biệt lại với nhau Có chức năng chính là truyền có chọn lọc các gói tin đến đoạn mạng chứa trạm nhận gói tin Nó cho phép mở rộng kích thước tối đa của mạng khi gặp giới hạn như chiều dài cáp, giới hạn về số lượng trạm
cứ vào đó để tìm đường truyền dữ liệu
Router thường được sử dụng để kết nối với ít nhất hai mạng, thông thường là hai mạng LAN hoặc WAN, hoặc một LAN và mạng của ISP (Internet Service Provider) Router được đặt tại Gateway, nơi kết nối hai hoặc nhiều mạng khác nhau
Trang 23Có nhiều loại Router với nhiều cách phân loại khác nhau, các nhà sản xuất thường có hai cách phân loại chủ yếu như dựa theo công dụng của Router: theo cách phân loại này người ta chia thành remote access router, ISDN router, Serial router, router/ hub,… Dựa theo cấu trúc của router: cách cấu hình (fixed configuration router), dựa theo các thành phần (modular router) Tuy nhiên không có sự phân loại rõ ràng router: mỗi một hãng sản xuất có thể có các tên gọi khác nhau, cách phân loại khác nhau
Ngày nay, hầu hết các Router đều là thiết bị kết hợp nhiều chức năng, và thậm chí nó còn đảm nhận cả chức năng của switch và hub Đôi khi router, switch (hoặc hub), Modem được kết hợp trong cùng một thiết bị Có hai nhóm Router được sử dụng, thứ nhất là nhóm Router có năng lực xử lý với tốc độ cao, cung cấp nhiều giải pháp xử lý dữ liệu (data), âm thanh hình ảnh (voice video), các dịch vụ hybrid dial access, virtual private networks (VPNs), multiprotocol data routing, Nhóm Router này thường có giá thành cao đến rất cao, chúng thường được dùng cho mạng lớn và các ISP Nhóm Router tích hợp MODEM, Hub, Wifi, thường được thiết kế với năng lực xử lý thấp thường được sử dụng cho những những mạng nhỏ Ví dụ MODEM tích hợp Router được dùng để kết nối mạng LAN (khoảng vài chục máy tính) với ISP; Router – AP được sử dụng
để kết nối một số máy tính xách tay (có Wifi) vào mạng LAN
Trang 24Router kết nối mạng LAN với ISP
5.2.8 Gateway
Gateway là thiết bị cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau
Ví dụ: một mạng sử dụng giao thức IP và mạng nào đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA, hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác
5.2.9 Các thiết bị mạng không dây
Các thiết bị mạng không dây là các thiết bị có chức năng tương tự như các thiết bị mạng truyền dữ liệu bằng dây cáp, nhưng chúng sử dụng phương thức truyền dữ liệu từ điểm này đến điểm khác bằng sóng vô tuyến Các thiết bị này hoạt động theo chuẩn IEEE 802.11, chuẩn IEEE 802.11 được xây dựng và
Trang 25ký hiệu 802.11a/b/g/n, thông thường các thiết bị này truyền phát tín hiệu ở tần số 2.4GHz, 5GHz tùy chuẩn mà có tốc độ chuyền
dữ liệu khác nhau, 802.11n có tốc độ truyền 540 mbps IEEE (Institute of Electrical and Electronic Engineers) là tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với mục đích phát triển khoa học và đem lại lợi ích cho cộng đồng Tổ chức này đưa ra các tiêu chuẩn chung
về điện tử, công nghệ thông tin, một trong linh vực được gọi dự
án 802 hay là họ tiêu chuẩn 802, họ tiêu chuẩn này đưa ra các chuẩn chung về mạng Các thiết bị mạng không dây được sử dụng phổ biến hiện nay là
Card mạng không dây
Thiết bị có chức năng kết nối máy tính vào mạng không dây,
có các loại như: lắp vào khe cắm mở rộng của bo mạch chính dành cho máy để bàn, PCMCIA cho máy tính xách tay, ngày nay sử dụng phổ biến là loại sử dụng card mạng không dây kết nối qua USB
TL-WN722N 150Mbps USB Wifi
Điểm truy cập (Access Point - AP)
Điểm truy cập cung cấp một ngõ truy cập cho các thiết bị không dây khi muốn kết nối vào WLAN Điểm truy cập hoạt động tương đương như một Switch Ethernet thông minh
Trang 26 Repeater không dây
Tương tự Repeater có dây, nó có tác dụng khuyếch đại tín hiệu trên đường truyền do đó được sử dụng để kéo dài tầm phát Access Point qua đó có thể tăng khoảng cách phát của các tram phát không dây
Wireless Bridge
Wireless bridge (birdge không dây) cung cấp kết nối giữa 2 đoạn mạng LAN có dây, và nó được sử dụng cả trong mô hình điểm-điểm lẫn điểm-đa điểm
Các thiết bị không dây tích hợp
Do nhu cầu sử dụng các thiết không dây thường tích hợp nhiều chức năng như loại ROUTER không dây sẽ bao gồm cả
AP và ROUTER, hay loại MODEM ADSL được tích hợp cả ROUTER không dây
TP-Link TL-WR940ND Wireless N Router
5 3 MÁY CHỦ MẠNG
Máy chủ mạng (Server) là những máy tính được cài đặt và cấu hình thành những máy cung cấp các dịch vụ chuyên dùng nào đó cho người dùng mạng Máy chủ mạng phần cứng là máy tính được thiết kế với định hướng để chạy các ứng dụng lớn, xử
Trang 27lý khối lượng lớn dữ liệu, các máy tính này được thiết kế với cấu hình mạnh hơn các máy tính cá nhân (PC) về bản mạch chính, bộ vi xử lý, bộ nhớ,
Các hệ thống mạng hiện nay được xây dựng để cung cấp và chia sẻ rất nhiều dịch vụ, do vậy trong hệ thống mạng ngày càng
sử dụng nhiều máy chủ mạng Sau đây là một số loại máy chủ mạng phổ biến:
5.3.1 Máy chủ tệp (File Server)
Máy chủ thường có trong hầu hết các mạng LAN hiện nay
Nó cung cấp nơi lưu trữ dữ liệu là các tệp tin dữ liệu hay phần mềm sử dụng chung cho các máy trạm và người dùng trong mạng Đặc trưng chính và tài nguyên của loại máy chủ này chính là khả năng lưu trữ Hiện nay nhiều máy chủ có khả năng lưu trữ lên đến hàng ngàn TB (Tera Byte), do vậy người dùng ngày càng có nhiều không gian lưu trữ trên mạng Từ đó, có thêm nhiều thông tin dữ liệu để chia sẻ Ngòai ra việc lưu trữ dữ liệu trên các máy chủ tệp, nếu được bảo mật tốt thì đảm bảo an toàn hơn lưu trữ trên máy trạm vì có người chuyên trách riêng
và máy chủ luôn tốt hơn máy trạm
5.3.2 Máy chủ in (Print Server)
In ấn là nhu cầu không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp Nếu mỗi máy tính chúng ta trạng bị một máy in thì sẽ rất lãng phí tài nguyên Do vậy việc chia sẻ tài nguyên máy in trong mạng được xem là một dịch vụ cơ bản mà hầu hết các hệ điều hành hỗ trợ và ứng dụng sử dụng
Với các mạng nhỏ thì máy in được gắn trực tiếp với một máy trạm nào đó, từ đó sử dụng dịch vụ chia sẻ máy in để các máy tính khác có thể sử dụng
Trang 28Với những mạng máy tính mà tần suất sử dụng máy in lớn, thì người ta thường đầu tư các máy in chuyên dụng cỡ lớn và có nhiều hình thức kết nối với mạng để cung cấp dịch vụ in ấn khác nhau:
+ Nếu máy in là máy in này mạng, thì nó được gắn trực tiếp với mạng bằng một đường cáp mạng riêng, và cài phần mềm lên một máy chủ trong mạng để quản lý và chia sẻ dịch vụ
in ấn trong mạng Máy chủ này gọi là máy chủ in
+ Nếu không phải là máy in có cổng gắn trực tiếp với mạng, thì người ta có thể mua một thiết bị phần cứng là gọi là Printer Server để gắn máy in vào đó, và Printer Server sẽ được gắn với mạng để cung cấp dịch vụ in ấn trên mạng Lúc này thiết bị phần cứng Printer Server đóng vài trò như là một máy chủ in
5.3.3 Máy chủ ứng dụng (Application Server)
Máy chủ ứng dụng là các máy chủ chuyên dùng trong các hệ thống mạng để chạy các ứng dụng cung cấp dịch vụ đến các máy trạm trong mạng
Có rất nhiều loại máy chủ ứng dụng, nó thay đổi theo thời gian và tốc độ phát triển của các ứng dụng trong lĩnh vực công
Trang 29nghệ thông tin Hiện nay, có một số loại máy chủ ứng dụng phổ biến sau:
+ Máy chủ ứng dụng cơ sở dữ liệu (Database Server): là các máy chủ được cài đặt các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, từ đó có thể thiết lập các cơ sở dữ liệu cho các hệ thống thông tin trong các doanh nghiệp Đây là loại máy chủ không thể thiếu trong các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có hệ thống thông tin họat động dựa trên nền tảng máy tính
+ Máy chủ ứng dụng thư điện tử (E-Mail Server): Là máy chủ cung cấp dịch vụ thử điện tử cho người dùng Máy chủ này cung cấp dịch vụ thử điện tử trong một doanh nghiệp, hoặc cộng đồng người dùng mạng có kết nối với nó (miễn phí, hoặc thu phí)
+ Máy chủ ứng dụng Web (Web Server): là máy chủ được cài đặt phần mềm để cung cấp dịch vụ lưu trữ hệ thống siêu văn bản, để người dùng có thể đọc từ các trình duyệt web ( web browser)
+ Máy chủ ứng dụng chia sẻ dữ liệu (FTP Server): là các máy chủ cung cấp dịch vụ cho người sử dụng có thể tải lên (upload) hoặc tải xuống (download) dữ liệu hoặc phần mềm
5 4 MẠNG INTERNET
5.4.1 Khái niệm về Internet
Internet được gọi là liên mạng máy tính toàn cầu Về mặt phần cứng nó bao gồm tất cả các mạng LAN và WAN trên thế giới kết nối với nhau, về phần mềm cần phải có để các máy tính nhận ra nhau bằng cách sử dụng một giao thức chung và giao thức đó là giao thức TCP/IP Giao thức TCP/IP được xem như là ngôn ngữ chung cho tất cả các máy tính kết nối với Internet
5.4.2 Sự hình thành Internet
Trang 30Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPARNET (Advanced Research Projects Agency Network) thuộc cơ quan quản lý dự án nghiên cứu Bộ quốc phòng Mỹ
Mạng ARPARNET đầu tiên ra đời vào năm 1969, kết nối 4 địa điểm bao gồm: Trường Đại học California ở Los Angeles, Trung tâm nghiên cứu phát triển của Học viện nghiên cứu Standford, Trường Đại học California ở Santa Barbara, Trường Đại học Tổng hợp Utah Thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974
Giao thức TCP/IP ra đời vào năm 1974 bởi hai kỹ sư mạng là Kahn và Cerf Đây là kỹ thuật cho phép các máy tính của các hãng sản xuất khác nhau có thể kết nối được với nhau một cách
dễ dàng Điều này dẫn đến việc các công ty phát triển phần mềm
ở Anh, Mỹ, Châu Âu bắt đầu phát triển các phần mềm dựa trên
bộ giao thức này
Năm 1980, tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF (National Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Trước kia, các máy tính nhanh nhất thế giới thường được sử dụng cho công việc phát triển vũ khí mới và cho các công ty lớn Với sự ra đời các trung tâm này máy tính lớn này, NSF cho phép tất cả mọi người hoạt động trong lĩnh vực khoa học sử dụng
Năm 1984, ARPARNET được chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPARNET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự
Cuối năm 1987, khi lượng thông tin truyền tải làm cho các máy tính kiểm soát đường truyền và mạng điện thoại nối các trung tâm máy tính lớn bị quá tải, một hợp đồng nâng cấp đường truyền đã được ký kết giữa NSFNET với Merit Network Inc Mạng đã được nâng cấp với tốc độ đường truyền tăng gấp 20 lần Do đó, nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPARNET sang
Trang 31NSFNET Sau gần 20 năm hoạt động, ARPARNET không còn hiệu quả nữa và đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990 Năm 1989, tại Trung tâm nghiên cứu nguyên tử Châu Âu (CERN), Tim Berners Lee triển khai thành công dịch vụ Work Wide Web (WWW)
Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra một mội trường thuận lợi cho sự phát triển Internet Tới năm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu, còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển
Vào ngày 19 tháng 11 năm 1997, Việt Nam chính thức tham gia và cung cấp dịch vụ Internet
Hiện nay tại Việt Nam đã có khá nhiều nhà cung cấp dịch vụ Internet: các công ty FPT, Viettel, VDC, VNPT, … phổ biến là dịch vụ Internet thông qua đường truyền ADSL đến tận từng gia đình với chi phí rất thấp
5.4.3 Giao thức TCP/IP
Giao thức là một tập hợp những quy tắc hay công thức dùng
để điều khiển những thông tin được truyền đi giữa các máy tính hay chương trình trên mạng
Internet bao gồm nhiều hệ mạng dùng nhiều giao thức khác nhau Các mạng này muốn liên hệ với nhau cần phải có cùng một giao thức hay một ngôn ngữ chung và ngôn ngữ này chính
là TCP/IP
Giao thức TCP/IP được sử dụng cho việc truyền thông trên Internet và nó được phát triển từ mạng ARPARNET và Internet + TCP (Tranmission Control Prootocol): là giao thức thuộc tầng vận chuyển trong mô hình OSI (Open System Interconnection) Thực hiện nhiệm vụ điều khiển và truyền tin, đảm bảo liên lạc thông suốt và tính đúng đắn của dữ liệu giữa hai đầu kết nối
Trang 32+ IP (Internet Protocol): là giao thức ứng với tầng mạng của mô hình OSI có nhiệm vụ là định địa chỉ (addressing), chọn đường (routing) và vận chuyển các datagram (gói tin) qua mạng
5.4.4 Địa chỉ IP
Khi tham gia vào mạng, các máy tính được gọi là các host và
có một địa chỉ dùng để nhận dạng và liên lạc với nhau, gọi là địa chỉ host (host address) hay địa chỉ máy Địa chỉ chuẩn được dùng cho mạng Inernet gọi là địa chỉ IP, các máy tính muốn tham gia Internet phải dùng loại địa chỉ này Hiện nay các máy tính vẫn sử dụng phổ biến địa chỉ IPv4, đồng thời phiên bản địa chỉ IPv6 đã được một số quốc gia sử dụng
5.4.4.1 Địa chỉ IP V4
Địa chỉ IP (IP address): là một chuỗi bao gồm 4 số (Octet),
mỗi Octet có 8 bit tương đương 1 byte được tách biệt với nhau vởi dấu chấm (.) Như vậy địa chỉ IP có độ dài 32 bit (4 byte) và mỗi byte người ta thường viết dưới dạng thập phân với giá trị tương ứng từ 0 đến 255 Do đó, về mặt lý thuyết IPv4 có thể cung cấp 232
= 4 294 967 296 địa chỉ ( IPv4 – phiên bản 4.)
Một địa chỉ IP bao gồm 2 phần:
+ Địa chỉ Host (Host address): HostID + Địa chỉ mạng (Network address): NetID
Class Bit: bit nhận dạng lớp địa chỉ là những bit đầu
tiên của một địa chỉ IP mà các Octet viết dưới dạng nhị phân
Phân lớp địa chỉ IP: địa chỉ IP được phân thành 5 lớp: A, B,
C, D, E Dựa vào class bit, có thể xác định được lớp của một
địa chỉ IP như sau:
+ Lớp A : 0
+ Lớp B : 10
+ Lớp C : 110
Trang 33Địa chỉ IPv6 có độ dài 128 bit, trên lý thuyết cung cấp 2128
địa chỉ, cấu trúc IPv6 gồm 8 phần ở dạng thập lục phân (hexadecimal) được phân cách bởi các dấu hai chấm (:) , mỗi phần dài 16 bit IPv6 sử dụng dạng thập lục phân, do địa chỉ
Trang 34IPv6 quá dài nên không thể sử dụng dạng dot như IPv4 Một dạng chuẩn của một địa chỉ IPv6 có dạng:
2001:0010:3456:6EFD:00AC:0DEC:DDEE:EEDD Một số trường hợp có thể rút gọn việc ghi địa chỉ, IPv6 cung cấp hai phương pháp để rút gọn việc ghi địa chỉ Thứ nhất là việc bỏ các số 0 đứng đầu và thứ hai là việc thay thế nhiều nhóm
- Cấu hình bằng tay (Manual Configuration): khi có địa chỉ người sử dụng có thể là thực hiện gắn địa chỉ IP trực tiếp Cũng có thể thực hiện công việc dựa theo một file cấu hình tại thời điểm bật máy
- Cấu hình địa chỉ có trạng thái tự động (Stateful Address Autoconfiguration): Nó được gọi là “có trạng thái –statefull” bởi
vì máy chủ quản lý những địa chỉ để duy trì trạng thái đó Đây là phương thức cấp địa chỉ phổ biến nhất trong IPv4 Nó bao gồm chức năng quản lý phân bổ địa chỉ IP cho các node một cách tập trung Ví dụ như dịch vụ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol)
- Cấu hình địa chỉ không trạng thái tự động (Stateless Address Autoconfiguration): Một thiết bị mạng có thể tự cấu hình địa chỉ của riêng nó bằng việc sử dụng những thông tin trên mạng Nó được gọi là “không trạng thái – stateless” vì chính node tự quản lý địa chỉ của nó mà không gây tranh chấp trên mạng Cách cấu hình này nhằm cho phép các thiết bị (nhất là
Trang 35các thiết bị không phải là máy tính) có thể kết nối mạng kiểu plug-and-play, giảm đi sự quá tải về việc quản lý
Việc cấp phát địa chỉ IP trên Internet:
Địa chỉ IP cho các máy tính (host) trên Internet phải được cung cấp và quản lý thống nhất Cơ quan quản lý địa chỉ IP là NIC (Network Information Center) Tại Châu Á Thái Bình Dương là APNIC (Asian Pacific Network Information Center)
và tại Việt Nam là VNNIC (Vietnam Network Information Center)
5.4.5 Kết nối một máy tính vào mạng Internet
Hiện nay mạng Internet ngày càng trở nên phổ biến, không những ở thành phố mà còn cả ở nông thôn Cách thức để một máy tính kết nối được với Internet cũng trở nên phổ biến hơn Trước đây khi nói đến việc sử dụng Internet thì người ta nghĩ ngay đến phương tiện máy tính, còn ngày nay thì từ chiếc điện thoại thông minh cũng có thể dễ dàng kết nối Internet và sử dụng đầy đủ các dịch vụ tương tự như trên máy tính
Để sử dụng được Internet, trước hết máy tính phải kết nối được với một mạng có sẵn Internet hoặc chính máy bạn kết nối trực tiếp với Internet (kết nối với nhà cung cấp dịch vụ Internet – ISP: Internet Service Provider) Hiện nay có nhiều hình thức
kết nối mạng với Internet như Dial-up, ADSL, GPRS,
5.4.5.1 Kết nối Internet bằng modem quay số (Dial-up network)
Đây là cách thức kết nối với Internet bằng quay số thông qua đường thoại của mạng viễn thông đến một số điện thoại của nhà cung cấp dịch vụ Internet bằng cách sử thiết bị modem (modulation and demodulation - điều chế và giải điều chế) gắn với máy tính, và modem này được gắn với một đường dây điện thoại
Để kết nối máy tính dùng Windows 7 vào Internet cần thực hiện những bước công việc sau:
Lắp đặt và cấu hình modem
Trang 36Cắm cáp kết nối modem vào máy tính (Cổng COM hoặc USB), cắm cáp điện thoại vào modem Cài đặt driver modem cho máy tính bằng đĩa phần mềm đi kèm Đối với máy tính xách tay có tích hợp modem thì chỉ cần cắm đường điện thoại vào máy xách tay
Mô hình kết nối
Cấu hình đường truyền trên Windows
Trên Windows 7, từ cửa sổ Windows Explorer, bấm phải
chuột mục Network, chọn Properties, trên cửa sổ mới chọn Set up a new connection or network, tiếp theo chọn Set up a dial-up connection Tiếp theo nhập các thông tin cần thiết trên
cửa sổ Create a Dial-up connection:
Trang 37Cửa số nhập thông tin kết nối
Các thông tin: Dial-up phone number (số điện thoại truy cập Internet), User name, Password, lấy từ các nhà cung cấp dịch vụ Internet Cuối cùng chọn Connect, việc kết nối có thể mất vài phút, nếu quá trình kết nối thành công, máy tính sẽ tự động nhận được các thông tin từ nhà cung cấp dịch vụ, Windows sẽ thông báo bằng biểu tượng mạng trên Thanh tác vụ (Taskbar)
Cách thức kết nối Internet trên là cách thức cổ điển nhất, cách kết nối này đơn giản, dịch vụ thường không cần đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ mạng, người dùng có thể sử dụng ngay nếu có đường điện thoại Đối với máy tính xách tay rất nhiều loại máy được tích hợp sẵn modem, người dùng không cần mua thêm thiết bị và có thể kết nối Internet ở bất cứ nơi nào có đường điện thoại Tuy nhiên cách kết nối này tốc độ thường rất chậm nên hiện nay không còn dùng phổ biến nữa
5.4.5.2 Kết nối Internet bằng modem ADSL (Asymmetric Digital
Subscriber Line)
Trang 38Đây là đường truyền thuê bao số bất đối xứng, mà các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng phổ biến nhất hiện nay Để dùng dịch
vụ Internet bằng đường truyền ADSL, cần đường cáp đồng hoặc cáp quang nối với nhà cung cấp dịch vụ, có thể sử dụng đường điện thoại cố định có sẵn Thiết bị kết nối là Modem có hai loại thường dùng là Modem ADSL và Modem Router (một Router kiêm luôn chức năng của ADSL Modem) Từ ADSL Modem cắm cáp USB vào máy tính, từ Router có thể việc cắm cáp kết nối nó với mạng LAN hoặc trực tiếp với máy tính bằng cáp USB hoặc UTP Lúc này để dùng được Internet, thì phải thiết lập các tham số trên Router phù hợp (thường nhà cung cấp dịch vụ làm)
và các tham số trên máy tính tương ứng với các tham số trên Router (địa chỉ IP của Router) Các tham số cho cấu hình ADSL Modem phụ thuộc vào loại Modem và tùy thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ, về cơ bản cần thực hiện những bước công việc sau: Đọc hướng dẫn sử dụng Modem và hướng dẫn sử dụng dịch
vụ để biết những thông tin về cấu hình và những thông tin để truy cập mạng Internet
Cắm dây cáp tín hiệu vào Modem, nếu dùng chung với máy điện thoại thì lắp dây điện thoại qua Filter hoặc Splitter Cắm cáp USB hoặc cáp mạng vào máy tính
Trang 39Cắm cáp mạng và cáp điện thoại
Cấu hình Modem
Để cài đặt ADSL MODEM việc đầu tiên là phải cấu hình IP của máy tính cho cùng lớp mạng với địa chỉ IP của modem Mỗi Modem được nhà sản xuất gán địa chỉ IP, Username, Password bằng số cụ thể, ví dụ với Modem DrayTek địa chỉ IP là 192.168.1.1, Username là admin, Password để rỗng Sau đó đăng nhập vào modem để cấu hình modem
Mở trình duyệt Internet Explorer và gõ vào địa chỉ IP của modem: http://192.168.1.1 Khi đó sẽ xuất hiện hộp thoại yêu cầu nhập Username và Password đăng nhập modem Sau khi đăng nhập cần cấu hình những nội dung sau:
Trang 40- Cấu hình địa chỉ LAN
Việc cấu hình địa chỉ LAN phải đảm bảo địa chỉ của Modem cùng với địa chỉ lớp mạng đang sử dụng, địa chỉ này cũng chính
là địa chỉ Geteway để các máy tính trong mạng truy cập trực tiếp Internet qua MODEM Sau khi cấu hình xong phải cấu hình lại địa chỉ của máy tính cho phù hợp Modem, những lần truy cập sau phải sử dụng địa chỉ mới của Modem
Cấu hình địa chỉ IP và DHCP