THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON 0 - 25 THÁNG TUỔI TẠI 3 TỈNH HÀ NAM, QUẢNG BÌNH, LÀO CAI VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP, 2013-2015
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP,
2013-2015
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP,
2013-2015
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 62 72 03 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Hoàng Văn Tân
2 PGS.TS Khương Văn Duy
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Công trình được hoàn thành tại: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Hoàng Văn Tân
2 PGS.TS Khương Văn Duy
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là phương pháp nuôi dưỡng trẻ tự nhiên mang lại lợi ích tối ưu nhất cho sự sống còn, lớn lên và phát triển của trẻ Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tiếp tục cho ăn bổ sung hợp lý và duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển thể chất, tinh thần và trí tuệ của trẻ [1] Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp can thiệp có hiệu quả nhất trong giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn góp phần quan trọng giảm tỷ lệ mắc viêm phổi và tiêu chảy là 2 nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ nhỏ Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) chỉ riêng với can thiệp cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn (BMHT) trong 6 tháng đầu sẽ làm giảm 1,3 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm trên toàn thế giới [1]
Nuôi con bằng sữa mẹ còn có tác động tích cực đến sức khỏe bà mẹ Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các bà mẹ cho con bú giảm nguy cơ mắc ung thư vú và buồng trứng là 2 nguy cơ hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ
Tình trạng NCBSM ở Việt Nam cũng tương tự như các nước đang phát triển khác Theo số liệu thống kê gần đây nhất cho thấy chỉ có chỉ có 26,5% số bà mẹ cho con bú sớm và 24,3% số bà
mẹ cho con BMHT trong 6 tháng đầu
Để góp phần cải thiện thực hành cho trẻ bú sớm và BMHT, đồng thời chuyển tải các chính
sách, hướng dẫn vào thực tế chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và hiệu quả can thiệp truyền thông nâng cao kiến thức và thái độ nuôi con bằng sữa mẹ cho các bà mẹ có con 0-25 tháng tuổi tại 3 tỉnh: Hà Nam, Lào Cai, Quảng Bình, năm 2012- 2015” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của phụ nữ có con từ 0 -
25 tháng tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình năm 2012
2 Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khoẻ đối với kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của các phụ nữ có con dưới 2 tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai
và Quảng Bình từ năm 2013 đến 2015
Trang 5Những đóng góp mới của luận án
Kết quả của luận án sẽ là cơ sở khoa học cho các giải pháp can thiệp truyền thông nâng cao
tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ, một trong những ưu tiên trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Điểm mới của luận án là đúc kết ra mô hình sinh hoạt câu lạc bộ, truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức và tiến tới thay đổi hành vi của cộng đồng trong việc khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ
Luận án gồm 178 trang, 34 bảng, 9 biểu đồ và 181 tài liệu tham khảo, trong đó có 112 tài liệu nước ngoài Về bố cục, phần đặt vấn đề 3 trang, tổng quan tài liệu 30 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21 trang, kết quả nghiên cứu 47 trang, bàn luận 26 trang, kết luận 2 trang, khuyến nghị 2 trang
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp tự nhiên, kinh tế và hiệu quả bảo vệ sức khỏe bà mẹ
và trẻ em Kinh nghiệm thực tế và kết qủa của nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định các lợi ích của NCBSM đối với sự lớn lên và phát triển toàn diện của trẻ; giảm nguy cơ bệnh tật cho mẹ và lợi ích kinh tế cho cộng đồng
1.1.1 Lợi ích đối với trẻ
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất bảo đảm cho sự sống còn và phát triển tối ưu cho trẻ em mà không có một loại thức ăn nào có thể thay thế được Sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và dễ cho trẻ tiêu hoá, hấp thu Cùng với sự lớn lên của trẻ, sữa mẹ thay đổi số lượng để đáp ứng nhu cầu thay đổi đó kể cả số lượng sản xuất trong ngày và cho từng bữa bú Một số thành phần trong sữa mẹ cũng thay đổi để đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ
Các phân tích về thành phần và số lượng sữa, các nhà khoa học đã khẳng định là nếu bà
mẹ khỏe mạnh, dinh dưỡng, nghỉ ngơi đầy đủ sẽ cung cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ trong 6 tháng mà không cần bất cứ thức ăn, nước uống nào khác [176], [171] Chính vì thế, WHO khuyến khích các
bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tăng trưởng và phát triển, kết quả học tập và thậm chí cả khả năng thu nhập của trẻ trong tương lai [170] Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tử vong cho trẻ em, ước tính có thể giảm hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giới mỗi năm [172] Vì vậy, WHO khuyến cáo cho tất cả các bà mẹ cần cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho ăn bổ sung hợp lý khi trẻ được tròn 6 tháng và tiếp tục bú mẹ cho đến 24 tháng hoặc lâu hơn [171], [59]
1.1.2 Lợi ích đối với bà mẹ
Khi trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất oxytocin, vì thế cho con bú sớm ngay sau khi
đẻ sẽ giúp tử cung co hồi tốt, giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ [171] Các bà mẹ cho con bú thường giảm cân nhanh hơn, đồng thời ít nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường type II, ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương Hàm lượng oxytocin trong máu cao hơn nên có thể giảm căng thẳng và chứng trầm cảm ở bà mẹ sau khi sinh [138], [109] Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu làm ức chế hoạt động của buồng trứng, sẽ làm bà mẹ chậm có kinh trở lại,
vì vậy nuôi con bằng sữa mẹ có tác dụng như một biện pháp tránh thai tự nhiên [138] Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy rằng nếu bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và không
có dấu hiệu có kinh nguyệt trở lại thì khả năng mang thai là dưới 2% [128]
1.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ
1.2.1 Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới
Lợi ích của sữa mẹ đã được khẳng định trong trong rất nhiều nghiên cứu và đã được chứng minh rõ ràng trong thực tế Phần lớn các bà mẹ ở các nước trên thế giới hiểu biết và ủng hộ NCBSM, tuy nhiên kiến thức và thực hành về cho trẻ bú sớm và BMHT còn hạn chế
Nhìn chung, thực hành NCBSM ở các ở các nước thu nhập thấp và trung bình tốt hơn ở các nước thu nhập cao với hầu hết các bà mẹ đều cho con bú và có đến hơn 60% kéo dài đến 20-
23 tháng Tuy nhiên, tỷ lệ cho con bú sớm không đạt được như mong muốn và cũng chỉ có 37%
số trẻ được BMHT trong 6 tháng [167]
Trang 7Lý do số bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp nhìn chung là giống nhau ở hầu hết các nghiên cứu trên thế giới Mẹ không đủ sữa, phải đi làm sớm, mẹ hoặc con bị bệnh là những lý do chính bà mẹ không cho con bú hoàn toàn và cai sữa sớm [118], [133], [178] Kết quả một số nghiên cứu cho thấy có khoảng 8% số bà mẹ không cho con bú vì không thích làm công việc này [156]
1.2.2 Kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam
Kiến thức, niềm tin là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho con BMHT trong 6 tháng đầu Một số nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bà mẹ không tin sữa mẹ có đủ chất cho trẻ phát triển đến 6 tháng tuổi, ví dụ trong một khảo sát thực hiện online với 509 bà mẹ tham gia, có 30,3% bà
mẹ cho rằng sữa mẹ không đủ chất và lượng để cung cấp cho bé đến 6 tháng tuổi [54] Trong khi các quảng cáo của nhiều hãng sữa công thức ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và thực hành của bà mẹ
về cho trẻ BMHT [16] Tác động của các thành viên trong gia đình, về các thực hành truyền thống cũng ảnh hưởng nhiều đến việc cho bú sớm và BMHT Các cặp vợ chồng ở cùng bố mẹ thường phải theo hướng dẫn theo kinh nghiệm của mẹ chồng hoặc mẹ đẻ cho trẻ ăn sam sớm với nhận thức là để trẻ cứng cáp hơn Mặt khác, sự thiếu sự quan tâm từ phía gia đình như trong giai đoạn cho con bú, hay các quan niệm cho rằng sữa mẹ không cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong 6 tháng đầu, sữa mẹ không tốt cũng là các rào cản đối với BMHT
1.3 Tác động của truyền thông nâng cao kiến thức, thái độ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng truyền thông đóng vai trò quan trọng đối với NCBSM cả tác động tích cực lẫn tiêu cực Những thông tin đúng sẽ cung cấp thêm kiến thức, thay đổi thái độ
và cải thiện thực hành theo hướng tích cực, ngược lại các quảng cáo hay những gói dịch vụ khuyến mại của các hãng sữa thường làm giảm niềm tin vào sữa mẹ và ảnh hưởng nhiều đến các thực hành NCBSM
Tại Việt Nam, từ những năm đầu của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu đã khẳng định về ảnh hưởng lớn đến thực hành NCBSM Kết quả nghiên cứu của Dương Văn Đạt và cộng sự cho thấy có tới 98% bà mẹ tiếp cận với các hãng sữa trong thời kỳ mang thai và sau sinh, trong đó có tới 53% bà mẹ quyết định mua sữa công thức sau khi nhận được những nội dung quảng cáo này [96], [97], [95]
1.4 Một số chương trình can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành NCBSM
1.4.1 Một số mô hình trên thế giới
Có khá nhiều chương trình can thiệp thúc đẩy kiến thức và thực hành NCBSM ở nhiều nước trên thế giới Tìm hiểu các số liệu thứ cấp trên thư viện Pubmed, Medline, Cochrane Library, EMBASE và của WHO từ tháng 5/2012 đến 27/11/2012 cho kết quả có 372 chương trình can thiệp được thực hiện, trong đó có 111 nghiên cứu sử dụng can thiệp truyền thông dựa và cộng đồng, 21 can thiệp tại cộng đồng và 43 nghiên cứu kết hợp can thiệp ở cộng đồng và ở các dịch
vụ y tế Trong số 111 nghiên cứu can thiệp truyền thông dựa vào cộng động có 27 nghiên cứu ở các nước đang phát triển Các can thiệp ở những nghiên cứu này cũng chủ yếu tiến hành các truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, thăm hộ gia đình và có thêm hình thức gọi điện thoại hỏi thăm, tư vấn, khuyến khích các bà mẹ
Từ các nghiên cứu đã thực hiện ở các nước trên thế giới, có thể thấy rằng, hiệu quả các can thiệp truyền thông dựa vào cộng đồng có ý nghĩa nâng cao nhận thức, kiến thức cho các bà
Trang 8mẹ và những người thân để tạo lập một môi trường hỗ trợ cho các bà mẹ thực hành những hành vi đúng
1.4.2 Một số mô hình tại Việt Nam
Mô hình tư vấn dinh dưỡng “Mặt trời bé thơ” được thành lập dựa trên hệ thống y tế
công lập, thiết kế các hoạt động cộng đồng, truyền thông và hỗ trợ tiếp cận đến các phòng tư vấn dinh dưỡng Mô hình được triển khai tại 15 tỉnh, thành trên cả nước gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Đắc Nông, Khánh Hòa, Vĩnh Long, Tiền Giang và Cà Mau; nhiều địa phương đã ghi nhận những cải thiện đáng kể trong cách thức nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ
Sau 5 năm triển khai, Dự án đã hỗ trợ thành lập gần 800 phòng tư vấn “Mặt trời bé thơ” tại các cơ
sở y tế của 15 tỉnh trên cả nước (và mở rộng thêm 250 phòng vào cuối kỳ dự án năm 2014) Riêng tại Hà Nội, đã có 121 phòng tư vấn “Mặt trời bé thơ” được thành lập trên 12 huyện, từ năm 2009 đến nay số lượng phòng tư vấn “Mặt trời bé thơ” đã tăng gấp 7 lần số lượng phòng tư vấn ban đầu, với số lượt tư vấn trung bình tại mỗi phòng là trên dưới 100 lượt/tháng
Mô hình “Tham gia của người cha về NCBSM ở Hải Dương” Đây là một can thiệp sử
dụng thiết kế phỏng thực nghiệm có đối chứng và so sánh trước sau, được triển khai trong giai đoạn từ tháng 5/2010 đến đến tháng 9/2011 Địa bàn can thiệp là CHILILAB, là thực địa của Trường Đại học Y tế công cộng, thị xã Hải Dương Nguyên tắc của triển khai can thiệp là lồng ghép với các hoạt động chăm sóc sức khỏe thường quy của địa phương Địa bàn can thiệp là 3 phường và 4 xã của thị xã Chí Linh - Hải Dương Địa bàn đối chứng được chọn là 7 xã/thị trấn của huyện Thanh Hà, nơi không được tiếp cận với các biện pháp can thiệp đặc thù của nghiên cứu, có đặc điểm kinh tế văn hóa xã hội và các chương trình, hoạt động chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng khá tương đồng nhưng không giáp với Chí Linh (CHILILAB)
Trang 9- Những phụ nữ đã xây dựng gia đình đang mang thai
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại ba tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình Là những tỉnh có
vị trí địa lý thuận lợi, đặc trưng cả khu vực thành thị, nông thôn, có mức sống và điều kiện kinh
tế, xã hội tương đương nhau, có dân tộc thiểu số sinh sống là một đối tượng đặc thù để khai thác khi tiến hành nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh sử dụng kết quả của chương trình “Nuôi con bằng sữa mẹ” do Hội LHPN Việt Nam thực hiện tại các tỉnh này, do đó đây cũng là cách chọn tỉnh thuận tiện, thuận lợi cho nghiên cứu sinh thực hiện đề tài và kiểm tra giám sát tại các địa bàn này
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2012 đến tháng 12/2015 Chi tiết thời gian thực hiện như sau:
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Giai đoạn 1: điều tra cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính
a) Điều tra cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu cho 03 tỉnh trong nghiên cứu này dựa vào công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ chính xác tương đối:
1
Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu là 10% (p = 0,10) với mức ý nghĩa 5% và với độ chính xác tương đối của ε là 0,265 Cỡ mẫu tính được là 492 trường hợp đối tượng phụ nữ có con từ 0-25 tháng tuổi, phụ nữ đang mang thai, nhưng để đảm bảo hiệu ứng thiểt kế, chúng tôi nhân đôi cỡ mẫu là
984, thực tế chúng tôi đã điều tra được 920 trường hợp phụ nữ đang có thai, và có con từ 0-25 tháng tuổi (đạt tỷ lệ 97,6%)
b) Nghiên cứu định tính
Bảng 2.1: Tổng hợp đối tượng nghiên cứu định tính giai đoạn 1
1 Thảo luận nhóm bà mẹ có con dưới 24 tuổi, mỗi nhóm 8-10 người 12 nhóm/12 xã
2 Thảo luận nhóm bà mẹ đang mang thai, mỗi nhóm 8-10 người 12 nhóm/12 xã
3 Thảo luận nhóm chồng/mẹ chồng, mỗi nhóm 8-10 người 12 nhóm/12 xã
4 Thảo luận nhóm lãnh đạo địa phương, các tổ chức đoàn thể, mỗi
nhóm 3-5 người
12 nhóm/ 12 xã
Trang 102.3.2 Giai đoạn 2: nghiên cứu can thiệp giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức và thái độ cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 0 - 24 tháng và đánh giá sau can thiệp
2.3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu trong nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu can thiệp cộng đồng không có đối chứng, có nghĩa lấy số liệu điều tra ban đầu để xác định các chỉ số sau đó can thiệp bằng truyền thông giáo dục để thay đổi kiến thức, hành vi của các bà mẹ đang cho con bú và các
bà mẹ có gia đình nhưng chưa có con, đang mang thai
2.3.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
a) Nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu nghiên cứu trong nghiên cứu này dựa vào công thức tính cỡ mẫu ước lượng nguy
cơ tương đối với độ chính xác tương đối:
𝑛 = 𝑍1−𝛼/22 [(1−𝑝1)
𝑝1 +(1−𝑝2)
𝑝2 ] /[𝑙𝑜𝑔𝑒(1 − 𝜀)]2
Trong đó:
n: là cỡ mẫu cần thiết cho nhóm nghiên cứu
p1: là tỷ lệ ước tính ban đầu 0,19
p2: là tỷ lệ ước tính sau can thiệp là 0,25
Bảng 2.2: Tổng hợp đối tượng nghiên cứu định tính giai đoạn 2
1 Thảo luận nhóm bà mẹ có con dưới 24 tuổi, mỗi nhóm 10-12 người 3 nhóm/3 huyện
2 Thảo luận nhóm bà mẹ đang mang thai, mỗi nhóm 10-12 người 3 nhóm/3 huyện
3 Thảo luận nhóm lãnh đạo địa phương, các tổ chức đoàn thể, mỗi
nhóm 3-5 người
12 nhóm/ 12 xã
Trang 11Chương 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
3.1.1 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 3.1: Kiến thức về lựa chọn nuôi con tốt nhất sau sinh
Kiến thức lựa chọn nuôi con
Con bú sữa mẹ hoàn toàn
Vừa bú mẹ, ăn sữa ngoài
Cho ăn sữa pha
χ2 test: p<0,001
Biểu đồ 3.1: Kiến thức về thời gian cho con bú sữa mẹ hoàn toàn (n = 920)
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng là nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu rất cao (74,0%), trong đó cao nhất là tỉnh Quảng Bình (82,5%), thấp hơn ở 2 tỉnh Hà Nam và Lào Cai (lần lượt là 69,9% và 69,4%) 26,0% bà mẹ có kiến thức sai là chỉ cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng hoặc từ 7 tháng trở lên Sự khác biệt về kiến thức của bà mẹ về thời gian cho con bú sữa mẹ hoàn toàn là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Trang 12Bảng 3.2: Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
Bảo vệ sức khỏe cho trẻ
Giúp phát triển thể lực, trí não
Tốt cho hệ tiêu hóa
Giúp trẻ thông minh hơn
Tạo kết gắn giữa mẹ con
0 3,2 1,3
0 4,4
Bảng 3.3: Nguồn thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ Nguồn thông tin về
nuôi con bằng sữa mẹ
và 21,7%)
Trang 133.1.2 Thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ
3.1.2.1 Thái độ tích cực
Bảng 3.4: Thái độ về việc nuôi con bằng sữa mẹ giúp bảo vệ trẻ không bị bệnh tật tránh được
viêm nhiễm Giúp bảo vệ trẻ không bị
2
246
66
0,7 78,3 21,0
3
253
38
1,0 86,1 12,9
7
713
240
0,7 73,8 25,5
Bảng 3.5: Thái độ về việc nuôi con bằng sữa mẹ tạo được sự kết gắn mẹ con
Tạo được sự kết gắn giữa
10
252
52
3,2 80,3 16,5
4
245
45
1,4 83,3 15,3
15
668
237
1,6 72,6 25,8
Bảng 3.6 Thái độ về việc nuôi con bằng sữa mẹ giúp trẻ khỏe mạnh hơn
Giúp trẻ khỏe mạnh hơn
5
252
57
1,6 80,3 18,1
12
232
50
4,1 78,9 17,0
28
660
232
3,0 71,7 25,2
Tỷ lệ phụ nữ đồng ý là nuôi con bằng sữa mẹ giúp cho trẻ khỏe mạnh hơn những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ chiếm 77,7% và rất đồng ý chiếm 25,2% Tỷ lệ bà mẹ tại tỉnh Hà Nam rất đồng ý với quan điểm này là 40,1%, cao hơn so với tỉnh Quảng Bình (18,1%) và Lào Cai (17,0%) Sự khác biệt giữa các tỉnh là có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
Trang 14Hà Nam và Lào Cai tỷ lệ này thấp hơn (11,6% và 11,9% tương ứng với từng tỉnh) Sự khác biệt là
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Biểu đồ 3.3: Thái độ về quan điểm phụ nữ không nên cho con bú nơi công cộng
Có 57,5% phụ nữ không đồng ý với quan điểm là phụ nữ không nên cho con bú nơi công cộng Tỷ lệ phụ nữ đồng ý là 40,0% và rất đồng ý là 2,7% Tỷ lệ bà mẹ ở tỉnh Lào Cai có thái độ không đồng ý với quan điểm này là 70,4%, tiếp theo là các bà mẹ ở tỉnh Hà Nam (68,3%) và tỷ lệ thấp nhất là các bà mẹ ở tỉnh Quảng Bình (34,1%) Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
3.1.3 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 3.7: Thực hành cho con bú ngay sau sinh Thực hành cho trẻ bú mẹ sau
Vừa bú mẹ vừa ăn ngoài
Ăn sữa pha
247
36
4
86,1 12,5 1,4
276
6
1
97,5 2,1 0,4
224
11
3
94,1 4,6 1,3
747
53
8
92,4 6,6 1,0
Hà Nam Quảng Bình Lào Cai Chung
Rất đồng ý Đồng ý Không đồng ý