Thực tiễn trong thời gian gần đây ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng, các vấn đề về tài nguyên nước đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi phải tăng cường kiể
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ………1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG 3
1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 3
1.1.1 Nhu cầu sử dụng nước trên thế giới 3
1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.2 Nghiên cứu trong nước 7
1.2.1 Hiện trạng nguồn nước 7
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu lập hành lang bảo vệ nguồn nước 11
1.3.1 Xác định chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước 11
1.3.2 Xác định các đối tượng cần lập hành lang phụ thuộc vào các chức năng sau……… 12
1.3.3 Xác định phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước 13
1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
1.4.1 Vị trí địa lý 14
1.4.2 Điều kiện địa hình 15
1.4.3 Đặc điểm khí hậu 16
1.4.4 Đặc điểm thủy văn 17
1.4.5 Hiện trạng sử dụng đất 17
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU, PHÂN LOẠI NGUỒN NƯỚC PHẢI LẬP HÀNH LANG BẢO VỆ 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát ngoài hiện trường 20
2.2.3 Phương pháp kế thừa 20
2.2.4 Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp 20
2.2.5 Phương pháp viễn thám và GIS 20
2.3 Khối lượng thực hiện 20
2.3.1 Thu thập các dạng tài liệu liên quan 20
2.3.2 Điều tra, khảo sát 21
2.4 Kết quả điều tra, thu thập làm cơ sở cho việc phân loại nguồn nước phải lập hành lang 24
2.4.1 Hiện trạng nguồn nước mặt trên địa bàn huyện 24
Trang 22.4.2 Hiện trạng công trình khai thác sử dụng nước mặt 30
2.4.3 Hiện trạng xả thải vào nguồn nước 34
2.5 Kết luận chương 36
CHƯƠNG 3 XÁC ĐỊNH VÀ LẬP DANH MỤC HÀNH LANG PHẢI BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG 38
3.1 Xác định các nguồn nước phải lập hành lang trên địa bàn huyện Phú Lương 38
3.1.1 Cơ sở khoa học xác định danh mục các nguồn nước cần lập hành lang 38
3.1.2 Kết quả xác định các nguồn nước phải lập hành lang 39
3.2 Xác định chức năng hành lang bảo vệ của từng nguồn nước trên địa bàn huyện Phú Lương 41
3.2.1 Căn cứ xác định 41
3.2.2 Phương pháp xác định chia đoạn sông 41
3.2.3 Kết quả xác định chức năng của hành lang bảo vệ từng nguồn nước trên địa bàn huyện Phú Lương 43
3.2.3.1 Sông Cầu 43
3.2.3.2 Sông Chợ Chu 48
3.2.3.3 Sông Yên Trạch 50
3.2.3.4 Khe Ấm (sông Đồng Tâm) 52
3.2.3.5 Sông Đu 55
3.2.3.6 Suối Nà Dâu 57
3.2.3.7 Phụ lưu số 2 (phụ lưu sông Đu) 59
3.2.3.8 Khe Cốc 61
3.3 Xây dựng bản đồ xác định hành lang bảo vệ nguồn nước 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC……… 74
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí địa lý huyện Phú Lương 15
Hình 2.1 Vị trí khảo sát nhánh sông Đu, xã Vô Tranh 30
Hình 2.2 Vị trí khảo sát sông Cầu, xã Tức Tranh 30
Hình 2.3 Điểm khảo sát sông Giang Tiên, xã Cổ Lũng 30
Hình 2.4 Điểm sạt lở suối Yên Đổ, xóm Đá Mài, xã Yên Đổ 30
Hình 2.5 Trạm bơm xóm Cọ, xã Phấn Mễ 33
Hình 2.6 Trạm bơm Thọ Lâm, thị trấn Đu 33
Hình 2.7 Đập dâng Chim Tắm, xã Yên Lạc 33
Hình 2.8 Đầp Ba Chương, xã Vô Tranh 33
Hình 2.9 Bản đồ hiện trạng sông suối và công trình khai thác nước 35
Hình 3.1 Diễn biến chất lượng nước sông Cầu đoạn trước khi qua thành phố Thái Nguyên 45
Hình 3.2 Diễn biến chất lượng nước sông Cầu đoạn qua thành phố Thái Nguyên 46
Hình 3.3 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước sông Cầu 48
Hình 3.4 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước sông Chợ Chu 50
Hình 3.5 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước Sông Yên Trạch 52
Hình 3.6 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước Khe Ấm 54
Hình 3.7 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước sông Đu 57
Hình 3.8 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước suối Nà Dâu 59
Hình 3.9 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước Phụ lưu 2_Sông Đu 61
Hình 3.10 Sơ đồ phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước Khe Cốc 63
Hình 3.11 Bản đồ hành lang phải bảo vệ nguồn nước huyện Phú Lương 69
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Phú Lương giai đoạn 2010 – 2017 17
Bảng 2.2 Hiện trạng xả thải vào nguồn nước 34
Bảng 3.1 Nguồn nước lập hành lang bảo vệ huyện Phú Lương 39
Bảng 3.2 Bảng danh mục Ao, hồ lập hành lang bảo vệ huyện Phú Lương 40
Bảng 3.3 Thông tin công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Phú Lương 40
Bảng 3.4 Mạng lưới quan trắc chất lượng nước trên dòng chính sông Cầu 44
Bảng 3.5 Thông tin các điểm sạt lở trên sông Cầu 46
Bảng 3.6 Phạm vi hành lang bảo vệ sông, suối trên địa bàn huyện Phú Lương 64
Bảng 3.7 Phạm vi hành lang bảo vệ các ao, hồ, đầm trên địa bàn huyện Phú Lương 67
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Huyện Phú Lương nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 20 km về phía Nam dọc theo quốc lộ 3 Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hoá, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ Thực tiễn trong thời gian gần đây ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng, các vấn đề về tài nguyên nước đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước với duy trì các mục tiêu chất lượng nước…
Ngày 06 tháng 05 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/NĐ-CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, trong đó quy định các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ, chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước Hành lang bảo vệ nguồn nước được lập để thực hiện các chức năng sau đây:
- Bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước;
- Phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước;
- Bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, các loài động, thực vật tự nhiên ven nguồn nước;
- Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước Phú Lương là một trong những địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên có số lượng sông suối tương đối lớn, theo Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục lưu vực sông liên tỉnh và Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục lưu vực sông nội tỉnh, trên địa bàn tỉnh Phú Lương có tổng số 9 con sông lớn nhỏ, trong đó có 1 sông liên tỉnh và 8 sông nội tỉnh
có chiều dài trên 10km Các con sông trong khu vực có trữ lượng thủy văn cao, đủ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong huyện Thủy chế các sông
Trang 6suối trong vùng khá phức tạp, mà sự tương phản chính là sự phân phối dòng chảy không đều trong năm, mùa mưa nước dồn nhanh về các sông chính tạo nên dòng chảy xiết, lũ, ngập các tuyến đường Do đó, việc bảo vệ nguồn nước là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của tỉnh, cũng như một số địa phương liên quan, lập hành lang bảo
vệ nguồn nước là một trong những hoạt động bảo vệ nguồn nước
Chính vì vậy, tăng cường kiểm soát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, xác định được chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước; xác định sơ
đồ hành lang bảo vệ nguồn nước; xây dựng bản đồ hành lang bảo vệ nguồn nước nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên nước, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước với duy trì các mục tiêu chất lượng nước… thì việc thực hiện việc “Nghiên cứu xác định lập danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là rất cần thiết và cấp bách
2 Mục đích của Đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm các mục đích sau:
+ Lập được danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ;
+ Xác định được chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước;
+ Xây dựng sơ đồ xác định hành lang bảo vệ nguồn nước;
+ Xây dựng bản đồ hành lang bảo vệ nguồn nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên nước mặt, công trình khai thác sử dụng nước, hiện trạng xả thải vào nguồn nước
Phạm vị nghiên cứu: Huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, đánh giá;
- Phương pháp nghiên cứu hiện trường và điều tra khảo sát thực địa;
- Phương pháp kế thừa;
- Phương pháp kinh nghiệm;
- Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp xây dựng bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG
1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Nhu cầu sử dụng nước trên thế giới
Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước Hơn nữa, do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn, hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới
Nhằm hạn chế nhu cầu cũng như chống thất thoát nước, đồng thời tăng cường quản lý tài nguyên nước, nhiều chính sách đã được áp dụng Luật pháp về bảo vệ và quản lý tài nguyên nước đã được ban hành tại nhiều quốc gia Song, trên thực tế, những cải cách, đổi mới này vẫn chưa thực sự có hiệu quả, công việc thường chỉ giới hạn trong ngành nước Vì vậy, muốn thực sự có hiệu lực, các quyết định cho vấn đề nước cần thiết có
sự tham gia của lãnh đạo của tất cả các ngành, trong đó có các ngành nông nghiệp, năng lượng, thương mại và tài chính, bởi tất cả các ngành này đều có ảnh hưởng quyết định đến quản lý tài nguyên nước Ngoài ra, sự cộng tác, phối hợp giữa khối nhà nước với khối tư nhân và cộng đồng xã hội cũng hết sức quan trọng
- Nhu cầu về nước trong công nghiệp:
Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu
mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần
300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp [10]
- Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí:
Trang 8Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5 -10 lít nước/người/ngày Ngày nay, do sự phát triển của xã hội nên nhu cầu về nước sinh hoạt
và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như môi trường, giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội
- Áp lực từ sự gia tăng nhu cầu về nước:
Nhu cầu về nước chưa bao giờ cao như hiện nay Khai thác nước sạch đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua Diện tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm
và hiện tượng này liên quan mật thiết với sự gia tăng dân số Dân số thế giới hiện nay
là 6,6 tỷ người và mỗi năm tăng thêm 80 triệu người Điều đó có nghĩa, nhu cầu về nước sạch mỗi năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối Song, đáng tiếc là 90% số dân trong số 3 tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước
Gia tăng dân số đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu lương thực và tất nhiên nhu cầu về nước cũng tăng Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là đối tượng tiêu thụ nhiều nước nhất, chiếm tới 70% lượng nước tiêu thụ (so với 20% dành cho công nghiệp và 10% dùng trong sinh hoạt đời sống) Nếu không có quy hoạch sử dụng hợp lý, nhu cầu nước cho nông nghiệp trên toàn thế giới sẽ tăng lên từ 70% đến 90% vào năm 2050, mặc dù sử dụng tài nguyên nước của một số nước hiện đã chạm đến mức giới hạn Đồng thời, những thay đổi về lối sống và thói quen ăn uống đã diễn ra trong nhiều năm gần đây, nhất là gia tăng tỷ lệ mức tiêu thụ thịt và các sản phẩm bơ sữa tại những nước vừa giàu lên đã tác động rất lớn đến tài nguyên nước Để sản xuất 1 kg ngũ cốc cần từ 800 đến
4000 lít nước, trong khi đó để có được 01 kg thịt bò phải tốn từ 2000 đến 16000 lít nước Nếu vào thời điểm năm 1985, một người Trung Quốc tiêu thụ 20 kg thịt thì vào năm 2009 con số này đã là 50 kg Điều đó có nghĩa, Trung Quốc cần có thêm 390 km3 nước Để giúp so sánh, năm 2002, lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại Thụy Điển và tại Mỹ tương ứng là 76kg và 125 kg
Sản xuất nhiên liệu sinh học tăng nhanh trong những năm qua đã gây những tác động đáng kể đến nhu cầu về nước Sản lượng ethanol năm 2008 là 77 tỷ lít, gấp 3 lần giai
Trang 9đoạn từ 2000 đến 2007 và dự kiến sẽ đạt 127 tỷ lít vào năm 2017 Mỹ và Brazil là các nhà sản xuất hàng đầu, đáp ứng 77% nhu cầu của toàn thế giới Năm 2007, 23% sản lượng ngô ở Mỹ và 54% mía đường của Brazil là dành để sản xuất ethanol Trong năm
2008, 47% lượng dầu thực vật sản xuất tại Cộng đồng Châu Âu được dùng làm nhiên liệu diesel sinh học Tuy vậy, mặc dù việc gia tăng sử dụng cây trồng cho nhiên liệu sinh học, nhưng tỷ lệ so với tổng sản lượng vẫn còn nhỏ Trong năm 2008, ước tính thị phần về ethanol trên thị trường nhiên liệu vận tải của Mỹ, Brazil và Cộng đồng Châu
Âu tương ứng là 4.5%, 40% và 2.2% Với khả năng giúp làm giảm bớt sự lệ thuộc vào năng lượng chất đốt, xem ra với công nghệ hiện tại, nhiên liệu sinh học đang đặt lên môi trường và đa dạng sinh học một áp lực không tương ứng Vấn đề chính là phải cần một lượng lớn nước và phân bón để gieo trồng Để làm ra 01 lít nhiên liệu sinh học phải cần khoảng từ 1000 đến 4000 lít nước
Trong khi đó, nhu cầu về năng lượng đang tăng nhanh, đồng nghĩa với tăng nhu cầu về nước Nhu cầu năng lượng toàn cầu dự kiến tăng lên khoảng 55% vào năm 2030 và chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 45% lượng tăng này Sản xuất điện từ nguồn thủy điện dự kiến tăng trung bình hàng năm ở mức 1.7% từ năm 2004 đến 2030, gia tăng tổng thể là 60% Tuy bị chỉ trích là nguyên nhân gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường và khiến nhiều người dân bị mất chỗ ở, nhưng với nhiều người các đập thủy điện vẫn được xem là một giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu năng lượng hiện nay Bên cạnh các áp lực gia tăng nhu cầu về nước nêu trên, sự ấm lên toàn cầu sẽ làm cho chu trình thủy văn trở nên biến động mạnh hơn như thay đổi về chế độ mưa và bốc hơi Mặc dù chưa xác định được cụ thể những ảnh hưởng nào của hiện tượng này tác động đến tài nguyên nước, nhưng tình trạng thiếu nước chắc chắn sẽ tác động trở lại đến chất lượng nước và tần suất các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt
Theo ước tính, đến năm 2030 sẽ có 47% dân số thế giới sinh sống tại các vùng chịu căng thẳng về nước Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến đổi khí hậu, số người chịu cảnh thiếu nước nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệu người Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn sẽ tác động lớn tới sự di cư; do hiếm nước
sẽ có từ 24 triệu đến 700 triệu người dân mất chỗ ở.[13]
Trang 101.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới Đạo luật nước sạch (2006)[19] cung cấp một khuôn khổ cho sự phát triển
và thực hiện các kế hoạch bảo vệ nguồn gốc địa phương, đầu nguồn và được dự định
để thực hiện nước uống các khuyến nghị bảo vệ nguồn do Công lý Dennis O'Connor đưa ra Các mục tiêu chính của quy trình lập kế hoạch bảo vệ nguồn là hoàn thành dựa trên khoa học, báo cáo đánh giá xác định các rủi ro đối với nguồn nước uống đô thị và
về cách đọc kế hoạch và chi tiết về việc triển khai và thực thi kế hoạch
Tại Hoa Kỳ mọi kế hoạch bảo vệ nguồn phải nêu ra các mục tiêu sau đây:
- Bảo vệ nguồn nước uống hiện có và tương lai trong khu vực bảo vệ nguồn
- Để đảm bảo rằng, đối với mọi khu vực được xác định trong báo cáo đánh giá là khu vực phải bảo vệ khi đó mối đe dọa nguồn nước uống rất có thể xảy ra
- Nếu hoạt xâm phạm nguồn nước được thực hiện trước khi kế hoạch bảo vệ nguồn có hiệu lực, hoạt động này không còn là mối đe dọa đáng kể về nước uống nữa
Tại Canada Hiệp hội Luật Môi trường đã chỉ ra Việc bảo vệ nguồn nước uống của mọi người thông qua việc bảo vệ nguồn nước của nó là khái niệm tương đối mới Trong thế
kỷ XIX, các nghiên cứu đã tập trung rất nhiều vào việc bảo vệ nước uống qua nước điều trị, mà cuối cùng đã bao gồm cả xử lý nước trước khi nó được phân phối cho con người tiêu thụ và xử lý nước thải trước khi nó được trả lại tự nhiên môi trường
Trong suốt những năm 1990, bảo vệ nguồn nước vẫn chủ yếu là một chủ đề cho các học giả Tuy nhiên, trước sự thay đổi của thế kỷ XXI hai thất bại nghiên cứu về nước quan trọng của Canada đã thay đổi bản chất của cuộc thảo luận về nguồn nước ở đất nước này Đầu tiên, ở Walkerton,Ontario vào mùa xuân năm 2000, một nửa dân số của
Trang 11thị trấn 4.200 người bị nhiễm với vi khuẩn E Coli từ giếng thành phố bị ô nhiễm Bảy người đã chết, và hàng trăm người sẽ trải qua những ảnh hưởng sức khỏe lâu dài Mùa xuân sau, ô nhiễm nước uống từ nguồn nước thải thượng nguồn xảy ra ở miền Bắc Battleford, Saskatchewan Sự ô nhiễm nguồn cung cấp nước của Bắc Battleford với các cryptosporidium ký sinh trùng dẫn đến hơn 50 phần trăm của thị trấn (dân số hơn 10.000) bị bệnh nôn mửa và tiêu chảy; may mắn thay không cái chết, và ít người bị ảnh hưởng sức khỏe lâu dài
Một trong những kết luận đạt được sau những sự kiện này là chính bản thân xử lý nước, không đủ để bảo vệ nước uống của mọi người Kết quả của hai yêu cầu công khai vào hai bi kịch này, và những nỗ lực cải cách đáng kể phần lớn được thúc đẩy bởi
sự phối hợp nỗ lực của các nhóm y tế và môi trường, đã có một động thái hướng đến nhiều hơn bảo vệ nước uống toàn diện, bao gồm giám sát nước chuyên sâu hơn nỗ lực
và mở rộng giám sát để bao gồm hệ thống phân phối và nguồn sự bảo vệ Ở Ontario, trọng tâm này dẫn đến phân phối nước và nguồn nước pháp luật, Đạo Luật Nước Uống
An Toàn, 2002 và Đạo Luật Nước Sạch, 2006.[19],[20]
1.2 Nghiên cứu trong nước
1.2.1 Hiện trạng nguồn nước
- Nước mặt:
Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tương đối lớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực lớn hơn 10.000km2), bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long Tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 830-
840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000 m3/năm Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 63
tỷ m3/năm, phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên
Về hồ chứa, có khoảng 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi tương đối lớn (dung tích từ 0,2 triệu m3
trở lên) đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng, với
Trang 12tổng dung tích các hồ chứa trên 65 tỷ m3 Trong đó, có khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ m3 nước; khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, và trên 510 hồ đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3 Các hồ chứa thủy điện mặc dù với số lượng không lớn, nhưng có tổng dung tích khoảng 56 tỷ m3
nước (chiếm 86% tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa) Trong khi đó, trên 2000
hồ chứa thủy lợi nêu trên chỉ có dung tích trữ nước khoảng gần 9 tỷ m3 nước, chiếm khoảng 14% Các lưu vực sông có dung tích hồ chứa lớn gồm: sông Hồng (khoảng 30
tỷ m3); sông Đồng Nai (trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ m3); sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vũ Gia - Thu Bồn và sông Srêpok (có tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3
và sinh hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn mà thôi
Nước khoáng và nước nóng:
Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có khoảng 350 nguồn nước khoáng và nước nóng, trong đó nhóm chứa Carbonic tập trung ở nam Trung bộ, đông Nam bộ và nam Tây nguyên; nhóm chứa Sulfur Hydro ở Tây Bắc và miền núi Trung bộ; nhóm chứa Silic ở trung và nam Trung bộ; nhóm chứa Sắt ở đồng bằng Bắc bộ; nhóm chứa Brom, Iod và Bor có trong các trầm tích miền võng Hà Nội và ven biển vùng Quảng Ninh; nhóm chứa Fluor ở nam Trung bộ Phần lớn nước khoáng cũng là nguồn nước nóng, gồm 63 điểm ấm với nhiệt độ từ 30o - 40o C; 70 điểm nóng vừa với nhiệt độ từ
41o - 60o C và 36 điểm rất nóng với nhiệt độ từ 60o - 100oC; hầu hết là mạch ngầm chỉ
có 2 mạch lộ thiên thuộc loại ấm gặp ở trung Trung bộ và ở đông Nam bộ Từ những
số liệu trên cho thấy rằng tài nguyên nước khoáng và nước nóng của Việt Nam rất đa
Trang 13dạng về kiểu loại và phong phú có tác dụng chửa bệnh, đồng thời có tác dụng giải khát
và nhiều công dụng khác.[13]
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, việc quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam được cải thiện đáng kể về mặt pháp lý, cấu trúc thể chế và các cơ chế, góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Luật Tài nguyên nước đã được chính thức ban hành từ năm
1998 và các văn bản hướng dẫn pháp quy tiếp theo, đã cung cấp các quy định về quản
lý, điều hành, lưu trữ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên toàn quốc Sự thay đổi về thể chế trong quản lý tài nguyên nước đã khuyến khích được quá trình phi tập trung hóa, đẩy mạnh sự tham gia rộng rãi của các thành phần ngoài nhà nước trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, cung cấp nước sinh hoạt và nước tưới tiêu
Đặc biệt, Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 Luật này quy định việc điều tra cơ bản tài nguyên nước; bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại
do nước gây ra; quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên lãnh thổ Việt Nam Tài nguyên nước quy định trong Luật này bao gồm nước mưa, nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất Riêng nước biển, nước khoáng và nước nóng thiên nhiên được điều chỉnh bằng pháp luật khác
Theo luật này, tài nguyên nước ở Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, được nhà nước thống nhất quản lý nhằm đảm bảo tất cả mọi người có quyền hưởng lợi từ các nguồn nước Hiện Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước nói chung, trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương có trách nhiệm quản lý tài nguyên nước theo hoạt động của ngành, cho các mục đích tương ứng như thủy lợi, nuôi trồng thủy sản và sản xuất điện.[1]
Gần đây, Nghị định 43/NĐ-CP của Thủ Tướng Chính phủ ngày 6 tháng 5 năm 2015
“QUY ĐỊNH LẬP, QUẢN LÝ HÀNH LANG BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC” Về nguyên tắc, tài nguyên nước không chỉ được xem như “tài sản chung” mà còn là “hàng hóa có giá trị thương mại và kinh tế.” Do đó, Chính phủ đã áp dụng một số cơ chế nhằm tăng
Trang 14cường hiệu quả, hiệu lực quản lý nước ở các khía cạnh khác nhau về chính sách, kỹ thuật thực hiện và cơ sở hạ tầng.[2]
Tại Tỉnh Sơn La có 98 nguồn nước cần phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn tỉnh Theo đó, số lượng nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ gồm 79 sông, suối/mó, chiều dài 1.410,95km, trên địa bàn 11 huyện, thành phố; phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước từ 5-15m 19 ao, hồ có diện tích 282,4ha, phạm vi hành lang bảo vệ từ 10-30m Một số huyện có số lượng nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ lớn như Sốp Cộp (48 điểm), Bắc Yên (12 điểm), thành phố Sơn La (11 điểm), Vân Hồ (11 điểm)…Việc lập hành lang bảo vệ nguồn nước nhằm phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; Bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước; Bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử văn hóa du lịch liên quan đến nguồn nước; Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí Thứ tự ưu tiên cắm mốc thực hiện theo chu kỳ 5 năm (2017-2022) và Kế hoạch cắm mốc hằng năm.[17]
Tại tỉnh Bắc Ninh việc phê duyệt báo cáo kết quả thực hiện dự án Lập danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ tỉnh Bắc Ninh và Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ tỉnh Bắc Ninh Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh gồm: 10 sông (sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Cà Lồ, sông Ngũ huyện Khê, sông Tào Khê, sông Dâu, sông Đông Côi - Ngụ, sông Đồng Khởi, sông Bùi); 20 ao, hồ trên địa bàn thị xã Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh; tổng số mốc cơ sở hành lang dự kiến cắm 8.134 mốc, khoảng cách giữa các mốc
dự kiến 50m.[16]
Trong năm 2016, dự án đã tiến hành xong việc cắm mốc cơ sở hành lang bảo vệ nguồn nước cho 03 con sông chính với 168 mốc (sông Cầu 68 mốc, sông Thái Bình 16 mốc, sông Đuống 84 mốc) Và bàn giao Quyết định số 158/QĐ-UBND cùng tài liệu liên quan cho 2 Sở liên quan và 8 huyện, thị xã, thành phố.[16]
Tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã ban hành Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo
vệ trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trên địa bàn thành phố Vũng Tàu có 12 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ bao gồm: Hồ Bầu Sen, Hồ Bầu Trũng, Hồ
Trang 15Mang Cá, Hồ Á Châu, các tuyến kênh thoát nước chính của của thành phố, kênh Đồng Sát 1, kênh Đồng Sát 2, kênh Đồng Sát 3, Sông Dinh, sông Chà Và, sông Cỏ May, sông Rạng.[15]
Trên địa bàn thành phố Bà Rịa có 4 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ bao gồm: hồ RMK, hồ Bàu Úc, hệ thống sông Dinh, rạch Thủ Lựu Huyện Tân Thành
có 22 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ; huyện Châu Đức có 14 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ; Huyện Đất Đỏ có 3 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ; huyện Long Điền và huyện Xuyên Mộc có 7 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ; huyện Côn Đảo có 3 danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ.[15]
Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu được lập để thực hiện chức năng bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước; và phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước.[15]
Tại tỉnh Bắc Kạn đã công bố 70 sông, đoạn sông và 40 hồ, ao, đầm phải lập hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn, ban hành theo “Quyết định số 2215/QĐ-UBND ngày 26/12/2017 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” Chức năng bảo vệ nguồn nước bao gồm: bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước; và phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước Hành lang bảo vệ nguồn tối thiểu từ 10m đến 30m tính từ mép bờ.[18]
1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu lập hành lang bảo vệ nguồn nước
Ngày 06 tháng 05 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/NĐ-CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, trong đó quy định các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ, chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
1.3.1 Xác định chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước
Quá trình xác định chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước được tiến hành theo các bước sau:
Trang 16Bước 1: Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước mặt trên các tuyến sông, suối
- Xác định đặc điểm lòng sông, bãi sông, bờ sông;
- Các công trình, các hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt trên đoạn sông;
- Đặc điểm hệ sinh thái thủy sinh;
- Xác định vị trí bờ trái, bờ phải, hướng dòng chảy; độ dài đoạn bồi xói, sạt lở;
- Xác định vị trí, độ dài đoạn sông thường xảy ra hoặc xảy ra bồi xói, sạt lở nghiêm trọng; thu thập thông tin về diễn biến, nguyên nhân và mức độ thiệt hại
Bước 2: Đánh giá hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước mặt trên các tuyến sông, suối
- Xác định các vị trí, lưu lượng, loại hình nước thải chủ yếu xả vào nguồn nước và các nguyên nhân chính gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước mặt
- Sơ bộ xác định mức độ ảnh hưởng, phạm vi bị ảnh hưởng bởi đoạn sông đó
Bước 3: Xác định vùng phân bố dân cư dọc tuyến sông suối
- Xác định sự phân bố dân cư sinh sống dọc tuyến sông;
- Đo đạc, xác định khoảng cách từ bờ sông, suối đến khu vực dân cư sinh sống
Bước 4: Xác định chức năng nguồn nước cần lập hành lang
Từ kết quả đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng; xả nước thải vào nguồn nước; chất lượng nước mặt trên các sông, suối tiến hành khoanh vùng bảo vệ nguồn nước mặt theo chức năng (mục đích sử dụng) và phạm vi vùng bảo vệ từng tuyến sông suối theo Điều 8, Điều 9, Điều 10 của Nghị định 43/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước
1.3.2 Xác định các đối tượng cần lập hành lang phụ thuộc vào các chức năng sau
a Bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước;
b Phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước;
c Bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, các loài động, thực vật tự nhiên ven nguồn nước;
d Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước Chức năng của hành lang bảo vệ phụ thuộc vào hiện trạng nguồn nước, hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên nước, hiện trạng xả thải vào nguồn nước, hiện trạng sạt lở bờ
Trang 17sông
Đoạn sông có chức năng bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước được xác định là những đoạn sông có những hoạt động khai thác tài nguyên nước, dân cư tập trung gần hành lang sông, trên cơ sở điều tra khảo sát, xác định phạm vi người dân sinh sống trong khu vực có chịu sự ảnh hưởng của xả nước thải vào nguồn nước hay không? Hiện trạng sạt lở bờ sông có diễn ra liên tục hay không?
1.3.3 Xác định phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước
Phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước được quy định rõ tại Điều 9, Điều 10 của Nghị định 43/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước Sở dĩ trước khi hành lang bảo vệ nguồn nước được ban hành trong nghị định 43 đã có các đơn vị, cá nhân nhà khoa học
tư vấn về kỹ thuật cho Chính phủ đã cân nhắc và nghiên cứu rất kỹ lưỡng về hành lang tối thiểu để bảo vệ nguồn nước đối với từng chức năng hành lang Các nghiên cứu mô phỏng bằng mô hình lan truyền vật chất ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất tính toán khả năng, mức độ thấm của các chất thải nguy hại ra môi trường đối với từng chức năng sẽ quy định hành lang tối thiểu phù hợp
i Đối với các sông, suối
a) Chức năng bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước:
- Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 10m tính từ mép bờ với đoạn sông, suối chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, khu trung cư tập trung;
- Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 05m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối không chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung
b) Chức năng phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước:
- Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 20m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung hoặc được quy hoạch xây dựng đô thị, khu dân cư tập trung;
- Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 15m tính từ mép bờ đối với đoạn sông, suối không chảy qua các đô thị, khu dân cư tập trung
c) Chức năng bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, các loài động, thực vật tự nhiên ven nguồn nước:
Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 30m tính từ mép bờ hoặc bao gồm
Trang 18toàn bộ vùng đất ngập nước ven sông, suối
d) Chức năng tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử, văn hoá, du lịch, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước:
Phạm vi hành lang bảo vệ: Không nhỏ hơn 30m tính từ mép bờ hoặc bao gồm toàn bộ vùng đất ngập nước ven sông, suối
đ) Trường hợp hành lang bảo vệ nguồn nước có từ hai chức năng trở lên thì phạm vi tối thiểu của hành lang được xác định theo chức năng có phạm vi rộng nhất.[2]
ii Đối với các hồ tự nhiên, hồ nhân tạo ở đô thị, khu dân cư tập trung và các nguồn nước khác
a) Đối với hồ tự nhiên, hồ nhân tạo ở các đô thị, khu dân cư tập trung; hồ, ao lớn
có chức năng điều hòa ở các khu vực khác, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước không nhỏ hơn 10m tính từ mép bờ
b) Đối với các nguồn nước liên quan đến hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, có giá trị cao về đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa và bảo vệ, phát triển hệ sinh thái tự nhiên, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước không nhỏ hơn 30m tính từ mép bờ.[2]
1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý
Phú Lương là một huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, diện tích tự nhiên
là 367.62 km2, số đơn vị hành chính là 14 xã và 02 thị trấn Dân số trên 107.409 người,
gồm 09 dân tộc anh em cùng chung sống[11]
Trang 19Hình 1.1 Vị trí địa lý huyện Phú Lương Huyện Phú Lương nằm giáp danh với thành phố Thái Nguyên và liền kề với tỉnh Bắc Kạn, có hệ thống đường giao thông thuận lợi Với 38 km đường quốc lộ 3 chạy dọc theo chiều dài của huyện; toàn huyện có 136 km đường liên xã và 448 km đường liên thôn, các tuyến đường đã và đang được đầu tư, nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.4.2 Điều kiện địa hình
Là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có địa hình tương đối phức tạp và nhiều đồi núi dốc Đây là mặt khó khăn của huyện trong việc phát triển cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải Có thể chia thành 4 dạng địa hình như sau:
- Địa hình núi đá phía Tây và Tây Nam;
- Địa hình núi đá dốc từ 25°C đến 30°C chiếm 70% diện tích tự nhiên;
- Các dải thung lũng hẹp chiếm 3,5%;
Trang 20- Các dải thoải có độ dốc từ 15°C đến 20°C có khoảng 4.000ha;
Huyện Phú Lương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng núi thấp và vùng bát úp, có
độ dốc trung bình 200-500m so với mặt nước biển Thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ dốc trung trình từ 15-20m, địa hình tương đối phức tạp bao gồm cả đồng bằng, đồi núi và núi đá, hệ thống sông suối, ao hồ khá phong phú nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ và phân bố không đều.[7]
1.4.3 Đặc điểm khí hậu
Phú Lương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh và mùa hè nắng nóng rõ rệt: Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi tới 30oC, thường xuyên có các đợt gió mùa Đông Bắc hanh khô; mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 220C, tổng tích nhiệt độ 8.0000C Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nắng đạt khoảng 27,20C, tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất, có năm lên tới 27 - 290C; nhiệt độ bình quân trong mùa đông khoảng
200C, thấp nhất là tháng 1 khoảng 150
C
- Chế độ mưa: Phú Lương có lượng mưa bình quân khá cao khoảng từ 2.000-2.100 mm/năm Mưa thường tập trung vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 10, có thể chiếm tới trên 90% tổng lượng mưa cả năm; tháng 7 có lượng mưa lớn nhất, bình quân 410-
420 mm/tháng Tháng 12 và tháng 1 là những tháng mưa ít, lượng mưa khoảng 25mm/tháng
24 Độ ẩm: Phú Lương có độ ẩm tương đối, trung bình năm khoảng 8324 84%
- Nắng: Phú Lương có số giờ nắng khá cao trung bình 5-6 giờ/ngày (đạt khoảng 1.630 giờ/năm), năng lượng bức xạ khoảng 115 Kcal/cm2 và tổng tích nhiệt khoảng 8.000oC Các tháng có số giờ nắng cao thường vào tháng 5, 6, 7, 8, và tháng số giờ nắng thấp vào tháng 1, tháng 2
- Gió: Phú Lương có 2 hướng gió chính là gió Bắc và Đông Bắc: từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau, thịnh hành là gió Bắc và gió Đông Bắc, tốc độ gió từ 2-4m/s Gió mùa Đông Bắc tràn về theo đợt, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tốc độ gió trong những đợt gió mùa Đông Bắc đạt tới cấp 5, cấp 6 Đặc biệt gió mùa Đông Bắc tràn về thường lạnh, giá rét, ảnh hưởng đến mùa màng, gia súc và sức khỏe con người
Trang 21Nhìn chung, điều kiện khí hậu Phú Lương cho phép phát triển nhiều loại cây trồng: cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, trồng rừng hoặc nông, lâm kết hợp có thể bố trí chuyển đổi cơ cấu cây trồng với các loại cây trồng khác nhau, đồng thời tạo chế độ che phủ quanh năm.[6],[7],[8]
1.4.4 Đặc điểm thủy văn
Huyện Phú Lương có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, (bình quân 0,2km/km2), trữ lượng thủy văn cao, đủ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong huyện Thủy chế các sông suối trong vùng khá phức tạp, mà sự tương phản chính là sự phân phối dòng chảy không đều trong năm, mùa mưa nước dồn nhanh về các sông chính tạo nên dòng chảy xiết, lũ, ngập các tuyến đường
Một số sông chính trên địa bàn huyện Phú Lương như sau:
- Sông Chu và các hợp thủy của nó nằm ở khu vực phía Bắc của huyện, nhánh chính dài khoảng 10km
- Sông Đu được tạo thành bởi hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ Tây Bắc xã Hợp Thành và một nhánh từ phía Bắc xã Động Đạt Hai nhánh gặp nhau ở phía trên thị trấn Đu và chảy về sông Cầu qua đoạn sông Giang Tiên, tổng chiều dài toàn hệ thống khoảng 45km
- Sông Cầu chảy từ phía Bắc xuống theo đường ranh giới phía Đông của Phú Lương (tiếp giáp với huyện Đồng Hỷ) qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm Đoạn sông Cầu chảy qua địa bàn huyện Phú Lương dài 17km vừa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất của khu vực phía Nam huyện vừa là một trong những tuyến giao thông thủy quan trọng của huyện.[6]
1.4.5 Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Phú Lương giai đoạn 2010 – 2017
Tốc độ tăng, giảm bình quân (%) TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 36.887,38 36.896,69 0,03
Đất trồng cây hàng năm 5.701,37 5.773,41 1,26
Trang 22Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 49,52 49,52 0,00
Đất đồi núi chưa sử dụng 1.531,38 728,99 -52,40
Núi đá không có rừng cây 1.549,84 590,75 -61,88
(Nguồn: Niên giám thống kê 2017[11])
- Đất nông nghiệp: Trong 5 năm gần đây diện tích đất nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ trung bình là 1,94%, điều đó chứng tỏ Phú Lương là một huyện thuần nông sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, với điều kiện canh tác áp dụng khoa học kỹ thuật như hiện nay công việc làm nghề nông không còn khó khăn như trước, do vậy diện tích đất bỏ hoang dần được chuyển sang để trồng trọt Diện tích trồng lúa giảm ở mức 0,41%, đặc biệt đất cỏ dùng vào chăn nuôi không có sự biến động, đất trồng cây lâu năm tăng 4,26%
- Đất lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp tăng trung bình 15,71% Diện tích đất lâm nghiệp tăng do tình trạng phá rừng và theo nhu cầu trồng mới và trồng lại tăng lên đáng kể đuợc sử dụng từ vùng đất chưa sử dụng
- Đất ở: Do đáp ứng nhu cầu đất ở cho nguời dân, hàng năm diện tích đất ở tăng bình quân là 2,16% Năm 2010 là 1.038,81 ha thi đến năm 2015 tăng lên 1.061,27ha
- Đất chuyên dùng: Tăng bình quân 7,99%, cụ thể năm 2010 là 2.752,07ha, đến năm 2015tăng lên 2.972,07ha
- Đất chưa sử dụng: Do nhu cầu của ngành trồng trọt, lâm nghiệp và đất ở ngày càng tăng do vậy quỹ đất chưa sử dụng giảm mạnh là 48,19%
Trang 23CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU, PHÂN LOẠI NGUỒN NƯỚC PHẢI LẬP HÀNH LANG BẢO VỆ
2.1 Nội dung nghiên cứu
Dựa vào các mục tiêu đã đưa ra, đề tài sẽ cần thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu lý thuyết về hành lang bảo vệ nguồn nước
- Đánh giá chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước đối với từng nguồn nước;
- Xác định danh mục các nguồn nước cần phải lập hành lang bảo vệ;
- Xây dựng bản đồ khoanh vùng hành lang bảo vệ nguồn nước;
- Xây dựng sơ đồ xác định hàng lang bảo vệ nguồn nước
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các số liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Luật Tài nguyên nước: số 17/2012-QH của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số: 43/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 của Chính phủ về Quy định lập, quản lý hành lang bảo
vệ nguồn nước, số liệu thống kê về tình hình dân sinh, kinh tế xã hội, các tài liệu, đề tài liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khu vực nghiên cứu
- Thu thập các loại bản đồ gồm bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thổ nhưỡng, bản đồ thảm thực vật, bản đồ địa hình, bản đồ đường giao thông, bản đồ phân bố dân cư
- Kiểm chứng thông tin:
Sau khi đã thu thập được đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả phối hợp với các cơ quan liên quan để kiểm chứng một số thông tin ngoài thực địa Các thông tin được kiểm chứng là bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thổ nhưỡng, thảm thực vật, đối với bản đồ hiện trạng, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất sử dụng phương pháp kết hợp thực địa với năm hiện tại, số liệu bản đồ, báo cáo thống kê đất đai và dữ liệu ảnh vệ tinh để đối chứng
Trang 242.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát ngoài hiện trường
Thực địa, điều tra, khảo sát tổng hợp ngoài hiện trường nhằm bổ sung tài liệu, số liệu
và kiểm tra, đánh giá lại tài liệu kế thừa Đây là một phương pháp trực quan và luôn được coi là phương pháp tốt nhất trong quá trình đánh giá độ tin cậy của các tài liệu thu thập
- Đánh giá so sánh số liệu thực tế với số liệu bản đồ thu thập từ các đơn vị quản lý trên địa bàn 16 xã thị trấn của Huyện Phú Lương
- Sử dụng bảng hỏi gồm nhiều câu hỏi được tác giả thống kê sẵn như: hiện trạng nguồn nước tại khu vực, tình hình khai thác, sử dụng nguồn nước, tình hình xả thải vào nguồn nước
2.2.3 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả nghiên cứu, báo cáo hiện trạng nguồn nước của các luận văn cùng loại đã được bổ sung và chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng Thẩm định
2.2.4 Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp
Thu thập và xử lý các số liệu về khí tượng thuỷ văn, kinh tế – xã hội, môi trường tại khu vực thực hiện
2.2.5 Phương pháp viễn thám và GIS
Chồng xếp các bản đồ địa hình, thảm phủ và thủy hệ để xây dựng bản đồ mạng lưới sông suối huyện Phú Lương
Chồng xếp, số hóa các bản đồ phân bố dân cư, các điểm xả thải, các công trình khai thác nước để xây dựng bản đồ khu vực cần lập hành lang
Từ bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất xây dựng bản đồ nguồn nước phải lập hành lang trên địa bàn huyện Phú Lương
Tổng hợp, số hóa các lớp bản đồ, xây dựng cơ sở thuộc tính dữ liệu bản đồ hành lang
2.3 Khối lƣợng thực hiện
2.3.1 Thu thập các dạng tài liệu liên quan
Sau quá trình làm việc với địa phương, các tài liệu thu thập được đánh giá đủ độ tin cậy để làm cơ sở cho việc điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt trên địa bàn huyện Phú Lương
Trang 25Bảng 2.1 Tổng hợp danh mục tài liệu thu thập được tại huyện Phú Lương
2 Bản đồ địa chính 15 xã, thị
trấn Phòng nông nghiệp xã Dạng Microstation
3 Báo cáo kinh tế xã hội 3
năm của 15 xã, thị trấn Phòng hành chính xã Dạng file World
3 Niên giám thống kê tỉnh
Thái Nguyên năm 2016 Phòng thống kê Dạng file excel
2.3.2 Điều tra, khảo sát
Điều tra, khảo sát về nguồn nước bao gồm: nguồn nước liên tỉnh (sông Cầu, sông Chợ Chu); nguồn nước nội tỉnh theo Quyết định Số: 341/QĐ-BTNMT về việc ban hành danh mục lưu vực sông nội tỉnh; hồ chứa, đập dâng và điều tra, khảo sát hiện trạng khai thác, sử dụng nước trong phạm vi địa giới bao gồm 15 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.[3],[4]
- Điều tra, khảo sát về hiện trạng sông, suối, ao, hồ trên địa bàn huyện; bao gồm thông tin về tên, địa giới hành chính của ao, hồ, đoạn sông, suối, kênh, rạch, đặc điểm nguồn nước, đặc điểm bồi sói, sạt lở;
- Điều tra khảo sát hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt trên địa bàn;
- Điều tra hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước.[5]
a Đối với các đoạn sông chính:
- Xác định tên, phạm vi hành chính, vị trí tọa độ điểm đầu, điểm cuối đoạn sông;
- Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, thu thập thông tin, dữ liệu về: đặc điểm lòng sông, bãi sông, bờ sông; các công trình, các hoạt động khai thác, sử dụng nước mặt trên đoạn sông; đặc điểm hệ sinh thái thủy sinh;
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan.[5]
b Đối với đoạn sông bị bồi xói, sạt lở:
- Xác định tên sông, phạm vi hành chính; xác định vị trí bờ trái, bờ phải, hướng dòng
Trang 26chảy; độ dài đoạn bồi xói, sạt lở;
- Xác định vị trí, độ dài đoạn sông thường xảy ra hoặc xảy ra bồi xói, sạt lở nghiêm trọng; thu thập thông tin về diễn biến, nguyên nhân và mức độ thiệt hại;
- Ước lượng vận tốc dòng chảy, độ sâu mực nước tại thời điểm điều tra;
- Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, thu thập thông tin, dữ liệu về đặc điểm hình thái, địa hình, lớp phủ thực vật, cấu tạo địa chất lòng sông, bãi sông, bờ sông, đặc điểm dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm, quan hệ giữa dòng mặt và dòng ngầm trong khu vực đoạn sông, dao động mực nước và tình hình diễn biến dao động mực nước theo thời gian;
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan.[5]
c Đối với đoạn sông có nhập lưu, phân lưu, thay đổi mạnh về hướng dòng chảy:
- Xác định tên sông, phạm vi hành chính, tọa độ các vị trí phân lưu, nhập lưu, hướng dòng chảy;
- Ước lượng độ rộng, vận tốc dòng chảy của dòng chính và các nhánh sông nhập lưu, phân lưu;
- Quan sát, mô tả, chụp ảnh, sơ họa, thu thập thông tin, dữ liệu về đặc điểm lòng sông, bãi sông, bờ sông của các nhánh sông, độ sâu dòng chảy, lưu lượng, mực nước trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất đã từng xảy ra trên từng nhánh;
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan.[5]
d Đối với đoạn sông có hiện tượng ô nhiễm, suy thoái chất lượng nước:
- Xác định tên sông, phạm vi hành chính, vị trí tọa độ điểm đầu, điểm cuối đoạn sông,
độ dài đoạn sông, hướng dòng chảy;
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ;
- Quan sát, sơ bộ xác định các vị trí, lưu lượng, loại hình nước thải chủ yếu xả vào nguồn nước và các nguyên nhân chính gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước mặt;
- Sơ bộ xác định mức độ ảnh hưởng, phạm vi bị ảnh hưởng bởi đoạn sông đó [5]
e Đối với đoạn sông có hồ chứa, đập dâng:
Trang 27- Tại các hồ chứa, đập dâng, gồm:
+ Xác định tên, phạm vi hành chính, vị trí tọa độ hồ chứa, đập dâng;
+ Quan sát, chụp ảnh, sơ họa, mô tả đặc điểm hình thái của hồ về hình dạng, địa hình
bờ hồ, thảm phủ thực vật ven hồ;
+ Các thông số chủ yếu của hồ chứa đập dâng, gồm: mục đích sử dụng nước, tổng dung tích, dung tích hữu ích, dung tích chết, mực nước dâng bình thường, mực nước chết, mực nước gia cường, diện tích mặt nước ứng với mực nước dâng bình thường, lưu lượng xả, chế độ vận hành, diễn biến lưu lượng dòng chảy đến hồ, lưu lượng hạ lưu hồ chứa, đập dâng
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan;
- Tại các đoạn sông sau hồ chứa, đập dâng, gồm:
+ Quan sát, chụp ảnh, sơ họa, mô tả đặc điểm hình thái đoạn sông sau hồ chứa, đập dâng về hình dạng, địa hình, cấu tạo địa chất lòng sông, bờ sông ;
+ Đặc điểm nguồn nước hạ lưu hồ, đập, gồm: dòng chảy, mực nước, mục đích sử dụng;
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ, vị trí, chiều dài đoạn sông mất nước và các thông tin khác có liên quan [5]
f Đối với đoạn sông nằm trên ranh giới hành chính, ranh giới vùng điều tra hoặc cắt ngang ranh giới hành chính (kể cả sông liên quốc gia), ranh giới vùng:
- Xác định tên sông, phạm vi hành chính, vị trí tọa độ điểm đầu, điểm cuối đoạn sông;
- Ước lượng độ dài đoạn sông, hướng dòng chảy; ước lượng độ rộng bờ sông, bãi sông, lòng sông; ước lượng độ sâu, vận tốc dòng chảy;
- Xác định các vị trí, tọa độ, loại hình, phương thức xả nước thải; ước lượng lưu lượng của nguồn xả nước thải vào nguồn nước;
- Quan sát, chụp ảnh, sơ họa, mô tả đặc điểm đoạn sông về hình dạng, địa hình, cấu tạo địa chất lòng sông, bãi sông, bờ sông; đặc điểm thảm phủ thực vật, hiện trạng sử dụng đất vùng ven sông, đặc điểm nguồn nước về dòng chảy, mực nước; tình hình khai thác,
sử dụng nước; điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan;
- Sơ bộ nhận định mối quan hệ của nguồn nước nằm giữa phần lưu vực sông thuộc các
Trang 28đơn vị hành chính khác nhau, giữa phần lưu vực thuộc vùng điều tra và phần lưu vực nằm ngoài vùng điều tra.[5]
g Đối với hồ, ao tự nhiên:
- Xác định tên, phạm vi hành chính, vị trí tọa độ của hồ, ao;
- Ước lượng độ rộng, độ sâu hồ, ao;
- Quan sát, chụp ảnh, sơ họa, mô tả đặc điểm hồ, ao; đặc điểm nguồn nước hồ, ao (mực nước hồ, ao tại thời điểm điều tra, màu sắc, mùi vị nước hồ, diễn biến mực nước, diễn biến chất lượng nước, đặc điểm nguồn nước cấp);
- Điều tra, đánh giá chất lượng nước về màu, mùi, vị, pH, độ dẫn điện, độ mặn, DO, nhiệt độ và các thông tin khác có liên quan.[5]
h Đối với các công trình khai thác nước quy mô lớn, quan trọng và những khu vực khác có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chất lượng nguồn nước sông, suối, ao, hồ:
- Xác định phạm vi hành chính, vị trí tọa độ công trình;
- Xác định tên nguồn nước khai thác, quy mô và loại hình công trình;
- Quan sát, mô tả, thu thập thông tin, số liệu về mục đích khai thác, sử dụng nước chính, các mục đích sử dụng khác, lượng nước khai thác, chế độ khai thác, quy trình vận hành và các thông số khác của công trình; xác định phạm vi, đối tượng cấp nước của công trình.[5]
2.4 Kết quả điều tra, thu thập làm cơ sở cho việc phân loại nguồn nước phải lập hành lang
2.4.1 Hiện trạng nguồn nước mặt trên địa bàn huyện
Tiến hành điều tra, thu thập tổng hợp tài liệu, số liệu theo địa giới hành chính xã và theo lưu vực sông làm mục tiêu, các nguồn nước mặt điều tra gồm: mạng lưới sông
suối, ao hồ trên địa bàn, kết quả tổng hợp như sau:
(1) Xã Hợp Thành
+ 02 sông suối:
Trang 29 Suối Ông Lâm: có chiều dài 4km, suối bắt đầu từ xóm Khuân Lân và đổ vào sông
Đu tại xóm Mãn Quang; nguồn nước suối chủ yếu phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp; hiện suối có hiện tượng sạt lở tại xóm Mãn Quang với chiều dài sạt lở 10m
Nhánh sông Đu: có chiều dài 4km, sông bắt đầu từ xóm Mãn Quang, kết thúc tại xóm Kết Thành và đổ ra sông Cầu; nguồn nước sông chủ yếu phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp; hiện sông có hiện tượng sạt lở tại xóm Mãn Quang với chiều dài sạt
lở 5m
+ 08 ao hồ: nằm trên địa phận các xóm Bo Chè, Làng Mới, Mãn Quang, Quyết Tiến, Khuân Lân Hồ bé nhất là hồ Thâm Sẳm với diện tích 959 m2, hồ lớn nhất là hồ Khuân Lân với diện tích 1.200.000 m2 do Trạm khai thác thủy lợi huyện Phú Lương quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho xã Hợp Thành
(Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(2) Xã Ôn Lương
+ 01 sông suối:
Sông Đu: có chiều dài 2km, suối bắt đầu từ xóm Xuân Trường và kết thúc tại xóm Cây Thị; suối chảy qua địa phận xã Sơn Cẩm và cuối cùng đổ vào sông Cầu; nguồn nước suối chủ yếu phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp; hiện suối có hiện tượng sạt
lở tại các xóm Xuân Trường, Cây Thị, Khau Lài với chiều dài sạt lở 30m
+ 05 ao hồ: nằm trên địa phận các xóm Xuân Trường, Na Pặng, Đầm Run, Cây Thị, Thâm Đông Ao hồ bé nhất là ao Thẩm Keo với diện tích 8.636 m2, hồ lớn nhất là hồ
Na Mạt với diện tích 50.586 m2
do Chi cục khai thác thủy lợi tỉnh Thái Nguyên quản
lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho xã Ôn
Lương (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(3) Xã Phấn Mễ
+ 03 sông suối:
Suối Máng: chảy trên địa phận xã Phấn Mễ bắt đầu từ xóm Giá 1 xuống xóm Mỹ Khánh, sau đó nhập lưu vào sông Đu với chiều dài khoảng 2km, độ rộng lòng suối khoảng 3-4m Nguồn nước suối chủ yếu phục vụ tiêu thoát nước cho xã Phấn Mễ
Suối Khe Cốc: chảy qua địa phận xã từ xóm Núi Chúa xuống xóm Bầu 2 với chiều dài trên địa phận xã là 2km, suối sau đó nhập lưu vào sông Đu và chức năng chủ yếu
để tiêu thoát nước
Trang 30 Sông Đu: có chiều dài trên địa phận xã là 4km, chảy từ xóm Cọ 1 tới xóm Bún 2, độ rộng lòng sông khoảng 30m, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp
+ 13 ao hồ: nằm trên địa phận các xóm Phố Giá, Bún 1, Bún 2, Bò 1, Hái Hoa 2, Làng Mai, Mỹ Khánh, Mấu 1, Bầu 2, Làng Hin Diện tích các hồ dao động từ 1.200 đến 50.000 m2, các hồ đều do UBND xã Phấn Mễ quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục
vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho xã Phấn Mễ (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
Suối Khe Cốc: chiều dài 6km, chảy từ xóm Tân Bình 1 xuống xóm Bình Long + 04 đầm: nằm trên địa phận các xóm Trung Thành 4, xóm 1/5, Liên Hồng 7, Liên Hồng 3 Diện tích các hồ dao động từ vài nghìn đến chục nghìn m2, các hồ đều do UBND xã Vô Tranh quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất
nông nghiệp cho xã Vô Tranh (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho khoảng 90ha trên địa bàn xã Yên Lạc (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(6) Xã Yên Đổ
Trang 31+ 01 sông suối:
Suối Nà Dâu: chiều dài 5km, chảy từ xóm Đá Mài xuống xóm Hạ, suối có hiện tượng sạt lở tại xóm Đá Mài với chiều dài 15m, nguồn nước suối chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp
+ 11 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Khe Nác, xóm Kẻm, xóm Hin, Phố Trào, Thanh Thế, xóm Trung, Ao Then, Đồng Chừa, Gốc Vải, Khe Thương Diện tích các
hồ dao động từ vài nghìn đến vài chục nghìn m2; các hồ ao đầm đều do UBND xã Vô Tranh quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho
khoảng 19ha trên địa bàn xã Yên Đổ (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2) (7) Xã Tức Tranh
Khe Ấm: chiều dài 8km, chảy từ xóm Đồng Tiến xuống xóm Gốc Gạo, chức năng
để tiêu thoát nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp
Suối Dê (suối Khe Dạt): chiều dài 2,67km, chảy từ xóm Bãi Bằng xuống xóm Tân Thái Chức năng để tiêu thoát nước và phục vụ sản xuất nông nghiệp
+ 15 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Đồng Tiến, Đồng Tâm, Đồng Lường, Đồng Danh, Đồng Hút, Thâm Găng, Gốc Mít, Gốc Cọ; các hồ ao đầm đều do UBND
xã Tức Tranh quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông
nghiệp cho xã Tức Tranh (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(8) Xã Động Đạt
+ 02 sông suối:
Sông Đu: chiều dài 3km, chảy từ xóm Cộng Hoa xuống xóm Vườn Thông, suối hiện có hiện tượng sạt lở tại xóm Đồng Niềng với chiều dài 200m, chức năng chủ yếu
để tiêu thoát nước
Phụ lưu số 2: có chiều dài 2km, chảy từ xóm Đồng Tâm xuống xóm Yên Đổ, suối hiện có hiện tượng sạt lở tại xóm Đá Vôi với chiều dài 250m, chức năng chủ yếu để tiêu thoát nước
Trang 32+ 05 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Đồng Chằm, Làng Lê, Cây Hồng 1, Làng Mạ, Đồng Nghè 1 với tổng diện tích khoảng 19ha; do huyện và tỉnh quản lý
Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
để phục vụ sản xuất nông nghiệp
+ 17 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Bản Cái, Bản Héo, Na Hiên, Bài Kịnh, Đin Đeng, Khuân Cướm, Khau Đu, Đồng Quốc, Làng Nông; do UBND xã Yên Trạch quản
lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho xã Yên Trạch
(Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(11) Xã Phủ Lý
+ 04 sông suối: sông Đu, suối Na Nhạp, Nà Dâu và suối Ao Cỏ; chủ yếu để tiêu thoát nước
+ 03 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Đồng Chợ, Khe Ván, Na Biểu; do UBND
xã Phủ Lý quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp cho
xã Phủ Lý (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(12) Xã Cổ Lũng
Trang 33+ Sông Đu: sông Giang Tiên có chiều dài 5km, chảy từ xóm Đồi Chè xuống xóm Làng Đông; sông đang có hiện tượng sạt lở tại xóm Làng Đông với chiều dài 100m, sông chủ yếu để tiêu thoát nước và tưới cho nông nghiệp
+ 06 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Làng Phan, Tân Long, Bá Sơn, Dọc Cọ, Đồng Sang; do các xóm tự quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản
xuất nông nghiệp cho xã Cổ Lũng (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
(13) Xã Yên Ninh
+ 03 sông suối:
Sông Chu: chiều dài 5km, chảy từ xóm Làng Muông xuống xóm Ba Luồng, chức năng chủ yếu để phục vụ sản xuất nông nghiệp, sông hiện đang có hiện tượng sạt lở với chiều dài là 10m tại Làng Muông
Suối Trong: chiều dài 10km, chảy từ xóm Đồng Danh xuống Bằng Ninh, nguồn nước suối chủ yếu để sản xuất nông nghiệp
Sông Yên Trạch: chiều dài 6km, chảy từ xóm Đồng Kem 10 xuống Bắc Bé, nguồn nước suối chủ yếu để sản xuất nông nghiệp
+ 09 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Kem 10, Kem 4, Đồng Phủ 2, Bắc Bé, Suối Bén; do UBND xã Yên Ninh quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới
tiêu, sản xuất nông nghiệp cho xã Yên Ninh (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
+ 02 sông suối: sông Cầu và sông Đu, sông chủ yếu để tưới cho nông nghiệp
+ 04 hồ, ao, đầm: nằm trên địa phận các xóm Sơn Cẩm, Quang Trung, Thanh Trà; do công ty Thủy sản tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Thanh Xương và Liên Sơn quản lý Mục đích sử dụng các hồ phục vụ tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản cho xã Sơn Cẩm (Chi tiết xem trong phụ lục 1 và phụ lục 2)
Trang 34(16) Thị trấn Đu
Có 01 sông: sông Đu có chiều dài 4km, chảy từ phố Dương Tự Minh xuống Lân 2,
nguồn nước sông để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong bảng 01)
Hình 2.1 Vị trí khảo sát nhánh sông
Đu, xã Vô Tranh
Hình 2.2 Vị trí khảo sát sông Cầu, xã
2.4.2 Hiện trạng công trình khai thác sử dụng nước mặt
Qua kết quả tổng hợp điều tra về hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Phú Lương hiện có 44 công trình; trong đó có 39 trạm bơm và 05 đập phục vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp cho các xã trong huyện Ước tính tổng lượng nước khai thác là 82 triệu m3/năm Cụ thể các công trình trạm bơm và đập qua điều tra khảo sát tại 16 xã trên địa bàn huyện Phú Lương như sau:
Trang 35(1) Xã Hợp Thành: Xã có 02 trạm bơm: trạm bơm Quyết Tiến và trạm bơm Phú Thành
do UBND xã quản lý; cùng khai thác sử dụng nước trên nhánh sông Đu với lưu lượng khai thác 450.000 m3/năm, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã Hợp Thành
(Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(2) Xã Ôn Lương: Xã có 03 trạm bơm: trạm bơm Khau Lai, trạm bơm Cây Thị 1, trạm
bơm Cây Thị 2 do UBND xã quản lý; cùng khai thác sử dụng nước trên Sông Đu với lưu lượng khai thác 450.000 m3/năm, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã Ôn
Lương (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(3) Xã Phấn Mễ: Xã có 04 trạm bơm: trạm bơm Cọ 1, Cọ 2, Bầu 1, Vực Tròn; các
trạm bơm đều do UBND xã quản lý; cùng khai thác sử dụng nước trên sông Đu với lưu lượng khai thác 450.000 m3/năm, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã
Phấn Mễ (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(4) Xã Vô Tranh: Xã có 03 trạm bơm: trạm bơm Toàn Thắng, Thống Nhất 1, Thống
Nhất 3 khai thác nguồn nước trên sông Cầu và sông Đu; và 01 đập: đập khe Cốc khai thác nguồn nước từ đập Khe Cốc; các công trình đều do UBND xã quản lý; lưu lượng khai thác khoảng 450.000 m3/năm, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã Vô
Tranh (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(5) Xã Yên Lạc: Trên địa bàn xã không có công trình khai thác sử dụng nguồn nước mặt
(6) Xã Yên Đổ: Xã có 01 trạm bơm xóm Hạ, khai thác nguồn nước trên suối Nà Dâu
với lưu lượng 450.000 m3/năm để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(7) Xã Tức Tranh: Xã có 02 trạm bơm: trạm bơm Đồng Lường, trạm bơm Ba Rơm
(Đồng Hút), khai thác nguồn nước trên sông Cầu và suối Khe Dạt với lưu lượng
khoảng 250m3/h để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3) (8) Xã Động Đạt” Xã có 03 trạm bơm: trạm bơm Làng Ngòi, Đá Vôi, Đồng Tâm; 03
đập: đập Đá Vôi, Núi Phấn, đập 53; khai thác nguồn nước trên Sông Đu để phục vụ
sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(9) TT Giang Tiên: Xã có 03 trạm bơm: trạm bơm mỏ than Phấn Mễ do mỏ than Phấn
Mễ quản lý, trạm bơm Giang Long, Giang Tiên do UBND thị trấn quản lý; khai thác
Trang 36nguồn nước trên sông Đu để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(10) Xã Yên Trạch: Xã có 01 đập dâng Nà Toong do UBND xã quản lý; đập dâng khai
thác nguồn nước trên Sông Yên Trạch để phục vụ tưới cho diện tích 5ha sản xuất nông
nghiệp của xã Yên Trạch (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(11) Xã Phủ Lý: Xã có 02 trạm bơm: trạm bơm Na Dau, trạm bơm Đồng Vẽn; 2 trạm
bơm cùng khai thác nguồn nước trên sông Đu với lưu lượng khai thác 450.000 m3/năm
để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(12) Xã Cổ Lũng: Xã có 03 trạm bơm: trạm bơm Bến Giáng, trạm bơm Vựa To, trạm
bơm Bến Móc; các trạm bơm đều do UBND xã quản lý; tổng lưu lượng khai thác trên sông Giang Tiên khoảng 61,4 triệu m3/năm để phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(13) Xã Yên Ninh: Xã có 02 trạm bơm: trạm bơm Ba Luồng khai thác nguồn nước trên
sông Chu, trạm bơm Bắc Bé khai thác nguồn nước trên Suối Đục với lưu lượng khai thác khoảng 450.000 m3/năm để phục vụ sản xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(14) Xã Phú Đô: Xã có 02 trạm bơm: trạm bơm Pháng I, trạm bơm Pháng II khai thác nguồn nước trên suối để phục vụ sản xuất nông nghiệp cho xã Phú Đô (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(15) Xã Sơn Cẩm: Xã có 05 trạm bơm: trạm bơm Đồng Xe do Hợp tác xã Thanh Sơn
quản lý khai thác nguồn nước trên sông Cầu với lưu lượng khoảng 450.000 m3/năm; các trạm bơm Thác Cổ, Bà Chúa, Liên Thành, Hồ Quang Trung do Hợp tác xã Liên Sơn quản lý, cùng khai thác nguồn nước trên sông Cầu và sông Đu để phục vụ sản
xuất nông nghiệp (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
(16) Thị trấn Đu: Thị trấn có 04 trạm bơm: trạm bơm Thọ Lâm, Gốc Sơn, Lò Vôi, Tân
Lập; các trạm bơm khai thác nguồn nước trên sông Đu để phục vụ sản xuất nông
nghiệp cho thị trấn (Chi tiết xem trong phụ lục 3)
Trang 382.4.3 Hiện trạng xả thải vào nguồn nước
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn huyện Phú Lương hiện tượng xả thải ra sông suối không nhiều, có 3 điểm xả thải lớn của 3 công ty thuộc 3 xã Phấn Mễ, Cổ Lũng và Động Đạt, các điểm xả thải này chảy trực tiếp ra sông Đu
Bảng 2.2 Hiện trạng xả thải vào nguồn nước
Lưu lượng xả thải (m3/ng.đêm)
Sông, suối
1 Công ty TNHH MTV 27 Phấn Mễ Phấn Mễ 84 Sông Đu
2 Công ty CP XD&KT than
Thái Nguyên Cổ Lũng Cổ Lũng 2891 Sông Đu
Trang 39Hình 2.9 Bản đồ hiện trạng sông suối và công trình khai thác nước
Trang 402.5 Kết luận chương
Căn cứ theo các kết quả điều tra thực tế trên địa bàn huyện Phú Lương hiện có:
+ 18 tuyến sông suối chảy qua, bao gồm: Suối Khe Dạt, Phụ lưu số 2, Suối Ao Cỏ, Suối Dê, Suối Máng, Suối Na Nhạp, Sống ông Lâm, Suối Trong, Suối Vu I, Suối Vu
II, sông Cầu, sông Chợ Chu, sông Yên Trạch, Khe Ấm (sông Đồng Tâm), sông Đu, suối Nà Dâu, Phụ lưu số 2 (phụ lưu sông Đu), Khe Cốc
Sông, suối
2 Công ty TNHH MTV than
3 Công ty CP nhiệt điện An
Khánh
Xóm
4 Công ty CP Tập đoàn Baltic
5 Công ty TNHH XD&PT nông
thôn miền Núi
Xóm Cây
+ 43 công trình khai thác sử dụng nguồn nước trên các sông suối để tưới cho nông nghiệp:
+ 03 điểm xả thải ra các sông, suối:
Lưu lượng xả thải (m3/ng.đêm)
Sông, suối
1 Công ty TNHH MTV 27 Phấn Mễ Phấn Mễ 84 Sông Đu
2 Công ty CP XD&KT than
Thái Nguyên Cổ Lũng Cổ Lũng 2891 Sông Đu