LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu. Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường. Thất nghiệp tác động rất lớn đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn, các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa của gia đình và xã hội. Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thu nhập kinh tế quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liền với sự giảm sút thu nhập do không sản xuất. Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăng chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất nghiệp và các chi phí có liên quan như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, dịch vụ việc làm. Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp là mục tiêu chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế và khu vực (Nguyễn Văn Định, 2008). Nhận thức được điều này, Đảng ta đã khẳng định "Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên" (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và bảo trợ thất nghiệp đã được khảng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng và được cụ thể hoá bằng nhiều chính sách đối với vấn đề này. Đặc biệt, Bộ luật Lao động và Luật BHXH ra đời là những văn bản pháp lý quan trọng của chính sách BHTN ở Việt Nam. Từ 01/01/2009, Việt Nam chính thức thực hiện BHTN, BHTN là một trong các chế độ của BHXH. Thời điểm triển khai chính sách BHTN là thời điểm nền kinh tế Việt Nam nói chung và nền kinh tế của tỉnh Sơn La nói riêng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng khoảng của nền kinh tế thế giới dẫn đến hậu quả là nhiều người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp do doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, chính sách BHTN đã kịp thời bù đắp một phần thu nhập cho người lao động mất việc làm để duy trì cuộc sống và các biện pháp tích cực như tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề để giúp họ sớm trở lại thị trường lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Nguyễn Văn Định, 2008). Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam tổng số người thất nghiệp ở Việt Nam là 1.344 ngàn người trong năm 2010, giảm xuống còn 926 ngàn người năm 2012 nhưng sau đó có xu hướng tăng lên 1.038 ngàn người trong năm 2013 và 1.045 ngàn người năm 2014. Tỷ lệ thất nghiệp trong tổng số người trong độ tuổi lao động ở nước ta trên 2% trong giai đoạn 2010-2014, riêng tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên ở mức 5,5 - 7,0%, ngoài ra còn khoảng trên 3,5 triệu thanh niên đang ở trong tình trạng việc làm bấp bênh, không ổn định, số người thất nghiệp trong quý I năm 2018 là 1,1 triệu người, giảm 4,6 nghìn người so với quý trước, giảm 35,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc quý I năm 2018 ước là 2,01%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2018 ước khoảng 547 nghìn người, chiếm 49,4% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2018 ước là 7,25%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, là một chính sách mới nên việc triển khai BHTN thời gian qua cũng phát sinh không ít những vấn đề bất cập, nhận thức của một số người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan ban ngành, các tổ chức về chính sách BHTN còn hạn chế, nhiều người chưa hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình, tình trạng nợ đóng BHTN là khá lớn. Theo thông tin từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tổng số nợ đọng BHTN tính đến cuối tháng 6/2017 là 563,4 đồng. Với những bất cập nêu trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động BHXH nói chung và BHTN nói riêng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm sao xây dựng, hoàn thiện việc thực hiện chính sách về thu BHTN có hiệu quả? Giải pháp nào thúc đẩy mục tiêu đó? Từ việc nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc thực trạng quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La trong tình hình hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý kinh tế và chính sách. 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề về BHTN được nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHTN ở nhiều khía cạnh khác nhau ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi nhỏ hơn như về địa bàn tỉnh. Có thể kể đến như: - Luận văn thạc sĩ “Quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố hưng yên, tỉnh hưng yên” (năm 2016) của tác giả Nguyễn Đình Cần. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về BHTN, quản lý thu BHTN. Đánh giá thực trạng quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên và đề xuất định hướng, những giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn năm 2016 - 2020. - Luận văn thạc sĩ “Quản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội” (năm 2015) của tác giả Phạm Hoàng Thảo, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý BHTN, tổng hợp kinh nghiệm của một số nước về quản lý BHTN và rút ra bài học cho thành phố Hà Nội. Nêu lên thực trạng quản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội, phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của quản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội từ khi có chính sách BHTN đến nay, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020. - Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý thu BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế” (năm 2013) của tác giả Bùi Thị Thu Lý, luận văn đã phân tích, đánh giá được công tác quản lý quỹ BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu, chi quỹ BHTN. Đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế. Những nghiên cứu kể trên đã căn cứ trên cơ sở lý thuyết về quản lý thu, tình hình thực tế công tác thu và thực trạng của từng địa phương trong nước theo từng giai đoạn để có những phân tích, tìm ra những phương pháp để hoàn thiện công tác quản lý quỹ BHXH, hoàn thiện công tác quản lý thu BHTN nói chung, hay của một địa phương, một số nhóm đối tượng thu…cho phù hợp. Tuy nhiên, tình hình thực tế ở mỗi địa phương khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với những sự thay đổi nhanh chóng trong phát triển kinh tế xã hội cũng như những chính sách mới trong quán lý nhà nước về BHXH đặt ra những yêu cầu khác nhau trong công tác quản lý thu để đạt được hiệu quả. Công tác thu BHTN trên địa bàn tỉnh Sơn La đang có những hạn chế, chưa mang lại kết quả như mong muốn, nhưng cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý thu BHTN ở Sơn La. Đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình. Trong luận văn, tôi đã tham khảo những đề tài nghiên cứu liên quan trên để có cái nhìn tổng quan về quản lý thu BHTN nói chung, để tiếp cận vấn đề quản lý thu ở những góc độ khác nhau, xem xét những giải pháp mà những đề tài đã đưa ra để gợi ý thêm những giải pháp phù hợp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. Đồng thời, tôi cũng nghiên cứu về tình hình thực tế trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn, kết hợp với những chính sách mới và những dự báo trong thời gian tiếp theo để đưa ra những định hướng, giải pháp.Trên đây là một số tài liệu được học viên tìm hiểu, một vài nét đưa ra về các đề tài nghiên cứu trước đó với những mặt đạt được và chưa đạt được trong quá trình nghiên cứu. Học viên lựa chọn đề tài “Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La” sẽ thông qua tìm hiểu về cơ sở lý luận về quản lý thu BHTN, thực trạng công tác này tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La để từ đó có thể đưa ra được các giải pháp cụ thể và hiệu quả hơn trong vấn đề quản lý thu BHTN. 3. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản sau: - Xác định được khung nghiên cứu về quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. - Phân tích, đánh giá về thực tế công tác quản lý thu BHTN, tìm ra những yếu kém, nguyên nhân tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La - Đề xuất được một số giải pháp từ những vấn đề lý thuyết và thực tế trên nhằm nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: - Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La nhằm mục tiêu gì? - Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La bao gồm những nội dung cơ bản nào? - Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La trong thời gian qua có các điểm mạnh, điểm yếu nào? Nguyên nhân của các điểm yếu đó? - Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La cần tập trung hoàn thiện các nội dung nào? 4. Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. - Về không gian: Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La. - Về thời gian: Số liệu thu thập giai đoạn 2014 - 2017; điều tra dữ liệu sơ cấp vào tháng 4/2018; các giải pháp được đề xuất đến năm 2020.
Trang 1Giáo viên hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN KIM CHIẾN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tác giả
Bùi Trọng Đại
Trang 3Trong quá trình học tập và làm luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự giảng dạy và
hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
PGS.TS Phan Kim Chiến, người đã hướng dẫn tác giả chu đáo, tận tình trong suốt
quá trình nghiên cứu để tác giả hoàn thành đề tài
Cùng với đó, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thày cô giáo
Khoa Khoa học Quản lý, Viện Đào tạo Sau đại học - trường Đại học Kinh tế quốc
dân đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học Tác giả cũng xin cảm ơn
Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đã giúp đỡ và hỗ trợ tác giả rất nhiều trong quá trình
thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Bùi Trọng Đại
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH 8
1.1 Thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh 8
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 8
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp 10
1.1.3 Đặc điểm của thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh .11
1.2 Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh 12
1.2.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh 12
1.2.2 Mục tiêu của quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh .13
1.2.3 Nội dung quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh .14
1.2.4 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh 23
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh 28
1.3 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp ở một số địa phương trong nước và bài học kinh nghiệm rút ra cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 33
1.3.1 Kinh nghiệm từ một số địa phương trong nước 33
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH SƠN LA 38
2.1 Tổng quan về Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 38
Trang 52.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 44
2.2.2 Số tiền thu bảo hiểm thất nghiệp 50
2.2.3 Tình hình nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp 55
2.3 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La giai đoạn 2014-2017 59
2.3.1 Thực trạng bộ máy thu bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 59
2.3.2 Thực trạng lập kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp 60
2.3.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp 63
2.3.4 Thực trạng việc kiểm soát thực hiện thu bảo hiểm thất nghiệp 68
2.4 Đánh giá quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 73
2.4.1 Đánh giá theo tiêu chí 73
2.4.2 Điểm mạnh của quản lý 80
2.4.3 Điểm yếu của quản lý 81
2.4.4 Nguyên nhân của điểm yếu quản lý 82
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH SƠN LA 86
3.1 Phương hướng về quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 86
3.1.1 Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đến năm 2020 86
3.1.2 Phương hướng quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 87
3.2 Giải pháp nhằm quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 88
3.2.1 Hoàn thiện lập kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp 88
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp 90
3.2.3 Hoàn thiện kiểm soát thực hiện thu bảo hiểm thất nghiệp 94
3.2.4 Một số giải pháp khác 95
3.3 Kiến nghị 96
Trang 6KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Viết tắt Giải thích
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
DNNN Doanh nghiệp Nhà nướcDNNNN Doanh nghiệp ngoài nhà nướcHCSN Hành chính sự nghiệp
Trang 8Bảng 2.1 Số lao động tham gia BHTN năm 2014 - 2017 48
Bảng 2.2 Số đơn vị tham gia BHTN năm 2014 - 2017 48
Bảng 2.3 Mức thay đổi của tiền lương cơ sở qua các năm 50
Bảng 2.4 Số thu BHTN của BHXH tỉnh Sơn La từ năm 2014 - 2017 51
Bảng 2.6 Tỷ lệ nợ đọng BHTN giai đoạn 2014 - 2017 55
Bảng 2.7 Nợ đọng BHTN theo khối ngành từ năm 2014 - 2017 57
Bảng 2.8 Kế hoạch thu BHTN từ năm 2014 - 2017 61
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch thu BHTN năm 2017 62
Bảng 2.10 Kế hoạch thanh tra của BHXH tỉnh Sơn La từ năm 2014 - 2017 71
Bảng 2.11 Kết quả thanh kiểm tra phát hiện vi phạm về thu nộp BHTN 72
Bảng 2.12 Tình hình lao động tham gia BHTN trên địa bàn tỉnh Sơn La năm 2018 74
Bảng 2.13 Khảo sát nhận thức và hiểu biết về BHTN của người tham gia BHTN trên địa bàn tỉnh Sơn La 76
Bảng 2.14 Tỷ lệ thu BHTN thực tế so với kế hoạch từ năm 2014 - 2017 78
Bảng 2.15 Tỷ lệ thu BHTN so với tổng phải thu BHTN 2014 - 2017 79
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La 43
Sơ đồ 2.2 Bộ máy quản lý thu BHTN tỉnh Sơn La 59
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thếgiới phải đương đầu Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượngkhách quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường.Thất nghiệp tác động rất lớn đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hộicủa mỗi quốc gia, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn,lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nềnkinh tế bị đình trệ Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị xã hội bất ổn,các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóacủa gia đình và xã hội Thất nghiệp dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về thunhập kinh tế quốc dân, sự lãng phí nguồn nhân lực do tỷ lệ thất nghiệp cao đi liềnvới sự giảm sút thu nhập do không sản xuất Đồng thời, thất nghiệp còn làm tăngchi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội cho các trợ cấp thất nghiệp vàcác chi phí có liên quan như chi phí đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, dịch vụ việclàm Vì vậy, hạn chế thất nghiệp và đảm bảo ổn định đời sống người lao động trongtrường hợp bị thất nghiệp là mục tiêu chung của các quốc gia và các tổ chức quốc tế
và khu vực (Nguyễn Văn Định, 2008)
Nhận thức được điều này, Đảng ta đã khẳng định "Từng bước hình thành quỹbảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàngđầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên" (Nghị quyết Đại hội Đảnglần thứ VIII, năm 1996) Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và bảo trợ thất nghiệp đã đượckhảng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng và được cụ thể hoá bằng nhiều chínhsách đối với vấn đề này Đặc biệt, Bộ luật Lao động và Luật BHXH ra đời là nhữngvăn bản pháp lý quan trọng của chính sách BHTN ở Việt Nam
Từ 01/01/2009, Việt Nam chính thức thực hiện BHTN, BHTN là mộttrong các chế độ của BHXH Thời điểm triển khai chính sách BHTN là thời điểmnền kinh tế Việt Nam nói chung và nền kinh tế của tỉnh Sơn La nói riêng bị ảnh
Trang 10hưởng bởi cuộc khủng khoảng của nền kinh tế thế giới dẫn đến hậu quả là nhiềungười lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp do doanh nghiệp giải thể, phá sảnhoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, chính sách BHTN đã kịp thời bù đắp một phầnthu nhập cho người lao động mất việc làm để duy trì cuộc sống và các biện pháptích cực như tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề để giúp
họ sớm trở lại thị trường lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội (NguyễnVăn Định, 2008)
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam tổng số người thất nghiệp ởViệt Nam là 1.344 ngàn người trong năm 2010, giảm xuống còn 926 ngàn ngườinăm 2012 nhưng sau đó có xu hướng tăng lên 1.038 ngàn người trong năm 2013 và1.045 ngàn người năm 2014 Tỷ lệ thất nghiệp trong tổng số người trong độ tuổi laođộng ở nước ta trên 2% trong giai đoạn 2010-2014, riêng tỷ lệ thất nghiệp trongthanh niên ở mức 5,5 - 7,0%, ngoài ra còn khoảng trên 3,5 triệu thanh niên đang ởtrong tình trạng việc làm bấp bênh, không ổn định, số người thất nghiệp trong quý Inăm 2018 là 1,1 triệu người, giảm 4,6 nghìn người so với quý trước, giảm 35,4nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc quý Inăm 2018 ước là 2,01%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước, giảm 0,09điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi)thất nghiệp trong quý I năm 2018 ước khoảng 547 nghìn người, chiếm 49,4% tổng
số người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2018 ước là7,25%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước
Tuy nhiên, là một chính sách mới nên việc triển khai BHTN thời gian quacũng phát sinh không ít những vấn đề bất cập, nhận thức của một số người laođộng, người sử dụng lao động, các cơ quan ban ngành, các tổ chức về chínhsách BHTN còn hạn chế, nhiều người chưa hiểu rõ quyền và trách nhiệm củamình, tình trạng nợ đóng BHTN là khá lớn Theo thông tin từ Bảo hiểm xã hộiViệt Nam, tổng số nợ đọng BHTN tính đến cuối tháng 6/2017 là 563,4 đồng.Với những bất cập nêu trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động
Trang 11xấu đến toàn bộ hoạt động BHXH nói chung và BHTN nói riêng Vì vậy, vấn
đề đặt ra là làm sao xây dựng, hoàn thiện việc thực hiện chính sách về thuBHTN có hiệu quả? Giải pháp nào thúc đẩy mục tiêu đó? Từ việc nhìn nhận,đánh giá nghiêm túc thực trạng quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn
La trong tình hình hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý thu bảo hiểm thất
nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
quản lý kinh tế và chính sách
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, vấn đề về BHTN được nhiều người quan tâm vànghiên cứu Đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHTN ởnhiều khía cạnh khác nhau ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm
vi nhỏ hơn như về địa bàn tỉnh Có thể kể đến như:
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố hưng yên,tỉnh hưng yên” (năm 2016) của tác giả Nguyễn Đình Cần Luận văn đã hệ thốnghóa cơ sở lý luận và thực tiễn về BHTN, quản lý thu BHTN Đánh giá thực trạngquản lý thu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên,tỉnh Hưng Yên và đề xuất định hướng, những giải pháp nhằm tăng cường quản lýthu BHTN tại BHXH thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn năm
2016 - 2020
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội” (năm2015) của tác giả Phạm Hoàng Thảo, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vềquản lý BHTN, tổng hợp kinh nghiệm của một số nước về quản lý BHTN và rút rabài học cho thành phố Hà Nội Nêu lên thực trạng quản lý BHTN trên địa bàn thànhphố Hà Nội, phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân củaquản lý BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội từ khi có chính sách BHTN đến nay,trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý BHTN trên địa bàn thànhphố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020
Trang 12- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý thu BHTN tại BHXH tỉnh ThừaThiên Huế” (năm 2013) của tác giả Bùi Thị Thu Lý, luận văn đã phân tích, đánh giáđược công tác quản lý quỹ BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế, phân tích nhữngnhân tố ảnh hưởng đến thu, chi quỹ BHTN Đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện quản
lý thu BHTN tại BHXH tỉnh Thừa Thiên Huế
Những nghiên cứu kể trên đã căn cứ trên cơ sở lý thuyết về quản lý thu, tìnhhình thực tế công tác thu và thực trạng của từng địa phương trong nước theo từnggiai đoạn để có những phân tích, tìm ra những phương pháp để hoàn thiện công tácquản lý quỹ BHXH, hoàn thiện công tác quản lý thu BHTN nói chung, hay của mộtđịa phương, một số nhóm đối tượng thu…cho phù hợp Tuy nhiên, tình hình thực tế
ở mỗi địa phương khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau đặc biệt trong giai đoạnhiện nay với những sự thay đổi nhanh chóng trong phát triển kinh tế xã hội cũngnhư những chính sách mới trong quán lý nhà nước về BHXH đặt ra những yêu cầukhác nhau trong công tác quản lý thu để đạt được hiệu quả Công tác thu BHTN trênđịa bàn tỉnh Sơn La đang có những hạn chế, chưa mang lại kết quả như mong muốn,nhưng cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý thuBHTN ở Sơn La Đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩcủa mình Trong luận văn, tôi đã tham khảo những đề tài nghiên cứu liên quan trên
để có cái nhìn tổng quan về quản lý thu BHTN nói chung, để tiếp cận vấn đề quản
lý thu ở những góc độ khác nhau, xem xét những giải pháp mà những đề tài đã đưa
ra để gợi ý thêm những giải pháp phù hợp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La Đồngthời, tôi cũng nghiên cứu về tình hình thực tế trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn,kết hợp với những chính sách mới và những dự báo trong thời gian tiếp theo để đưa
ra những định hướng, giải pháp.Trên đây là một số tài liệu được học viên tìm hiểu,một vài nét đưa ra về các đề tài nghiên cứu trước đó với những mặt đạt được vàchưa đạt được trong quá trình nghiên cứu
Học viên lựa chọn đề tài “Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm
xã hội tỉnh Sơn La” sẽ thông qua tìm hiểu về cơ sở lý luận về quản lý thu BHTN,
Trang 13thực trạng công tác này tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La để từ đó có thể đưa ra đượccác giải pháp cụ thể và hiệu quả hơn trong vấn đề quản lý thu BHTN.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản sau:
- Xác định được khung nghiên cứu về quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnhSơn La
- Phân tích, đánh giá về thực tế công tác quản lý thu BHTN, tìm ra nhữngyếu kém, nguyên nhân tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
- Đề xuất được một số giải pháp từ những vấn đề lý thuyết và thực tế trênnhằm nâng cao được hiệu quả quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
- Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La nhằm mục tiêu gì?
- Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La bao gồm những nộidung cơ bản nào?
- Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La trong thời gian qua cócác điểm mạnh, điểm yếu nào? Nguyên nhân của các điểm yếu đó?
- Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La cần tập trung hoànthiện các nội dung nào?
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm
xã hội tỉnh Sơn La
- Về không gian: Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
- Về thời gian: Số liệu thu thập giai đoạn 2014 - 2017; điều tra dữ liệu sơ cấpvào tháng 4/2018; các giải pháp được đề xuất đến năm 2020
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Khung nghiên cứu
Khung nghiên cứu về quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
5.2 Quy trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài dự kiến áp dụng phương pháp nghiên cứuđịnh tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm xác định khung nghiên cứu về quản
lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La Những phương pháp được sử dụng ởbước này là phương pháp tổng hợp, phân tích để hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn về BHTN và quản lý thu BHTN; sử dụng phương pháp thống kê
số liệu theo thời gian, sử dụng các bảng biểu, sơ đồ; tính toán định lượng và so sánhmột số chỉ tiêu để phân tích để đánh giá về thực trạng hoạt động quản lý thu BHTNtại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La một cách khoa học
Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua thông tin từ các báo cáo, cácnghiên cứu được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các vấn đềliên quan đến công tác thu BHTN nói chung và trên địa bàn Sơn La nói riêng Sử
Khung nghiên cứu của đề tài
Các yếu tố ảnh
hưởng tới quản lý
thu BHTN tại cơ
quan Bảo hiểm xã
hội tỉnh
Quản lý thu BHTN tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
Lập xây dựng kế hoạch thu BHTN
Mục tiêu của quản lý thu BHTN
- Thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời
- Chống thất thoát quỹ BHTN
- Nhằm tăng cường quỹ BHTN của quốc gia
Trang 15dụng các thông tin, số liệu từ chi cục thống kê tỉnh Sơn La (Số lao động, doanhnghiệp, dân số ) và sử dụng các tài liệu, báo cáo nội bộ và số liệu về kết quả thuBHTN từ phòng Quản lý thu, phòng Kế hoạch - Tài chính Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn
La Các phương pháp thực hiện chủ yếu là phương pháp thống kê, so sánh số liệuqua các năm
Bước 3: Phân tích và đánh giá quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnhSơn La Phương pháp đánh giá chủ yếu là phương pháp so sánh, đối chiếu dựa trêncác tiêu chí đã xây dựng Thông qua đánh giá thực hiện các mục tiêu; phân tích cácđiểm mạnh, điểm yếu theo các nội dung quản lý thu BHTN và tìm ra nguyên nhândẫn đến những điểm yếu Phương pháp phân tích dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đếnquản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
Bước 4: Đề xuất một số giải pháp quản lý thu BHTN tại Bảo hiểm xã hộitỉnh Sơn La
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng, biểu, danh mụctài liệu tham khảo, mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quanBảo hiểm xã hội tỉnh
- Chương 2 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hộitỉnh Sơn La
- Chương 3: phương hướng và giải pháp quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tạibảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH
1.1 Thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ mất việc, Nhà nước đó có nhiều chính sáchsong chưa đầy đủ, vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện Việcthanh toán chế độ cho NLĐ nghỉ việc lại quy hết vào trách nhiệm của NSDLĐ Do
đó, muốn san sẻ bớt gánh nặng chi trả chế độ, hỗ trợ doanh nghiệp, đòi hỏi Nhànước cần phải có những biện pháp, giải pháp hữu hiệu, mang tính toàn diện Nhằmkhắc phục điều đó, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật BHXH.Đây là văn bản pháp lý cao nhất, toàn diện nhất từ trước đến nay được áp dụng chocác đối tượng tham gia bảo hiểm trong đó có chế độ bảo hiểm dành cho NLĐ bị mấtviệc Theo nội dung văn bản này, người mất việc làm sẽ hưởng BHTN nếu đã đóngBHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời hạn 24 tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng kýthất nghiệp và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký (Điều 81).Mức trợ cấp thất nghiệp được chi trả bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền côngtháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp Ngoài ra, người đanghưởng trợ cấp sẽ được hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, đượchưởng chế độ BHYT Nguồn chi trả chế độ sẽ do Quỹ BHTN thanh toán Quỹ nàyđược hình thành do sự đóng góp của ba bên: NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước Như vậy,cùng với sự ra đời của Luật BHXH đã phần nào giúp NSDLĐ san sẻ gánh nặng tàichính mỗi khi doanh nghiệp có người thôi việc Những quy định đặt ra vừa đảm bảoquyền lợi cho NLĐ, vừa ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ, của Nhà nước khi gặptrường hợp thất nghiệp Chính sách này không chỉ giải quyết tình trạng thất nghiệp
mà còn góp phần giữ gìn ổn định trật tự xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tếđất nước Với mong muốn sắp xếp, kiện toàn lại cơ cấu tổ chức quản lý của doanh
Trang 17nghiệp, bố trí lại lao động trong doanh nghiệp, nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời
kỳ mới, ngày 08/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 32/2007/NĐ-CP về chínhsách tinh giản biên chế Theo đó, những người thôi việc ngay được trợ cấp 03 thángtiền lương hiện hưởng để tìm việc làm, 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác
có đóng BHXH Những người thôi việc sau khi đi học sẽ hưởng nguyên lương đanghưởng, được trợ cấp kinh phí học nghề tối đa 06 tháng, học nghề xong được trợ cấp
ba tháng lương để tìm việc làm, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp ½ tháng lương.Tiếp sau đó, ngày 27/04/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2010/NĐ-CP.Theo Nghị định, công chức có nguyện vọng nghỉ việc được cơ quan, tổ chức, đơn vị
có thẩm quyền đồng ý hoặc do không hoàn thành nhiệm vụ trong hai năm liên tiếp
sẽ được cho thôi việc và hưởng trợ cấp mỗi năm bằng ½ tháng lương đang hưởng,thấp nhất bằng một tháng lương
Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm và có hiệu lực từngày 01/01/2015 Theo đó, chế định về BHTN được quy định tại Chương VI Sovới các quy định trước đây về BHTN, nội dung của Luật cho phép mở rộng đốitượng bắt buộc tham gia BHTN, bỏ quy định về đăng ký thất nghiệp, bổ sung chế
độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, bổ sung điều kiện hưởng trợ cấpthất nghiệp, thay đổi cách tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, giới hạn mứchưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, bỏ trợ cấp một lần và bảo lưu thời gian đóđóng BHTN, mở rộng điều kiện NLĐ được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tối đa 1% quỹtiền lương tháng đóng BHTN và quy định cụ thể đơn vị tiếp nhận hồ sơ Gần đâynhất, ngày 20/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP vềchính sách tinh giản biên chế Theo Điều 10, những người thuộc đối tượng tinh giảnbiên chế có tuổi đời dưới 53 hoặc 58 đối với nam và dưới 48 hoặc dưới 53 với nữnhưng không đủ điều kiện về hưu trước tuổi mà thôi việc ngay sẽ được trợ cấp batháng lương để tìm việc, 1,5 tháng lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH
BHTN là một loại hình phúc lợi tạm thời dành cho người đã đi làm và bị mấtviệc làm ngoài ý muốn BHTN sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho ngườilao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc Mức hỗ trợ
Trang 18thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp.Người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệuviệc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường laođộng (Nguyễn Văn Định, 2008).
Như vậy có thể khái quát về BHTN như sau: là chế độ nhằm bù đắp mộtphần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động họcnghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Để có thể đánh giá một cách khách quan và chính xác nhất về vai trò củaBHTN thì cần phải nhìn nhận theo từng đối tượng và từng khía cạnh khác nhau của
xã hội Từ đó mới có thể đưa ra nhận xét đầy đủ nhất về chế độ bảo hiểm này
* Đối với người lao động:
Chế độ BHTN được ban hành thì đối tượng hướng đến chính là người lao động.Việc luật bảo hiểm ban hành quy định người lao động bắt buộc phải tham gia BHTN khi
ký hợp đồng lao động cũng là nhằm mục đích giúp họ có được sự bù đắp về kinh tế nếuxảy ra tình trạng thất nghiệp Vì thế, vai trò của BHTN đối với người lao động là:
- Sự bù đắp một phần thu nhập để người lao động yên tâm ổn định cuộc sống
và tiếp tục tìm việc làm mới Bởi không phải người lao động nào cũng hăng hái đitìm việc làm mới ngay khi thất nghiệp Có không ít trường hợp người lao động thấyhụt hững vì mất việc nên nảy sinh ý nghĩa tiêu cực Vì thế cho nên, chế độ BHTN sẽgiúp người lao động lấy lại cân bằng về tinh thần, ổn định về thu nhập trong thờigian chờ tìm việc làm mới
- Thúc đẩy tinh thần tìm kiếm việc làm mới cho người lao động được hiệuquả hơn để họ sớm quay lại thị trường lao động và ổn định, phát triển kinh tế chobản thân Đồng thời đóng góp công sức vào sự phát triển của xã hội
* Đối với NSDLĐ: Gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khi nhữngNLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn đểgiải quyết chế độ cho NLĐ Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thuhẹp sản xuất, nhiều NLĐ thất nghiệp
Trang 19* Đối với nền kinh tế đất nước:
- Vai trò của BHTN rất quan trọng trong nền kinh tê đất nước Chính sáchnày đã giúp người sử dụng lao động không mất chi phí trả thêm cho người lao độngkhi họ mất việc làm Còn đối với người lao động thì vì biết chính sách bảo hiểm này
sẽ giúp mình vẫn có tiền trợ cấp khi thất nghiệp nên từ đó họ sẽ yên tâm làm việc vàcống hiến nhiều hơn, góp phầ thúc đẩy việc sản xuất phát triển
- Hơn thế nữa thì một vai trò to lớn mà chính sách BHTN mang lại là quỹBHTN có thể là nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư và phát triển nền kinh tế đấtnước.Mặc dù chỉ là một phần nhưng đây là nguồn vốn đáng kể để Nhà nước có thểkhắc phục những vấn đề xã hội và đầu tư phát triển nhiều hạng mục kinh tế
- Đặc biệt, vai trò của BHTN còn thể hiện ở việc giúp giảm gánh nặng chongân sách quốc gia đối với việc hỗ trợ chi phí cho người lao động khi họ thấtnghiệp Đây là cách tốt nhất để sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước vào các mụcđích ổn định và phát triển kinh tế xã hội về sau
Có thể nói, vai trò của BHTN đối với cả 3 bên có liên quan là người laođộng, người sử dụng lao động và Nhà nước đều rất quan trọng Đây là chính sách ansinh xã hội có thể phát huy hiệu quả rất lớn trong quá trình hoạt động của mình
1.1.3 Đặc điểm của thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
Cơ chế thu BHTN khá giống với cơ chế thu để hình thành quỹ hưu trí, nghĩa
là pháp luật quy định người sử dụng lao động, NLĐ phải đóng góp một phần để tạomột quỹ độc lập nhằm bảo đảm việc chi trả, hỗ trợ người thất nghiệp, cung cấp dịch
vụ nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp Thu BHTN dựa trên mức lương, phụ cấp của NLĐ,đồng thời có sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước và doanh nghiệp Tuy nhiên,khác với thu hình thành quỹ lương hưu, thu BHTN không có hình thức tự nguyệnnên một số người muốn tham gia BHTN nhưng nếu không làm việc ở những cơ sởkinh tế đáp ứng điều kiện tham gia BHTN hoặc không có hợp đồng lao động thìcũng không được hưởng trợ cấp thất nghiệp Giống như phần đóng góp vào quỹlương hưu, doanh nghiệp thường không mấy hứng thú với BHTN vì họ coi đó như
là một phần chi phí tăng thêm mà doanh nghiệp phải chịu, trong khi doanh nghiệp
Trang 20vẫn phải đảm bảo mức lương thực tế cạnh tranh mà NLĐ nhận được hàng tháng.NLĐ cũng không quan tâm lắm đến BHTN, vì họ coi đó như khoản phí ngoài lương
do doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp cho BHXH Do vậy, việc thu BHTN thường khókhăn hơn nhiều so với thu các loại hình bảo hiểm khác
1.2 Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội tỉnh
Theo F.W taylor: Là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa họcquản lý và là “ông tổ” trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận dưới góc độkinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông quangười khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cáchtốt nhất và rẻ nhất
Theo Herry Fayol: Là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và làngười có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời cận- hiện đạiđến nay, quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập
kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát nỗ lực của cá nhân, bộ phận
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mụctiêu đề ra
Theo J.H.Donnelly, James Gibson và J.M.Ivancevich: trong khi nhấn mạnhđến hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là mộtquá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động củanhững người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thểnào đạt được
Theo Stephan Robbins quan niệm: Quản lý là một tiến trình hoạch định, tổchức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và
sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra
Từ đó có thể rút ra định nghĩa quản lý thu BHTN:
Quản lý thu BHTN là quản lý các hoạt động thu BHTN bao gồm các quátrình: Lập kế hoạch thu BHTN, tổ chức thực hiện thu BHTN, kiểm soát thực hiệnthu BHTN Hoạt động quản lý thu BHTN của cơ quan BHXH tỉnh nhằm đạt được
Trang 21mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, không nợ đọng và không để thất thoát tiềnđóng BHTN theo quy định của pháp luật về BHTN.
Thực hiện tốt công tác quản lý thu BHTN là góp phần thực hiện tốt chínhsách an sinh xã hội và tham gia vào việc thực hiện công bằng xã hội Việc này thựchiện rất rõ trách nhiệm xã hội và quyền hạn của các bên tham gia BHTN theonguyên tắc công bằng, đoàn kết, chia sẻ và bình đẳng xã hội
1.2.2 Mục tiêu của quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
Tình trạng nợ BHTN kéo dài của các DN đang ở mức độ báo động, khôngnhững hệ lụy trực tiếp đến người lao động (NLĐ) mà còn gây rất nhiều phiền toáicho cơ quan BHXH, các cơ quan quản lý lao động, kể cả gây bức xúc trong dư luận
do chế tài xử lý nợ đọng BHTN chưa đủ mạnh để giải quyết dứt điểm các DN nợBHTN khiến NLĐ khi chuyển nơi làm việc hoặc cần chốt lại thời gian để đượchưởng chế độ chính sách gặp phải vô vàn khó khăn Để hạn chế các tình trạng trênBHXH tỉnh đã đặt ra mục tiêu đối với quản lý thu BHTN đó là:
- Đảm bảo cho các quy định về thu BHTN được thực hiện nghiêm túc, hiệuquả, bảo đảm tính xã hội thông quan việc chia sẻ rủi ro
- Xác định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHTN; phân định rõchức năng hoạt động quản lý nhà nước với chức năng sự nghiệp của cơ quan BHXH
- Đảm bảo các yếu tố đầu vào (tiền nộp BHTN) đủ khả năng chi trả các chế
độ cho người lao động tham gia BHTN
- Không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu BHTN được
sử dụng đúng mục đích; đồng thời làm cho nguồn thu BHTN liên tục tăng trưởng
- Giảm nợ đọng nhất là nợ dài hạn và nợ khó đòi, không để thất thoát tiềnđóng BHTN Để đảm bảo lợi ích và quyền lợi cho người lao động khi không maymất việc làm
- Bảo đảm tính công khai minh bạch, trong quản lý nợ BHTN, bảo đảm dễdàng, tạo thuận lợi trong việc giải quyết, chế độ BHTN cho người lao động trongcác đơn vị nợ BHTN
Trang 22- Bảo đảm thực hiện công tác thống kê, kế toán tài chính theo quy định củapháp luật, lập và gửi các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán cho cơ quan có thẩmquyền theo quy định.
1.2.3 Nội dung quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.3.1 Lập kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp
* Khái niệm lập kế hoạch thu BHTN:
Có nhiều cách hiểu về chức năng lập kế hoạch Trên giác độ ra quyết định, lập
kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà cácnhà quản lý mong muốn cho tổ chức của họ
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức
để đạt được các mục tiêu đó
Từ đó ta có, lập kế hoạch thu BHTN là quá trình xác định các mục tiêu thuBHTN và lựa chọn các phương án để từ đó đạt được các mục tiêu đó
Căn cứ để lập kế hoạch thu BHTN là dựa vào các mục tiêu thu BHTN để từ
đó đưa ra kế hoạch sao cho phù hợp với mục tiêu đề ra
* Phân loại kế hoạch thu BHTN tại BHXH tỉnh theo thời gian:
- Kế hoạch ngắn hạn: cho thời kỳ dưới một năm Đó là đưa ra các kế hoạchthu hàng tuần, hàng tháng, hàng quý và kế hoạch thu của năm
- Kế hoạch trung hạn: Cho thời kỳ từ 1 đến 5 năm Ở đây xem xét kế hoạchthu tới năm 2018
* Quá trình lập kế hoạch thu BHTN:
Xác định các mục tiêu đề ra, với mỗi mục tiêu khác nhau thì lại có các kếhoạch khác nhau Ví dụ như mục tiêu trong tuần là hoàng thành các chứng từ thu,tổng hợp số liệu và đi đến được một số đơn vị để đôn đốc thu nợ Tương ứng với nó
là kế hoạch tuần, các cán bộ thu đưa ra lịch làm việc trong tuần, từng ngày một làlàm việc ở cơ quan hay đi đến đôn đốc đơn vị Mục tiêu trong tháng là khả năng thuđược bao nhiêu tiền, trong tháng này đã đến được những đơn vị nào Từ đó các cán
bộ thu xây dựng kế hoạch thu cho tháng tới Trong kế hoạch thu tháng phải nói rõ là
Trang 23tháng trước đã làm được những gì, kết quả thu trong tháng đó ra sao, còn nợ baonhiêu đồng thời đã đến được những đơn vị nào để đi đốc thu hoặc kiểm tra số liệu.Dựa trên kết quả của tháng trước dự đoán số thu của tháng này, khả năng thu tiềnBHTN trong tháng là bao nhiêu, dự định đi đến những đơn vị nào trong tháng đểđôn đốc thu nợ.
Mục tiêu trong năm là làm sao thu được hết số tiền BHTN, giảm thiểu nợđọng, mở rộng thêm đối tượng tham gia BHTN và hoàn thành các chỉ tiêu thu đề ra.Hiện nay từ đầu quý 4 năm thực hiện, căn cứ vào hướng dẫn của BHXH Việt Nam
về việc lập kế hoạch cho năm sau, BHXH tỉnh xây dựng kế hoạch thu BHTN từ kếtquả thực hiện đến quý 3 của năm hiện tại và dự đoán tình hình phát triển kinh tế xãhội của địa phương mình để lập kế hoạch thu BHTN cho năm sau BHXH Việt Namtổng hợp kế hoạch thu BHTN toàn ngành BHXH tình lên chính phủ phê duyệt Saukhi có quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc giao kế hoạch thu, chi choBHXH Việt Nam BHXH Việt Nam sẽ ra Quyết định về việc giao kế hoạch thuBHTN cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Dựa trên số chỉ tiêu giaocho, BHXH tỉnh sẽ cân đối và giao chỉ tiêu thu BHTN đến từng cán bộ thu Mỗi cán
bộ thu chuyên quản một số đơn vị với một BHXH huyện sẽ phải chịu trách nhiệm
về số thu của đơn vị mình và BHXH huyện đó Từ đó xây dựng kế hoạch thu trongnăm cho từng cán bộ thu một, đồng thời các lãnh đạo thu trong phòng phải có tráchnhiệm giúp đỡ các cán bộ thu hoàn thành các chỉ tiêu đề ra
BHXH Việt Nam quản lý thống nhất các hoạt động thu BHTN trên phạm vitoàn quốc gia; xây dựng pháp luật về thu BHTN; đề ra các chính sách nhằm đảmbảo cho các hoạt động của thu BHTN được thông suốt, phù hợp với điều kiện pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ; thực hiện thanh tra, kiểm tracác hoạt động của thu BHTN; bảo hộ cho thu BHTN
BHXH các cấp có trách nhiệm thực hiện quyết toán thu BHTN theo quy địnhgửi cơ quan BHXH cấp trên để kiểm tra xét duyệt, gửi BHXH Việt Nam thẩm định
và tổng hợp trình Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thông qua, báo cáo Bộ Tàichính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 241.2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp
Hiện nay việc thu BHTN đang được thực hiện dưới hình thức chuyển khoảnvào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng, kho bạc Do vậy,
hệ thống BHXH phải thực hiện công tác hạch toán kế toán, thống kê, báo cáo vàkiểm tra chặt chẽ đúng nguyên tắc tài chính Khi các đơn vị sử dụng lao động nộpBHTN vào tài khoản chuyên thu của cơ quân BHXH mở tại ngân hàng, kho bạc, cơquan BHXH kiểm tra, xác định đúng số tiền thu BHTN thì hạch toán ghi nhận sốtiền thu cho đơn vị Định kỳ theo quy định hàng tháng cơ quan BHXH cấp huyệnchuyển tiền thu lên cơ quan BHXH cấp tỉnh
Quy định thời gian đóng BHTN: Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuốitháng, cơ quan, đơn vị sử dụng lao động nộp đủ số tiền vào tài khoản chuyên thucủa cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH Nếu chậm nộp 30 ngày trở lên sovới kỳ hạn phải nộp thì đơn vị sử dụng lao động phải nộp 1 khoản lãi chậm nộp theolãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm do BHXH Việt nam công bố.Khoản tiền lãi này được ưu tiên khấu trừ ngay khi đơn vị nộp tiền BHXH cho cơquan BHXH
BHXH tỉnh có trách nhiệm: hướng dẫn, tổ chức thu BHTN đúng kỳ, đủ sốlượng, theo đúng quy định, cấp đối chiếu và xác nhận trên sổ BHXH cho người laodộng tham gia BHTN; quản lý chặt chẽ thời gian đóng, tình hình biến động tănggiảm số lao động, mức đóng của người lao động tham gia BHTN Để quản lý tốt đốitượng tham gia BHTN
Tổ chức thực hiện thu là một quá trình phức tạp, liên hoàn giữa các bộ phận
có liên quan trong toàn bộ hệ thống, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để tổ chức thựchiện thu BHTN có hiệu quả cần tiến hành phân cấp quản lý chặt chẽ từ Trung ươngđến cơ sở, nhằm đảm bảo tính gắn kết trong toàn bộ hệ thống, đồng thời phải ràngbuộc được quyền hạn, trách nhiệm từng bộ phận trong hệ thống
BHXH Việt Nam chịu trách nhiệm toàn diện, gồm: tổng hợp và phân loại cácđối tượng tham gia, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thu BHTN; kiểm tra đối chiếu tình
Trang 25hình lập kế hoạch thu nộp của BHXH cấp tỉnh và thẩm định số thu BHTN trênphạm vi cả nước.
BHXH tỉnh: Tổ chức chỉ đạo BHXH cấp huyện thu BHTN theo phân cấp,quản lý toàn diện về công tác thu toàn tỉnh Lập kế hoạch thu toàn tỉnh, giao thu,kiểm tra giám sát hoạt động thu BHTN của các huyện
BHXH huyện: Chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đối chiếu tổng hợp đốitượng thu và mức thu của các đơn vị do BHXH tỉnh giao trên địa bàn quản lý
* Đối với những lao động tham gia bảo hiểm lần đầu:
Đơn vị sử dụng lao động đăng ký cho người lao động theo các bước sau:
- Bước 1: Người lao động nộp 1 bộ hồ sơ cho DN gồm: Tờ khai tham giaBHTN mẫu số TK1-TS, 2 ảnh cỡ 3x4
- Bước 2: DN chuẩn bị những thủ tục sau: Hướng dẫn lao động tham giaBHTN kê khai tờ khai, kiểm tra, đối chiếu và ký trong tờ khai của người lao động,bản sao Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấyphép hoạt động, 1 bản sao Danh sách lao động tham gia BHTN mẫu D02-TS Tờkhai cung cấp và thay đổi thông tin đơn vị tham gia BHTN (Mẫu TK3-TS)
- Bước 3: Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ trên Đơn vị đóng trụ sở ở địa bàntỉnh nào thì đăng ký tham gia BHXH nói chung và BHTN tại địa bàn tỉnh đó theophân cấp của cơ quan BHXH tỉnh (Đăng ký cơ quan BHXH quản lý theo địa bànđăng ký trên giấy phép đăng ký kinh doanh) Chi nhánh của doanh nghiệp đóngBHXH tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh
* Khi DN có sự thay đổi về số lượng lao động cần làm thủ tục sau:
- Trường hợp tăng lao động DN nộp 1 bản sao Danh sách lao động tham gia BHTNMẫu D02-TS, Tờ khai tham gia BHTN Mẫu TK1-TS, 02 ảnh màu cỡ 3x4 (1 ảnh dán trên tờkhai tham gia BHTN, 1 ảnh lưu cùng hồ sơ tham gia để xây dựng cơ sở dữ liệu)
- Trường hợp giảm lao động DN nộp văn bản đề nghị Mẫu D01b-TS, 02 bảnDanh sách lao động tham gia BHTN Mẫu D02-TS, Bản sao quyết định chấm dứthợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, thuyên chuyển, nghỉ việc hưởng chế độhoặc hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc vừa hết thời hạn, Sổ BHXH, ThẻBHYT còn thời hạn sử dụng
Trang 26Đơn vị sử dụng lao động có thể nộp hồ sơ BH cho cơ quan BHXH theo cáchình thức: Qua giao dịch điện tử, Qua dịch vụ bưu chính công ích, hoặc trực tiếp tại
bộ phận 1 cửa của cơ quan BHXH (Trong vòng 30 ngày kể từ ngày giao kết hợpđồng lao động hoặc hợp đồng làm việc DN phải nộp toàn bộ hồ sơ theo quy định).Trường hợp thực hiện giao dịch điện tử: Đơn vị sử dụng lao động, người lao độnglàm việc ở nước ngoài đóng trực tiếp cho cơ quan BHXH thực hiện lập hồ sơ bằngphần mềm kê khai của BHXH Việt Nam hoặc Tổ chức I-Van; Ký điện tử trên hồ sơ
và gửi đến Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam hoặc tổ chức I-Van
Sơ đồ 1.1 Quy trình tổ chức thực hiện thu BHTN tại BHXH tỉnh
Giải thích quy trình sơ đồ: (1) Chứng từ do đơn vị SDLĐ lập gửi cơ quanBHXH, (2) Cơ quan BHXH kiểm tra tính hợp lệ hồ sơ nếu hồ sơ khớp đúng BHXHviết giấy hẹn, nếu chưa khớp đúng viết giấy trả hồ sơ mẫu C02-TS, (3) Phòng cấp sổthẻ thông báo đóng BHTN của người lao động Mẫu C13-TS, (4) Hằng tháng cơ quanBHXH Tổng hợp số phải thu (Mẫu C69-HD) gửi cho BHXH Việt Nam, (5) thông
Phòng quản lý thu:
Viết giấy hẹn, Mẫu C02-TS, , Mẫu D01-TS, Mẫu D02-TS, Mẫu D01-TSD02-TS, Mẫu D01-TS
Đối chiếu biên lai thu tiền và số tiền
đã thu (Mẫu C17-TS)
Báo cáo nghiệp vụ (Mẫu B01-TS, Mẫu 06-TS)
6
2
1
Trang 27báo kết quả đóng cho đơn vị sử dụng lao động nộp BHTN (Mẫu C12-TS), (6) Lậpbáo cáo chi tiết đơn vị nợ BHTN (Mẫu B03-TS) để theo dõi,(7) đối chiếu biên lai thutiền và số tiền đã thu (Mẫu C17-TS) để theo dõi,(8) báo cáo nghiệp vụ (Mẫu B01-TS,Mẫu 06-TS).
Ký hiệu mẫu biểu:
- Mẫu TK1-TS: Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin tham gia của NLĐ
- Mẫu TK3-TS: Tờ khai đơn vị tham gia, điều chỉnh thông tin của người SDLĐ
- Mẫu D02-TS: Danh sách lao động tham gia BHTN
- Mẫu D01-TS: Bảng kê thông tin
- Mẫu C12-TS: Thông báo kết quả đóng BHTN
- Mẫu C02-TS: Phiếu trả hồ sơ
- Mẫu C13-TS: Thông báo đóng BHTN
- Mẫu C17-TS: Đối chiếu biên lai thu tiền và số tiền đã thu
- Mẫu C69HD: Tổng hợp số phải thu
- Mẫu B03-TS: Báo cáo chi tiết đơn vị nợ BHTN
- Mẫu B01-TS và mẫu B06-TS: Báo cáo nghiệp vụ
Cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp của cácloại giấy tờ, đối chiếu với hồ sơ của người lao động; ghi mã số quản lý đơn vị vàtừng người lao động trên danh sách và trên Tờ khai tham gia BHTN(mã đơn vị vàngười lao động ghi theo quy định của BHXH Việt Nam) Trường hợp hồ sơ chưa
đủ, cơ quan BHXH phải hướng dẫn cụ thể để đơn vị hoàn thiện Ký đóng dấu vào
"Danh sách lao động tham gia BHTN"; trong thời gian không quá 5 ngày làm việc
kể từ ngày nhận đủ hồ sơ phải trả lại đơn vị 01 bản Danh sách để đơn vị thực hiệnđóng BHXH, cơ quan BHXH lưu 01 bản Danh sách; riêng 03 Tờ khai (Mẫu TK1-TS) của người lao động sau khi cấp sổ BHXH hoàn chỉnh thì trả lại đơn vị 02 Tờkhai cùng với sổ BHXH
Người sử dụng lao động thay đổi pháp nhân, chuyển quyền sở hữu; sáp nhậphoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật phải thông báo bằng vănbản cho cơ quan BHXH và đóng đủ BHXH cho người lao động đến thời điểm thay
Trang 28đổi Cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH cho người lao động theo nguyên tắc đóngđến thời điểm nào thì xác nhận đến thời điểm đó.
Căn cứ trên kế hoạch thu được lập BHXH tỉnh, BHXH huyện tiến hành tổchức thu BHTN trên địa bàn quản lý Các đơn vị có trách nhiệm tham gia BHTNnộp tiền vào tài khoản chuyên thu của BHXH huyện hoặc BHXH tỉnh theo phân cấpquản lý Sau đó cơ quan BHXH huyện chuyển tiền thu lên cơ quan BHXH tỉnh vàcuối cùng cơ quan BHXH tỉnh nhận số thu từ BHXH các huyện và các đơn vịSDLĐ do mình quản lý tổng hợp chuyển tiền thu lên BHXH Việt Nam
1.2.3.3 Kiểm soát việc thực hiện thu bảo hiểm thất nghiệp
Để có thể thực hiện tốt quá trình quản lý thu BHTN không thể không kể đếnkiểm soát việc thực hiện thu BHTN Việc kiểm soát quản lý thu BHTN nhằm mụctiêu phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh Mặt khác, thông quakiểm soát thu các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được những saisót có thể nảy sinh Từ đó ta thấy kiểm soát thu BHTN là quá trình xem xét các hoạtđộng thu BHTN nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn đồngthời kiểm soát giúp phát hiện ra những sai sót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục.Việc thực hiện kiểm soát thu BHTN được thực hiện thông qua công tác kiểm tra,thanh tra Nội dung kiểm soát việc thực hiện thu BHTN
* Tổ chức bộ máy thanh tra kiểm soát:
Theo khoản 1 điều Điều 19 Quyết định 1518/QĐ-BHXH và theo Quyết định
số 704/QĐ-BHXH, quy định về tổ chức bộ máy thanh tra gồm:
Đoàn thanh tra, kiểm tra có Trưởng đoàn và các thành viên Trưởng đoàn làngười đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành hoạt động của Đoàn thanh tra,kiểm tra Trường hợp là Đoàn thanh tra thì phải có ít nhất một thành viên là ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHTN,BHYT Trường hợp Đoàn kiểm tra mà Trưởng đoàn không phải là Trưởng phòng,Phó Trưởng phòng Thanh tra - Kiểm tra thì phải có ít nhất một viên chức PhòngThanh tra - Kiểm tra tham gia Đoàn kiểm tra
* Chủ thể kiểm soát thu bao gồm những chủ thể sau:
Trang 29- Các cơ quan quyền lực của Nhà nước (Kiểm toán nhà nước, thanh tra chínhphủ, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành như Sở lao động thương binh và
xã hội)
- Các tổ chức chính trị xã hội (Thanh tra nhân dân, kiểm tra của tổ chứcĐảng đoàn thể)
- Các cơ quan thông tin truyền thông (báo chí, đài)
- Cơ quan BHXH: Phòng Thanh tra - Kiểm tra, lãnh đạo BHXH đi kiểm traviệc thực hiện thu BHTN
* Đối tượng kiểm soát thu:
Theo điều 17 Quyết định 1518/QĐ-BHXH bao gồm những đối tượng sau:
- Đơn vị, cá nhân thuộc hệ thống BHXH Việt Nam
- Đơn vị, tổ chức, cá nhân là đối tượng kiểm tra: Cơ quan, tổ chức, cá nhânthuộc đối tượng tham gia hoặc thụ hưởng chính BHTN trừ những đối tượng thuộcthẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
* Nội dung của việc kiểm soát thu BHTN bao gồm:
- Kiểm tra việc chấp hành đóng, nộp BHTN tại đơn vị sử dụng lao độnggồm: danh sách lao động tham gia BHTN, quỹ tiền lương tham gia BHTN, mứclương cả người lao động tham gia BHTN, thực hiện việc thu, trích và chuyển nộptiền BHTN về cơ quan BHXH
- Kiểm tra việc thực hiện thu BHTN của cơ quan BHXH các cấp, bao gồmviệc lập kế hoạch thu BHTN, việc tổ chức thực hiện thu BHTN như: tổ chức bộmáy, tổ chức thực hiện và tổ chức kiểm tra kiểm soát việc thực hiện thu BHTN
- Việc thực hiện các quy định của pháp luật, hướng dẫn của BHXH ViệtNam về BHXH, BHTN, BHYT của các cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động
và cá nhân; công tác quản lý, thực hiện chi trả, thanh quyết toán các chế độ BHXH,BHTN, BHYT;
* Quy trình kiểm soát BHTN:
- Hàng tháng, BHXH tỉnh sẽ tiến hành đối chiếu, so sánh số tiền nộp BHXHcủa đơn vị với số phải thu của đơn vị
Trang 30- Căn cứ vào hồ sơ theo dõi, lập thông báo kết quả đóng BHTN gửi cho đơn
vị để đối chiếu
- Định kỳ hoặc đột xuất, BHXH tỉnh, huyện tiến hành kiểm tra tại các đơn vị
sử dụng lao động về các vấn đề: sử dụng quỹ lương, số lao động, hợp đồng lao độngđối chiếu với lao động trong danh sách đóng BHTN Kiểm tra đối chiếu mức lươngthực trích nộp bảo hiểm bắt buộc cho người lao động trên cơ sở đơn vị phải xâydựng thang bảng lương nộp cho Sở lao động phê duyệt
Báo cáo uỷ ban nhân dân tỉnh, lập các đoàn thanh kiểm tra đột xuất nhằmphát hiện các đơn vị trốn đóng bảo hiểm
Các trường hợp vi phạm pháp luật về đóng BHTN theo Điều 134 của LuậtBHXH đều phải tính tiền lãi chậm đóng theo quy định tại khoản 3 Điều 138 củaLuật BHXH theo hướng dẫn dưới đây:
Thời điểm tính lãi: Sau ngày thứ 30 kể từ ngày hết hạn phải đóng BHTNtheo quy định, cơ quan BHXH xác định số tiền phải đóng với số tiền đã đóng, đếnthời điểm quy định để tính số tiền chậm đóng của từng đơn vị;
Lãi suất: Tính theo lãi suất hoạt động đầu tư của quỹ BHTN trong năm doBHXH Việt Nam công bố tại từng thời điểm;
L = N x K12Trong đó: L: Tiền lãi
N: Tiền nợ BHTN quá hạn phải nộp
K: Lãi suất đầu tư từ quỹ BHTN trong năm
Cùng với hoạt động kiểm tra giám sát các đơn vị tham gia và đối tượng hưởngBHTN, phòng Thanh tra - Kiểm tra cơ quan BHXH tỉnh còn kiểm tra hoạt động thuBHTN của các đơn vị BHXH cấp dưới nhằm phát hiện những sai sót trong quá trìnhquản lý, thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, lạm dụng chức vụ trục lợi gây khó khăncho chủ thể, cá nhân đến đóng và hưởng BHTN
Người lao động, đơn vị và tổ chức BHXH có hành vi vi phạm quy định vềBHTN, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính
Trang 31hoặc xử lý kỷ luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, trường hợp nghiêm trọng
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Sau mỗi tháng, quý cơ quan BHXH các cấp phải tiến hành tổng kết, đánh giátình hình thực hiện BHTN tại đơn vị Mục đích của hoạt động này là đánh giá tìnhhình thực hiện công tác quản lý thu – chi so với kế hoạch đã đề ra Đây là cơ sởquan trọng để rút ra được những kết quả để duy trì và phát huy đồng thời nhận biếtđược những hạn chế trong công tác quản lý để có những điều chỉnh kịp thời và phùhợp Đặc biệt, còn thu thập đánh giá những thông tin phản hồi từ các cấp bảo hiểm
và đặc biệt là đơn vị tham gia và đối tượng thụ hưởng để từ đó kiến nghị lên cơquan BHXH cấp trên nhằm hoàn thiện hơn nữa chế độ BHTN
1.2.4 Tiêu chí đánh giá công tác quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.4.1 Tỷ lệ đối tượng đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Mục đích sử dụng: Đánh giá số đối tượng bao gồm cả người lao động và số
đơn vị sử dụng lao động đã tham gia BHTN trên địa bàn tỉnh, từ đó giúp cơ quanBHXH có con số thống kê về tỷ lệ tham gia BHTN bắt buộc trên địa bàn tỉnh để từ
đó đưa ra định hướng khai thác và quản lý đối tượng tham gia BHTN
Công thức tính:
Tỷ lệ đơn vị tham gia BHTN = Số đơn vị đã tham gia BHTN x 100%
Số đơn vị thuộc diện tham gia BHTN
Tỷ lệ lao động đã tham gia
BHTN =
Số lao động đã tham gia BHTN
x100%
Số lao động thuộc diện tham gia
BHTNNội hàm tiêu chí:
Số đơn vị đã tham gia BHTN là những đơn vị thuộc diện tham gia BHTN bắtbuộc đã làm thủ tục đăng kí đóng BHTN với cơ quan BHXH và thực hiện đóngBHTN theo phương thức đóng đã chọn
+ Đơn vị sử dụng lao động thuộc diện phải tham gia BHTN bao gồm cơ quan
Trang 32nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt độngtrên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổhợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồnglàm việc hoặc hợp đồng lao động được quy định rõ tại khoản 3 điều 43 Luật việclàm số 38/2013/QH13 ngày 16 tháng 11 năm 2013.
+ Số lao động đã tham gia BHTN bắt buộc là những lao động làm việc trongcác đơn vị sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHTN bắt buộc có hợp đồng laođộng từ 3 tháng trở lên và đã được đăng kí đóng BHTN bắt buộc, có số sổ BHXH
Số liệu thống kê:
- Số đơn vị sử dụng lao động và số lao động đã tham gia BHTN bắt buộc bao gồm:+ Số đơn vị SDLĐ, số lao động đã tham gia BHTN từ năm trước chuyểnsang năm nay vẫn tiếp tục tham gia BHTN
+ Số đơn vị SDLĐ, số lao động tham gia mới trong năm tài chín
- Số đơn vị SDLĐ và số lao động thuộc diện tham gia BHTN là số đơn vị và
số lao động theo quy định của Luật BHXH về đối tượng thuộc diện tham gia BHTNtrong năm tài chính
Việc thu BHTN là khâu rất quan trọng cho sự vận hành của chính sách, công
Trang 33tác thu đúng, thu đủ và tránh tình trạng trốn đóng, chậm đóng BHTN Xu hướng tỷ
lệ thuận giữa số lượng lao động trong doanh nghiệp với số lượng người tham giaBHTN cũng được thể hiện khá rõ Quy mô sử dụng lao động của doanh nghiệp càngcao thì số lượng người tham gia BHTN càng lớn Thực tế này cho thấy các cơ quanQLNN cần tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra cũng như tăng các chế tài
xử lý vi phạm pháp luật về BHTN trong đó đặc biệt là các doanh nghiệp quy môvừa và nhỏ Nếu các giải pháp này được thực hiện tốt và đồng bộ thì số lượng ngườitham gia BHTN sẽ còn cao hơn khá nhiều so với con số hiện tại Do đó, song songvới việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN cần có các biện pháp nhằm tăng cườngcông tác thu BHTN, hạn chế tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHTN gây ảnh hưởngđến quyền lợi của NLĐ cũng như ảnh hưởng đến tình hình Qũy BHTN
1.2.4.2 Tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp phân loại theo loại hình doanh nghiệp Mục đích sử dụng: Đánh giá tỷ lệ số đơn vị SDLĐ và người lao động đã
tham gia BHTN theo từng loại hình doanh nghiệp để thấy được khối nào đã khaithác được đối tượng tham gia triệt để hơn từ đó đề ra biện pháp với những khối có
tỷ lệ tham gia BHTN còn thấp
Nội hàm tiêu chí:
- Số đơn vị SDLĐ hoặc số lao động đã tham gia BHTN theo khối ngành: là
số đơn vị hoặc NLĐ đã tham gia BHTN ở từng loại hình doanh nghiệp nào đó (nhưDNNN, DN NQD, Khối HCSN…) (1)
- Số đơn vị SDLĐ hoặc số lao động thuộc diện tham gia BHTN theo khốingành là số đơn vị hoặc số lao động theo quy định của luật BHXH về đối tượngthuộc diện tham gia BHTN trong năm tài chính phân theo từng loại hình doanhnghiệp (2)
Công thức tính:
Tỷ lệ tham gia BHTN theo khối ngành = (1) x 100%
(2)
Số liệu thống kê:
Trang 34(1) là số đơn vị SDLĐ hoặc số lao động đã tham gia BHTN từ năm trướcphát sinh tiếp sang năm tài chính và số tăng mới trong năm tài chính.
(2) là số đơn vị SDLĐ hoặc số lao động theo quy định của Luật BHXH vềđối tượng thuộc diện tham gia BHTN trong năm tài chính phân theo từng khốingành, loại hình doanh nghiệp
1.2.4.3 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu bảo hiểm thất nghiệp
Mục đích sử dụng: Đánh giá kết quả thu BHTN ở một địa phương nào đó mà
cơ quan BHXH tỉnh đã thu được so với chỉ tiêu mà BHXH Việt Nam giao choBHXH tỉnh đó
Công thức tính:
Nội hàm tiêu chí:
- Kết quả thực hiện: là số tiền BHTN thực tế mà BHXH tỉnh đã thu được saukhi tổng hợp số tiền thu của tất cả BHXH các huyện thành phố và của phòng Quản lýthu tỉnh
- Kế hoạch giao: Hàng năm dựa vào kết quả thu và phân bổ thu chi của nămtrước và kế hoạch thu năm sau mà BHXH Việt Nam sẽ giao kế hoạch thu cho từngtỉnh BHXH tỉnh lấy đó làm căn cứ và giao cho BHXH các huyện thu theo kếhoạch, cuối năm tổng kết thành số thu chung của BHXH tỉnh
Số liệu thống kê:
- Kết quả thực hiện là số thu BHTN thực tế trong năm tài chính
- Kế hoạch giao là số thu BHTN mà BHXH Việt Nam giao cho BHXH tỉnhtrong năm đó
1.2.4.4 Tỷ lệ thu bảo hiểm thất nghiệp trên tổng số phải thu
Mục đích sử dụng: đánh giá kết quả thu BHTN bắt buộc thực tế mà BHXH
địa phương đó đã thu được trên tổng số tiền phải thu BHTN trong năm tài chính Từ
đó thấy được thực trạng thu BHTN tại địa phương đó và giúp cơ quan BHXH có
Tỷ lệ hoàn thành kê hoạch = Kết quả thực hiện x 100%
Kế hoạch giao
Trang 35những định hướng phù hợp để nâng cao số thu trong những năm tiếp theo.
Công thức tính:
Tỷ lệ thu BHTN = Kết quả thực hiện x 100%
Số tiền phải thu BHTNNội hàm tiêu chí:
- Số tiền đã thu BHTN: là số tiền thực tế mà BHXH tỉnh đã thu được sau khitổng hợp số tiền thu của tất cả BHXH các huyện thành phố và của phòng Quản lýthu tỉnh Đây chính là kết quả thực hiện
- Số tiền phải thu BHTN là số tiền BHXH được tính toán dựa trên tổng quỹ lương
mà đơn vị SDLĐ xây dựng để cơ quan BHXH dựa vào đó tính toán tiền thu BHTN màcác đơn vị và người lao động phải nộp cho cơ quan BHXH trong năm tài chính
Số liệu thống kê:
Kết quả thực hiện là số thu BHTN thực tế trong năm tài chính
- Số tiền phải thu BHTN là số tiền BHTN các đơn vị phải trích nộp trongnăm tài chính đó
1.2.4.5 Tỷ lệ nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp
Mục đích sử dụng: Đánh giá tình hình nợ đọng BHTN trong từng năm từ đó
giúp cơ quan BHXH đề ra các giải pháp để khắc phục tình trạng nợ đọng BHTN.Công thức tính:
Tỷ lệ nợ BHTN = Số tiền nợ BHTN x 100%
Số tiền phải thu BHTN
Số liệu thống kê:
Nội hàm tiêu chí:
- Số tiền nợ BHTN là số tiền còn lại của số tiền BHTN phải thu trong kỳ với
số tiền BHTN đã nộp trong kỳ cộng với nợ kỳ trước chuyển sang
- Số tiền phải thu BHTN là số tiền BHTN được tính toán dựa trên tổng quỹ lương
mà đơn vị SDLĐ xây dựng để cơ quan BHXH dựa vào đó tính toán tiền thu BHTN màcác đơn vị và người lao động phải nộp cho cơ quan BHXH trong năm tài chính
Số tiền nợ BHTN là số tiền sau khi đã lấy số tiền phải thu trừ đi số đã thutrong năm tài chính đó cộng với khoản nợ năm trước chuyển sang năm sau
Trang 36Số tiền phải thu BHTN là số tiền BHTN các đơn vị phải trích nộp trong nămtài chính đó.
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
1.2.5.1 Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài Bảo hiểm xã hội tỉnh
- Yếu tố kinh tế - xã hội:
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốcgia phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu mộtquốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì chắc chắn đời sống củangười dân sẽ cao dần lên, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặpnhiều thuận lợi vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHTN chongười lao động Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánhnhiều người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiệntiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHTN Thêm nữa, khi đời sống kinh
tế cao thì nhận thức của người lao động cũng tăng lên, ngoài việc ý thức đảm bảocuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình họ, họ mong muốn có khoản trợ giúpkhi không may gặp các rủi ro xã hội như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, hưu trí, tử tuất, thai sản, thất nghiệp khiến cho họ bị mất hoặc giảm thunhập Tất cả những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHTN
- Yếu tố vai trò của nhà nước:
Vai trò của nhà nước trong việc cung cấp an sinh xã hội nói chung, BHTN nóiriêng hết sức quan trọng Thực chất BHTN cũng được coi là một hàng hóa công hay nóicách khác cũng là một hàng hóa dịch vụ mà khu vực tư nhân không thể đảm nhiệm thựchiện được đầy đủ Chỉ có Chính phủ mới có thể đưa ra những chính sách khuyến khíchphù hợp và ảnh hưởng để gây sức ép cần thiết trong việc thúc đẩy đóng góp bắt buộc củacác chủ sử dụng lao động Đặc biệt, Chính phủ có sự tiếp cận thông tin tốt hơn và cóquyền lực để cưỡng chế đối với khu vực tư nhân thực hiện chính sách BHTN
Hơn nữa, bất kỳ một nhà nước nào đều mang bản chất giai cấp Ngoài việckhắc phục những thất bại của kinh tế thị trường, Nhà nước còn sử dụng chính sách
Trang 37BHTN để thực hiện mục tiêu chính trị của mình Để thực hiện vai trò và mục tiêu
đó, Nhà nước sẽ ban hành các chính sách, cơ chế thu BHTN phù hợp điều kiện kinh
tế xã hội trong từng giai đoạn Ở Việt Nam, Nhà nước mang bản chất giai cấp côngnhân và nhân dân lao động, đại diện và vì quyền lợi của nhân dân lao động, luôn coicon người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển, do vậyNhà nước ta đặc biệt quan tâm mục tiêu an sinh xã hội và xác định quan điểm pháttriển: Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân(Dương Thị Hồng Khánh Vân, 2011)
- Yếu tố văn hóa xã hội và con người:
Về môi trường chính trị, sự ổn định của hệ thống chính trị của một quốc gia
sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp do có sự ổn định, khi mộtdoanh nghiệp ổn định phát triển sẽ tạo cơ hội để họ tham gia đầy đủ các chế độ BHcho người lao động trong đó có BHTN
Nguồn lực lao động Người lao động là đối tượng tham gia BHTN, đangtrong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội Như vậy nếu một quốcgia có dân số “già” tức là số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ thấp trong tổngdân số sẽ dẫn đến việc mất cân đối quỹ BHTN bởi vì số người tham gia đóng gópvào quỹ ngày càng ít Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, với dân số “trẻ” (sốngười trong độ tuổi lao động ước tính khoảng xấp xỉ 45 triệu người, chiếm khoảng54,9% tổng số dân) đang có lợi thế về nguồn lực lao động tham gia đóng góp vàoquỹ BHTN
Nhận thức của người tham gia tốt là nhân tố thiết yếu để công tác quản lý đốitượng tham gia BHTN đạt kết quả cao Chính sách ra đời chỉ là sự hướng dẫn chungnhất, nhưng để chính sách đi vào thực tế, nhất định phải có sự chấp hành tốt chínhsách đó Ý thức tham gia BHTN của các đối tượng thuộc diện tham gia, bao gồmngười lao động và chủ sử dụng lao động từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầutrong công tác quản lý đối tượng tham gia BHTN
Các chủ sử dụng lao động thường vì lợi nhuận mà không muốn tham giaBHTN cho người lao động của mình Phần lớn họ đều mới chỉ nhận thấy lợi ích
Trang 38trước mắt mà chưa nghĩ đến hậu quả lâu dài khi rủi ro không may xảy đến vớingười lao động của họ Còn với người lao động, do hiểu biết kém, thu nhậpkhông cho phép, hoặc lo sợ bị mất việc làm khiến họ không dám lên tiếng đòiquyền lợi Khi ý thức của các đối tượng tham gia thấp, tức là không có sự hợptác từ phía các đối tượng tham gia, chắc chắn công tác quản lý đối tượng thamgia BHTN sẽ gặp nhiều khó khăn ở những nước dân trí phát triển, công tác quản
lý đối tượng tham gia BHTN gặp ít trở ngại hơn bởi người dân rất tự giác chấphành tốt chính sách
Sự phát triển của hệ thống BHTN (thể hiện ở độ bao phủ BHTN đối vớingười hay là số người lao động tham gia BHTN trên tổng số ngườ lao động) phụthuộc vào nhận thức chung về BHTN của xã hội Ở nước ta, truyền thống văn hóatương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, uống nước nhớ nguồn tác động rất lớn tớinhận thức của người lao động về trách nhiệm, quyền lợi khi tham gia BHXH Vấn
đề đặt ra là Nhà nước phải làm như thế nào để người lao động, người sử dụng laođộng hiểu được tầm quan trọng của chính sách BHXH, từ đó tự nguyện và tích cựctham gia, thì hệ thống BHTN mới cơ hội phát triển và ngược lại
- Yếu tố tiền lương và chính sách về BHTN:
Giữa chính sách tiền lương và chính sách thu BHTN có mối quan hệ rất chặtchẽ với nhau Chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chínhsách BHXH, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng BHXH của chúng ta hiệnnay là phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định Như vậy khi Nhànước nâng lương tối thiểu, điều đó đồng nghĩa với việc tăng mức đóng BHXH vàđương nhiên số thu BHXH cũng tăng lên Thêm vào đó đối với các lao động đóngBHXH theo thang bảng lương Nhà nước quy định, mức đóng còn phụ thuộc vào hệ
số lương, vì thế khi Nhà nước điều chỉnh lại thang bảng lương (như đã tiến hànhvào tháng 10/2004) thì mức đóng BHXH cũng tăng lên
1.2.5.2 Các yếu tố thuộc về Bảo hiểm xã hội tỉnh
- Nguồn nhân lực:
Trang 39Công chức, viên chức và người lao động ngành BHXH là những người trựctiếp thực hiện công tác quản lý thu BHTN Số lượng, trình độ đào tạo, kỹ năng, kinhnghiệm, đạo đức, tính trung thực, sự tận tụy của các nhà quản lý, cán bộ thu BHTN,mức độ tự quyết của cơ quan BHXH trong vấn đề nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đếncông tác quản lý thu BHTN
Các hoạt động lập kế hoạch, tuyển dụng, bố trí, đề bạt, đánh giá, tạo độnglực, đào tạo và đặc biệt là đào tạo và phát triển nhân lực là những yếu tố tác độngtới chất lượng và số lượng nhân lực và quyết định chủ yếu đến quản lý thu BHTN.Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao công tác quản lýthu BHTN là nâng cao trình độ năng lực cán bộ thu của BHXH tỉnh thông qua côngtác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng
- Hệ thống thông tin: BHXH luôn coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tintrong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, giải quyết chuyên môn, nghiệp vụ và phục
vụ các tổ chức, cá nhân tham gia thụ hưởng các chế độ Việc đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin cũng đã mang lại hiệu quả rõ nét trong công tác cải cách thủ tụchành chính, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin đến các đơn vị sử dụng laođộng BHXH tĩnh cũng đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, máy móc thiết bịcho các phòng nghiệp vụ và BHXH huyện, thành phố để trang bị cho mỗi cán bộ mộtmáy vi tính để phục vụ cho công tác quản lý và các phần mềm nghiệp vụ
- Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật: Đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thốngmáy chủ, máy trạm các phần mềm đáp ứng giao dịch điện tử Triển khai phần mềmquản lý tổng thể các hoạt động của ngành, việc sử dụng phần mềm này sẽ đảm bảomạng hệ thống liên thông từ trung ương đến các huyện, các phần mềm được kết nốitập trung, thống nhất có tính bảo mật cao Nâng cấp và phát triển mở rộng hạ tầngcông nghệ thông tin (mạng máy tính, thiết bị công nghệ thông tin, đường truyền,giải pháp an ninh mạng ) để cung cấp môi trường vận hành cho phần mềm quản lýcác hoạt động của ngành
- Công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách BHTN làmột trong những hoạt động thường xuyên của cơ quan BHXH nhằm truyền bá
Trang 40đường lối, chủ trương và chính sách BHTN đến với nhân dân Đẻ thực hiện côngtác tuyên truyền chính sách BHTN đến các đối tượng tham gia thì cơ quan BHXHtỉnh thường xuyên phối hợp với các cơ quan truyền thông đại chúng như đài truyềnhình, đài phát thanh, báo tỉnh hay ban tuyên giáo tỉnh ủy và sở lao động thương binh
và xã hội trong việc đưa thông tin về chính sách BHTN, quyền và nghĩa vụ củaNSDLĐ và NLĐ khi tham gia đóng BHTN đến với người dân thông qua tổ chứccác hội nghị liên ngành, cử cán bộ thu đến tuyên truyền miệng tại các cơ sở hay chodán pano, áp phích tại các tuyến phố trung tâm,
Những hành động cụ thể và liên tục này đã góp phần nâng cao nhận thứccủa người dân nói chung và NSLĐ, NLĐ nói riêng về tính xã hội cũng như an sinhcủa chính sách BHTN, giúp họ hiểu được quyền lợi và trách nhiệm khi tham giaBHTN Khi NSDLĐ và NLĐ ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình họ
sẽ tự giác tham gia BHTN giúp cho cơ quan BHXH dễ dàng hơn trong công íảcquản lý thu BHTN
- Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát thu BHXH, phối hợp với các cơ quanđoàn thể: Cơ quan BHXH thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các đơn vị
sử dụng lao động để phát hiện những sai phạm, giúp đơn vị thực hiện đúng tráchnhiệm của mình đối với NLĐ theo đúng Luật BHXH, giúp thực hiện tốt công tácthu BHTN
Do hạn chế về nhân lực nên một mình cơ quan BHXH không thể thực hiệnhết việc kiểm tra, tuyên truyền đối với đơn vị sử dụng lao dộng, do đó cần phối hợpvới cơ quan quản lý khác như Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Laodộng tỉnh, Công an Kinh tế, cơ quan Thuế thực hiện thành lập đoàn thanh tra liênngành, thanh tra các đon vị vi phạm pháp luật về lao động, xử phạt các đơn vị viphạm, yêu cầu các đơn vị vi phạm thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng pháp luậtquy định Những trường họp vi phạm pháp luật, căn cứ theo mức độ vi phạm đoànliên ngành hoặc cơ quan BHXH có thể đưa lên tòa án để giải quyết theo luật định
Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và phối họp tốt với các tồ chứcđoàn thể khác sẽ giúp cơ quan BHXH quản lý tốt hon về đổi tượng thu nộp BHTN