1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực quản lí dự án của ban quản lí dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố hà nội để thực hiện dự án phát triển đô thị NHật tân nội bài

105 190 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 825,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thời gian: Vì lý do các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng luôn được thay đổi và cập nhật cho phù hợp với thực tế cho nên luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết quả đạt được 4

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 5

1.1 Khái quát chung về công tác quản lý đầu tư xây dựng 5

1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng 5

1.1.2 Công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình 6

1.2 Đánh giá công tác quản lý dự án ở Việt Nam 16

1.2.1 Thực trạng công tác quản lý dự án ở Việt Nam 16

1.2.2 Thực trạng năng lực của các Ban quản lý dự án ở Việt Nam 20

1.3 Đánh giá công tác đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội 21

1.4 Đánh giá công tác quản lý dự án ở nước ngoài 23

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 27

2.1 Các quy định của pháp luật về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng 27

2.2 Nội dung công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình 29

2.2.1 Quản lý vĩ mô về đầu tư xây dựng công trình 29

2.2.2 Quản lý vi mô về đầu tư xây dựng công trình 34

2.3 Các phương pháp nâng cao năng lực quản lý đầu tư xây dựng 41

2.3.1 Điều kiện về năng lực ban quản lý dự án 41

2.3.2 Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và hoạt động đấu thầu 42

Trang 2

2.3.3 Điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề 42

2.3.4 Cơ sở lý luận để nâng cao năng lực quản lý đầu tư xây dựng công trình 45

2.4 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư xây dựng 46

2.4.1 Các nguyên nhân khách quan 46

2.4.2 Các nguyên nhân chủ quan 48

Kết luận chương 2 50

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG VÀ ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ NHẬT TÂN – NỘI BÀI 51

3.1 Giới thiệu về Ban quản lý các dự án xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 51

3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông thành và đô thị phố Hà Nội 53

3.2 Công tác đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 -2020 54

3.3 Giới thiệu về dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội bài 55

3.3.1 Giới thiệu chung về Dự án phát triển đô thị hai bên tuyến đường Võ Nguyên Giáp (Nhật Tân - Nội Bài) 55

3.3.2 Danh mục, tổng mức đầu tư các dự án thành phần của dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài (gồm 11 dự án HTKT khung và 8 dự án HTKT khác): 57

3.3.3 Quy mô và sự cần thiết phải đầu tư các dự án thành phần của dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài (các dự án hạ tầng khung, hạ tầng kỹ thuật khác): 59

3.3.4 Nguồn vốn đầu tư 61

3.4 Thực trạng công tác thực hiện đầu tư của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 62

3.5 Các tồn tại trong công tác quản lý đầu tư ở các dự án của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 63

3.5.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: 63

3.5.2 Giai đoạn tổ chức thực hiện dự án đầu tư 66

3.5.3 Giai đoạn kết thúc dự án đầu tư 69

Trang 3

3.6 Đánh giá thực trạng công tác quản lý đầu tư tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 71

3.6.1 Các mặt đạt được 71

3.6.2 Các tồn tại, khó khăn: 71

3.6.3 Nguyên nhân của các tồn tại 72

3.6.4 Những hạn chế về năng lực của Ban QLDA đầu tư phát triển giao thông và đô thị thành phố Hà Nội khi thực hiện dự án phát triển hai bên đường Võ Nguyên Giáp (Nhật Tân – Nội Bài) 73

3.7 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình 74

3.7.1 Các nguyên nhân khách quan 74

3.7.2 Các nguyên nhân chủ quan 80

3.8 Các giải pháp để quản lý dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài 84

3.8.1 Các giải pháp nâng cao năng lực của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 84

3.8.2 Giải pháp nâng cao năng lực của các nhà thầu tham gia thực hiện dự án 88

3.8.3 Giải pháp kiện toàn Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 88

3.8.4 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 93

3.9 Các kiến nghị 94

3.9.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 94

3.9.2 Kiến nghị đối với thành phố Hà Nội 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Tam giác mục tiêu 8

Hình 1.2 Tứ giác mục tiêu 9

Hình 1.3 Ngũ giác mục tiêu 9

Hình 1.4 Lục giác mục tiêu 10

Hình 1.5 Chu trình dự án đầu tư xây dựng 13

Hình 1.6 Về đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng cho sự tăng trưởng GDP tại Việt Nam 20

Hình 2.1 Mô hình phát triển kinh tế bền vững theo quy hoạch xây dựng 31

Hình 2.2 Quy trình quản lý chất lượng thiết kế 37

Hình 2.3 Một số nguyên nhân gây rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng 38

Hình 3.1 Mô hình Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 52

Hình 3.2: Sơ đồ Ban Quản lý khu vực phát triển đô thị Hà Nội 92

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Danh mục các dự án HTK của dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài 57 Bảng 3.2 Danh mục các dự án HTKT khác của dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài 58 Bảng 3.3 Tổng hợp các dự án thực hiện trong những năm gần đây tại Ban Quản lý dự

án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 62 Bảng 3.4: Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư xây dựng đối với công tác quản lý dự án của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội 72 Bảng 3.5 Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về ảnh hưởng của công tác quy hoạch 76 Bảng 3.6 Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về ảnh hưởng của nguyên nhân cơ chế, chính sách 78

Trang 6

XDCT Xây dựng công trình

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Sau khi toàn bộ tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc cùng với 04 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình sát nhập vào Thủ đô Hà Nội cũ, diện tích Hà Nội được mở rộng ra lên đến 3.329 km2, là một trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới với dân số gần 8 triệu người chưa tính đến một bộ phận dân số tạm nhập cư và chưa có hộ khẩu thường trú

- Cùng với quá trình đô thị hóa, việc mở rộng Hà Nội là thực sự cần thiết cho hướng phát triển bền vững thủ đô, nhất là nhu cầu phát triển công nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường Thủ đô mở rộng bao gồm cả tỉnh Hà Tây có các trục xuyên tâm và dải xanh đan xen cho phép Hà Nội phát triển các khu mới ra xa khu trung tâm, có những vùng đệm mầu xanh ở giữa khu mới và thành phố cũ, gắn kết với các không gian mở, không gian xanh, mặt nước của khu vực … để tạo động lực phát triển kinh tế của Thủ đô cũng như của khu vực, sớm thúc đẩy quá trình đô thị hóa đi đôi với việc kiểm soát phát triển đô thị cùng với quá trình đầu tư xây dựng đường giao thông kết nối trung tâm thành phố Hà Nội với các tỉnh lân cận Trên cơ sở đó, ngày 02 tháng 12 năm 2015, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 6630/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết dự án phát triển đô thị Nhật Tân - Nội Bài

- Từ năm 2005 đến nay, Thành phố Hà Nội đã phê duyệt và thực hiện đầu tư rất nhiều

dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật (khoảng hơn 2.000 dự án, trong đó có hơn 500 dự án nhóm C trở lên) nhưng việc các dự án hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, không phải điều chỉnh dự án lại rất ít (khoảng trên 30 %), trong đó chủ yếu là các dự án xây dựng cầu vượt, cầu tạm, các dự án do các quận huyện đầu tư cải tạo, nâng cấp các công trình giao thông Nguyên nhân chính dẫn đến các dự án bị chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng là do công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình (quản lý dự án) của các ban quản lý dự án, việc thực hiện công tác công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình các dự án hiện nay tại Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập, kéo dài dẫn tới việc đầu

tư dự án kém hiệu quả, gây mất ổn định cuộc sống của người dân trong khu vực thực hiện dự án, điển hình như công tác giải phóng mặt bằng các dự án Xây dựng đường 5 kéo dài (từ Cầu Chui – Đông Trù – Phương Trạch – Bắc Thăng long kéo dài nhiều năm,

Trang 8

tổng mức đầu tư được điều chỉnh nhiều lần, tăng hơn 100% so với tổng mức đầu tư được phê duyệt ban đầu, hạng mục cầu Đông Trù phải thiết kế lại và điều chỉnh biện pháp thi công Mặt khác, công tác đầu tư xây dựng các công trình chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng là một trong những nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường Ngoài ra, việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông không đảm bảo chất lượng tiến độ còn ảnh hưởng tới việc đầu tư phát triển kinh tế của Thành phố do vấn nạn tắc đường, không đảm bảo an toàn giao thông và không hấp dẫn các nhà đầu tư, theo Cục Thống kê thành phố Hà Nội, năm

2016, thành phố Hà Nội có chỉ số FDI của Hà Nội hiện đang đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố trên khắp cả nước, đứng sau thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số PCI xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, học viên xin lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội để thực hiện Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài ” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Năng lực công tác quản lý đầu tư xây dựng và các nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác quản lý dự án của của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Công tác quản lý đầu tư xây dựng các dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội thực hiện và thực trạng Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài

- Thời gian: Vì lý do các văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng luôn được thay đổi và cập nhật cho phù hợp với thực tế cho nên luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực tế công tác Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và

đô thị thành phố Hà Nội thực hiện giai đoạn 2005 – 2017, đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý dự án của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và

Trang 9

đô thị thành phố Hà Nội và đề xuất, kiến nghị các giải pháp để thực hiện và thực trạng

Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài

- Không gian: Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố

Hà Nội là cơ quan trực thuộc UBND Thành phố Hà Nội, vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các dự án đầu tư xây dựng công trình trên cơ sở một số dự án điển hình và

Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài, trong phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Tiếp cận cơ sở lý luận và khoa học của các hình thức, phương pháp quản lý đầu tư xây dựng công trình Đồng thời, nghiên cứu các quy định của Nhà nước để áp dụng phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài, đòi hỏi phải sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích; phương pháp nghiên cứu lý luận, thực tiễn; phương pháp tiếp cận thực tế, kế thừa: Tiếp cận đề tài từ tổng thể đến chi tiết, thông qua thực tế và các ấn phẩm đã phát hành nghiên cứu, phân tích để giải đáp các mục tiêu đề ra của đề tài

- Phương pháp thu thập thông tin:

+ Thu thập thông tin thứ cấp qua các nguồn như: Tài liệu, sổ sách của Ban QLDA đầu

tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội, các sở, ban, ngành thuộc UBND thành phố Hà Nội, các bài viết qua sách báo tạp chí, internet, các giáo trình, tài liệu của trường đại học Thuỷ lợi Hà Nội và các kiến thức có được trong quá trình học tập, nghiên cứu

+ Thu thập thông tin sơ cấp: điều tra qua hình thức phát phiếu phỏng vấn các chuyên gia, các cá nhân trực tiếp tham gia hoặc các chuyên gia và cá nhân có liên quan đến công tác quản lý đầu tư xâu dựng tại Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội

- Phương pháp điều tra khảo sát:

+ Đối tượng điều tra: các chuyên gia, các cá nhân trực tiếp tham gia hoặc các chuyên gia và cá nhân có liên quan đến công tác quản lý đầu tư xây dựng tại Ban QLDA đầu

tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội

- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp và gửi phiếu xin ý kiến từ đó tìm hiểu các khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý đầu tư xây dựng các dự án do Ban QLDA

Trang 10

đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội thực hiện giai đoạn

2005 – 2017 và thực trạng Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội nói riêng và trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói chung và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất

về cơ chế chính sách trong công tác quản lý dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Kết quả đạt được

- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng các dự án do Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội thực hiện giai đoạn

2007 – 2017 và Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài;

- Đề xuất được giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố Hà Nội nói riêng và trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói chung và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất

về cơ chế chính sách trong công tác quản lý dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội để thực hiện Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao năng lực của Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông và đô thị thành phố

Hà Nội để thực hiện Dự án phát triển đô thị Nhật Tân – Nội Bài

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

1.1 Khái quát chung về công tác quản lý đầu tư xây dựng

1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng

- Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những khái niệm khác nhau về đầu

tư và vốn đầu tư Với mỗi phạm vi đầu tư lại có một loại vốn đầu tư tương ứng Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư Trong các kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực tăng thêm, Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật, của người dân) Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu

tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó

- Hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan thực hiện đầu tư và của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư Hiệu quả của hoạt động đầu tư là những hoạt động

sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực

và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có

- Vốn đầu tư mà chúng ta gọi là vốn đầu tư phát triển, có thời kỳ gọi là vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền

là toàn bộ chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm vốn cố định và vốn

lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Vốn đầu tư phát triển gồm: Vốn đầu tư

cơ bản; vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác

- Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Trong Luật xây dựng còn định nghĩa

Trang 12

về hoạt động xây dựng: Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự

án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [1]

- Như vậy, Đầu tư nói chung là sự sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư

là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực

1.1.2 Công tác q uản lý đầu tư xây dựng công trình

1.1.2.1 Khái quát về công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình

- Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng

buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình

từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:

- Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án

- Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn

bộ nhiệm vụ công việc của dự án) Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của dự án

- Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Bản thân việc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích

- Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo

1.1.2.2 Các nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng công trình

- Việc đầu tư xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và

Trang 13

an toàn môi trường, phù hợp với các quy hoạch của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan

- Ngoài việc tuân thủ quy định nêu trên, tùy theo nguồn vốn sử dụng cho dự án, Nhà nước còn quản lý theo quy định sau đây:

- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập

dự án, quy định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao đến khi đưa công trình vào khai thác sử dụng Người quy định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án

- Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước

- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng cho Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước thì Nhà nước chỉ quản

lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của pháp luật có liên quan

- Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, CĐT tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp vốn khác nhau thì các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với các vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư

1.1.2.3 Nội dung công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình

- Quản lý dự án được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của chu trình dự án Tùy theo chủ thể quản lý dự án phân thành: quản lý vĩ mô dự án và quản lý vi mô dự án, cụ thể là:

- Quản lý vĩ mô: Quản lý vĩ mô còn được gọi là quản lý nhà nước đối với các dự án bao gồm tổng thể các biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, thực hiện và kết thúc dự án Trong quá trình triển khai dự án, nhà nước luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho

dự án đóng góp tích cực gián tiếp hay trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội Những công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước bao gồm chủ trương, chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về tài chính, tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chủ trương về xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng…

Quản lý vi mô: QLDA ở tầm vi mô là quản lý các hoạt động cụ thể của dự án Nó

Trang 14

bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát…các hoạt động của dự án QLDA tầm vi mô bao gồm 9 lĩnh vực chính là: quản lý phạm vi; thời gian; chi phí; chất lượng; nguồn nhân lực; trao đổi thông tin dự án; rủi ro; hoạt động mua bán; giao nhận dự án

1.1.2.4 Các mục tiêu của công tác quản lý dự án

- Các mục tiêu cơ bản của QLDA xây dựng là hoàn thành công trình đảm bảo chất lượng kỹ thuật, trong phạm vi ngân sách được duyệt và thời hạn cho phép Các chủ thể

cơ bản của một dự án xây dựng là: Chủ đầu tư; Nhà thầu xây dựng công trình; Nhà tư vấn và Nhà nước

- Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự chú ý đến vai trò của các chủ thể tham gia vào một dự án xây dựng tăng lên và các mục tiêu đối với một dự án xây dựng cũng tăng lên Có thể mô tả sự phát triển này bằng các đa giác mục tiêu và chủ thể tham gia

- Tam giác mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng công việc, thời gian (tiến độ) và giá thành (chi phí) nêu như hình 1.1

Hình 1.1 Tam giác mục tiêu

Giá thành Thời gian

- Nhà nước

- Chủ đầu tư

- Thiết kế

- Nhà thầu xây Chất lượng

Trang 15

- Tứ giác mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn lao động và giá thành nêu như Hình 1.2:

Hình 1.2 Tứ giác mục tiêu

- Ngũ giác mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn lao động, giá

thành, môi trường, nêu như Hình 1.3:

Trang 16

- Lục giác mục tiêu trong quản lý dự án là chất lượng, thời gian, an toàn lao động, giá thành, môi trường và rủi ro, nêu như Hình 1.4:

Hình 1.4 Lục giác mục tiêu

- Nếu xét công trình xây dựng hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng như là một thứ hàng hóa thì hàng hóa này được mua bán, trao đổi giữa hai chủ thể, một bên là CĐT và bên kia là nhà thầu xây dựng Hai bên đối tác này mua bán, trao đổi hàng hóa là công trình xây dựng trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và không làm tổn hại đến an ninh, quốc phòng, lợi ích của Nhà nước

1.1.2.5 Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư XDCT

- Các hình thức tổ chức quản lý thực hiện dự án xây dựng về cơ bản bao gồm: CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án; Chủ nhiệm điều hành dự án; Chìa khóa trao tay và hình thức tự làm Mỗi hình thức nói trên đều có nội dung, ưu nhược điểm và yêu cầu vận dụng khác nhau Tùy theo điều kiện cụ thể của dự án mà CĐT có thể lựa chọn áp dụng một trong các hình thức quản lý này

- Hình thức CĐT trực tiếp quản lý dự án: CĐT sử dụng bộ máy sẵn có của mình để trực tiếp quản lý thực hiện dự án hoặc CĐT lập ra ban quản lý dự án riêng để quản lý việc thực hiện các công việc của dự án Ban QLDA có thể quản lý dự án nhiều dự án một lúc và sẽ được giải thể khi dự án thành công

- Hình thức chủ nhiệm điều hành dự án: CĐT giao cho ban QLDA chuyên ngành hoặc thuê một doanh nghiệp, tổ chức có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn đứng ra quản lý

An toàn lao động

Trang 17

toàn bộ quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án Ban QLDA là một pháp nhân độc lập chịu trách nhiệm trước pháp luật và CĐT về toàn bộ quá trình chuẩn bị và thực hiện

dự án

- Hình thức chìa khóa trao tay: CĐT giao cho một nhà thầu hoặc do một số nhà thầu liên kết lại với nhau thay mình thực hiện toàn bộ các công việc từ lập dự án đầu tư đến thực hiện dự án và bàn giao toàn bộ dự án đã hoàn thành cho CĐT khai thác, sử dụng

- Hình thức tự thực hiện dự án: CĐT phải tổ chức giám sát chặt chẽ việc sản xuất, xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm, chất lượng CTXD và tiến hành nghiệm thu quyết toán khi công trình hoàn thành thông qua các hợp đồng xây dựng cơ bản Hình thức này chỉ áp dụng trong trường hợp:

+ CĐT có năng lực hoạt động sản xuất, xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án và dự

án sử dụng vốn hợp pháp của chính CĐT như vốn tự có của doanh nghiệp, vốn huy động của các tổ chức, cá nhân, trừ vốn vay của tổ chức tín dụng

+ CĐT có thể sử dụng bộ máy quản lý của mình hoặc sử dụng ban QLDA trực thuộc

để quản lý việc thực hiện dự án tuân thủ theo các quy định của pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm và chất lượng công trình xây dựng

- Căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức QLDA sau:

+ Ban QLDA đầu tư xây dựng chuyên ngành, ban QLDA đầu tư xây dựng khu vực: áp dụng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách + Ban QLDA đầu tư xây dựng một dự án: áp dụng đối với dự án quy mô nhóm A có công trình xây dựng cấp đặc biệt, dự án áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận bằng văn bản, dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu bí mật nhà nước, dự án sử dụng vốn khác

+ Thuê tư vấn quản lý dự án đối với dự án sử dụng vốn Nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác và dự án có tính chất đặc thù, đơn lẻ

1.1.2.6 Phân loại dự án đầu tư XDCT

- Tùy theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, dự án đầu tư trong nước được phân loại thành: Dự án quan trọng quốc gia; Dự án nhóm A; Dự án nhóm B; Dự án nhóm C Tiêu chí chủ yếu để phân nhóm dự án là tổng mức đầu tư bên cạnh đó còn căn cứ vào tầm quan trọng của lĩnh vực đầu tư

Trang 18

- Phân loại dự án đầu tư XDCT theo tính chất công trình: Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành 5 nhóm:

+ Dự án đầu tư XDCT dân dụng

+ Dự án đầu tư XDCT công nghiệp

+ Dự án đầu tư XDCT hạ tầng kỹ thuật

+ Dự án đầu tư XDCT giao thông

+ Dự án đầu tư XDCT NN và PTNT [5]:

- Phân loại dự án đầu tư XDCT theo nguồn vốn đầu tư:

+ Vốn đầu tư XDCT có nhiều nguồn khác nhau, do đó có nhiều cách phân loại chi tiết khác nhau theo nguồn vốn đầu tư như: Phân loại theo nguồn vốn trong nước và nước ngoài; phân loại theo nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn ngoài nhà nước; phân loại theo nguồn vốn đơn nhất và nguồn vốn hỗn hợp Tuy nhiên trong thực tế quản lý, phân loại dự án đầu tư XDCT theo cách thức quản lý vốn được sử dụng phổ biến hơn Theo cách phân loại này, dự án đầu tư XDCT được phân thành:

+ Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước: Là những dự án có sử dụng từ 30% vốn Nhà nước trở lên trong tổng vốn đầu tư của dự án

+ Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn trong nước khác: Là những dự án sử dụng vốn trong nước khác mà trong tổng vốn đầu tư của dự án không sử dụng vốn Nhà nước hoặc sử dụng vốn Nhà nước với tỷ lệ ít hơn 30%

+ Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Là những dự án đầu tư

mà nguồn vốn là của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam [2]

- Phân loại dự án đầu tư XDCT theo hình thức đầu tư:Theo cách phân loại này, dự án đầu tư XDCT được phân thành dự án đầu tư XDCT; dự án đầu tư sửa chữa, cải tạo hoặc dự án đầu tư mở rộng, nâng cấp công trình

1.1.2.7 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

- Dự án xây dựng bao gồm 3 giai đoạn cơ bản là: Chuẩn bị dự án; Thực hiện dự án đầu tư; Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác, sử dụng

Trang 19

Hình 1.5 Chu trình dự án đầu tư xây dựng

- Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án, người quyết định đầu tư quyết định việc thực hiện tuần tự hoặc kết hợp, xen kẽ các công việc trong giai đoạn thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng

- Giai đoạn chuẩn bị dự án: Về cơ bản các dự án thông thường bao gồm: báo cáo

nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi Nội dung cần thực hiện trong giai đoạn này là: nghiên cứu thị trường, khả năng, sự cần thiết phải đầu tư và lựa chọn địa điểm xây dựng Dự án đầu tư xây dựng chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng trong các trường CTXD sử dụng cho mục đích tôn giáo; CTXD quy mô nhỏ

và công trình khác do Chính phủ quy định

- Giai đoạn thực hiện dự án: Sau khi dự án được phê duyệt, mục tiêu của dự án đã

được xác định thì sẽ chuyển sang bước thiết kế kỹ thuật (đối với các dự án phức tạp có yêu cầu thiết kế ba bước), thiết kế bản vẽ thi công

+ Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập báo

CHUẨN BỊ DỰ ÁN Nghiên cứu cơ hội Nghiên cứu tiền khả thi Nghiên cứu khả thi

THỰC HIỆN DỰ ÁN

VẬN HÀNH DỰ ÁN Vận hành dự án Đánh giá sau dự án Kết thúc dự án

Chu kỳ dự án mới

Thiết kế, đấu thầu

Thi công xây lắp

Trang 20

cáo kinh tế kỹ thuật

+ Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư

+ Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định [5]

+ Trên cơ sở thiết kế, dự toán công trình được duyệt, CĐT sẽ tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công và triển khai thi công xây dựng công trình Sau khi công trình được hoàn thành, tiến hành vận hành thử, chuẩn bị nghiệm thu, bàn giao công trình

+ Như vậy giai đoạn này tập trung một số nội dung sau: Giao đất hoặc thuê đất để xây dựng; Đền bù giải phóng mặt bằng; Thiết kế công trình và lập dự toán hoặc tổng dự toán; Xin cấp phép xây dựng; Tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị; Tổ chức triển khai thi công XDCT và mua sắm, lắp đặt thiết bị

- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng:

+ Sau khi nhà thầu thi công XDCT hoàn tất việc thi công, vận hành thử và nghiệm thu bàn giao công trình thì chuyển sang giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng

+ Các nội dung chủ yếu trong giai đoạn này gồm: Nghiệm thu bàn giao công trình; Đưa công trình vào sử dụng; Bảo hành công trình; Quyết toán vốn đầu tư

+ Trong giai đoạn này nhà thầu phải có nghĩa vụ bảo hành công trình, các dự án thông thường thời gian bảo hành là 12 tháng, đối với các dự án quan trọng của Nhà nước thì thời gian bảo hành là 24 tháng, hoặc một số trường hợp đặc biệt CĐT có thể yêu cầu nhà thầu kéo dài thời gian bảo hành công trình

+ Công trình, hạng mục công trình xây dựng khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được bảo trì; Quy trình bảo trì phải được CĐT tổ chức lập và phê duyệt trước khi đưa hạng mục công trình, công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng; phải phù hợp với mục đích sử dụng, loại và cấp công trình xây dựng, hạng mục công trình, thiết bị được xây dựng và lắp đặt vào công trình; Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì công trình xây dựng, máy, thiết bị công trình

- Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn

có tầm quan trọng riêng nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào

Trang 21

và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu

tư xây dựng CĐT luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng [12]

1.1.2.8 Quy trình và tiến độ trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình:

- Chuẩn bị đầu tư:

+ Giới thiệu địa điểm và cấp chứng chỉ quy hoạch (hoặc thỏa thuận quy hoạch - kiến trúc : 20 ngày (kể từ ngày hồ sơ đầy đủ tính hợp pháp và hợp lệ được tiếp nhận tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ)

+ Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường: Thời gian thẩm định phê duyệt: 35 ngày (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ)

+ Xác định chỉ giới đường đỏ: 12 ngày kể từ ngày hồ sơ đầy đủ tính hợp pháp và hợp

lệ được tiếp nhận tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ

+ Thỏa thuận quy hoạch tổng mặt bằng và xác nhận phương án thiết kế sơ bộ về kiến trúc: 20 ngày kể từ ngày hồ sơ đầy đủ tính hợp pháp và hợp lệ được tiếp nhận tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ

+ Lập, trình thẩm định, phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư dự án thời gian thẩm định (tuỳ theo dự án nhóm A, B, C) : từ 35 ngày đến 65 ngày làm việc (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ)

+ Lập, trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu giai đoạn chuẩn bị đầu

tư, thời gian thẩm định, phê duyệt: 25 ngày

+ Khảo sát, thu thập tài liệu, thỏa thuận khớp nối hạ tầng phục vụ việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi: Thời gian phục thuộc vào nhóm dự án, quy mô và đặc tính kỹ thuật của từ dự án

+ Lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thời gian thẩm định phê duyệt: từ 30 ngày đến 50 ngày làm việc (tuỳ theo dự án nhóm A, B, C)

+ Lập, thẩm định trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu thi công thời gian thẩm định, phê duyệt 25 ngày

+ Tổ chức lựa chọn nhà thầu tư vấn TKKT (TKBVTC) thời gian thẩm định tuỳ theo nhóm dự án (nhóm A, B, C): từ 30 ngày đến 50 ngày làm việc (kể từ ngày nhận đủ hồ

sơ hợp lệ)

+ Khảo sát địa hình địa chất phục vụ bước thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công:

Trang 22

Thời gian phục thuộc vào nhóm dự án, quy mô và đặc tính kỹ thuật của từ dự án + Lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật (thiết kế bản vẽ thi công đối với dự án thiết kế 2 bước): Thời gian phục thuộc vào nhóm dự án, quy mô và đặc tính kỹ thuật của từ dự

án

- Thực hiện đầu tư:

+ Thực hiện công tác GPMB Thời gian triển khai đo đạc, kiểm kê đất đai, tài sản, xác định nguồn gốc sử dụng đất: Không quá 60 ngày kể từ ngày có thông báo thu hồi đất đối với dự án có quy mô diện tích đất thu hồi nhỏ hơn 10ha hoặc số hộ có đất ở bị thu hồi ít hơn 50 hộ Không quá 90 ngày kể từ ngày có thông báo thu hồi đất đối với dự án

có quy mô diện tích đất thu hồi từ 10ha đến dưới 50ha hoặc số hộ có đất ở bị thu hồi từ

50 hộ đến dưới 100 hộ Không quá 120 ngày kể từ ngày có thông báo thu hồi đất đối với dự án có quy mô diện tích đất thu hồi từ 50 ha đến dưới 100 ha hoặc số hộ có đất ở

bị thu hồi từ 100 hộ đến dưới 150 hộ Không quá 180 ngày kể từ ngày có thông báo thu hồi đất đối với dự án có quy mô diện tích đất thu hồi từ 100 ha trở lên hoặc số hộ

có đất ở bị thu hồi từ 150 hộ trở lên Thời gian thực hiện giải phóng mặt bằng cụ thể của từng dự án phụ thuộc và quy mô, tính chất và số hộ bị ảnh hưởng của dự án

+ Thực hiện công tác thi công xây lắp: Thời gian phụ thuộc vào từng dự án, tuân thủ theo kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt

- Kết thúc đầu tư (bàn giao đưa vào sử dụng): Thời gian thực hiện tuỳ theo từng dự án

1.2 Đánh giá công tác quản lý dự án ở Việt Nam

1.2.1 Thực trạng công tác quản lý dự án ở Việt Nam

- Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam có những bước tiến đáng kể với tốc

độ tương đối cao Xây dựng là một trong những nền công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Ngoài nhiệm vụ tạo ra cơ sở vậtchất, tạo ra vật chất phục vụ cho nhu cầu phát triển của con người, ngành xây dựng còn góp phần tạo nên bộ mặt mỹ quan của đất nước và là một trong những yếu tố đánh giá sự phồn

vinh của xã hội

- Hiện nay Nhà nước đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhằm xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp.Việc đầu tư phát triển ngành xây dựng là tất yếu để đạt được mục tiêu trên Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, tỉ trọng của ngành xây dựng

Trang 23

trongnền kinh tế cũng tăng lên theo từng năm Trong bối cảnh đất nước đổi mới và mở cửa về kinh tế như hiện nay, đặc biệt là việcViệt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), làm cho Việt Nam trở thành nơi lí tưởng để thu hút nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

- Ở Việt Nam chúng ta vấn đề quản lý dự án đã được chú ý từ đầu những năm 90, thể hiện trong các luật, nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng, đấu thầu Nhưng những kiến thực, những lý luận thu được ở mức đúc rút kinh nghiệm, những hội thảo khóa học tập huấn cán bộ hoặc một vài công trình nghiên cứu, sách tham khảo … thiếu tính hệ thống và đồng bộ Trong những năm gần đây, số lượng các ban quản lý dự án (BQLDA) ở các bộ, ngành, địa phương đã giảm đi đáng kể Theo thống

kê chưa đầy đủ, trước đây, chỉ tính riêng nguồn vốn ODA, đã có khoảng 1.000 BQLDA, nhưng đến nay, đã rút xuống dưới 100 Tính đến nay, đã có 50 trong tổng số

63 tỉnh, thành phố kiện toàn bộ máy các BQLDA Đây là tín hiệu đáng mừng, giúp giảm bớt đầu mối, chi phí, gánh nặng ngân sách và các chi phí phụ khác Các chuyên gia đánh giá, mặc dù có nhiều điểm tích cực, nhưng trên thực tế, các BQLDA vẫn còn khá nhiều vướng mắc trong triển khai, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động Một số cán bộ trong các BQLDA vẫn kiêm nhiệm vị trí công tác, số khác thiếu chuyên môn và không chuyên nghiệp [9] Bản chất của quản lý dự án là quản lý rủi ro, Ban QLDA không chuyên nghiệp không nắm được cách thức quản lý rủi ro, dẫn đến chậm tiến độ, mất cơ hội hoàn thành tiến độ của các nhà thầu, phát sinh trượt giá, tăng các loại chi phí tư vấn, giám sát, thi công, Công tác thanh quyết toán chậm, ách tắc chủ yếu ở cấp huyện và BQLDA không chuyên nghiệp Điều này vô hình trung tác động tiêu cực đến quá trình kiểm tra, giám sát, theo dõi, thực hiện dự án, kéo theo việc chậm quyết toán các gói thầu công việc Tình trạng đổ lỗi hết cho phía nhà thầu vẫn còn, nhiều trường hợp, nhà thầu bị chậm thanh toán kéo dài nhiều năm, làm giảm hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu, nhà thầu và người lao động, gây bức xúc trong dư luận Kể từ khi Luật Xây dựng mới có hiệu lực từ ngày 1-1-2015, tính chuyên nghiệp và chất lượng các BQLDA đã được cải thiện và nâng cao Việc thành lập mới BQLDA phải gắn với điều kiện mang tính chuyên nghiệp, tầm khu vực, các cán bộ phải có chuyên môn, chứng chỉ hành nghề Đồng thời, gắn trách nhiệm của BQLDA với các dự án tới cùng, bố trí đủ vốn, thanh quyết toán nhanh, kịp

Trang 24

thời theo tiến độ dự án,

- Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nói chung

và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nước thì có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đầu tư theo hình thức hợp tác công

tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy để huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong tình hình hiện nay Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ đô la Trong đó mô hình BOT và BOO là chủ yếu Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự án thực hiện theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, trong những năm 2010 đến năm 2015 tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT,

BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới Nhưng số lượng dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư Theo số liệu của Cục quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng số dự án PPP được đề xuất hiện nay là

186 dự án, gồm 165 dự án đề xuất từ UBND tỉnh/thành phố, 21 dự án đề xuất từ các

bộ, ngành Trong đó lĩnh vực giao thông chiếm 30%, môi trường chiếm 25%, dịch vụ thương mại chiếm 25%, năng lượng - y tế - nông nghiệp chiếm 20% và các lĩnh vực khác chiếm 5% Có một thực tế là không ít nhà đầu tư được lựa chọn thực hiện dự án BOT “lãng quên” việc tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu trong việc lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thuộc dự án đó, dẫn đến khó đảm bảo minh bạch và hiệu quả trong triển khai dự án Việc thiếu vắng quy chế lựa chọn nhà thầu thống nhất trong quá trình thực hiện dự án PPP dẫn đến nhiều nhà đầu tư BOT (một trong các loại hợp đồng dự án PPP được áp dụng phổ biến nhất trong thời gian qua) chưa lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực Mới đây, các cơ quan chức năng đã chỉ ra thực trạng này

và có ý kiến đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kiểm soát nhiều hơn khâu này Để đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu và nâng cao hiệu quả dự

án, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án khi xây dựng quy chế lựa chọn nhà thầu có thể vận

Trang 25

dụng quy định tại Luật Đấu thầu, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu để ban hành quy trình thủ tục lựa chọn nhà thầu cho phù hợp với điều kiện tổ chức, quản lý, vận hành hoạt động đầu tư và kinh doanh của mình Việc ban hành quy chế lựa chọn nhà thầu, bao gồm việc áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu (đấu thầu rộng rãi, chỉ định thầu ) đối với từng loại gói thầu thuộc thẩm quyền của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự

án trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

- Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách, theo Báo cáo tổng hợp công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2016 vừa được Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi Thủ tướng Chính phủ Thời gian qua, công tác đầu tư từ ngân sách Trung ương được chấn chỉnh và có chuyển biến tích cực, nguồn vốn ngân sách địa phương được bố trí tập trung hơn, hiệu quả đầu tư bước đầu được nâng cao, tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chậm tiến độ, tỷ lệ các dự án phải điều chỉnh khá lớn Chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng chi phí, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư, tác động tiêu cực đến nền kinh tế Các dự án đầu tư phải điều chỉnh, đặc biệt là tăng tổng mức đầu tư một mặt gây khó khăn cho công tác cân đối nguồn vốn thực hiện, mặt khác cũng ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả đầu tư Thực tế, theo số liệu tổng hợp từ

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2016, có 1.448 dự án chậm tiến độ, chiếm 3,21% số dự

án thực hiện trong kỳ (bao gồm 34 dự án nhóm A, 391 dự án nhóm B, 1.023 dự án nhóm C) Nguyên nhân của việc chậm tiến độ này chủ yếu là do công tác giải phóng mặt bằng, do bố trí vốn không kịp thời, cũng do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý

dự án và các nhà thầu, cũng như do các thủ tục đầu tư đôi khi còn kéo dài… Một số liệu đáng chú ý khác, đó là cũng trong năm 2016, có 960 dự án phải điều chỉnh tổng vốn đầu tư, đặc biệt, trong năm đã phát hiện 27 dự án vi phạm về thủ tục đầu tư, 39 dự

án vi phạm về quản lý chất lượng… Để xảy ra tình trạng này, trách nhiệm trước tiên thuộc về các chủ đầu tư và người có thẩm quyền quyết định đầu tư Chính phủ đã có các quy định rất minh bạch về việc các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công

ty nhà nước phải nghiêm túc thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư và gửi báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cũng như đăng tải trên Hệ thống thông tin về giám sát, đánh giá đầu tư chương trình, dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước, song nhiều năm nay, công tác này không được tuân thủ nghiêm túc Năm 2016, chỉ có khoảng 79,5%

Trang 26

số dự án trong kỳ thực hiện việc giám sát, đánh giá đầu tư Giám sát đầu tư còn lỏng lẻo cũng là một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả đầu tư công chưa được như

kỳ vọng, gây thất thoát, lãng phí Theo báo cáo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2016, trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ có 29 địa phương có báo cáo giám sát cộng đồng Theo số liệu của 29 địa phương này, có 10.831 dự án được thực hiện giám sát cộng đồng, trong đó 6.007 dự án sử dụng vốn và công sức cộng đồng, vốn ngân sách cấp xã vốn tài trợ trực tiếp cho xã; 4.037 dự án sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước

ngoài vốn đầu tư công, dự án PPP; 787 dự án sử dụng nguồn vốn khác [11]

Hình 1.6 Về đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng cho sự tăng trưởng GDP tại

Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thống kê

1.2.2 Thực trạng năng lực của các Ban quản lý dự án ở Việt Nam

- Trong thời gian gần đây, cùng với sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản pháp quy về năng lực quản lý dự án của các ban quản lý dự án chuyên ngành và ban quản lý dự án khu vực ngày càng hoàn thiện hơn, sau khi Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 có hiệu lực, điều kiện để đảm bảo năng lực hoạt động đối với các ban quản lý dự án được quy định cụ thể và chi tiết hơn Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, số lượng, quy mô các dự án cần phải quản lý Giám đốc quản lý dự án phải có trình độ chuyên môn thuộc chuyên ngành xây dựng phù hợp

Trang 27

với yêu cầu của dự án, có chứng nhận nghiệp vụ về quản lý dự án và đáp ứng các điều kiện tương ứng với mỗi hạng; Giám đốc quản lý dự án: Có chứng chỉ hành nghề thiết

kế, hoặc chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng hoặc đã là Giám đốc quản lý

dự án của 1 (một) dự án cùng nhóm A hoặc 2 (hai) dự án nhóm liền kề cùng loại hoặc

đã là chỉ huy trưởng công trường cùng hạng Những người phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô dự án, cấp công trình

và công việc đảm nhận (có ít nhất 20 người đối với ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; Có ít nhất người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại dự án chuyên ngành đối với ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện)

- Tuy nhiên theo thống kê của Cục quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng, số lượng các cá nhân thuộc các Ban quản lý dự án được cấp chứng chỉ chứng nhận nghiệp vụ về quản lý dự án, chứng chỉ hành nghề thiết kế, hoặc chứng chỉ hành nghề

giám sát thi công xây dựng theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 rất ít dẫn tới các Ban quản lý dự án hiện nay hầu như không đảm bảo năng lục để hoạt động

1.3 Đánh giá công tác đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Trong những năm qua, hạ tầng cơ sở của Thủ đô Hà Nội đã được đầu tư phát triển và đạt được một số kết quả góp phần tích cực trong việc đáp ứng các nhu cầu phát triển của nền kinh tế và phục vụ nhu cầu của người dân Nhiều công trình hạ tầng quan trọng đã được hoàn thành như cải tạo nâng cấp các tuyến đường quốc lộ hướng tâm, quốc lộ 32 (đoạn Cầu Giấy - Cầu Diễn), tuyến đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ; đường vành đai 3 (đoạn Mai Dịch - Trung Hoà), tuyến đường Lê Văn Lương, đường Văn Cao – Hồ Tây, Đường vành đai 1 Nhiều công trình giao thông quan trọng đang được đầu tư xây dựng như cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, đường Láng - Hoà Lạc, tuyến đường 5 kéo dài, tuyến đường La Thành - Thái Hà - Láng; Hạ tầng kỹ thuật của nhiều khu đô thị mới được đầu tư: Linh Đàm, Đại Kim - Định Công, Đông Nam Trần Duy Hưng, Khu thể thao Mỹ Đình, Hệ thống vận tải hành khách công công bằng xe buýt bước đầu đã phát triển và từng bước đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân

- Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng cơ sở của Thành phố vẫn được đánh giá là còn yếu kém

và còn nhiều bất cập chưa theo kịp nhu cầu của nền kinh tế và chưa tương xứng với

Trang 28

tầm vóc và vị thế của Thủ đô Mạng lưới đường bộ của Thành phố chỉ có khoảng 1.000km, trong đó đường đô thị khoảng 350km, mật độ đường thấp, thường xẩy ra ùn tắc giao thông; các tuyến vành đai chưa được xây dựng hoàn chỉnh Quỹ đất dành cho giao thông chỉ chiếm khoảng 7% (trong khi đó ở các đô thị hiện đại là 20-25%) Hệ thống bãi và điểm đỗ xe thiếu trong khi số lượng phương tiện giao thông tăng nhanh, đặc biệt là ô tô và xe máy Giao thông công cộng chủ yếu bằng xe buýt đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu đi lại của người dân, chưa có hệ thống đường sắt đô thị Đến hết năm 2015, tổng công suất cấp nước mới đạt 300.000m3/ngđ, còn thiếu so với nhu cầu khoảng 100.000m3/ngđ; hệ thống cấp nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho khoảng 90% dân số đô thị với tiêu chuẩn cấp nước chỉ đạt 110-120 lít/người/ngày, một số khu vực còn gặp khó khăn hoặc chưa được cung cấp nước sạch Công viên, khu vui chơi giải trí thiếu và chậm được đầu tư; chưa có những trung tâm vui chơi giải trí lớn Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải của Thành phố mới có hai trạm thí điểm tại Kim Liên và Trúc Bạch, chưa có các khu xử lý nước thải tập trung nên hầu hết nước thải sinh hoạt, công nghiệp, và bệnh viện chưa được xử lý triệt để trước khi thải xuống các kênh, mương thoát nước nên gây ra ô nhiễm nghiêm trọng Thu gom rác thải và chất thải đạt khoảng 95% trong khu vực các quận nội thành và 70% tại các huyện ngoại thành; Khoảng 96% lượng rác thải thu gom được xử lý bằng công nghệ chôn lấp Nhiều khu vực và tuyến phố còn bị úng ngập khi mưa to Hệ số vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2010-2017 đạt 3,25 hiệu quả hơn giai đoạn 2005 - 2010 là 3,65 [7]

- Phần lớn các dự án đầu tư hạ tầng cơ sở của Thành phố thường bị chậm tiến độ, nhất

là các dự án có liên quan đến đền bù, GPMB Việc chậm tiến độ của các dự án làm cho công trình chậm được đưa vào khai thác, ảnh hưởng đến phát huy hiệu quả đầu tư của công trình Chậm tiến độ do rất nhiều nguyên nhân khác nhau Nguyên nhân là do các quy định về quản lý đầu tư xây dựng chưa đồng bộ, giá cả vật tư, vật liệu thanh đổi

nhiều (giá thép xây dựng, xăng dầu, ) trong khi cơ chế quản lý giá và thanh toán chậm được thay đổi làm cho các chủ đầu tư thường chờ đợi sau khi có văn bản hướng dẫn hoặc thông báo giá mới tiến hành đấu thầu Do nhu cầu đầu tư quá lớn (đầu tư phát triển và đầu tư giải quyết nhu cầu dân sinh bức xúc) trong khi khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế; việc bố trí cân đối vốn nhiều khi còn dàn trải không tập trung, công tác đền bù, GPMB của các dự án gặp nhiều khó khăn (khối lượng GPMB thường

Trang 29

lớn, kinh phí cao, khiếu kiện nhiều), đây thường là nguyên nhân chính trong việc làm chậm tiến độ triển khai của các dự án [7]

- Thất thoát và lãng phí trong triển khai các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở: Đây

là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm nhiều Thất thoát và lãng phí có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư Xác định đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, trong những năm qua, Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo và giám sát chặt chẽ không để xẩy ra tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng [7]

1.4 Đánh giá công tác quản lý dự án ở nước ngoài

- Hiện nay, ở các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống các văn bản về pháp luật hết sức chặt chẽ dựa đặc biệt là các văn bản pháp lý của công tác xây dựng do đó công tác quản lý đầu tư xây dựng được quản lý hết sức chặt chẽ, tỷ lệ thất thoát trong xây dựng

cơ bản rất nhỏ, các dự án hoàn thành có chất lượng cao, đảm bảo tiến độ và hậu quả đầu tư, đảm bảo tính khớp nối và đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật

- Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Hoa Kỳ là quốc gia rộng lớn, tổ chức nhà nước theo mô hình Liên bang và tổ chức theo mô hình ngân sách phân tán, các đơn vị thuộc Chính phủ có ngân sách được thực hiện xác lập tự chủ về ngân sách Theo số liệu năm 2017 của Tổng cục Thống kê Hoa Kỳ, số lượng các đơn vị ngân sách của quốc gia này gồm có ngân sách Liên bang; ngân sách của 50 bang; ngân sách cấp dưới bang Có 90.056 đơn vị ngân sách, chia làm hai loại: thứ nhất là 38.910 đơn vị hành chính cấp quận, thành phố và thị trấn, được phân chia theo lãnh thổ; thứ hai là là 51.146 đơn vị thực hiện cung cấp một hoặc một số dịch vụ công theo nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền thành lập, được thành lập bởi hội đồng bang hoặc thành phố, có quyền đánh thuế để hình thành ngân sách riêng Các tổ chức này có hội đồng và cơ quan điều hành riêng, điển hình là các trường công lập, các ban quản lý… Các đơn vị này có quy mô khác nhau, có thể nằm trong một đơn vị hành chính hoặc trải trên nhiều đơn vị hành chính (các đơn vị này về bản chất là các đơn vị sự nghiệp nhưng hoạt động tự chủ, độc lập về mặt tài chính, có ngân sách riêng, có quyền thu thuế, bên cạnh việc thu các khoản phí, lệ phí và có quyền đi vay) [10] Ở Hoa Kỳ, hai ông

tổ của quản lý dự án là Henry Gantt, được gọi là cha đẻ của kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm soát, người đã cống hiến hiểu biết tuyệt vời của mình bằng việc sử dụng biểu đồ Gantt như là một công cụ quản lý dự án, và Henri Fayol người tìm ra 5 chức năng của quản lý, là cơ sở cho những kiến thức cốt lõi liên quan đến quản lý dự án và quản lý

Trang 30

chương trình Cả hai ông Gantt và Fayol đều được biết đến như là những học trò, theo trường phái lý thuyết quản lý theo khoa học, của Frederick Winslow Taylor Thuyết Taylor là nguyên mẫu đầu tiên cho các công cụ quản lý dự án hiện đại, bao gồm cả cấu trúc phân chia công việc (WBS) và phân bổ nguồn lực Những năm 1950, đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên quản lý dự án hiện đại Quản lý dự án đã được chính thức công nhận là một ngành khoa học phát sinh từ ngành khoa học quản lý Một lần nữa, tại Hoa Kỳ, trước những năm 1950, các dự án đã được quản lý trên một nền tảng đặc biệt bằng cách sử dụng chủ yếu là biểu đồ Gantt (Gantt Charts), cùng các kỹ thuật và các công cụ phi chính thức Tại thời điểm đó, hai mô hình toán học để lập tiến độ của dự án đã được phát triển

"Phương pháp Đường găng" (tiếng Anh là Critical Path Method, viết tắt là CPM) phát triển ở liên doanh giữa công ty Dupont và công ty Remington Rand để quản lý các dự án bảo vệ thực vật và hóa dầu Và "Kỹ thuật đánh giá và xem xét chương trình (dự án)" (tiếng Anh là Program Evaluation and Review Technique hay viết tắt là PERT), được phát triển bởi hãng Booz-Allen & Hamilton thuộc thành phần của Hải quân Hoa Kỳ (hợp tác cùng với công ty Lockheed) trong chương trình chế tạo tên lửa Polaris trang bị cho tàu ngầm Những thuật toán này đã lan rộng một cách nhanh chóng sang nhiều doanh nghiệp

tư nhân Năm 1969, viện Quản lý Dự án (PMI) đã được thành lập để phục vụ cho lợi ích của kỹ nghệ quản lý dự án Những tiền đề của viện Quản lý dự án (PMI) là những công cụ

và kỹ thuật quản lý dự án được chia sẻ bằng nhau giữa các ứng dụng phổ biến trong những dự án từ ngành công nghiệp phần mềm cho tới ngành công nghiệp xây dựng [10]

- Tại Nhật Bản, có một hệ thống quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ công tác giám sát thi công và cơ cấu hệ thống kiểm tra, như Luật Thúc đẩy đấu thầu và hợp đồng hợp thức đối với công trình công chính, Luật Tài chính công, Luật Thúc đẩy công tác đảm bảo chất lượng công trình công chính Các tiêu chuẩn kỹ thuật dùng cho kiểm tra sẽ

do các Cục phát triển vùng biên soạn, còn nội dung kiểm tra trong công tác giám sát

do cán bộ nhà nước (ở đây là Bộ MLIT – Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản) trực tiếp thực hiện Ở Nhật Bản, công tác quản lý thi công tại công trường góp phần quan trọng vào đảm bảo chất lượng công trình xây dựng Quản lý thi công tại công trường gồm giám sát thi công và kiểm tra công tác thi công xây dựng, với những nội dung về sự phù hợp với các điều kiện hợp đồng, tiến trình thi công, độ

an toàn lao động Việc kiểm tra được thực hiện ở những hạng mục cụ thể, từ chất

Trang 31

lượng, kích thước của các cấu kiện bê tông đúc sẵn, lắp dựng cốt thép cho kết cấu bê tông cũng như kiểm tra kết quả thực hiện công tác xử lý nền đất yếu, đường kính và chiều dài của các cọc sâu Ngoài ra, bảo trì được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành Bảo trì được quy định chặt chẽ bằng hệ thống các Luật, văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc chủ sở hữu và người sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì và cập nhật thường xuyên cần phải tuần thủ về công trình Khi một khiếm khuyết về công trình được phát hiện thì chủ sở hữu (hoặc người sử dụng) phải khẩn trương sửa chữa và báo cáo kết quả với cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra Việc bảo trì định kỳ sẽ do người có trình độ chuyên môn thực hiện và đều được báo cáo đầy

đủ với cơ quan chức năng Trên thực tế chúng ta đã thấy được các công trình xây dựng của Nhật Bản tại Việt Nam có tiến độ rất nhanh, chất lượng rất tốt Đặc biệt, những công trình này hầu hết là do công nhân Việt Nam làm, các nhà thầu phụ cũng là người Việt Nam còn người Nhật Bản đóng vai trò là người quản lý Điều này chứng tỏ, công tác quản lý là vô cùng quan trọng" [15]

Trang 32

Kết luận chương 1

Để phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế nước ta, các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh, đặc biệt là đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Thành quả của hoạt động đầu tư có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân Trong các năm vừa qua các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đã ngày càng phù đổi mới, sửa đổi, bổ sung cho hợp hơn với yêu cầu của thực tế

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2017, theo giá hiện hành ước tính đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng vốn và tăng 6,7%

so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 676,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,5% và tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 396,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,8% và tăng 12,8% Trong điều kiện vốn ngân sách nhà nước hạn hẹp, để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ công, hình thức đầu tư đối tác công - tư (PPP) đang là một xu thế tất yếu Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/1/2018 thu hút 166 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 442,6 triệu USD Bên cạnh đó, có 61 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 456,8 triệu USD, tăng 155% so với cùng kỳ năm trước

Vấn đề đặt ra cần tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình, từ đó đưa ra các cơ sở lý luận đối với các nguyên nhân ảnh hưởng theo các quy luật phát triển khách quan trong công tác quản lý đầu tư xây dựng với mục đích thực hiện đầu tư các dự án có hiệu quả, đảm bảo chất lượng, đẩy nhanh tiến

độ, đảm bảo mỹ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển các mục tiêu kinh tế - chính trị của khu vực, trong đó có dự án phát triển đô thị hai bên đường Võ Nguyên Giáp ( Nhật Tân – Nội Bài) là dự án trọng điểm, quan trọng của Thành phố Hà Nội

Trang 33

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1 Các quy định của pháp luật về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng

- Các văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ quan trọng nhất để cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện việc quản lý và các bên tham gia dự án xây dựng công trình thực hiện theo Trong trường hợp xảy ra tranh chấp không thể hòa giải thì các văn bản pháp lý sẽ

là cơ sở đối chiếu và giải quyết các tranh chấp

- Qua nhiều giai đoạn điều chỉnh sửa đổi, đến nay Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ nhằm đưa ra những quy định và hoàn thiện từng bước công tác QLDA đầu tư XDCT Ngoài các Bộ Luật điều chỉnh chung thì các hoạt động thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình đã được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Xây dựng cùng với các Quyết định áp dụng có liên quan, Nghị định quy định chi tiết, Thông tư hướng dẫn Dưới đây là một số văn bản pháp luật hiện hành liên quan tới QLDA đầu tư XDCT nói chung và QLDA đầu tư XDCT thủy lợi nói riêng:

- Luật Xây dựng Số 50/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 18/06/2014, là hành lang pháp lý rõ ràng, cơ bản nhất đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư và xây dựng Thể hiện tính chất bao quát, quản lý vĩ mô, có các văn bản dưới luật là Nghị định, Thông tư hướng dẫn chi tiết việc triển khai và áp dụng luật

- Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 18/06/2014 quy định việc quản lý, sử dụng vốn, quản lý Nhà nước, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của

cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công Luật đầu tư công mới nhất có hiệu lực từ ngày 01/01/2015

- Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014 sửa đổi một

số điều của Luật đầu tư số 59/2005-QH11 Luật đầu tư mới nhất quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài Luật đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 01/07/2015

- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2013 có nội dung chính quy định quản lý Nhà nước về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu Luật đấu thầu chính thức có hiệu lực từ ngày

, hiện là Luật Đấu thầu mới nhất

Trang 34

- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Luật Quy hoạch số đô thị 30/2009/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010;

- Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 được Quốc hội ban hành ngày 24/11/2017;

- Nghị định 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị được thực hiện theo nguyên tắc việc quản lý phát triển các dự án đô thị sẽ

do Ban quản lý khu vực thực hiện

- Nghị định 18/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 về một số dự

án phải đánh giá tác động môi trường

- Nghị định số 31/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 24/03/2015 về danh mục công việc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia Trong đó quy định danh mục công việc ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khỏe của cá nhân người lao động hoặc cộng đồng phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 25/03/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng

- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 22/04/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/06/2015

- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015, thay thế nghị định 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng

và nghị định số 114/2010/NĐ-CP về bảo trì công trình xây dựng

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 18/06/2015 về quản lý

dự án đầu tư xây dựng quy định công trình xây dựng được quản lý theo những nguyên tắc chung sau đây:

+ Công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình phải đảm bảo an toàn cho bản thân công trình và các công trình lân cận; đảm bảo an toàn trong quá trình thi công xây dựng.[8]

Trang 35

+ Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc thực hiện, có hệ thống quản lý chất lượng và chịu trách nhiệm

về chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện trước chủ đầu tư và trước pháp luật.[8]

- Thông tư 10/2015/TT-BKHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành ngày 26/10/2015 quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu;

- Thông tư 19/2015/TT-BKHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành ngày 27/11/2015 quy định mới về tổ chức lựa chọn nhà thầu, quy định chi tiết lập báo cáo thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2016

- Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính Quy định về quản

lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/03/2016

- Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng quy định về phân cấp CTXD và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng

- Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/06/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng Thông từ này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/08/2016

- Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/06/2016 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết

và hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình Thông từ này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/08/2016

2.2 Nội dung công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình

2.2.1 Quản lý vĩ mô về đầu tư xây dựng công trình

2.2.1.1 Quản lý việc lập và phê duyệt quy hoạch

- Hiện nay, các quy hoạch xây dựng (quy hoạch vùng, quy hoạch phân khu chức năng, quy hoạch nông thôn, quy hoạch giao thông vận tải, quy hoạch thoát nước, quy hoạch phân lũ ) đã cơ bản được Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phê duyệt và tiếp tục hoàn thiện Quy hoạch xây dựng mang tính chất định hướng và có tính liên thông, thống nhất giữa các cấp độ khác nhau và là công cụ pháp lý, công cụ quản lý Nhà nước cơ bản để kiểm soát quá trình đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế

Trang 36

có kế hoạch Tuy nhiên, các quy hoạch vùng, quy hoạch ngành có liên quan còn một số bất cập như còn chồng chéo, chưa thực sự phù hợp với mục tiêu của chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm công khai, minh bạch và kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân, chưa dự báo khoa học, đáp ứng được yêu cầu thực tế và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước dẫn tới việc lập quy hoạch chi tiết như chỉ giới đường đỏ các dự án, thoả thuận đấu nối về hạ tầng kỹ thuật, khớp nối về tổ chức giao thông do các chủ đầu tư tiến hành và được UBND các cấp phê duyệt theo uỷ quyền không khớp nối đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, chưa mang tính dự báo tương lai một cách khoa học

- Hiện nay, các loại hình quy hoạch phát triển của các ngành như quy hoạch thuỷ điện, quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch phân lũ, quy hoạch phát triển giao thông vận tải chưa có sự gắn kết giữa định hướng phát triển kinh tế - xã hội với các yêu cầu về quản lý và BVMT tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá trị bảo tồn văn hóa lịch sử Vì vậy, trên thực tế đã có sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các quy hoạch phát triển dẫn đến sự phá vỡ cân bằng giữa BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học, giá trị lịch sử văn hóa và sự lãng phí, kém hiệu quả trong công tác quy hoạch

- Việc phân tích hiện trạng môi trường, điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội và sinh thái trong vùng quy hoạch, phân vùng môi trường sẽ đưa ra các định hướng về quản lý về quy hoạch phát triển và BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các giá trị văn hóa, lịch sử trong vùng quy hoạch; đồng thời xác lập các tiêu chí chung nhằm quản lý thống nhất về môi trường, tạo hành lang để các quy hoạch phát triển phù hợp với điều kiện địa

lý, tự nhiên, sinh thái, đảm bảo hài hòa giữa các định hướng và giải pháp thực hiện dựa trên 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường (KT-XH-MT)

- Môi trường là phạm trù không gian quan trọng, mang ý nghĩa mở và không thể chia cắt theo địa giới hành chính Chính vì vậy, công tác quản lý và BVMT đòi hỏi

có sự thống nhất theo không gian và vùng lãnh thổ từ Trung ương đến địa phương

Do vậy, các nội dung về quản lý và BVMT phải được xác lập tổng hợp để thực hiện một cách thống nhất trong cả nước và giữa các ngành, lĩnh vực phát triển làm cơ sở phân tích, đề xuất định hướng, giải pháp phát triển hài hòa lợi ích giữa các địa phương và các ngành, lĩnh vực Với các phân tích nêu trên, việc thực hiện Quy hoạch BVMT có vai trò rất quan trọng, tạo động lực và hành lang cho các hoạt động phát triển đảm bảo hài hòa 3 trụ cột KT-XH-MT

Trang 37

- Quy hoạch sử dụng đất thực chất cũng là loại hình quy hoạch không gian dựa trên các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch bảo tồn và quy hoạch hệ thống xử lý môi trường Tuy nhiên do các quy hoạch phát triển, quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường chưa thực sự gắn kết với công tác quản lý và BVMT nên xảy ra nhiều bất cập trong thực hiện và

thường xuyên phải tính đến các phương án điều chỉnh để phù hợp với quá trình phát triển Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật BVMT năm 2014, trong

đó có đưa nội dung về Quy hoạch BVMT Bộ TN&MT nhận thấy sự cấp bách cần thực hiện Quy hoạch BVMT để đảm bảo phát triển hài hòa trên 3 trụ cột KT-XH-MT Quy hoạch BVMT cần được thực hiện thống nhất trong cả nước do cơ quan được giao trọng trách quản lý môi trường là Bộ TN&MT chủ trì có sự tham gia và đồng thuận của các

Bộ, ngành, địa phương liên quan làm cơ sở để hài hòa giữa các mục tiêu phát triển và mục tiêu quản lý và BVMT

- Nhìn chung có thể thấy, quy hoạch và công tác quản lý đầu tư xây dựng ở nước ta chủ yếu dựa vào các nguyên tắc thiết kế tĩnh, thiếu linh hoạt, do đó cần cải cách công nghệ và quy trình lập quy hoạch xây dựng theo hướng chuyển từ quy hoạch tĩnh sang quy hoạch động, với cách tiếp cận đa ngành đảm bảo phát mục tiêu phát triển kinh tế bền vững với nội dung chủ yếu là những thế hệ hiện tại cần đáp ứng các nhu cầu của mình, mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai và đáp ứng các nhu cầu của họ Phát triển kinh tế bền vững theo quy hoạch xây dựng được dựa trên một hệ thống nhóm các tiêu chí có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: A) Kinh tế ; B) Văn hóa xã hội; C) Môi trường - Sinh thái ; D) Cơ sở hạ tầng và E) Quản lý trật

tự xây dựng”

Trang 38

2.2.1.2 Quản lý việc lập và phê duyệt chủ trương đầu tư dự án

- Trong lĩnh vực đầu tư, hiệu quả đầu tư phải đến từ ngay công tác lập, xác định và phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Hiệu quả dự án phải được tối ưu hóa từ ngay giai đoạn chuẩn bị đầu tư bằng việc xác định đúng mục tiêu đầu tư, sự cần thiết phải đầu tư dự

án Những ảnh hưởng từ việc xác định chủ trương đầu tư là hết sức quan trọng, là công đoạn ảnh hưởng lớn nhất, trong bước này cần phải khẳng định sự cần thiết đầu tư, xác định được những thuận lợi, khó khăn về vấn đề kinh tế, xã hội, dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư, sơ bộ phương án công trình…Chủ trương đầu tư sai gây thất thoát, lãng phí lớn nhất trong xây dựng, gây hậu quả lâu dài cho khu vực và xã hội, nhiều CTXD xong không sử dụng được hoặc hiệu quả rất thấp Trước đây thường hay quan tâm đến tiêu cực trong khâu thi công, nhưng thực chất lãng phí trong công đoạn này

mới thực sự đáng quan tâm Thất thoát lãng phí trong khâu này thường bắt nguồn từ

việc xác định mục tiêu đầu tư dự án không được cân nhắc kỹ lưỡng hoặc vẫn còn ảnh hưởng của cơ chế xin cho, tranh thủ nguồn vốn, đầu tư lấy số lượng công trình, nên đến khi xây dựng xong đưa vào khai thác, sử dụng mới nhận thấy tính hiệu quả rất

thấp Việc xác định chính xác mục tiêu đầu tư và sự cần thiết phải đầu tư giúp cho công tác đầu tư xây dựng không bị dàn trải, thiếu vốn, dự án được đầu tư có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội Việc đánh giá tác động môi trường của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái trong Hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư giúp cho chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng xác định và cân nhắc quyết định việc đầu tư dự án giữa hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế và việc đảm bảo phát triển bền vững của môi trường sinh thái

2.2.1.3 Quản lý việc lập và phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án

- Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương

án thiết kế cơ sở được lựa chọn, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng

- Nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng phải phù hợp với yêu cầu của từng loại dự án gồm thiết kế cơ sở và các nội dung khác gồm:

+ Sự cần thiết và chủ trương đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô công suất và hình thức đầu tư xây dựng;

Trang 39

+ Khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường;

+ Đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác;

+ Tổng mức đầu tư và huy động vốn, phân tích tài chính, rủi ro, chi phí khai thác sử dụng công trình, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi, hỗ trợ thực hiện dự án;

- Đối với các dự án đầu tư xây dựng chưa có trong quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản lý ngành, Bộ Xây dựng hoặc địa phương theo phân cấp để xem xét, chấp thuận bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch ngành trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi

- Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công trình công nghiệp tại khu vực chưa có quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư đề nghị cấp giấy phép quy hoạch xây dựng theo quy định tại để làm cơ sở lập Báo cáo nghiên cứu khả thi

- Việc quản lý và đánh giá sự cần thiết để đầu tư, khả năng huy động nguồn vốn trong giai đoạn báo cáo nghiên cứu khả thi giúp cho cho chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng xác định chính xác nguồn vốn được

bố trí cho dự án, sự phù hợp với quy hoạch được được duyệt Thực tế cho thấy hiện nay công tác đánh giá tính khả thi của dự án vẫn còn nhiều hạn chế, việc nghiên cứu, đánh giá tính khả thi của dự án nhiều khi còn chưa kỹ càng dẫn đến tình trạng dự án thường bị đội vốn, tăng tổng mức đầu tư, làm thiệt hại đến ngân sách nhà nước

Trang 40

2.2.2 Quản lý vi mô về đầu tư xây dựng công trình

2.2.2.1 Quản lý thời gian dự án và tiến độ dự án

- Thời gian là nguồn tài nguyên có giá trị nhất trong một dự án và cũng là nguồn lực rất dễ bị lãng phí nếu không sử dụng hiệu quả và đúng cách Mỗi đầu việc trong dự án chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định gọi là time-bound Vì vậy, nếu không quản lý thời gian hợp lý, dự án sẽ trở thành thảm họa Khi nói đến quản lý thời gian dự án thì không có nghĩa chỉ là thời gian của người quản lý dự án mà là quản

lý thời gian của cả Nhóm dự án

- Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra, là quy trình của việc giám sát trạng thái của các hoạt động dự án nhằm cập nhật tiến độ dự án và quản lý các thay đổi liên quan đến đường cơ sở lịch trình dự án (schedule baseline) Lợi ích của quy trình này là nhận diện các sai biệt so với kế hoạch và đưa ra hành động sửa sai và ngăn ngừa nhằm giảm thiểu rủi ro dự án trượt kế hoạch Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian, tiến độ hoàn thành dự án Thời gian tổ chức triển khai dự án phải thể hiện cụ thể trong kế hoạch quản trị dự án bao gồm: hoạch định, lập thời gian biểu cụ thể cho từng công việc, triển khai, kiểm soát, đánh giá

- Quản lý thời gian là cơ sở và công cụ để giám sát chi phí cũng như nguồn lực khác cần thiết cho công việc thực hiện dự án, nó góp phần đảm bảo hiệu quả của dự án đầu

tư, đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo cho việc phát triển kinh tế và an ninh trật tự cho khu vực Trong môi trường dự án, chức năng quản lý thời gian và tiến độ quan trọng hơn trong môi trường hoạt động kinh doanh thông thường vì nhu cầu kết hợp phức tạp, thường xuyên liên tục giữa các công việc

- Công trình, gói thầu xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt Việc theo dõi giám sát tiến độ dự án được thực hiện thường xuyên định kỳ hàng tuần, hàng tháng, hàng quý Ban QLDA phối hợp với các đơn vị có liên quan như tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án tiến hành kiểm tra báo cáo tiến độ của nhà thầu và so sánh tiến độ

Ngày đăng: 08/04/2019, 23:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w