1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện quản lý Nhà nước các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội

103 179 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), với quan điểm và tinh thần Đổi mới, nền kinh tế của đất nước ta đã dần chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với sự chuyển đổi, nền kinh tế đã xuất hiện nhiều hoạt động dịch vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của một nền kinh tế thị trường, trong đó có dịch vụ giới thiệu việc làm. Dịch vụ giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xuất hiện vào cuối những năm 1980 nhằm đáp ứng nhu cầu cung - cầu lao động. Trải qua 30 năm hình thành và phát triển, các trung tâm dịch vụ việc làm thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau đã có nhiều đóng góp quan trọng trong giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cung ứng, phân bổ và phát triển nguồn lực lao động cho Thủ đô. Theo số liệu từ cơ quan hữu quan, mỗi năm, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tư vấn, cung cấp thông tin lao động- việc làm cho hàng trăm nghìn lượt người lao động; tổ chức kết nối cung - cầu lao động, việc làm cho hàng trăm nghìn lượt người qua các hội chợ, các phiên giao dịch việc làm, giới thiệu việc làm thành công cho hàng chục nghìn lao động. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, dịch vụ giới thiệu việc làm còn tồn tại nhiều hạn chế: Các trung tâm dịch vụ việc làm chủ yếu tập trung tại các khu vực đông dân cư ở các quận nội thành, trong khi nhiều huyện ngoại thành chưa thành lập được trung tâm dịch vụ việc làm để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm việc làm của lao động nông thôn; Trang thiết bị của nhiều trung tâm dịch vụ việc làm còn thiếu và lạc hậu; Nội dung hoạt động của các trung tâm chưa đa dạng và đồng đều, chất lượng dịch vụ việc làm chưa đạt yêu cầu như mong muốn: nhiều lao động được giới thiệu việc làm nhưng vẫn thất nghiệp; nhiều doanh nghiệp có nhu cầu lao động vẫn chưa khai thác được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mình; Trong quản lý, tuy đã có cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm nhưng do địa bàn rộng, nhân lực mỏng, trang thiết bị công nghệ cao còn hạn chế nên ít nhiều ảnh hưởng đến việc kiểm tra, giám sát dẫn đến việc xuất hiện nhiều trung tâm dịch vụ việc làm "ma", hoạt động bất hợp pháp, vì lợi nhuận bất chấp thủ đoạn, lừa đảo người lao động. Sự phát triển của kinh tế thị trường và thị trường lao động đòi hỏi cần tăng cường quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm. Để góp phần khắc phục những tồn tại, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện quản lý Nhà nước các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội" 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý dịch vụ việc làm với mục tiêu phát triển mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm, nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm, một số công trình nghiên cứu có thể kể đến là: Nguyễn Thành Công (2017), Phát triển dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2009 - 2016 và đề xuất giải phát phát triển dịch vụ việc làm trên địa bàn Thủ đô đến năm 2025; Bùi Quế Lâm (2010), Nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng, tồn tại, hạn chế của chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại Hà Nội để từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đối với hoạt động dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố; Đào Thị Thanh Phương (2008), Phát triển thị trường lao động tại Hà Nội. Nghiên cứu đã nêu thực trạng, đặc điểm của thị trường lao động giai đoạn 2001- 2007 và đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển và khai thác nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao cho Thủ đô; Nguyễn Thị Hải Vân, Một số giải pháp phát triển hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm công ở Việt Nam tới năm 2010 (2008). Nghiên cứu này thực hiện ở quy mô toàn quốc, nội dung chính là phân tích hoạt động của các Trung tâm giới thiệu việc làm giai đoạn 1998-2004 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm của Việt Nam trong tương lai. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội (các đơn vị được thành lập theo quy định tại mục a, khoản 1, Điều 2 Nghị định 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ Quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm). Phạm vi nghiên cứu: Không gian thành phố Hà Nội. Nghiên cứu tập trung vào các hoạt động quản lý của cơ quan chuyên môn (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội) và hoạt động tại các Trung tâm Dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội. Thời gian nghiên cứu: 2014 - 2017 và tầm nhìn đến 2030. 4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ của nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý đối với hoạt động dịch vụ việc làm, kết nối cung - cầu lao động qua các trung tâm dịch vụ việc làm; Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm; Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để rút ra bài học kinh nghiệm cho Hà Nội; Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý, kết quả quản lý của cơ quan chuyên trách đối với tổ chức và hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm; Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội. 5. Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, từ đó phân tích thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm; làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để từ đó đề xuất giải pháp hoàn tiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 6. Kết cấu luận văn: gồm 3 chương Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thực tiễn quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm Chương 2: Thực trạng quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội

Trang 1

- -NGUYỄN ĐÌNH SƠN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM

CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

- -NGUYỄN ĐÌNH SƠN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM

Trang 3

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật.Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thựchiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Học viên

Nguyễn Đình Sơn

Trang 4

1.1.1 Quan niệm và phân loại trung tâm dịch vụ việc làm 5 1.1.2 Hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm: nguyên tắc, nhiệm vụ và vai trò 6

1.2 Một số vấn đề về quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm 11

1.2.1 Quan niệm và sự cần thiết quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm 11 1.2.2 Nội dung quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm 16 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trung tâm dịch vụ việc làm 23

1.3 Kinh nghiệm quản lý trung tâm dịch vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và bài học cho Hà Nội 26

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý trung tâm dịch vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 26 1.3.2 Bài học quản lý trung tâm dịch vụ việc làm cho Thành phố Hà Nội 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31

2.1 Khái quát quá trình hình thành phát triển và hoạt động trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 31

2.1.1 Quá trình hình thành phát triển trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố

Hà Nội 31 2.1.2 Hoạt động trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 35

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 41

2.2.1 Xác định mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch quản lý trung tâm dịch vụ việc làm 41 2.2.2 Tổ chức quản lý trung tâm dịch vụ việc làm 44 2.2.3 Kiểm tra, kiểm soát trung tâm dịch vụ việc làm 49

Trang 5

2.3.1 Những thành tựu về quản lý trung tâm dịch vụ việc làm 52

2.3.2 Những hạn chế về quản lý trung tâm dịch vụ việc làm 55

2.3.3 Nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 62 3.1 Căn cứ xác định phương hướng hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội 62 3.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội đến năm 2025 62

3.1.2 Dự báo thị trường lao động Hà Nội đến 2025 66

3.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 69

3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội 72 3.3.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và phương thức quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm 72

3.3.2 Tăng cường phối hợp của các cơ quan chức năng trong quản lý; quy hoạch trung tâm dịch vụ việc làm 73

3.3.3 Nâng cao năng lực, trình độ cán bộ của cơ quan quản lý 74

3.3.4 Giải pháp phát triển của thị trường lao động 75

3.3.5 Giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất 76

3.3.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với hoạt động dịch vụ việc làm 77

3.4 Một số kiến nghị 78 3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước 78 3.4.2 Kiến nghị với chính quyền Thành phố Hà Nội 79 KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(Association of South East Asian Nation)

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

(Foreign Direct Investment)

ILO Tổ chức Lao động Quốc tế

(International Labour Organization)

(International Organization of Migration)

LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội

SEV Hội đồng tương trợ kinh tế

(Tiếng Anh: Council of Mutual Economic Assistance)

WAPES Hiệp hội dịch vụ việc làm công thế giới

(World Association of Public Employment Services)

Trang 7

Bảng 2.1 Số người được giải quyết việc làm quan trung tâm DVVL từ

2014 đến hết quý III năm 2018 40

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Số người được tư vấn qua các năm từ 2014 đến hết quý

III/2018 35Biểu đồ 2.2 Số lượt lao động được đào tạo nghề tại các Trung tâm 36Biểu đồ 2.3: Số người được cung cấp thông tin TTLĐ qua các năm từ 2014

đến hết quý III năm 2018 37Biểu đồ 2.4: Số lượt người được giới thiệu việc làm qua các năm từ 2014

đến hết quý III năm 2018 37Biểu đồ 2.5: Số lượt người có việc làm từ 2014 đến hết quý III năm 2018

38Biểu đồ 2.6: So sánh số người được giới thiệu việc làm và số người có việc làm

39Biểu đồ 2.7: Phần trăm đóng góp của trung tâm DVVL trong việc giải

quyết việc làm cho NLĐ Thủ đô giai đoạn 2014 - 2018 40Biểu đồ 2.8: Đóng góp của các TTDVVL vào chỉ tiêu chung 41

Biểu đồ 2.9: Thực hiện kiểm tra cơ sở DVVL trên địa bàn Thành phố từ

2014 đến hết quý III năm 2018 51

HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội.46Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức Phòng Việc làm và An toàn lao động 47

Trang 8

- -NGUYỄN ĐÌNH SƠN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM

CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2018

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Cùng với sự chuyển đổi, nền kinh tế đã xuất hiện nhiều hoạt động dịch

vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của một nền kinh tế thị trường,trong đó có dịch vụ giới thiệu việc làm

Dịch vụ giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xuất hiệnvào cuối những năm 1980 nhằm đáp ứng nhu cầu cung - cầu lao động Trảiqua 30 năm hình thành và phát triển, các trung tâm dịch vụ việc làm thuộcnhiều thành phần kinh tế khác nhau đã có nhiều đóng góp quan trọng tronggiải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cung ứng, phân bổ và phát triển nguồnlực lao động cho Thủ đô

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, dịch vụ giới thiệu việc làm còntồn tại nhiều hạn chế: Các trung tâm dịch vụ việc làm chủ yếu tập trung tạicác khu vực đông dân cư ở các quận nội thành, trong khi nhiều huyện ngoạithành chưa thành lập được trung tâm dịch vụ việc làm để đáp ứng nhu cầu tìmkiếm việc làm của lao động nông thôn; Trang thiết bị của nhiều trung tâmdịch vụ việc làm còn thiếu và lạc hậu; Nội dung hoạt động của các trung tâmchưa đa dạng và đồng đều, chất lượng dịch vụ việc làm chưa đạt yêu cầu nhưmong muốn: nhiều lao động được giới thiệu việc làm nhưng vẫn thất nghiệp;nhiều doanh nghiệp có nhu cầu lao động vẫn chưa khai thác được nguồn nhânlực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mình;

Sự phát triển của kinh tế thị trường và thị trường lao động đòi hỏi cầntăng cường quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm Để gópphần khắc phục những tồn tại, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện quản lý Nhànước các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội"

Trang 10

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thực tiễn quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm

1.1 Một số vấn đề chung về trung tâm dịch vụ việc làm

Quan niệm và phân loại trung tâm dịch vụ việc làm

Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy địnhcủa Chính phủ

Tổ chức dịch vụ việc làm được thu phí, miễn, giảm thuế theo quy địnhcủa pháp luật về phí, pháp luật về thuế

Phân loại trung tâm dịch vụ việc làm: Căn cứ theo chủ thể ra Quyết định thành lập, trung tâm dịch vụ việc làm chia thành hai loại sau:

Loại thứ nhất là trung tâm việc làm do cơ quan quản lý nhà nước raquyết định thành lập, gồm:

Loại thứ hai là trung tâm dịch vụ việc làm do người đứng đầu tổ chứcchính trị - xã hội cấp quốc gia quyết định thành lập

Hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm: nguyên tắc, nhiệm vụ và vai trò

Nguyên tắc hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm:

Nguyên tắc thứ nhất: Dịch vụ để phục vụ khách hàng

Nguyên tắc thứ hai: Hoạt động có hiệu quả

Nguyên tắc thứ ba: Hoạt động có chất lượng

Những nhiệm vụ của trung tâm dịch vụ việc làm:

Nhiệm vụ thứ nhất là hoạt động tư vấn

Nhiệm vụ thứ hai là giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng

và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động

Nhiệm vụ thứ ba là thu thập, phân tích, dự báo và cung ứng thông tincho thị trường lao động

Nhiệm vụ thứ tư là tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tìmkiếm việc làm và đào tạo kỹ năng, dạy nghề khác theo quy định của pháp luật

Trang 11

Nhiệm vụ thứ năm là hỗ trợ người lao động trong trường hợp chuyển từnghề này sang nghề khác, di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, dichuyển ra nước ngoài làm việc và các hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật.

Nhiệm vụ thứ sáu là tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về laođộng, việc làm

Nhiệm vụ thứ bẩy là thực hiện các chương trình, dự án về việc làm.Nhiệm vụ thứ tám là thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theoquy định của pháp luật

Nhiệm vụ thứ chín là thực hiện các dịch vụ khác theo quy định củapháp luật

Vai trò của trung tâm dịch vụ việc làm: Trung tâm dịch vụ việc làmđược xem là công cụ đặc biệt để giải quyết việc làm, là cầu nối trung giangiữa người lao động và người sử dụng lao động Xét ở một khía cạnh khác,trung tâm dịch vụ việc làm vừa được coi là cung lao động, vừa được coi làcầu lao động

1.2 Một số vấn đề về quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm

Quan niệm và sự cần thiết quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm

Quan niệm về quản lý

Quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm là quá trình tácđộng của cơ quan Nhà nước (chủ thể quản lý) lên các trung tâm dịch vụ việclàm (đối tượng quản lý) bằng các công cụ quản lý nhằm đạt được mục tiêuquản lý là hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm (khách thể quản lý)

có hiệu lực và đạt hiệu quả cao nhất

Nội dung quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm

Xác định mục tiêu, xây dựng quy hoạch, kế hoạch

Thứ nhất, xác định mục tiêu

Thứ hai, xây dựng quy hoạch

Tổ chức quản lý

Trang 12

Thứ nhất, bộ máy quản lý

Thứ hai, công cụ quản lý

Thứ ba, phương thức quản lý

Thực hiện kiểm tra, kiểm soát

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Thứ nhất, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong quản lý; quyhoạch trung tâm dịch vụ việc làm

Thứ hai, năng lực, trình độ cán bộ của cơ quan quản lý

Thứ ba, sự phát triển của thị trường lao động

Thứ tư, cơ sở vật chất phục vụ quản lý

1.3 Kinh nghiệm quản lý trung tâm dịch vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và bài học cho Hà Nội

Kinh nghiệm quản lý trung tâm dịch vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh

Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Bài học quản lý trung tâm dịch vụ việc làm cho Thành phố Hà Nội

Từ kinh nghiệm quản lý của các tỉnh thành nêu trên, một vài bài học cóthể rút ra cho Hà Nội:

Một là, tăng cường vai trò quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ việclàm, đảm bảo hoạt động dịch vụ việc làm hoạt động trong khuôn khổ quyđịnh của pháp luật;

Hai là, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần có hướng dẫn chungnhất cho các sàn trong việc xây dựng quy chế hoạt động theo hướng dẫn của

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Ba là, đưa ra quy định chung về cơ sở vật chất, trang thiết bị chuẩn kỹthuật chung đối với tất cả trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố

Bốn là, xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng nhân lực của cơ quản

quản lý các cấp đối với trung tâm dịch vụ việc

Trang 13

Năm là, đa dạng các loại hình trung tâm dịch vụ việc làm, tạo môi

trường cạnh tranh lành mạnh giữa các trung tâm có sự quản lý, kiểm tra, giámsát của cơ quan chức năng

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

2.1 Khái quát quá trình hình thành phát triển và hoạt động trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

Quá trình hình thành phát triển trung tâm dịch vụ việc làm của Thànhphố Hà Nội

Hoạt động trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

Dịch vụ tư vấn

Đa dạng hóa ngành nghề đào tạo

Dịch vụ cung cấp thông tin thị trường lao động

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

Xác định mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch quản lý trung tâm dịch vụviệc làm

Tổ chức quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Kiểm tra, kiểm soát trung tâm dịch vụ việc làm

2.3 Đánh giá những thành tựu và hạn chế về quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Những thành tựu về quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Xác định mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch

Về tổ chức quản lý

Về kiểm tra, kiểm soát

Những hạn chế về quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Xây dựng kế hoạch, quy hoạch

Về bộ máy quản lý

Trang 14

Về kiểm tra, kiểm soát

Nguyên nhân

Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn thiện

Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong quản lý; quyhoạch trung tâm dịch vụ việc làm

Thứ ba, do năng lực, trình độ cán bộ của cơ quan quản lý

Thứ tư, sự phát triển của thị trường lao động

Thứ năm, cơ sở vật chất phục vụ quản lý

Chương 3: Phương hướng và ghiair pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội.

3.1 Căn cứ xác định phương hướng hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội đến năm 2025

Dự báo thị trường lao động Hà Nội đến 2025

3.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

Thứ nhất, phương hướng về xác định mục tiêu, xây dựng quy hoạch và

kế hoạch

Thứ hai, phương hướng hoàn thiện bộ máy tổ chức

Thứ ba, phương hướng tăng cường kiểm tra, kiểm soát

3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm của Thành phố Hà Nội

Hoàn thiện tổ chức bộ máy và phương thức quản lý đối với trung tâmdịch vụ việc làm

Tăng cường phối hợp của các cơ quan chức năng trong quản lý; quyhoạch trung tâm dịch vụ việc làm

Nâng cao năng lực, trình độ cán bộ của cơ quan quản lý

Giải pháp phát triển của thị trường lao động

Trang 15

Giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất

Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với hoạt động dịch vụ việc làm

3.4 Một số kiến nghị

Kiến nghị với Nhà nước

Kiến nghị với chính quyền Thành phố Hà Nội

KẾT LUẬN

Dịch vụ việc làm là một hoạt động đặc biệt cần có sự quản lý chặt chẽ.Nếu buông lỏng quản lý trước hết sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của loạihình dịch vụ này; hơn nữa sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, gây tổn hại chongười lao động, cho các trung tâm dịch vụ, cho các cơ quan quản lý vànghiêm trọng hơn nữa là nền kinh tế Dó đó, quản lý Nhà nước về dịch vụviệc làm phảm nhằm đảm bảo thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế -

xã hội của Nhà nước về lao động - việc làm đã được đề ra trong kế hoạchngắn hạn và dài hạn

Qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã hoàn thành các nhiệm vụ sau:

- Nêu ra những vẫn đề lý luận chung và kinh nghiệm quản lý đối vớicác trung tâm dịch vụ việc làm;

- Khái quát được thực trạng quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm củaThành phố Hà Nội, trong đó đã chỉ ra được một số tồn tại, hạn chế và nguyênnhân của những tồn tại, hạn chế đó;

- Từ những vấn đề lý luận chung và thực trạng, tác giả đã đề ra phươnghướng và giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm củaThành phố Hà Nội

Trang 16

- -NGUYỄN ĐÌNH SƠN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM

Trang 17

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), với quan điểm

và tinh thần Đổi mới, nền kinh tế của đất nước ta đã dần chuyển đổi từ nềnkinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước

Cùng với sự chuyển đổi, nền kinh tế đã xuất hiện nhiều hoạt động dịch

vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của một nền kinh tế thị trường,trong đó có dịch vụ giới thiệu việc làm

Dịch vụ giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xuất hiệnvào cuối những năm 1980 nhằm đáp ứng nhu cầu cung - cầu lao động Trảiqua 30 năm hình thành và phát triển, các trung tâm dịch vụ việc làm thuộcnhiều thành phần kinh tế khác nhau đã có nhiều đóng góp quan trọng tronggiải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cung ứng, phân bổ và phát triển nguồnlực lao động cho Thủ đô

Theo số liệu từ cơ quan hữu quan, mỗi năm, các trung tâm dịch vụ việclàm đã tư vấn, cung cấp thông tin lao động- việc làm cho hàng trăm nghìnlượt người lao động; tổ chức kết nối cung - cầu lao động, việc làm cho hàngtrăm nghìn lượt người qua các hội chợ, các phiên giao dịch việc làm, giớithiệu việc làm thành công cho hàng chục nghìn lao động

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, dịch vụ giới thiệu việc làm còntồn tại nhiều hạn chế: Các trung tâm dịch vụ việc làm chủ yếu tập trung tạicác khu vực đông dân cư ở các quận nội thành, trong khi nhiều huyện ngoạithành chưa thành lập được trung tâm dịch vụ việc làm để đáp ứng nhu cầu tìmkiếm việc làm của lao động nông thôn; Trang thiết bị của nhiều trung tâmdịch vụ việc làm còn thiếu và lạc hậu; Nội dung hoạt động của các trung tâmchưa đa dạng và đồng đều, chất lượng dịch vụ việc làm chưa đạt yêu cầu như

Trang 18

mong muốn: nhiều lao động được giới thiệu việc làm nhưng vẫn thất nghiệp;nhiều doanh nghiệp có nhu cầu lao động vẫn chưa khai thác được nguồn nhânlực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mình;

Trong quản lý, tuy đã có cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lýNhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm nhưng do địa bàn rộng, nhânlực mỏng, trang thiết bị công nghệ cao còn hạn chế nên ít nhiều ảnh hưởngđến việc kiểm tra, giám sát dẫn đến việc xuất hiện nhiều trung tâm dịch vụviệc làm "ma", hoạt động bất hợp pháp, vì lợi nhuận bất chấp thủ đoạn, lừađảo người lao động

Sự phát triển của kinh tế thị trường và thị trường lao động đòi hỏi cầntăng cường quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm Để góp

phần khắc phục những tồn tại, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện quản lý Nhà

nước các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội"

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý dịch

vụ việc làm với mục tiêu phát triển mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm,nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm, một số công trình nghiên cứu

có thể kể đến là:

Nguyễn Thành Công (2017), Phát triển dịch vụ việc làm trên địa bànthành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu tập trung đánh giáthực trạng phát triển dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội giaiđoạn 2009 - 2016 và đề xuất giải phát phát triển dịch vụ việc làm trên địa bànThủ đô đến năm 2025;

Bùi Quế Lâm (2010), Nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ giớithiệu việc làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn Hà Nội.Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng, tồn tại, hạn chế của chất lượng dịch vụgiới thiệu việc làm tại Hà Nội để từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chấtlượng đối với hoạt động dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố;

Trang 19

Đào Thị Thanh Phương (2008), Phát triển thị trường lao động tại HàNội Nghiên cứu đã nêu thực trạng, đặc điểm của thị trường lao động giaiđoạn 2001- 2007 và đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển và khai thácnguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao cho Thủ đô;

Nguyễn Thị Hải Vân, Một số giải pháp phát triển hệ thống Trung tâm Giớithiệu việc làm công ở Việt Nam tới năm 2010 (2008) Nghiên cứu này thực hiện ởquy mô toàn quốc, nội dung chính là phân tích hoạt động của các Trung tâm giớithiệu việc làm giai đoạn 1998-2004 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện

hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm của Việt Nam trong tương lai

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý đối với các trung tâm dịch

vụ việc làm của Thành phố Hà Nội (các đơn vị được thành lập theo quy địnhtại mục a, khoản 1, Điều 2 Nghị định 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 củaChính phủ Quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm)

Phạm vi nghiên cứu: Không gian thành phố Hà Nội Nghiên cứu tập

trung vào các hoạt động quản lý của cơ quan chuyên môn (Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội) và hoạt động tại các Trung tâm Dịch vụ việclàm của Thành phố Hà Nội

-Thời gian nghiên cứu: 2014 - 2017 và tầm nhìn đến 2030

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng quản lý và đề

xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm củaThành phố Hà Nội

Nhiệm vụ của nghiên cứu:

Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý đối với hoạt động dịch vụ việc làm, kếtnối cung - cầu lao động qua các trung tâm dịch vụ việc làm;

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đối với các trung tâmdịch vụ việc làm;

Trang 20

Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn quản lý đối với các trung tâm dịch

vụ việc làm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để rút ra bài họckinh nghiệm cho Hà Nội;

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý, kết quả quản lý của cơ quanchuyên trách đối với tổ chức và hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm;

Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý các trungtâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sửthực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phương pháp hệthống hóa, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, từ đó phân tích thực trạng

và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý nhà nước đối với cáctrung tâm dịch vụ việc làm; làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để

từ đó đề xuất giải pháp hoàn tiện quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm củaThành phố Hà Nội

6 Kết cấu luận văn: gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thực tiễn quản

lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm

Chương 2: Thực trạng quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm củathành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý các trungtâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội

Trang 21

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ

KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CÁC

TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM

1.1 Một số vấn đề chung về trung tâm dịch vụ việc làm

1.1.1 Quan niệm và phân loại trung tâm dịch vụ việc làm

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì các trung tâm dịch vụ việclàm được nhìn nhận là những tổ chức được Nhà nước cho phép thành lậpnhằm mục đích kết nối cung – cầu lao động Chức năng kết nối cung – cầu laođộng hay còn gọi là chức năng giới thiệu việc làm, sắp xếp việc làm một cách

có hiệu quả cho người lao động và người sử dụng lao động qua các chươngtrình chắp nối Chức năng hoạt động khác của trung tâm dịch vụ việc làm làcung cấp thông tin và tư vấn nghề nghiệp cho người lao động đang tìm kiếmviệc làm tham gia vào thị trường lao động và những người có ý muốn thay đổiviệc làm tìm được công việc phù hợp; quản lý các chương trình bảo hiểm thấtnghiệp và chi trả trợ cấp thất nghiệp; quản lý các chương trình làm việc đặcbiệt, quản lý quỹ xúc tiến việc làm;

Ngoài ra, tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng quốc gia, các trung tâm dịch

vụ việc làm có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng ở hầu hết cácquốc gia đều có quy định các trung tâm dịch vụ việc làm đều được thu lệ phí

Cũng theo ILO, trung tâm dịch vụ việc làm là một hình thức tổ chứchoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm, quy định chung như sau:

Tổ chức việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghềcho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sửdụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thựchiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 22

Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanhnghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.

Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy địnhcủa Chính phủ

Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt độngtheo quy định của Luật Doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụviệc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp

Tổ chức dịch vụ việc làm được thu phí, miễn, giảm thuế theo quy địnhcủa pháp luật về phí, pháp luật về thuế

Phân loại trung tâm dịch vụ việc làm: Căn cứ theo chủ thể ra Quyết định thành lập, trung tâm dịch vụ việc làm chia thành hai loại sau:

Loại thứ nhất là trung tâm việc làm do cơ quan quản lý nhà nước raquyết định thành lập, gồm:

Trung tâm dịch vụ việc làm do người đứng đầu cơ quan tương đươngcấp bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định thành lập

Trung tâm dịch vụ việc làm do người đứng đầu cơ quan hành chính nhànước tương đương cấp tỉnh quyết định thành lập, thuộc loại đơn vị sự nghiệp

có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên theo quy địnhhiện hành; là tổ chức thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, do cơ quan nhà nước raquyết định thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, được mở tài khoản tạingân hàng, kho bạc Nhà nước Đây là đối tượng nghiên cứu của luận văn này

Loại thứ hai là trung tâm dịch vụ việc làm do người đứng đầu tổ chứcchính trị - xã hội cấp quốc gia quyết định thành lập

1.1.2 Hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm: nguyên tắc, nhiệm

vụ và vai trò

Nguyên tắc hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm:

Nguyên tắc thứ nhất: Dịch vụ để phục vụ khách hàng Đối tượng phục

vụ của trung tâm dịch vụ việc làm là khách hàng bao gồm cả những người

Trang 23

đang tìm việc, có ý muốn thay đổi công việc và các doanh nghiệp, cơ sở kinhdoanh, sản xuất tìm kiếm lao động Chính vì vậy mọi hoạt động của trung tâmcần phải tập trung vào nhóm đối tượng này Nguyên tắc này nhằm đảm bảorằng mọi đối tượng khách hàng tìm kiếm dịch vụ của trung tâm đều được đối

xử bình đẳng, được phục vụ tốt nhất, được đáp ứng đầy đủ nhất các yêu cầu

mà khách hàng đưa ra Mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng được áp dụng đểđánh giá nguyên tắc này

Nguyên tắc thứ hai: Hoạt động có hiệu quả Nội dung của nguyên tắcnày nhằm vào mục tiêu tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, gópphần đạt được các mục tiêu hiệu quả về kinh tế, xã hội

Nguyên tắc thứ ba: Hoạt động có chất lượng Chất lượng hoạt động củatrung tâm có liên quan đến mức độ đóng góp của trung tâm vào các mục tiêu

đã đề ra như các mục tiêu về giải quyết việc làm, mục tiêu phát triển nguồnnhân lực, phát triển thị trường lao động… và rộng hơn là mức độ đóng gópvào những tiến bộ về kinh tế - xã hội Chất lượng hoạt động của trung tâm cóthể đo được bằng tác động lên quá trình xúc tiến việc làm, đảm bảo cung cấpdịch vụ với giá hợp lý

Những nhiệm vụ của trung tâm dịch vụ việc làm:

Nhiệm vụ thứ nhất là hoạt động tư vấn, bao gồm: Tư vấn học nghềcho người lao động về lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp vớikhả năng và nguyện vọng; Tư vấn việc làm cho người lao động về lựa chọncông việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; về kỹ năng thi tuyển; về tựtạo việc làm, tìm việc làm trong và ngoài nước; Tư vấn cho người sử dụng laođộng về tuyển dụng lao động; về quản trị và phát triển nguồn nhân lực; về sửdụng lao động và phát triển việc làm; Tư vấn về chính sách, pháp luật laođộng cho người lao động, người sử dụng lao động

Nhiệm vụ thứ hai là giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng

và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, bao gồm: Giới

Trang 24

thiệu người lao động cần tìm việc làm với người sử dụng lao động cần tuyểnlao động; Cung ứng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động;Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện,đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động; Giới thiệu, cung ứng lao độngcho đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng.

Nhiệm vụ thứ ba là thu thập, phân tích, dự báo và cung ứng thông tincho thị trường lao động

Nhiệm vụ thứ tư là tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tìmkiếm việc làm và đào tạo kỹ năng, dạy nghề khác theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ thứ năm là hỗ trợ người lao động trong trường hợp chuyển

từ nghề này sang nghề khác, di chuyển từ địa phương này sang địa phươngkhác, di chuyển ra nước ngoài làm việc và các hỗ trợ khác theo quy địnhcủa pháp luật

Nhiệm vụ thứ sáu là tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về laođộng, việc làm

Nhiệm vụ thứ bẩy là thực hiện các chương trình, dự án về việc làm.Nhiệm vụ thứ tám là thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theoquy định của pháp luật

Nhiệm vụ thứ chín là thực hiện các dịch vụ khác theo quy định củapháp luật

Vai trò của trung tâm dịch vụ việc làm: Trung tâm dịch vụ việc làmđược xem là công cụ đặc biệt để giải quyết việc làm, là cầu nối trung giangiữa người lao động và người sử dụng lao động Xét ở một khía cạnh khác,trung tâm dịch vụ việc làm vừa được coi là cung lao động, vừa được coi làcầu lao động

Với ý nghĩa là cung lao động thì các trung tâm dịch vụ việc làm đượccoi là nguồn cung cấp lao động với số lượng lớn, đa dạng và chất lượng lao

Trang 25

động tương đối đảm bảo Lịch sử hoạt động đã nghi nhận các trung tâm hàngnăm đã cung cấp cho thị trường lao động một lực lượng lớn lao động đã đượcđào tạo nghề và cũng đã thực hiện giới thiệu, cung cấp thông tin, tư vấn chothị trường lao động.

Với ý nghĩa là cầu lao động, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tích cựctham gia hoạt động tại các lĩnh vực: cung cấp thông tin, tư vấn nghề nghiệp,tạo lập và phổ biến thông tin thị trường lao động, trợ giúp dịch chuyển laođộng, giải quyết việc làm đặc thù, tư vấn và đào tạo nghề …

Với ý nghĩa vai trò kép vừa là cung, vừa là cầu lao động, trong quátrình hoạt động, các trung tâm dịch vụ việc làm đã đóng vai trò là một nhân tốquan trọng trong vận hành thị trường lao động, kết nối hiệu quả người cầnviệc – việc cần người, hạn chế thất nghiệp, qua đây góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội Vai trò của trung tâm dịch vụ việc làm được thể hiệntrên các nội dung sau:

Thứ nhất, góp phần tăng tính hiệu quả của thị trường lao động, rút ngắnthời gian trong việc đáp ứng cung – cầu lao động Giới thiệu việc làm thựchiện nhiệm vụ cầu nối trung gian giữa người sử dụng lao động và người laođộng, trực tiếp bố trí người cần tìm việc vào các công việc tìm người hiện có.Cung cấp cho người lao động những thông tin và yêu cầu của người sử dụnglao động về lĩnh vực mà họ cần tuyển như: những yêu cầu, đòi hỏi về trình độchuyên môn – kỹ thuật, số lượng cần tuyển, thời hạn hợp đồng, mức thù lao

mà người lao động có thể nhận được, chế độ bảo hiểm … qua đây giúp chongười lao động có thể nắm bắt được tình hình và cũng giúp cho người sửdụng lao động tuyển đúng đối tượng theo nhu cầu, đồng thời còn cung cấpdịch vụ đào tạo nghề để tạo việc làm Tổ chức giới thiệu việc làm giúp chotrung tâm dịch vụ việc làm nắm và xử lý thông tin thị trường nhanh chóng,kịp thời; dẫn dắt chắp nối thông tin cung – cầu lao động nhanh hơn, dễ dànghơn; góp phần làm cho thị trường lao động hoàn thiện hơn, phát triển đầy đủhơn và vận hành tốt hơn

Trang 26

Thứ hai, góp phần tạo ra sự bình đẳng hơn trong thị trường lao động,tạo điều kiện như nhau cho tất cả các đối tượng khi tham gia vào trung tâm.Một trong những lĩnh vực hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm là cácdịch vụ đặc thù cho nhóm những đối tượng dễ bị tổn thương như: giải quyếtviệc làm cho người tàn tật (làm thuê nhận thù lao hay tự khởi nghiệp); đápứng nhu cầu của học sinh mới tốt nghiệp chưa có cơ hội việc làm, nhữngngười chưa có hiểu biết về giới thiệu việc làm; đáp ứng nhu cầu của thanhniên mới bước vào thị trường lao động lần đầu; bố trí việc làm cho lao độngdôi dư; trợ giúp thất nghiệp dài hạn; trợ giúp lao động nữ có việc làm hiệuquả và không bị phân biệt đối xử … đó chính là những đối tượng bị yếu thếtrong thị trường lao động Như vậy, các trung tâm dịch vụ việc làm khôngnhững góp phần làm giảm sức ép về việc làm, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp màcòn góp phần tạo ra sự bình đẳng cho các cá nhân khi tham gia vào các dịch

vụ của trung tâm, tạo ra sự công bằng, bình đẳng và lành mạnh hơn trong thịtrường lao động

Thứ ba, cung cấp một cách hữu ích nhất các thông tin đúng đắn trên thịtrường lao động, giảm bớt và hạn chế những méo mó trên thị trường này Cáctrung tâm dịch vụ việc làm hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước nên cácthông tin được cung cấp từ các trung tâm là hoàn toàn có cơ sở, có độ tin cậy.Mặt khác, theo nguyên tắc hoạt động hiệu quả thì thông tin do các trung tâmdịch vụ việc làm cung cấp trực tiếp đến người lao động và người sử dụng laođộng, làm giảm bớt các khâu trung gian, nhờ vậy sẽ kiểm soát được thông tin,giảm bớt sự bóp méo thông tin do bị cung cấp qua nhiều khâu trung gian Cácthông tin đúng đắn còn góp phần vào mục tiêu toàn dụng nhân công, pháttriển nguồn nhân lực và thúc đẩy thị trường đi đúng hướng đề ra

Trong hoàn cảnh ở nhiều quốc gia và nước ta hiện nay, thị trường laođộng đã được hình thành nhưng mới ở giai đoạn sơ khai, nên các trung tâmdịch vụ việc làm còn có thêm những vai trò sau:

Trang 27

Một là, dân số tăng trưởng nhanh, mỗi năm số người đến độ tuổi lao động,

có khả năng tham gia vào thị trường lao động (chưa kể những lao động dôi dư doquá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp có vốn nhà nước), vì vậy giải quyết việclàm luôn là một trong những yêu cầu đặt ra trước mắt Trong khi đó thị trường laođộng nước ta đã hình thành song còn non trẻ, vì vậy việc phát triển các trung tâmdịch vụ việc làm ngày càng trở nên cấp thiết hơn Sự phát triển của các trung tâmdịch vụ việc làm là xu hướng tất yếu và việc quản lý tốt các trung tâm này là mộtnhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Hai là, trong quá trình công nghiệp hóa, chuyển từ kinh tế nông nghiệpsang kinh tế công nghiệp, hoạt động dịch vụ việc làm càng cần phát triểnmạnh để góp phần sắp xếp lại lao động cho phù hợp vì quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ phát sinh nhiều lao độngdôi dư, lao động không có việc làm Nâng cao chất lượng quản lý các trungtâm dịch vụ việc làm cũng là góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

Ba là, trung tâm dịch vụ việc làm còn tạo ra nhiều động lực thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội vì các hoạt động dịch vụ sẽ giúp người sử dụng laođộng nhanh chóng hơn trong việc tuyển dụng nhân công phù hợp với nhu cầu,người lao động phát huy được thế mạnh, qua đó tăng hiệu quả sản xuất kinhdoanh, góp phần tăng năng suất lao động xã hội, cải thiện đời sống nhân dân,tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế

1.2 Một số vấn đề về quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm

1.2.1 Quan niệm và sự cần thiết quản lý đối với trung tâm dịch vụ việc làm

1.2.1.1 Quan niệm về quản lý

Quản lý được hiểu là "Việc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầunhất định"; "Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhấtđịnh" (Từ điển Tiếng Việt NXB Khoa học xã hội- 1988, trang 829)

Trang 28

Quản lý cũng được hiểu là "nghệ thuật đạt mục đích thông qua nỗ lựccủa những người khác.", "sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhấtcác tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biếnđộng của môi trường." (Giáo trình Quản lý học (Nhà xuất bản Đại học kinh tếquốc dân 2017, trang 38), theo nghĩa đó, quản lý được hiểu theo nhiều cách:

"Quản lý là phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sựkhác nhau trong cùng một tổ chức."

"Quản lý là một quá trình phối hợp các nguồn lực một cách hiệu lực vàhiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức."

"Quản lý là việc thiết kế và duy trì một môi trường trong đó những ngườicùng làm việc với nhau có thể hoàn thành các mục đích, mục tiêu chung."

"Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có hiệu lực vàhiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát cácnguồn lực của tổ chức."

"Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát cácnguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệthống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môitrường luôn biến động."

Quản lý cũng được hiểu là "hoạt động nhằm tác động một cách có tổchức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điềuchỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổnđịnh và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định." (Tài liệu bồidưỡng về Quản lý hành chính Nhà nước, chương trình chuyên viên, NXBKhoa học và kỹ thuật 2010, phần II, trang 5),

Quản lý Nhà nước là hoạt động xuất hiện cùng với sự xuất hiện củaNhà nước, là quản lý công việc của nhà nước Nội hàm của quản lý Nhà nướcthay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của

Trang 29

mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay, quản lý Nhà nước xét vềmặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt độnghành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của

Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, lấy pháp luật làmcông cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý Nhà nước là một dạngquản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luậtcủa Nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thựchiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định vàphát triển của xã hội

Trong quản lý Nhà nước, quản lý hành chính là hoạt động đa dạng,trung tâm, chủ yếu, vì hoạt động hành chính là hoạt động tổ chức và điềuhành để thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý xã hội Tuy nhiên, quản

lý hành chính nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý Nhà nước, vì:

Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành phápcủa Nhà nước, tức là hoạt động chấp hành và điều hành;

Trang 30

Chủ thể quản lý hành chính Nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chứchành chính Nhà nước trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở.

Do đó, quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực thi quyềnhành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngquyền lực của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt độngcủa con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ươngđến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước,nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật,thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc

Trong quá trình phát triển xã hội, quản lý luôn phải có căn cứ khoa học.Quản lý là khoa học vì nó có tính quy luật, có các nguyên lý và mối quan hệtương hỗ với các khoa học khác Đồng thời, cùng với tính khoa học, quản lý

là nghệ thuật vì nó phụ thuộc vào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, kinhnghiệm … của người quản lý

Quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm là quá trình tácđộng của cơ quan Nhà nước (chủ thể quản lý) lên các trung tâm dịch vụ việclàm (đối tượng quản lý) bằng các công cụ quản lý nhằm đạt được mục tiêuquản lý là hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm (khách thể quản lý)

có hiệu lực và đạt hiệu quả cao nhất

Trong luận văn này chủ thể, đối tượng, khách thể quản lý được xácđịnh như sau:

Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra tác động quản lý Chủ thể luôn là cánhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý bằngcác công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhấtđịnh Chủ thể quản lý ở đây là cơ quan hành chính Nhà nước tương đươngcấp tỉnh, thực hiện quản lý thông qua cơ quan chuyên môn Chủ thể quản lýđược nghiên cứu trong luận văn này là chính quyền thành phố Hà Nội, thực

Trang 31

hiện quản lý thông qua cơ quan chuyên môn là Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội

Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.Đối tượng quản lý ở đây là các trung tâm dịch vụ việc làm được thành lậptheo quy định của Chính phủ

Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thểquản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội Khách thể quản

lý ở đây là là hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm

1.2.1.2 Sự cần thiết phải quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm

Dịch vụ việc làm là toàn bộ các hoạt động kết nối cung cầu lao độngtrên thị trường lao động hoặc tư vấn, trợ giúp để người lao động có thể tự tạoviệc làm

Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp, dịch vụ việc làm không trựctiếp tạo ra việc làm Việc làm là sản phẩm của đầu tư, nó phụ thuộc vào nhậnthức và hành động của Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân những người raquyết định đầu tư một cách có ý thức vào ngành nghề sản xuất với mongmuốn tạo ra lợi nhuận Thông qua đầu tư xuất hiện cầu về lao động mà hệthống dịch vụ việc làm có thể giúp họ thỏa mãn bằng cách giới thiệu ngườitìm việc thích hợp cho các doanh nghiệp Tóm lại, dịch vụ việc làm không tạo

ra việc làm nhưng có thể trợ giúp để người lao động có việc làm Như vậy,dịch vụ việc làm hiện nay được thể hiện bằng việc phục vụ cho hai nhóm đốitượng chính:

Nhóm đối tượng là người lao động: Hoạt động chính phục vụ nhómđối tượng này là giới thiệu việc làm Bên cạnh đó là các hoạt động như tổchức huấn luyện giảng dạy các kỹ năng về nghề nghiệp, việc làm và cáckiến thức liên quan đến việc làm, cung cấp các tông tin về thị trường laođộng, tư vấn mức lương, chế độ lao động, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm

xã hội

Trang 32

Nhóm đối tượng là người sử dụng lao động: Bao gồm các hoạt động

cung ứng lao động theo đơn đặt hàng, thông tin về tình hình tuyển dụng củadoanh nghiệp hoặc người sử dụng lao động, tổ chức huấn luyện đội ngũ laođộng do doanh nghiệp, cung cấp các thông tin về mức lương và các chế độ đãingộ trên thị trường lao động

Ở mọi quốc gia, hệ thống dịch vụ việc làm là một nhân tố quan trọngtrong việc góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế và tiến bộ xã hội thôngqua hoạt động trọng tâm là kết nối cung cầu lao động Để thực hiện sứ mệnhcủa mình, hệ thống dịch vụ việc làm cần có sự điều tiết của Chính phủ, sựtham gia của các bộ, ngành khác nhau, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đặcbiệt là các doanh nghiệp và người tuyển dụng lao động

Việc hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việclàm sẽ tạo niềm tin, giảm rủi ro của người lao động tìm việc; tạo điều kiệnthuận lợi cho phát triển thị trường lao động và tạo một môi trường lành mạnhcho trung tâm dịch vụ việc làm hoạt động qua việc thanh trừ những nhữngdoanh nghiệp ma, những đối tượng lưu manh, hám lợi len lỏi vào để lừa đảo,

tổ chức những hoạt động thiếu minh bạch, gây tổn hại cho người lao động Vàmục tiêu xa hơn là góp phần phát triển kinh tế, xã hội nâng cao đời sống chonhân dân

1.2.2 Nội dung quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm

1.2.2.1 Xác định mục tiêu, xây dựng quy hoạch, kế hoạch

Thứ nhất, xác định mục tiêu Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạttới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ

để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn cácphương pháp quản lý thích hợp Mục tiêu quản lý cụ thể ở đây là giám sátviệc chấp hành các quy định của pháp luật của các trung tâm dịch vụ việc làmtrong lĩnh vực hoạt động Mục tiêu bao trùm của quản lý Nhà nước đối vớitrung tâm dịch vụ việc làm (ngoài giám sát việc chấp hành các quy định của

Trang 33

pháp luật của các trung tâm dịch vụ việc làm trong lĩnh vực hoạt động như đãnêu trên) là nhằm phát huy vai trò, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động củatrung tâm dịch vụ việc làm trong phát triển nguồn nhân lực, phát triển thịtrường lao động, kết nối cung - cầu lao động, tạo điều kiện cho người tìm việc

và nhà tuyển dụng gặp gỡ nhanh chóng, thuận tiện, góp phần giải quyết việclàm, đóng góp vào mục tiêu lớn hơn là phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩyquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ hai, xây dựng quy hoạch Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bốkhông gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với pháttriển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổxác định để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêuphát triển bền vững cho từng thời kỳ xác định

Cơ sở khoa học cho việc lập quy hoạch trung tâm dịch vụ việc làm củamột đơn vị hành chính cấp tỉnh được khai thác từ kết quả nghiên cứu, phântích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác,

sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của đơn vị đó trong vùng và sosánh với các tỉnh lân cận; kết quả phân tích đánh giá thực trạng khai thác lãnhthổ; kết quả phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điềukiện phát triển của lãnh thổ trong tổng thể vùng lớn hơn và cả nước, có tínhtới mối quan hệ khu vực và quốc tế; kết quả phân tích đánh giá phát triển kinh

tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ; kết quả nghiên cứu đánh giá tiềmnăng đóng góp và ngân sách

Yêu cầu phát triển trung tâm dịch vụ việc làm phải phù hợp với quy

hoạch chung của cả nước và đáp ứng các chỉ tiêu sau:

Nâng cao chất lượng nguồn lao động: tăng cường đầu tư dạy nghề, nângcao trình độ chuyên môn cho lực lượng lao động đang làm việc Tiếp tục đẩymạnh xã hội hóa đào tạo Từng bước nâng cấp, phát triển cơ sở dạy nghề Chútrọng đào tạo nhân lực chuyên môn cao cho những ngành kinh tế mũi nhọn

Trang 34

Thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho người lao động phù hợp với sựchuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế;

Phát triển thông tin thị trường lao động, hoàn thiện hệ thống giao dịchchính thức trên thị trường lao động: nâng cao chất lượng hoạt động của sàngiao dịch việc làm; thiết lập hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao độngthống nhất từ cấp tỉnh đến các đơn vị hành chính dưới tỉnh

Nội dung quy hoạch phải phù hợp với quy luật cung - cầu của kinh tếthị trường, nếu để tự do phát triển sẽ làm phát sinh nhiều bất cập

Quy hoạch trung tâm dịch vụ việc làm theo hướng tăng cường tính tựchủ, gắn với sự phát triển của thị trường lao động, phù hợp với xu thế hộinhập thế giới;

Đổi mới theo hướng gắn kết các hoạt động của các trung tâm dịch vụviệc làm hướng tới hình thành một hệ thống trung tâm dịch vụ việc làmthống nhất;

Kiện toàn hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm nhằm tăng cườngkết nối cung - cầu lao động, rút ngắn thời gian tìm việc của người lao động,thời gian tuyển dụng của người sử dụng lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp thànhthị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn, góp phần tăng trưởng vàgiải quyết việc làm cho người lao động;

Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin để tăng cường kết nốigiữa các trung tâm dịch vụ việc làm; giữa trung tâm dịch vụ việc làm vớingười lao động, người sử dụng lao động; giữa trung tâm dịch vụ việc làm vớicác cơ quan nhà nước có liên quan

Thứ ba, xây dựng kế hoạch quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm.Trong hệ thống công cụ quản lý, kế hoạch là một công cụ chủ yếu và có vaitrò quan trọng, bởi nó hỗ trợ cho tổ chức sử dụng có hiệu quả các nguồn lựchạn chế và đối phó với tính không chắc chắn của môi trường Đứng trên góc

độ của một tổ chức thì "kế hoạch là tổng thể các mục tiêu, các nhiệm vụ cũng

Trang 35

như các giải pháp và nguồn lực mà tổ chức có thể sử dụng để đạt được mụctiêu của tổ chức" (Giáo trình Quản lý học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân,trang … ).

Những vai trò của kế hoạch trong quản lý đối với trung tâm dịch vụviệc làm gồm có chức năng định hướng, liên kết và thống nhất mọi hành độngtrong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước; là căn cứ để thực hiện các mục tiêuquản lý; là căn cứ quan trọng đảm bảo tính đồng bộ, liên tục và hệ thống củatất cả các công cụ quản lý; tạo cơ sở phân bổ và sử dụng tốt nhất các nguồnlực hiện có; thước đo hiệu quả của hoạt động quản lý

Tóm lại, lập kế hoạch quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm là quátrình thiết lập các mục tiêu và phương thức hành động thích hợp để đạt mụctiêu Lập kế hoạch xác định các mục tiêu, nội dung, kết quả quản lý; bố trínguồn lực thực hiện nhằm đạt mục tiêu phát huy vài trò, nâng cao hiệu lực,hiệu quả hoạt động của trung tâm

1.2.2.2 Tổ chức quản lý

Thứ nhất, bộ máy quản lý

Ở cấp quốc gia, cơ quan cấp Bộ về quản lý lao động là cơ quan caonhất trong hệ thống quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm Đây là cơ quancủa Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Laođộng, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội; an toàn,

vệ sinh lao động; người có công; bảo trợ xã hội; trẻ em; bình đẳng giới; giảiquyết các vấn đề xã hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ

sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước, cótrách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về việclàm, hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; tổ chức và hoạt độngdịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

Cơ quan Hành chính Nhà nước tương đương cấp tỉnh có trách nhiệmthực hiện nhiệm vụ về tổ chức và đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và phápluật trong lĩnh vực lao động - việc làm theo quy định của từng quốc gia

Trang 36

Cơ quan giúp việc cho cơ quan hành chính nhà nước tương đương cấptỉnh là là cơ quan quản lý cấp tỉnh đối với các trung tâm dịch vụ việc làm.Đây thường là cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan hành chính nhà nước cấptỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp cơ quan hành chính nhà nước cấptỉnh quản lý nhà nước về lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiềncông; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tựnguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; bảo trợ xã hội; bảo vệ vàchăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội; về các dịch vụcông thuộc phạm vi quản lý của cơ quan này theo quy định của pháp luật vàtheo phân công hoặc ủy quyền của người đứng đầu cơ quan hành chính nhànước cấp tỉnh.

Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản lý là tổ chức quản lý Tổ chứcquản lý các trung tâm dịch vụ việc làm thực chất là sự phân công, phân cấpthực hiện kế hoạch có sự đảm bảo về nguồn lực như: cơ sở vật chất, trangthiết bị, nhân lực và thống nhất quy chế phối hợp giữa các cấp, các bộ phận,các cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ Trong quản lý các trung tâm dịch vụviệc làm, mô hình quản lý được tổ chức theo chức năng tức là hình thức tạonên bộ phận trong đó các cá nhân hoạt động trong cùng một chức năng đượcphân nhóm trong cùng một đơn vị cơ cấu;

Nhiệm vụ tiếp theo của bộ máy quản lý là lãnh đạo việc quản lý, tức làquá trình vận hành bộ máy quản lý bằng các công cụ quản lý, đảm bảo các bộphận thực hiện tốt các hoạt động nhằm đạt mục tiêu kế hoạch đề ra Các nộidung cơ bản của lãnh đạo gồm:

Tạo động lực Đây là nội dung hết sức quan trọng mà người lãnh đạophải nắm vững để có thể lựa chọn đúng các phương pháp tác động lên conngười, ở đây chính là nhóm cán bộ quản lý

Lãnh đạo nhóm làm việc Đây là một nội dung quan trọng của hoạtđộng lãnh đạo hệ thống Trong điều kiện hoạt động với quy mô đông người,

Trang 37

việc phân cấp và phân công trong hệ thống là một tất yếu khách quan, đâychính là nguyên tắc chuyên môn hóa trong quản lý.

Truyền thông Truyền thông là hoạt động không thể thiếu được trongcác hệ thống xã hội nhằm tạo được sự hiểu biết lẫn nhau, từ đó dẫn tới sự thayđổi trong hành động và nhận thức của con người trong quá trình hoạt động

Giải quyết xung đột Nhà quản lý phải kiểm soát xung đột để tối thiểuhóa các tiêu cực và tối đa hóa những ảnh hưởng tích cực của xung đột Giảiquyết xung đột có lý có tình là nhiệm vụ của lãnh đạo, đòi hỏi người lãnh đạophải có những thái độ và kỹ năng nhất định mới có thể đem lại hiệu quả mongmuốn cho sự phát triển của hệ thống

Tư vấn nội bộ Tư vấn là những hoạt động phân tích quyết định nhằmđưa ra lời khuyên cho một chủ thể nhất định Hoạt động tư vấn của người lãnhđạo không phải là ra quyết định thay cho người khác mà là đưa ra những lờikhuyên của người lãnh đạo với tư cách là chuyên gia tư vấn trong hệ thốngcủa mình Nói cách khác, sản phẩm của hoạt động tư vấn nội bộ không phải làquyết định mà là những lời khuyên

Thứ hai, công cụ quản lý

Công cụ quản lý các trung tâm dịch vụ việc làm là pháp luật, chínhsách và các quy định của Nhà nước Cụ thể hơn, cơ sở pháp lý quan trọngnhất của quản lý trung tâm dịch vụ việc làm là pháp luật về lao động và cácvăn bản hướng dẫn dưới luật như Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các

Bộ, ngành có liên quan và các quy định đặc thù khác

Bằng việc xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật trong lĩnh vựclao động - việc làm, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối vớihoạt động dịch vụ việc làm Các chính sách pháp luật trong lĩnh vực lao động

- việc làm đóng vai trò là công cụ của các cơ quan quản lý thực hiện quản lýtrong phạm vi quyền hạn của mình Ngoài ra, hoạt động dịch vụ việc làm cònchịu tác động trực tiếp của các chủ trương, chính sách và các quy định liên

Trang 38

quan khác Trong quá trình cải cách kinh tế, việc xây dựng luật và các chínhsách để tạo môi trường hoạt động thuận lợi, đảm bảo các quyền và lợi ích hợppháp trong các lĩnh vực là một yêu cầu cấp thiết Trong bối cảnh đó, chínhsách xã hội nói chung và chính sách lao động - việc làm cũng đã từng bướcđược cải thiện

Thứ ba, phương thức quản lý

Phương thức quản lý đối với các trung tâm dịch vụ việc làm là phươngpháp hành chính và phương pháp kinh tế

Phương pháp hành chính là phương pháp quản lý bằng cách ra cácmệnh lệnh hành chính dứt khoát, bắt buộc đối tượng quản lý Đặc trưng củaphương pháp này là sự tác động trực tiếp lên đối tượng quản lý (trung tâmdịch vụ việc làm) bằng cách quy định đơn phương nhiệm vụ và phương ánhành động của đối tượng quản lý Phương pháp hành chính thể hiện tính chấtquyền lực của hoạt động quản lý Cơ sở của nó là sự phục tùng của cấp dướiđối với cấp trên và tính chất bắt buộc thi hành những mệnh lệnh, chỉ thị củacấp trên đối với cấp dưới Phương pháp hành chính cần thiết để đảm bảo chohoạt động quản lý được tiến hành có hiệu quả và đảm bảo kỷ luật nhà nước.Phương pháp hành chính được thực hiện qua các nội dung: Quy định nhữngquy tắc ứng xử chung trong quản lý hành chính nhà nước; Quy định quyềnhạn và nghĩa vụ của các cơ quan dưới quyền, giao nhiệm vụ cho các cơ quanđó; Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới;

Áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi củacác trung tâm dịch vụ việc làm thông qua xử lý hành chính có phạt kinh tế, tácđộng đến lợi ích của con người Khởi điểm của phương pháp này chính là sựquản lý bằng lợi ích và thông qua lợi ích để làm cho khách thể quản lý suynghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm củamình một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều về mặt hànhchính, mệnh lệnh của chủ thể quản lý

Trang 39

1.2.2.3 Thực hiện kiểm tra, kiểm soát

Muốn quản lý tốt các trung tâm dịch vụ việc làm, các nhà quản lý cầntăng cường công tác giám sát, kiểm tra Việc báo cáo, tổng kết, đánh giá đóngvai trò quan trọng, giúp các nhà lãnh đạo xác định được ba điểm sau: hiệu lựccủa kế hoạch - mức độ đạt được mục tiêu, hiệu quả - nguồn lực phải sử dụng

để đạt được một kết quả nào đó và năng suất - số lượng và chất lượng của kếtquả hoạt động trong mối quan hệ với chi phí của các nguồn lực Kiểm soátcung cấp thông tin phản hồi về các hoạt động, xác định khoảng cách giữa kếhoạch và kết quả thực tế Kiểm soát là một chức năng quan trọng của quátrình quản lý bởi vì nó đưa ra các biện pháp để đảm bảo rằng hệ thống đangvận hành đúng hướng về phía các mục tiêu đã đề ra

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trung tâm dịch vụ việc làm

Thứ nhất, sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong quản lý; quy hoạch trung tâm dịch vụ việc làm.

Sự phối hợp của các cơ quan, cấp hành chính trong hoạt động quản lý

là một nhu cầu tất yếu khách quan, vì không có cơ quan, cấp hành chính nàothực hiện chức năng quản lý hoàn thành được nhiệm vụ của mình một cáchbiệt lập Bởi vậy, việc nâng cao hiệu quả phối hợp trong hoạt động quản lýcủa các cơ quan, cấp hành chính cũng là một nhân tố quan trọng Đối với hoạtđộng hoạch định chính sách về hoạt động dịch vụ việc làm, cơ quan quản lýnhà nước trong lĩnh vực này cần nghiên cứu, xác định vừ đề xuất những quyđịnh chặt chẽ đối với hoạt động dịch vụ việc làm, bảo đảm quyền lợi củangười lao động, người sử dụng lao động, hạn chế tiêu cực Như vậy, hệ thốngquản lý cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng ban, bộ phận,giữa cấp trung ương và địa phương trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chứclãnh đạo, kiểm soát và đánh giá kết quả thực hiện

Bằng việc xây dựng quy hoạch, các cơ quan quản lý cũng đã xác địnhđược sự phát triển hợp lý của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm trong từng

Trang 40

giai đoạn và đinh hướng lâu dài Quy hoạch các trung tâm dịch vụ việc làmnhằm đảm bảo phân bổ nguồn lực và góp phần giải quyết tốt các mối quan hệcung - cầu lao động đối với từng khu vực Để làm tốt công tác quy hoạch các

cơ quan quản lý cần đánh giá tổng hợp thực trạng và nguồn lực phát triển củavùng quy hoạch; dự báo khả năng tăng trưởng về mặt kinh tế, xã hội, dân số,đất đai, nhu cầu xã hội để từ đó hình thành các phương án cân đối khả năng

và nhu cầu; chọn các khu vực và đối tượng ưu tiên phát triền

Thứ hai, năng lực, trình độ cán bộ của cơ quan quản lý

Các cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực dịch vụ việc làm có vai trò,trách nhiệm cao liên quan đến việc hoạch định chính sách, thanh tra, kiểm tra,giám sát hoạt động dịch vụ việc làm và xử lý những sai phạm

Đối với hoạt động hoạch định chính sách dịch vụ việc làm, cơ quanquản lý Nhà nước về lĩnh vực này cần nghiên cứu, xác định và đề xuất nhữngquy định chặt chẽ đối với hoạt động dịch vụ việc làm, bảo đảm quyền lợi củangười lao động, người sử dụng lao động, hạn chế tiêu cực Như vậy, hệ thốngquản lý cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng, ban, bộ phận,giữa cấp trung ương và địa phương trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức,lãnh đạo, kiểm soát và đánh giá kết quả thực hiện

Song song với việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý cần đượcđào tạo, có đủ kiến thức, phẩm chất, năng lực, đạo đức nghề nghiệp, tráchnhiệm cao trong công việc

Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, việc áp dụng công nghệthông tin vào quản lý đã trở nên phổ biến Thực tế đã chứng minh rằng côngviệc làm chủ công nghệ thông tin trong quản lý đã giúp nhà quản lý cải thiệncông việc, cải thiện quy trình, nâng cao hiệu suất làm việc, từ đó nâng caohiệu quả hoạt động

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả quản lý, các cơ quan quản lýcần chú trọng việc đào tạo kỹ năng làm chủ những công nghệ thông tin hiệnđại, liên tục cập nhật những phầm mềm quản lý mới, không ngừng đầu tư vào

Ngày đăng: 08/04/2019, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2005), Thông tư số 20/2005/TT- BLĐTBXH ngày 22/6/2005 về Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị Định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2005/TT-BLĐTBXH ngày 22/6/2005 về Hướng dẫn thi hành một số điều củaNghị Định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ quyđịnh điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệuviệc làm
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2005
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2017), Quyết định số 996/QĐ- BLĐTBXH ngày 27/6/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 996/QĐ-BLĐTBXH ngày 27/6/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạnvà cơ cấu tổ chức của Cục việc làm
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2017
4. Bộ Tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Thông tư liên tịch số 95/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 07/8/2007 hướng dẫn về phí giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tưliên tịch số 95/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 07/8/2007 hướng dẫnvề phí giới thiệu việc làm
Tác giả: Bộ Tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
5. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 72/2016/TT-BTC ngày 19/5/2016 về việc Hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịch vụ việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 72/2016/TT-BTC ngày 19/5/2016 vềviệc Hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịchvụ việc làm
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
6. Bùi Quế Lâm (2010), Nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại các Trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệuviệc làm tại các Trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phốHà Nội, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Tác giả: Bùi Quế Lâm
Năm: 2010
7. Chính phủ (2005), Nghị định 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 Quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 Quy địnhđiều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việclàm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
8. Chính phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ mày, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quyđịnh quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổchức bộ mày, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cônglập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
9. Chính phủ (2006), Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 quy định về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 quyđịnh về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
10. Chính phủ (2008), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 11/01/2006 Sửa đổi, bố sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 11/01/2006 Sửađổi, bố sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
11. Chính Phủ (2008), Nghị định số 71/2008/NĐ-CP ngày 05/6/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 71/2008/NĐ-CP ngày 05/6/2008 sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày28/02/2005 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập vàhoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2008
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quyđịnh điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của trung tâm dịch vụviệc làm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13. Chính phủ (2014), Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 quyđịnh điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm củadoanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
14. Chính phủ (2017), Nghị định số 14/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 14/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ laođộng - Thương binh và Xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
15. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2017), Quyết định số 375/QĐ-UBND ngày 19/01/2017 Về việc tổ chức lại Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Trung tâm dịch vụ việc làm Hà Nội và Trung tâm dịch vụ việc làm số 2 Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số375/QĐ-UBND ngày 19/01/2017 Về việc tổ chức lại Trung tâm dịch vụviệc làm Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Trung tâm dịch vụ việc làm HàNội và Trung tâm dịch vụ việc làm số 2 Hà Nội
Tác giả: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm: 2017
16. Cục việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2008), Lý thuyết về đầu tư giới thiệu việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyếtvề đầu tư giới thiệu việc làm
Tác giả: Cục việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2008
17. Cục việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2016), “Thực trạng tổ chức hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm và định hướng phát triển trong thời gian tới”, Hội thảo đánh giá tình hình hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm và định hướng trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thựctrạng tổ chức hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm và định hướngphát triển trong thời gian tới”, "Hội thảo đánh giá tình hình hoạt độngcủa các Trung tâm dịch vụ việc làm và định hướng trong thời gian tới
Tác giả: Cục việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2016
18. Đại học Kinh tế quốc dân (2011), giáo trình Quản trị học, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Quản trị học, Nhà xuất bảnTài chính
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nhà xuất bảnTài chính
Năm: 2011
19. Đại học Kinh tế Quốc dân (2012), giáo trình Quản lý học, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Quản lý học, Nhà xuất bảnĐại học kinh tế quốc dân
Tác giả: Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học kinh tế quốc dân
Năm: 2012
20. Đại học kinh tế quốc dân (2012), giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nhàxuất bản Đại học kinh tế quốc dân
Tác giả: Đại học kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nhàxuất bản Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2012
21. Đại học kinh tế quốc dân (2013), sách chuyên khảo Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: sách chuyên khảo Kinh tế phát triển,Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính
Tác giả: Đại học kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính"
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w