1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo quy định của pháp luật Việt Nam.

17 558 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 67,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Mở đầu 2 B. Nội dung 3 I. Khái quát về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 3 1. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. 3 2. Xung đột thẩm quyền 4 3. Thẩm quyền xét xử quốc tế của tòa án quốc gia 4 II. Thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 6 1. Thẩm quyền của Tòa án Việt nam theo quy định của điều ước quốc tế 7 2. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam 10 III. Thực tiễn 13 C. Kết luận 16

Trang 1

Mục lục

A Mở đầu 2

B Nội dung 3

I Khái quát về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 3

1 Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 3

2 Xung đột thẩm quyền 4

3 Thẩm quyền xét xử quốc tế của tòa án quốc gia 4

II Thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 6

1 Thẩm quyền của Tòa án Việt nam theo quy định của điều ước quốc tế 7 2 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam 10

III Thực tiễn 13

C Kết luận 16

Trang 2

Đề tài: Phân tích thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo quy định của pháp luật Việt Nam

A Mở đầu

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập cùng phát triển, các thể nhân, pháp nhân tham gia vào lĩnh vực khác nhau của đời sống pháp luật quốc tế với những mục đích khác nhau phù hợp với nhu cầu cũng như lợi ích của chủ thể đó tạo nên các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Với các quan hệ dân sự giữa những chủ thể khác nhau trong quan hệ quốc tế thì việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là nhu cầu thiết yếu đặt ra đối với các cơ quan tài phán của các quốc gia Nhưng xác định cơ quan tài phán của quốc gia nào mới

là cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì là một vấn đề rất khó, nhất là khi giữa các quốc gia không kí kết hiệp định tương trợ tư pháp nào về việc xác định thẩm quyền Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Phân tích thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo quy định của pháp luật Việt Nam” Trong quá trình tìm hiểu, phân tích còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô có những ý kiến đóng góp bổ sung để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 3

B Nội dung

I Khái quát về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

1 Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 464 BLTTDS 2015, vụ việc dân sự có yếu

tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan

hệ dân sự đó ở nước ngoài

Cũng giống như vụ việc dân sự trong pháp luật Việt Nam, vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài bao gồm các yêu cầu về dân sự có yếu tố nước ngoài ( là các yêu cầu của chủ thể về các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự có yếu tố nước ngoài như, yêu cầu tuyên bố người nước ngoài mất năng lực hành vi dân sự,…) và các tranh chấp về dân sự có yếu tố nước ngoài ( các tranh chấp, xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể như tranh chấp hợp đồng, chia di sản thừa kế,…) Để xác định một vụ việc dân sự có mang “yếu tố nước ngoài” hay

không thì chúng ta cần xác định dựa trên các dấu hiệu Thứ nhất, dấu hiệu về

chủ thể tham gia quan hệ dân sự Chỉ cần có ít nhất một bên tham gia quan hệ dân sự đó là người nước ngoài thì cũng được coi là có yếu tố nước ngoài Người nước ngoài ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân nước ngoài, tổ chức ngước ngoài,…hay thậm chí cả các chi nhánh, trụ sở của các bên tham gia ở các quốc gia khác nhau khi các bên tham gia có cùng

quốctịch thì cũng được coi là yếu tố nước ngoài Thứ hai, dấu hiệu về đối tượng

của quan hệ dân sự Một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi mà quan hệ đó

có đối tượng tồn tại ở nước ngoài, Đối tượng của quan hệ có thể là tài sản hoặc

lợi ích nhất định Thứ ba, dấu hiệu về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, thực hiện

hay chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài

Trang 4

Ví dụ, hai công ty A và B đều có trụ sở tại Việt Nam nhưng một công ty có chi nhánh đặt tại Cộng hòa Pháp, một công ty có chi nhánh đặt tại Trung Quốc Như vậy, khi xảy ra tranh chấp về hợp đồng giữa hai chi nhánh của hai công ty này thì đây là tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

2 Xung đột thẩm quyền

Trong xu thế hội nhập quốc tế, sự phát triển của các giao dịch dân sự quốc

tế cùng lúc đó cũng kéo theo sự phát sinh của nhiều yêu cầu, tranh chấp giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Cũng chính từ đó, nhu cầu về việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được đặt ra với hệ thống các cơ quan tư pháp của các quốc gia nơi các chủ thể tham gia quan hệ dân sự mang quốc tịch nhằm đảm bảo về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự quốc tế Vấn đề đặt ra là cơ quan tư pháp của quốc gia nào sẽ là cơ quan giải quyết các tranh chấp, yêu cầu đó khi mà cả hệ thống cơ quan tư pháp của các quốc gia đều có thẩm quyền giải quyết các vụ

việc dân sự nói trên, điều này đã dẫn tới xung đột thẩm quyền xét xử Xung đột

về thẩm quyền (hay còn gọi là xung đột quyền tài phán) là trường hợp trong một

vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, cơ quan tài phán của hai hay nhiều nước đều có thể có thẩm quyền giải quyết 1

3 Thẩm quyền xét xử quốc tế của tòa án quốc gia

Dưới góc độ giải quyết tranh chấp mang tính chất quốc tế thì có hai thiết chế tài phán đều có thẩm quyền giải quyết Thiết chế đầu tiên đó là hệ thống các tòa án quốc tế như Tòa án công lí quốc tế của Liên hợp quốc, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO,…Tuy nhiên, đây là các thiết chế tài phán chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực công pháp quốc tế với quốc gia là chủ thể chủ yếu, không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực tư pháp quốc tế giữa các thể nhân, pháp nhân ở các quốc gia khác nhau Do đó, cần phải hiểu thẩm quyền xét xử quốc tế dựa trên tính chất quốc tế của vụ việc – vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc một trong các trường hợp đã nêu trên và

1Trích Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp

Hà Nội, 2017, tr 167

Trang 5

cơ quan có thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ là hệ thống tòa án nằm trong cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia

Khi có xung đột về thẩm quyền xét xử xảy ra trong vụ việc dân sự có yếu

tố nước ngoài thì vấn đề pháp lý đầu tiên, quan trọng nhất cần phải đặt ra là phải giải quyết xung đột về thẩm quyền xét xử, đó là việc xác định cơ quan tư pháp

nào của một quốc gia nhất định sẽ có thẩm quyền giải quyết Xác định thẩm

quyền xét xử quốc tế là xác định thẩm quyền của một tòa án một nước khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Do việc xác định thẩm quyền

giải quyết một vụ việc dân sự là hoạt động tố tụng độc lập và thuộc chủ quyền của từng quốc gia nên khi đặt ra vấn đề giải quyết về việc xác định thẩm quyền, mỗi quốc gia đã và chỉ xây dựng cho mình các quy phạm pháp luật xác định thẩm quyền cho hệ thống tòa án của nước mình mà không có thẩm quyền tuyên

bố về việc xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia khác trong cùng một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra

Trên thực tế, khi xảy ra tranh chấp hoặc có yêu cầu về vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, các bên chủ thể trong quan hệ này đã tự mình nộp đơn khiếu kiện hoặc đơn yêu cầu tới cơ quan tòa án có thẩm quyền để giải quyết nhằm đảm bảo kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của mình Xuất phát từ việc bình đẳng về quyền và lợi ích hợp pháp, các bên cùng có vị trí như nhau trong quan hệ dân sự, việc xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết trước hết dựa vào ý chí và lợi ích của các bên đương sự khi lựa chọn cơ quan tài phán mà các bên cho rằng, thông qua việc nộp đơn khởi kiện ra cơ quan tài phán sẽ bảo vệ tốt nhất quyền lợi của

họ Khi các bên nộp đơn khởi kiện ra tòa án, tòa án thụ lí đơn khởi kiện sẽ căn

cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền trong các quy phạm pháp luật về thẩm quyền được quy định tại điều ước quốc tế mà nước có tòa án đó ký kết tham gia

là thành viên và các quy định tại pháp luật quốc gia nơi có tòa án Do nguyên tắc Luật tòa án là nguyên tắc quan trọng nhất trong tố tụng dân sự quốc tế nên việc tòa án được lựa chọn của một quốc gia sẽ chỉ áp dụng pháp luật của nước nơi có tòa án mà sẽ không áp dụng pháp luật nước khác Điều này sẽ làm cho việc tòa

án có thể áp dụng pháp luật một cách triệt để, tránh những sai phạm, vướng mắc

Trang 6

khi phải áp dụng pháp luật của một nước mà mình không biết Cụ thể, để xác định thẩm quyền của mình, khi đương sự nộp đơn khởi kiện ra tòa án thì tòa án phải căn cứ vào hai căn cứ pháp lý sau:

Thứ nhất, tòa án có thể căn cứ vào các điều ước quốc tế mà nước nơi có tòa

án đã tham gia, ký kết trở thành thành viên như các hiệp định tương trợ tư pháp song phương, hiệp định tương trợ tư pháp đa phương về các vấn đề dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, …

Thứ hai, trong trường hợp tại các điều ước quốc tế mà nước nơi có tòa án

thụ lý vụ việc dân sự không có quy định về việc xác định thẩm quyền hoặc không có điều ước quốc tế nào xác định thẩm quyền của tòa án thì khi đó, tòa án phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật trong nước để xác định thẩm quyền của mình

Với mục tiêu mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án, tôn trọng sự tự do ý chí của các bên đương sự trong việc lựa chọn tòa án giải quyết, tạo thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp thì một trong các điều ước quốc tế đa phương đã có những quy định cụ thể về việc lựa chọn tòa án có thẩm quyền giải quyết mà theo

đó các quốc gia thành viên tham gia sẽ áp dụng công ước này để xác định về thẩm quyền của mình, đó là Công ước Lahaye 1965 đã được xây dựng với nội dung về thỏa thuận lựa chọn tòa án đối với các vụ việc về dân sự và thương mại tại Hội nghị Lahaye Cụ thể, Điều 3 Công ước quy định: “Thỏa thuận lựa chọn tòa án là một thỏa thuận do hai hay nhiều bên kí kết và chỉ định các tòa án của một nước kí kết hoặc một hay một số tòa án cụ thể của một nước kí kết và loại trừ tất cả các tòa án khác, để giải quyết các tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh liên quan đến một quan hệ pháp luật cụ thể” Điều 5 Công ước quy định về thẩm quyền của toàn án được lựa chọn: “Tòa án hoặc các tòa án của một nước kí kết được chỉ định trong một thỏa thuận lựa chọn tòa án sẽ có thẩm quyền quyết định đối với tranh chấp mà thỏa thuận này áp dụng, trừ khi thỏa thuận vô hiệu hoặc không có hiệu lực theo pháp luật nước đó”

II Thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân

sự có yếu tố nước ngoài

Trang 7

1 Thẩm quyền của Tòa án Việt nam theo quy định của điều ước quốc tế

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đã và đang nỗ lực, cố gắng trong quá trình đàm phán, ký kết, tham gia các điều ước quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có các điều ước quốc tế quy định về thẩm quyền xét xử của tòa án Tuy nhiên, thực tế hiện nay, do còn gặp nhiều vướng mắc, bất đồng

mà việc kí kết, tham gia các điều ước quốc tế của Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là số lượng các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tố tụng Các quy định về thẩm quyền của tòa án thì chủ yếu nằm trong các hiệp định tương trợ tư pháp song phương về các vấn đề dân sự, hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và các nước Trong số 16 hiệp định đang có hiệu lực mà Việt Nam đã kí kết thì cũng chỉ một số hiệp định có quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhằm giải quyết vấn đề xung đột về thẩm quyền xét xử Trong các hiệp định đã xây dựng về nguyên tắc xác định thẩm quyền giữa tòa án hai nước, nếu

có quy định về việc cả hai tòa án đều có thẩm quyền giải quyết đối với một vụ việc dân sự thì tòa án nào thị lý đơn khởi kiện trước sẽ có thẩm quyền giải quyết, tòa án nhận đơn sau sẽ phải trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc Còn đối với trường hợp giữa Việt Nam và nước liên quan không có bất kì hiệp định tương trợ tư pháp nào liên quan đến việc xác định thẩm quyền của tòa án, pháp luật của hai nước này cũng không có một quy định

cụ thể nào về việc xác định thẩm quyền của tòa án thì xung đột thẩm quyền xét

xử xảy ra là điều tất yếu, và đây cũng là vướng mắc gặp phải trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam khi cả hai tòa

án đều có thẩm quyền giải quyết

Theo như các điều ước quốc tế, cụ thể là các hiệp định tương trợ tư pháp

mà Việt Nam kí kết, là thành viên thì dấu hiệu xác định thẩm quyền xét xử của tòa án được phân chia thành các nhóm tranh chấp cơ bản sau:

Thứ nhất, dấu hiệu về các vụ việc liên quan đến quan hệ nhân thân và quan

hệ tài sản của vợ chồng Trong đó, quan hệ nhân thân là quan hệ pháp lý mang tính chất gắn bó với chủ thể từ khi người đó sinh ra đến khi người đó mất đi và

cả quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản đều là các quan hệ pháp lý có tính chất

Trang 8

ổn định lâu dài Đây là vụ việc phát sinh trong thời kì hôn nhân nên các hiệp định có quy định về thẩm quyền của tòa án cũng thường xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nước nơi có sự hiện diện của quan hệ nhân thân, tài sản của vợ chồng Ví dụ, tại hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào, tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc liên quan đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ chồng là tòa án nước vợ chồng mang quốc tịch chung Nếu cả hai vợ chồng đều không cùng chung quốc tịch thì sẽ xác định là tòa án nơi thường trú chung của cả vợ và chồng hoặc sẽ là tòa án nơi thường trú của một trong các bên nếu mỗi bên thường trú tại một nước khác nhau Khi đó, nếu thường trú tại nước khác nhau thì bên vợ (chồng) nộp đơn trước thì tòa án nơi

vợ (chồng) nộp đơn trước sẽ thụ lý vụ án và có thẩm quyền giải quyết còn tòa án nơi nhận đơn sau sẽ phải trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết vụ án Cũng cần lưu ý ở đây, việc xác định nơi thường trú chung của vợ chồng là việc sống chung trong phạm vi một quốc gia nhất định chứ không phải nơi vợ chồng ở chung như cùng một địa chỉ, cùng một nhà Do đó, nếu hai vợ chồng một người

có quốc tịch Nga, một người có quốc tịch Việt Nam cùng sống chung tại Nga nhưng lại ở hai thành phồ khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vẫn là tòa án Nga, là nơi hai vợ chồng thường trú chung nên Tòa án Việt Nam sẽ không có thẩm quyền giải quyết

Thứ hai, dấu hiệu về vụ việc ly hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật Đây

cũng là dấu hiệu liên quan tới quan hệ nhân thân của cả vợ chồng nên cũng sẽ được xác định như dấu hiệu trên, tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật là tòa án nước vợ chồng có chung quốc tịch hoặc tòa án nơi thường trú chung của cả vợ chồng nếu thuộc trường hợp vợ chồng không cùng quốc tịch hoặc tòa án nơi thường trú của một trong các bên nếu mỗi bên thường trú ở một nước khác nhau

Thứ ba, vụ việc về cấp dưỡng nuôi con Theo các hiệp định tương trợ tư

pháp song phương mà Việt Nam và Tiệp Khắc, Lào, Nga, Trung Quốc đã kí kết đều xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nơi thường trú của nguyên đơn Tuy nhiên, nếu giữa Việt Nam và các nước này không có hiệp định

Trang 9

tương trợ tư pháp về vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết tòa án thì sau khi giải quyết xong vụ việc về cấp dưỡng nuôi con sẽ khó có thể thi hành được phán quyết

Thứ tư, vụ việc về thừa kế Đây là vụ việc mang tính chất nhân thân, tính

chất tài sản và liên quan đến hiệu lực của di chúc nên hầu hết các hiệp định đều dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc nơi thường trú của người để lại di sản thừa kế

để xác định thẩm quyền trong trường hợp thừa kế theo pháp luật Còn đối với di sản thừa kế là bất động sản, đặc biệt là đất đai, theo pháp luật Việt Nam là thuộc

sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu, theo nguyên tắc Luật nơi có tài sản nên thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về tòa án Việt Nam

Thứ năm, quan hệ nghĩa vụ hợp đồng Các vụ việc về nghĩa vụ hợp đồng là

vụ việc liên quan tới việc thực hiện những hành vi pháp lý nên việc xác định thẩm quyền của Tòa án dựa trên dấu hiệu lãnh thổ và nơi thực hiện hành vi Cụ thể, theo các hiệp định mà Việt Nam kí kết, tham gia như hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Trung quốc thì thuộc thẩm quyền của tòa án nơi bị đơn thường trú hoặc có trụ sở, hoặc cũng có thể là nơi nguyên đơn thường trú hoặc nơi nguyên đơn có trụ sở nếu tài sản của bị đơn hoặc đối tượng tranh chấp nằm trên lãnh thổ nước nơi nguyên đơn thường trú hoặc có trụ sở

Thứ sáu, vụ việc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tại hiệp định tương

trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào, Ba Lan, Nga, Trung quốc có quy định về việc xác định thẩm quyền của tòa án là tòa án bên kí kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại và nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại, hoặc tòa án nơi bị đơn thường trú, có trụ sở , có tài sản của bị đơn hoặc cũng có thể là tòa án nơi nguyên đơn thường trú hoặc có trụ sở có thẩm quyền giải quyết nếu trên lãnh thổ nước có nguyên đơn có tài sản của bị đơn Có thể nhận thấy các hiệp định này cũng rất linh hoạt khi tạo điều kiện cho các bên đương sự có nhiều lựa chọn xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết nhằm tạo điều kiện tối đa cho các bên, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

Thứ bảy, tranh chấp liên quan đến bất động sản Bất động sản, đặc biệt là

đất đai thuộc Đây là loại tài sản đặc biệt chủ quyền của Việt Nam Việt Nam

Trang 10

không cho phép chiếm hữu tư nhân về đất đại nên theo hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã kí kết với các quốc gia, khi xảy ra tranh chấp liên quan đến bất động sản, đặc biệt là đất đai thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết là tòa

án nơi có bất động sản Cụ thể, khoản 10 Điều 18 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung quốc: Tòa án của một trong hai bên ký kết ra quyết định sẽ được coi là có thẩm quyền đối với vụ việc, nếu… 10)bất động sản là đối tượng của vụ tranh chấp nằm trên lãnh thổ của Bên ký kết đó

Thứ tám, tranh chấp về lao động Do tính đặc thù của các vụ việc về lao

động cũng là loại vụ việc về việc thực hiện hành vi pháp lý nên theo hiệp định

đã ký kết, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động thuộc tòa

án nơi thực hiện hành vi như nơi công việc đang , đã hoặc cần được thực hiện hoặc cũng có thể là tòa án nơi nguyên đơn thường trú hoặc có trụ sở nếu trên lãnh thổ nước này có đối tượng tranh chấp hoặc tài sản của bị đơn Ví dụ, khi xảy ra tranh chấp về lạo động giữa một bên là công dân nước Việt Nam và một bên là Công ty nước Nga có chi nhánh tại Việt Nam thì tòa án Việt Nam cũng sẽ

có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động này do bị đơn có tài sản nằm trên lãnh thổ nước có nguyên đơn

2 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam

Tòa án Việt Nam sẽ thụ lý giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật tố tụng Việt Nam trong trường hợp không có điều ước quốc

tế về xác định thẩm quyền xét xử Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự

2015, thẩm quyền của tòa án được chia thành thẩm quyền chung được quy định tại Điều 469 và thẩm quyền riêng biệt quy định tại Điều 470 Trong đó:

Thẩm quyền chung là quy định dựa trên các dấu hiệu chung trong pháp luật

tố tụng Việt Nam để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Tòa án Việt Nam xác định thẩm quyền của mình dựa trên các dấu hiệu bao gồm: theo vụ việc, theo cấp, theo địa giới lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã quy định các dấu hiệu xác định

Ngày đăng: 06/04/2019, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w