1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG BA LAN, ESTONIA, LATVIA VÀ LITVA

112 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Giới thiệu thị trường Ba Lan, Estonia, Latvia và Litva” nhằm cung cấp cho doanh nghiệp và bạn đọc những thông tin cơ bản về thị trường, chính sách thương mại và nhu cầu một số mặt hàng

Trang 1

GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG

BA LAN, ESTONIA, LATVIA VÀ LITVA

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG

Hà Nội - 2013

Trang 2

Mã số: HN 05 TĐ 13

Trang 3

PHẦN I 9

THỊ TRƯỜNG BA LAN

1 Địa lý kinh tế và thể chế chính trị 9

1.4 Nghị viện, Tổng thống, Chính phủ, Hệ thống tư pháp 12

2.1 Chính sách đối ngoại, các tổ chức quốc tế và khu vực 15

2.2 Thị trường thống nhất và Liên minh tiền tệ châu Âu 17

II KINH TẾ QUỐC DÂN VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ 20

1.2 Luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng 24

1.3 Hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ và kế toán 25

1.4 Doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hóa 26

Trang 4

1.9 Thành lập doanh nghiệp, quyền kinh doanh và giấy phép 32

2.2 Đặc khu kinh tế, Khu vực miễn thuế và Kho ngoại quan 37

2.3 Quy định thương mại, Cấp phép xuất nhập khẩu và hải quan 40

2.4 Quyền sở hữu trí tuệ 42 2.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài 44

2.6 Hoạt động ngoại thương 46

III CƠ HỘI THỊ TRƯỜNG VÀ CÂU CHUYỆN THÀNH CÔNG 51

1 Thị trường nông nghiệp và thực phẩm 51

3 Công nghiệp, xe cơ giới, năng lượng, quốc phòng 59

5 Thị trường ngành xây dựng, cửa và cửa sổ, đồ nội, ngoại thất 66

7 Thị trường ngành du lịch và du lịch y tế 70

9 Thị trường bán lẻ 73

10 Thị trường sáp nhập mua bán doanh nghiệp M&A 73

IV QUAN HỆ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM - BA LAN 75

Trang 5

2 Quan hệ kinh tế của người Việt ở Ba Lan 80

3 Thuận lợi và khó khăn trong quan hệ kinh tế 83

PHẦN II

THỊ TRƯỜNG ESTONIA, LATVIA VÀ LITVA 85

I ESTONIA, LATVIA, LITVA VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ 85

III QUAN HỆ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM-BA NƯỚC

BALTIC

96

Trang 6

1.3 Việt Nam - Litva 96

3 Cộng đồng người Việt tại ba nước Baltic 98

4 Một số thuận lợi và khó khăn trong quan hệ kinh tế 99

PHỤ LỤC CHUẨN BỊ KINH DOANH VỚI BA LAN VÀ BA NƯỚC BALTIC

1 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU, Biến đổi khí hậu

2 Chuẩn bị công tác và giao dịch với Ba Lan và ba nước Baltic

3 Quảng cáo và khuyến mại

4 Tranh chấp thương mại

5 Hội nghị thương mại, phòng trưng bày, triển lãm và hội chợ

6 Một số địa chỉ Ba Lan, Estonia, Latvia và Litva

Trang 7

chính trị-kinh tế trọng tâm chiến lược Ba Lan nằm trên các tuyến thương mại quan trọng của châu lục, nối Bắc-Nam-Đông-Tây

Ba Lan cũng là nước giàu tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người Tên Poland còn có nghĩa là đất nước bằng phẳng, phì nhiêu và một dân tộc hiền hòa trong quá khứ là bất lợi vì dễ bị nước ngoài xâm phạm; nhưng đã tận dụng thời cơ thuận lợi cho phát triển kinh tế và hội nhập trong thời đại toàn cầu hóa

Ba Lanlà thị trường lớn thứ 6 trong khối EU và là đối tác kinh tế lớn nhất của Việt Nam ở Trung và Đông Âu Chỉ trong vòng 5 năm, kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước tăng mạnh lên gấp đôi từ 500 triệu USD năm

2007 lên xấp xỉ 1 tỷ USD năm 2012 Đặc biệt, trong số hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Ba Lan có nửa tỷ USD được trung chuyển hoặc gia công tiếp và xuất đi các nước khác chứng tỏ vai trò trung tâm đầu mối của Ba Lan ở châu Âu ngày càng tăng

Ba Lan là một trong những nước chuyển đổi thành công nhất từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, Ba Lan vẫn có mức tăng trưởng GDP liên tục

là thành tích đáng ghi nhận Đặc biệt gần đây, Ba Lan cân đối dần cán cân thương mại giống như Việt Nam

Nằm ở phía Đông Bắc Ba Lan là ba nước ven biển Baltic: Estonia, Latvia và Litva (ba nước Baltic) có nhiều điểm tương đồng về lịch sử phát triển với Ba Lan (Liên minh Ba Lan - Litva có diện tích lớn nhất châu Âu-khoảng 1 triệu km2, thế kỷ 17-18) Hiện nay, Ba Lan và ba nước Baltic hợp tác chặt chẽ với nhau trên nhiều lĩnh vực hoạt động Bốn nước trên có quan

hệ truyền thống hữu nghị với Việt Nam và đang ngày càng phát huy hơn nữa quan hệ mọi mặt với Việt Nam

Ba Lan, Estonia, Latvia và Litva là những thị trường tiềm năng, nằm giữa châu Âu nên có nhiều thuận lợi

Cộng đồng người Việt khá đông, năng động trong kinh doanh đóng

Trang 8

“Giới thiệu thị trường Ba Lan, Estonia, Latvia và Litva” nhằm cung cấp cho doanh nghiệp và bạn đọc những thông tin cơ bản về thị trường, chính sách thương mại và nhu cầu một số mặt hàng cụ thể của bốn nước; đóng góp phần nhỏ bé vào phát triển mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp với các nước bạn

Đây là tài liệu được biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi thiếu sót Ban biên tập rất mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn hiện hơn trong lần xuất bản sau

Trang 9

PHẦN I THỊ TRƯỜNG BA LAN

I CỘNG HÒA BA LAN VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ

1 Địa lý kinh tế và thể chế chính trị

Cộng hòa Ba Lan trên bản

đồ trông như con rùa vàng nằm bên biển Baltic Đất nước chia thành 16 tỉnh với diện tích khá đều Ba Lan nằm khoảng giữa châu Âu, có vị trí chiến lược, là mục tiêu tranh giành giữa các nước lớn,

có lúc bị chia cắt cho Phổ, Nga, Áo, mất tên trên bản đồ thế giới (lịch sử hiện đại bị mất tên 123 năm, tới 1918 mới gìành lại được độc lập)

Ba Lan có diện tích 312.685 km² (thứ 9 Châu Âu và 69 trên thế giới),

có chung biên giới với các nước Đức ở phía Tây, Cộng hòa Séc và Slovakia phía Nam, Ucraina, Belorut, Litva và tỉnh Kaliningrad của LB Nga ở phía Đông

Ba Lan có 1.163 km biên giới đất liền dài nhất của EU với các nước phía Đông (Tổng chiều dài biên giới của Ba Lan là 3.511 km)

Bán kính 500km tính từ tâm Ba Lan có thị trường 250 triệu người châu

Âu Nếu trong bán kính 1000km thì có thị trường 550 triệu người, bao gồm

cả Pháp, Đức, Bắc Âu, ba nước Baltic (Estonia, Latvia và Litva), Belarut, Ucraina, một phần Nga, Séc, Slovakia…

Nhiệt độ tương đối lạnh từ tháng 12-tháng 3 Tháng 1 nhiệt độ trung bình -1 đến -5 độ C; nhưng có thể xuống -20 độ C

Múi giờ là Trung Âu GMT + 1, trừ giờ mùa hè từ tháng 3-tháng 10 Đất nước chủ yếu đồng bằng, phía Nam là dãy núi biên giới với Cộng hòa Séc và Slovakia

Trang 10

1.1 Tài nguyên thiên nhiên

Ba Lan là nước giàu tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là than đá (trữ lượng khoảng 65 tỷ tấn), than nâu (14 tỷ tấn), quặng đồng (1,8 tỷ tấn), lưu huỳnh (515 tr tấn) Ba Lan có mỏ khí đá phiến, ước tính trữ lượng 5,3 nghìn tỷ m3, lớn nhất EU, bằng nhu cầu của Ba Lan trong 400 năm với mức tiêu dùng như hiện nay (14 tỷ m3/năm)

Ngoài các quặng năng lượng còn có kim loại, hóa chất và đá Ðồng khai thác ở các mỏ ngầm cùng với các kim loại khác như bạc, nickel, chì, vàng Những thân quặng sắt mới tìm thấy có dấu vết của titanium và vanadium ở vùng The Suwalskie gần biên giới phía Đông Bắc Ba Lan Khai thác các quặng này chưa khả thi về kinh tế vì nằm sâu dưới lòng đất (850 tới 2,300 mét) và ở khu vực bảo vệ môi trường

Ngoài ra có mỏ chì, kẽm và nickel Khai thác nickel đã ngừng từ năm

1983 do không kinh tế

Các vỉa quặng sulphur là một trong các trữ lượng lớn nhất thế giới nhưng từ khi có công nghệ thu hồi sulphur từ dầu thô và khí ga thì việc khai thác trực tiếp quặng này giảm dần Đến nay chỉ còn một mỏ ở Osiek (Staszów)

Ba Lan có nhiều loại đá, cát và đá dăm có thể khai thác khắp nơi trên đất nước

Trữ lượng

Tài nguyên

Số vỉa quặng Thăm dò Thương mại Khai thác hàng

năm

Kim loại

Quặng đồng 14 1 819 tr tấn 1 195 tr tấn 24 tr tấn Kẽm và chì

Trang 11

1.2 Tài nguyên con người

Ba Lan là nước đông dân thứ 6 của toàn EU, thứ nhất của EU ở Trung

và Đông Âu, với hơn 38,56 triệu người (thống kê dân số tháng 3/2011, chưa kể gần 20 triệu kiều dân gốc Ba Lan ở nước ngoài, riêng ở Mỹ là hơn

10 triệu người) Ba Lan cũng là nước đông dân thứ 29 trên thế giới và là nền kinh tế lớn thứ 23 thế giới (2011 GDP theo giá hiện hành USD, IMF, World Economic Outlook Database, April 2013) Mức tăng dân số thấp 0.7% (282.000 người kể từ năm 2002)

Dân số thành thị chiếm 60,8% và 39,2% sống ở nông thôn

Đặc điểm dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa và tập quán xã hội: Ba Lan có

nền văn hóa hơn 1.000 năm, mang bản sắc các dân tộc Slavơ và là nơi giao thoa của văn hóa Tây Âu và Đông Âu Nhiều nhà khoa học, văn hóa và nghệ thuật nổi tiếng thế giới là người Ba Lan Ba Lan tự hào về Hiến pháp

Ba Lan là Hiến pháp đầu tiên của châu Âu, thứ hai trên thế giới sau Hiến pháp của Hoa kỳ là do tầng lớp quý tộc Ba Lan viết ra từ ngày 3/5/1791 Ngày 3/5 là ngày Quốc khánh quan trọng nhất của Ba Lan và ngày 11/11/1918 là Ngày Độc lập cũng là Quốc lễ lớn

Về mặt dân tộc học, Ba Lan là một trong những nước có đơn sắc tộc cao ở châu Âu, với gần 98% dân số là người Ba Lan Các dân tộc thiểu số khác là người Đức, Belorut, Ucraina và Rumani Có tới 89% dân số Ba Lan theo đạo Thiên chúa

Tiếng Ba Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Slavo nhưng dùng chữ cái Latinh

và có nhiều điểm tương đồng với các ngôn ngữ như tiếng Đức, Pháp và Anh

1.3 Thể chế chính trị, đảng phái

Cuối thập niên 80 và đầu 90 thế kỷ 20, Ba Lan tiến hành các cải cách sâu rộng trong xã hội Năm 1999, Ba Lan gia nhập NATO và năm 2004 tham gia vào Liên minh châu Âu (EU)

Thể chế chính trị: Hiến pháp là luật pháp cao nhất của nước Cộng

hòa Ba Lan được sửa đổi và Quốc hội thông qua ngày 02/4/1997 và được trưng cầu dân ý phê chuẩn Ba Lan là một nước dân chủ đa nguyên, nghị viện 2 cấp Cơ cấu tổ chức Nhà nước bao gồm: Tổng thống, Quốc hội, Chính phủ và Tư pháp Hệ thống chính quyền dựa theo nguyên tắc tam quyền phân lập và cân bằng quyền lực giữa lập pháp (Nghị viện/Quốc hội), hành pháp (Tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng) và tư pháp (tòa án

và hệ thống xét xử)

Trang 12

Các tổ chức đảng phái chính: Theo Ủy ban Bầu cử Quốc gia, hiện

nay tại Ba Lan có 78 đảng phái lớn, nhỏ đăng ký hoạt động Tuy nhiên, chỉ

có vài đảng phái chính trị lớn, thu hút được nhiều người ủng hộ và tham gia liên tục các cuộc tranh cử và có mặt trong Quốc hội:

- Đảng “Diễn đàn Công dân” (PO) được thành lập ngày 24 tháng 01

năm 2001 do sự chia rẽ trong Phong trào Công đoàn Đoàn kết

- Đảng "Liên minh Dân chủ Cánh tả" (SLD) là đảng trung tả thành

lập ngày 15 tháng 4 năm 1999 Đảng được thành lập trên cơ sở liên minh

đa số các tổ chức cánh tả hoạt động tại Ba lan, các đảng viên chủ yếu là từ Đảng Xã hội Dân chủ Cộng hòa Ba Lan (SDRP) và Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan

- Đảng "Luật pháp và Công lý" (PiS) được thành lập ngày 13 tháng 6

năm 2001 Đây là đảng cánh hữu thân Nhà thờ

- Đảng Nông dân Ba Lan (PSL) là đảng phái hoạt động lâu đời nhất

trên chính trường; Đảng ra đời từ năm 1903, là tập hợp những người nông dân và trí thức Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ nông nghiệp với sự trợ giúp của nhà nước, ủng hộ Ba Lan là thành viên Liên minh Châu Âu, cải thiện quan hệ với Đức và Nga, rút quân khỏi I-rắc, cải cách hành chính

- Phong trào Của Bạn-Twój Ruch (đổi tên tháng 11/2013): Đây là một

đảng phái mới thành lập năm 2011 với tên Phong trào Palikot do một doanh nhân và là một đảng viên thuộc PO Janusz Palikot làm Chủ tịch Là đảng có hơi hướng cánh tả thu hút được nhiều người trước đây là đảng viên Đảng PO và SLD và một số tổ chức xã hội có thiên hướng ôn hòa Trong chương trình của đảng này có một số điểm nổi bật, như bãi bỏ Thượng viện, hạn chế hoạt động Nhà thờ công giáo, bãi bỏ tiết học về thiên chúa giáo trong trường học, giảm ngân sách cho quốc phòng ở mức 1% GDP… Trong bầu cử Quốc hội năm 2011, Đảng này đã giành được kết quả bất ngờ: 40 ghế trong Quốc hội, chiếm 10,02%

Trang 13

Ba Lan là nước dân chủ cộng hòa đa nguyên, phản ánh mô hình hỗn hợp của mô hình nghị viện và mô hình tổng thống

Khi họp hỗn hợp, nghị sỹ của cả Thượng và Hạ viện tạo thành Quốc hội, do Chủ tịch Hạ viện điều hành Quốc hội được tạo ra thực hiện một trong ba yêu cầu: Thông qua Hiến pháp mới, nhận tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống mới bầu, hoặc khi buộc tội Tổng thống thông qua Tòa án Quốc gia

Thượng viện có quyền khởi sự dự luật và xem xét, rà soát, thông qua hoặc từ chối dự luật đã được Hạ viện thông qua hoặc đưa ra bổ sung cho các dự luật này Tuy nhiên, đa số tuyệt đối bỏ phiếu trong Hạ viện có thể hủy việc phủ quyết của Thượng viện Hạ viện là cơ quan quyết định cuối cùng về văn bản của tất cả các luật được thông qua

Tổng thống, Hội đồng Bộ trưởng và bất cứ nhóm công dân nào có tối thiểu 100.000 người cũng có quyền lập pháp tức là đưa ra dự thảo luật

Hạ viện bổ nhiệm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền công dân với thời hạn 5 năm và được Thượng viện thông qua

Tổng thống cũng có quyền phủ quyết dự luật đã được Nghị viện thông qua (nhưng phủ quyết này của Tổng thống lại bị Hạ viện hủy bỏ nếu có 3/5 phiếu của Hạ viện)

Chính phủ

Chính phủ của Ba Lan gồm chính quyền địa phương và trung ương: Văn phòng Tổng thống, Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ và các cơ chế của chính quyền trung ương

Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành pháp điều hành chính sách quốc gia, đảm bảo việc thực hiện luật pháp, thông qua dự toán ngân sách, bảo vệ quyền lợi của Ngân khố quốc gia, và bảo đảm trật tự xã hội cũng như an ninh nội địa và đối ngoại của quốc gia

Trang 14

Chính phủ hiện nay có 18 Bộ Bộ Kinh tế do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng- ông Janusz Piechociński-Chủ tịch Đảng Nông dân PSL

Phân chia hành chính Ba Lan có ba cấp: 16 tỉnh (województwa) có tỉnh trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm và có Chủ tịch tỉnh do Nghị viện địa phương bầu ra để điều hành tỉnh Dưới tỉnh là huyện (boroughs/powiaty), sau nữa chia ra xã (gmina) là đơn vị hành chính nhỏ nhất

Hệ thống tư pháp

Theo Hiến pháp Ba Lan, Hệ thống tư pháp bao gồm các tòa án độc lập với các cơ quan quyền lực khác Hệ thống tư pháp bao gồm Tòa tối cao, tòa thông thường, tòa hành chính và tòa quân sự Thẩm phán là độc lập và không thể bị bãi nhiệm, họ hoạt động chỉ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Theo Hiến pháp, có Tòa Hiến pháp (Trybunał Konstytucyjny) và Tòa Quốc gia (Trybunał Stanu) hoạt động bên ngoài khuôn khổ cấu trúc của hệ thống tư pháp; nhưng nguyên tắc của “hệ thống tư pháp” thì vẫn áp dụng cho hai cơ quan này

Tòa Hiến pháp: là cơ quan tư pháp được thành lập để giải quyết các

tranh chấp trên cơ sở hợp hiến của hoạt động của các cơ quan nhà nước Nhiệm vụ chính của Tòa là giám sát sự tuân thủ Hiến pháp Tòa phán quyết phù hợp với Hiến pháp, với luật pháp và các hiệp định quốc tế (cũng như việc phê chuẩn các hiệp định này) và phù hợp với Hiến pháp của các mục tiêu và hoạt động của các đảng phái chính trị Phán quyết của Tòa là cuối cùng

Tòa Quốc gia: là cơ quan tư pháp, giám sát trách nhiệm hợp hiến của

những người giữ cương vị cao nhất của các cơ quan Nhà nước Tòa có trọng trách xem xét việc miễn nhiệm lãnh đạo khỏi cơ quan công quyền, hủy bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan cấp cao, tước bỏ quyền cá nhân bỏ phiếu

và tự ứng cử, rút lại quyền đã trao và trong các trường hợp hình sự thì áp dụng hình phạt theo Luật hình sự

Tổng cục kiểm soát tối cao (Najwyższa Izba Kontroli - NIK) khó phân

biệt là cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp Đây là cơ quan nhà nước lâu đời nhất của Ba Lan NIK có trách nhiệm kiểm toán tất cả các cơ quan nhà nước, kể cả Ngân hàng nhà nước, cơ quan chính phủ, địa phương, doanh nghiệp và tổ chức phi chính phủ nếu các tổ chức này thực hiện/nhận hợp đồng công

Trang 15

Là thành viên của EU, Ba Lan có nghĩa vụ thực hiện với các tổ chức

tư pháp quốc tế như:

Tòa án Tư pháp EU và Tòa sơ thẩm của EU;

Tòa án Tư pháp Quốc tế-Liên hợp quốc;

Tòa án nhân quyền châu Âu - Hội đồng châu Âu;

Tòa án hình sự quốc tế

2 Quan hệ quốc tế của Ba Lan

2.1 Chính sách đối ngoại, các tổ chức quốc tế và khu vực

Chính sách đối ngoại: Theo "Những ưu tiên trong chính sách đối

ngoại của Ba Lan 2013-2016" được Chính phủ thông qua tháng 3 năm

2012 bao gồm:

- Thúc đẩy hòa nhập mạnh mẽ và sâu sắc hơn nữa với EU, nhằm xây dựng một EU mang tính cạnh tranh, thống nhất, cởi mở và an ninh; có trách nhiệm chung về tương lai phát triển cả khối, bảo đảm quyền lợi của

Ba Lan và các thành viên; bảo đảm sự tham gia tích cực trong những quyết sách của EU Khai thác triệt để những lợi thế trong thúc đẩy quá trình tự

do hóa lưu thông hàng hóa, lao động, dịch vụ và đầu tư giữa các nước thuộc EU

- Ba Lan là liên minh đáng tin cậy của NATO, xây dựng tiềm lực bảo đảm nền an ninh trong nước và EU, thúc đẩy xây dựng quan hệ trên nền tảng tin cậy lẫn nhau với Nga; hợp tác chặt chẽ với Ukraina, các nước phía Đông khác

- Tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực, nhất là các nước trong nhóm Vysehrad

- Thúc đẩy hơn nữa quan hệ với cộng đồng (Ba Lan) ở nước ngoài trên

cơ sở đối tác nhằm mục tiêu tăng cường sự ủng hộ hiệu quả của cộng đồng trong việc tạo dựng hình ảnh và vị thế của đất nước ở nước ngoài

Ba Lan và các tổ chức quốc tế: Ba Lan tham gia Liên hợp quốc và

các tổ chức của Liên hợp quốc năm 1946

Sau 1989, Ba Lan bắt đầu giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ, được ủng hộ bởi việc trở thành thành viên của hàng loạt tổ chức quốc tế Việc đó giúp gia tăng phát triển, xúc tiến quảng bá kinh tế Ba Lan ra toàn cầu và hợp tác với các nước khác Hiện nay, Ba Lan là thành viên của:

Trang 16

- Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) năm 1996 Việc là

thành viên của OECD, vị thế của Ba Lan trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài Quy định về đầu tư nước ngoài và thay đổi luật chuyển đổi ngoại hối của Ba Lan được thực hiện nhanh chóng Thành viên của OECD cho phép tiếp cận đến các nguồn tín dụng ưu đãi do các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp

- Tổ chức quân sự NATO năm 1999 là một sự kiện trọng đại trong lịch

sử hiện đại của Ba Lan Đây là cơ sở của việc đảm bảo quốc phòng và an ninh của Ba Lan

- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Ba Lan là một trong những

thành viên sáng lập Tổ chức Thương mại Thế giới

- Ngân hàng Thế giới (WB): Ba Lan là thành viên năm 1986 Trong

những năm 1990-1996, WB đã hỗ trợ Ba Lan trên 3,3 tỉ USD cho công cuộc chuyển đổi thể chế và cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường

- Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): Ba Lan tham gia năm 1986

- Diễn đàn kinh tế thế giới tại Krynica, Ba Lan: Diễn đàn này được ví

như Diễn đàn kinh tế thế giới Davos của Ba Lan Đây là Diễn đàn thường niên có hơn 2000 đại biểu tham gia, trong đó có nguyên thủ nhiều nước và

tổ chức quốc tế, doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam đã dự Diễn đàn năm

2012, 2013 và Việt Nam có thể tham gia tích cực và mạnh mẽ hơn tại Diễn đàn sắp tới vào tháng 9/2014 với một số chuyên đề riêng về Việt Nam, thu hút sự chú ý của các nước tham gia Diễn đàn, thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế

Ba Lan và các tổ chức khu vực: Tổ chức Tự do Thương mại Trung

Âu (CEFTA) thành lập năm 1992 gồm 3 nước Ba Lan, Tiệp khắc và ga-ri Năm 2003 mở rộng thêm 4 nước Trung-Đông Âu

Hung Hội đồng Các quốc gia Baltic (RPB), thành lập năm 1992 gồm 10

nước khu vực Baltic

- Nhóm Wyszehrad, thành lập năm 1991 gồm 4 nước Ba Lan,

Hung-ga-ri, Séc và Slovakia

- Đối tác phương Đông: Từ 2009, Ba Lan và Thụy điển có sáng kiến

thành lập nhóm Đối tác Phương Đông gồm 6 nước thuộc Liên Xô cũ (Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Moldova and Ukraine) để hỗ trợ các nước này hội nhập kinh tế với EU

Trang 17

2.2 Thị trường thống nhất và Liên minh tiền tệ châu Âu

Ba Lan và Liên minh châu Âu: Ba Lan trở thành thành viên của

Liên minh châu Âu từ ngày 01/5/2004 cùng với 9 nước khác (đàm phán

từ 1998)

Ngày 21/12/2007, Ba Lan tham gia khối Schengen: lãnh thổ chung không có kiểm soát ở cửa khẩu nội địa giữa 22 nước EU và 4 nước không

là thành viên EU (tới ngày 31/10/2013)

Lợi ích chính của Ba Lan sau khi thành thành viên của EU:

- Hài hòa luật của Ba Lan với các quy định của EU;

- Tiếp cận với thị trường hơn 460 triệu dân/người tiêu dùng trong EU;

- Cơ hội xin quỹ cấu trúc của EU;

- Phát triển hạ tầng

Hài hòa luật của Ba Lan cũng như tiếp cận với các quỹ cấu trúc của

EU đã giúp tăng tính hấp dẫn của Ba Lan với các nhà đầu tư nước ngoài

Ba Lan và Thị trường thống nhất châu Âu: Là thành viên của Liên

minh châu Âu, Ba Lan tham gia Thị trường thống nhất châu Âu EU trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ba Lan với khoảng hơn 70% xuất khẩu và gần 60% nhập khẩu vào Ba Lan

Tự do di chuyển thể nhân, hàng hóa, vốn và dịch vụ làm cho thị trường này trở nên hấp dẫn hơn

Tự do di chuyển thể nhân là rất quan trọng, đặc biệt liên quan đến tự

do di chuyển của nhân công Tuy nhiên, một số nước thành viên khác áp dụng các hạn chế với nhân công từ các nước thành viên EU mới vì quyền làm việc ở tất cả các thành viên có thể ảnh hưởng đáng kể tới thị trường lao động trong khu vực EU

Tự do di chuyển hàng hóa là một trong những nguyên tắc nền tảng của Thị trường thống nhất Nó bao gồm việc cấm áp dụng các hạn chế định lượng đối với xuất khẩu và nhập khẩu giữa các Thành viên Quy định là sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của Thành viên nơi xuất xứ cũng sẽ được coi là đáp ứng với tiêu chuẩn của Thành viên nơi hàng đến

Tự do di chuyển dịch vụ hàm ý quyền của thể nhân và doanh nghiệp chào và cung cấp dịch vụ trong tất cả các Thành viên EU mà không bị cản trở gì Các quy định của Hiệp ước EU về tự do di chuyển dịch vụ về cơ bản

Trang 18

bao trùm tất cả các loại dịch vụ liên quan đến thanh toán Các công dân và doanh nghiệp có quyền chào và cung cấp dịch vụ ở các Thành viên với cùng những điều kiện như áp dụng ở nước chủ nhà của chính công dân và doanh nghiệp đó

Ba Lan có thời kỳ chuyển đổi quan trọng 12 năm cho việc mua đất nông nghiệp và rừng

Theo quy định của Hiệp ước EU thì mọi hạn chế về tự do di chuyển vốn đều bị cấm Mọi công dân EU đều có thể chuyển lượng tiền không hạn chế giữa các Thành viên, mở tài khoản ngân hàng, quỹ đầu tư hoặc vay tiền ở các nước Thành viên khác Công dân EU chuyển đến nước Thành viên khác làm việc hoặc về hưu có quyền chuyển tiền từ nước này sang nước đó

Luật về giao dịch thương mại điện tử của EU đã được thông qua và có hiệu lực từ 2012 giúp tạo cơ sở cho thương mại xuyên biên giới (nội bộ EU) được thống nhất

Ba Lan và Liên minh tiền tệ: Giai đoạn tiếp theo của hội nhập là gia

nhập Liên minh tiền tệ cũng như việc thông qua đồng Euro là đồng tiền chính thức của Ba Lan Mặc dù các tuyên bố chính thức nói rằng Ba Lan sẽ gia nhập Khu vực đồng Euro vào 2012-2013, nhưng vẫn còn rất nhiều điều kiện phải đáp ứng Mặt khác, để chấp nhận Euro, cần phải thay đổi Hiến pháp của Ba Lan

Những yêu cầu cơ bản tham gia Euro là tiêu chí Maastricht về hội nhập kinh tế, bao gồm tài chính (thâm hụt ngân sách chính phủ chung và

nợ công) và tiêu chí tiền tệ (ổn định giá cả, ổn định của tỷ giá và lãi suất dài hạn) Tiêu chí liên quan đến thâm hụt ngân sách chung dẫn đến phải cải cách sâu rộng tài chính công ở Ba Lan Hoàn thành tiêu chí tỷ giá trước khi gia nhập vào ERM-2

Từ ngày 24/01/2009, đã có thể ký kết các hợp đồng và cung cấp dịch

vụ ngoại hối ở Ba Lan căn cứ vào điều chỉnh Điều 358 Bộ luật Dân sự và việc hủy mục §9 Phần15 của Luật về chuyển đổi tiền tệ Đến nay không có bất cứ cản trở nào đến thanh toán bằng euro nữa

Vì khủng hoảng kinh tế thế giới, khó khăn của EU và khu vực EURO, chính sách riêng của Ba Lan, việc gia nhập khu vực đồng EURO của đồng Zloty-PLN còn xa vời

Trang 19

Biểu đồ tỷ giá 1 euro so với PLN từ 6/11/12- 3/7/13 Tỷ giá tháng 10/2013 là 1euro = 4,16PLN và 1USD = 3,1PLN

2.3 Viện trợ và Quỹ cải cách cơ cấu EU

Ba Lan tuy là thành viên OECD, nhưng viện trợ phát triển (ODA) cho các nước nghèo còn ở mức độ khiêm tốn, chưa bằng 50% mức yêu cầu của

EU (EU hàng năm dành khoảng 70 tỷ euro, chiếm 0,4% GDP giúp các nước nghèo) Năm 2010, Ba Lan dành cho mục tiêu này khoảng 300 triệu USD (chiếm 0,08% GDP) Viện trợ phát triển của Ba Lan hiện chỉ dành

cho 7 nước kém phát triển

Quỹ cải cách cơ cấu EU

Ba Lan luôn là nước thành viên nhận được nhiều viện trợ và hỗ trợ lớn của EU từ sau khi gia nhập Ba Lan nhận được 67,3 tỷ euro và đối ứng 20

tỷ cho giai đoạn 2007-2013 Ba chương trình cụ thể: Hạ tầng và môi trường, Kinh tế sáng tạo và Tài nguyên con người Khoản viện trợ 67 tỷ euro giúp cho bộ mặt của Ba Lan thay đổi đáng kể Ba Lan đã xây dựng, nâng cấp hàng nghìn km đường bộ, đường tàu hỏa, cầu cống, đường dẫn nước và nước thải tại nhiều thành phố và thị trấn, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, cải thiện đáng kể điều kiện sống cho người dân Nguồn vốn của EU tiếp tục tăng cho Ba Lan giai đoạn 2014-2020 đã được EU thông qua là 105,8 tỷ euro, trong đó có 72,9 tỷ euro theo khuôn khổ Chính sách hài hòa và 28,5 tỷ theo Chính sách Nông nghiệp chung Như vậy, Ba Lan là nước hưởng lợi lớn nhất từ các nguồn vốn ngân sách của EU trong một thời gian dài liên tục

Hỗ trợ kinh tế được cung cấp không phải chỉ là cấp cho đầu tư (tăng dần đến mức hạn chế của hỗ trợ khu vực) mà còn theo các dạng tài trợ khác như:

- Cấp cho hoạt động nghiên cứu R&D;

- Cấp cho hoạt động môi trường;

- Cấp cho hoạt động đào tạo

Trang 20

Hỗ trợ được cấp dưới dạng chuyển thanh toán cho chi phí thực chi có nghĩa là nhà đầu tư phải có tài chính của chính mình lo được (có thể là tự

đi vay)

Trường hợp hỗ trợ đầu tư, cần phải nhấn mạnh rằng hỗ trợ sẽ chỉ dành cho tạo ra công nghệ mới, các giải pháp logistics, sản phẩm, dịch vụ, dự án đảm bảo tăng năng suất và xuất khẩu hoặc thực hiện những thay đổi logistic đáng kể trong công ty

Nguồn tài trợ đầu tư lớn như trên là cơ sở và động lực giúp thúc đẩy xây dựng hạ tầng, cầu cống, sân vận động (một phần cho EURO 2012) tạo

đà tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn vừa qua Đồng thời tạo động lực phát triển công nghệ mới, môi trường…

2.4 Tín dụng ưu đãi Việt Nam-Ba Lan

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Ba Lan phối hợp với Việt Nam muốn đưa các công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ xanh, môi trường vào Việt Nam cũng là cơ hội để tận dụng các hỗ trợ nêu trên của EU và Ba Lan

Chính phủ Ba Lan dành cho Việt Nam nguồn tài trợ với lãi suất ưu đãi tương tự như ODA với tổng trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ để các doanh nghiệp hai nước triển khai một số dự án hợp tác công nghiệp và thương mại trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm như đóng tàu, khai mỏ, bảo tồn di sản…

II KINH TẾ QUỐC DÂN VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

1 Kinh tế quốc dân

Việc trở thành thành viên OECD là sự khẳng định thành tựu và phát triển bền vững của kinh tế Ba Lan Từ năm 1989, Ba Lan thực hiện chính sách tự do hoá kinh tế và hiện đã trở thành một trong những nước thành công nhất trong việc chuyển tiếp từ một nền kinh tế kế hoạch hóa - bao cấp sang một nền kinh tế thị trường chủ yếu sở hữu tư nhân

Ba Lan được đánh giá là nước dẫn đầu thế giới về cải cách kinh tế hiệu quả trong nhiều năm Đặc biệt, Ba Lan nổi tiếng về cải cách thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa phát triển

Theo báo cáo xếp hạng của tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF)

về tính cạnh tranh toàn cầu của nền kinh tế, năm 2011, Ba Lan từ vị trí 46 lên vị trí 39 trong tổng số 139 nước trên thế giới, vượt 13 nước EU như

Trang 21

Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hung-ga-ri, Slovakia, Rumani, Bungari,

Hy Lạp

Ba Lan được Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2013 đánh giá các

chính sách thông minh hơn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (Doing Business

2013: Smarter Regulations for Small and Medium-Size Enterprises) ở 185

nước và nền kinh tế thế giới của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Tài chính

Quốc tể IFC đã tăng điểm vị trí cho Ba Lan lên vị trí thứ 55 (năm 2011 vị

trí 74)

Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2014 mới ra gần đây thì Ba Lan lại

tăng thêm 10 bậc nữa so với năm trước, lên vị trí 45 ở 189 nước và nền

kinh tế với tăng điểm ở hầu hết các tiêu chí trên

Các nghiên cứu và đánh giá trong các lĩnh vực chủ chốt dưới đây của

Ba Lan:

Hạng thu nhập Cao

Dân số 38,500,000 GNI Per Capita (US$) 12,670

Xếp hạng Môi trường

kinh doanh 2014

Xếp hạng Môi trường kinh doanh 2012

Thay đổi trong xếp hạng

Trang 22

Tổng sản phẩm quốc dân-GDP: GDP của Ba Lan gồm công nghiệp

(31.7%), dịch vụ (65.5%) và nông nghiệp (2.8%) Tỉnh Mazowieckie đóng

Trang 23

góp lớn nhất vào GDP: 21.6%, mà trong đó riêng Thủ đô Vacsava (nằm trong tỉnh này) đóng góp 13% GDP GDP theo đầu người ở Vacsava cao gấp 3 lần bình quân toàn Ba Lan

Ba Lan là nước có GDP cao thứ 23 trên thế giới năm 2011,

giá hiện hành, tỷ USD (nguồn: IMF,2013)

Trong mấy năm gần đây, GDP Ba Lan duy trì được mức tăng trưởng cao (năm 2007 đạt 6,6%; 2008 đạt 4,8%) Mặc dù khủng hoảng kinh tế, năm 2009, Ba Lan là nước duy nhất trong EU có mức tăng trưởng dương 1,8% Năm 2010 đạt 3,8% (Séc đạt 2,3%, Hungari - 1,2%, Pháp - 1,5%, Lit-va - 1,3%) Năm 2011 đạt 519 tỷ USD (GDP của Việt Nam năm 2011 đạt khoảng 119 tỷ USD) GDP tính theo đầu người (sức mua tương đương PPP) năm 2011 đạt 20.334 USD (Séc - 27.062 USD, Hung - 19.591 USD, Đức - 37.897 USD, Anh - 36.090 USD)

Năm 2012, GDP của Ba Lan tăng nhanh thứ 5 chỉ sau ba nước Baltic

và Slovakia trong tổng số 27 nước (quy mô của Ba Lan lớn hơn 4 nước trên cộng lại) mức tăng có thể chậm lại còn 1,1% cho năm 2013 nhưng sau sẽ tăng 2,2% vào năm 2014

Trang 24

Mức tăng % GDP của 27 nước EU năm 2012 so với năm 2011 Ba Lan đứng

vị trí thứ 5 từ trái sang (nguồn: Eurostat)

Thu nhập quốc dân tính trên đầu người của Ba Lan tăng nhanh và theo sát các nước Tây Âu, cụ thể năm 1995 GDP per capita của Ba Lan chiếm 43% mức trung bình của EU, năm 2000 lên 48%, và năm 2011 - đã lên 64%

Nợ công của Ba Lan ở mức trên 50% GDP (năm 2010 - 54,7%, năm

1.2 Luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

“Hiến pháp của nền kinh tế thị trường” là Luật cạnh tranh về bảo vệ người tiêu dùng Ba Lan ngày 16/2/2007 (Pháp luật về Cạnh tranh và bảo

vệ người tiêu dùng của Ba Lan đã được hài hòa nhất thể hóa với hệ thống luật lệ của EU từ sau khi gia nhập 2004)

Cơ quan quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng (UOKiK

quyền và bắt đầu thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế Ba Lan từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường

Trang 25

Chống các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và kiểm soát tập trung kinh tế của các doanh nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng là những nhiệm vụ trọng yếu của cơ quan này

Năm 2000, UOKIK bắt đầu giám sát cả hỗ trợ của chính phủ cho doanh nghiệp và an toàn thương phẩm UOKIK liên tục được gia tăng quyền hạn, nhân lực và tài chính để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp EU và từ nước ngoài vào kinh doanh, đầu tư và bảo vệ người tiêu dùng

Năm 2012, UOKIK có 465 cán bộ viên chức và được nhà nước cấp 55 triệu PLN (gần 15 tr USD)

UOKIK đã phạt thu về cho ngân sách 166 tr PLN (hơn 30 tr USD) trong đó 95 tr PLN phạt vi phạm hạn chế cạnh tranh và 68 tr PLN phạt vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo khiếu nại nhóm

Quyết định xử phạt của Chủ tịch Cơ quan cạnh tranh UOKIK có thể được khiếu nại lên một tòa đặc biệt được thành lập trong khuôn khổ Tòa

khu vực của Vacsava

1.3 Hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ và kế toán

Hệ thống ngân hàng xây dựng trên 3 trụ cột:

- Ngân hàng Trung ương

- Ngân hàng thương mại

- Ngân hàng hợp tác xã

Giai đoạn từ 1990-2000 là thời kỳ Ba Lan chuyển đổi kinh tế đặc biệt

và chuyển đổi thành công ngành ngân hàng

Năm 2011, Ba Lan có 646 ngân hàng và chi nhánh các tổ chức tài chính tham gia thị trường Trong đó chỉ có 49 ngân hàng thương mại; chi nhánh tổ chức tài chính tăng từ 18 lên 21 và số hợp tác xã tín dụng (cooperative banks) là 576 được nhóm thành 3 khu vực địa phương

Về sở hữu: Các nhà đầu tư trong nước nắm giữ 10 ngân hàng TM và toàn bộ HTX tín dụng, thị phần tăng lên 34%; Các nhà đầu tư nước ngoài (18 nước, dẫn đầu là Đức và Hà Lan)

Nền kinh tế Ba Lan phát triển tốt là có công lao của ngành ngân hàng

Trang 26

lành mạnh và ngược lại Nền ngân hàng lành mạnh là nền ngân hàng chuyên nghiệp, minh bạch được cổ đông giám sát chặt chẽ và có sự điều tiết đúng của nhà nước

Ngoại tệ và kiểm soát tỷ giá hối đoái: Luật về tỷ giá hối đoái của Ba

Lan hiện đang được rà soát và điều chỉnh Hiện nay, Ba Lan có những quy định có thể giúp ngăn ngừa xu hướng tiêu cực có thể dẫn đến khủng hoảng liên quan đến ngoại hối Một trong những chức năng khác nữa là quy định

về một cơ chế ra các biện pháp rào cản hành chính đối với luồng vốn chuyển ra nước ngoài khi có khủng hoảng

Luật lệ liên quan có thể được điều chỉnh trong quá trình hài hòa hóa với luật lệ của EU liên quan đến việc sắp gia nhập Khu vực đồng Euro Đây có thể là thời điểm thích hợp để xem xét mục tiêu của các hạn chế hiện hành về di chuyển vốn và quan trọng hơn cả là hiệu quả của các biện pháp này

Năm 2009 đã có sửa đổi quy định là các bên trong hợp đồng có thể chọn ngoại tệ khác với PLN làm phương tiện thanh toán Đây là một sự khác biệt cơ bản giữa quy định cũ của Ba Lan trước đây là cư dân Ba Lan chỉ có thể thanh toán bằng ngoại tệ khi có sự đồng ý của Ngân hàng nhà nước Ba Lan (NBP)

Quy định về tài chính và kế toán: Các quy định tài chính và kế toán

của Ba Lan giống các hệ thống khác và thường xuyên hài hóa với Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế và của EU để phù hợp với nhau

Hội đồng Chính sách Tiền tệ: Theo Luật Ngân hàng Nhà nước với

chức năng chủ yếu: xây dựng đề án chính sách tiền tệ để trình Quốc hội; ấn định lãi suất cho ngân hàng Nhà nước; ấn định giới hạn vay và trả nợ nước ngoài

Ủy ban Giám sát Tài chính (Komisja Nadzoru Finansowego-KNF):

chịu trách nhiệm giám sát ngành ngân hàng, bảo đảm các hoạt động tài chính ổn định, vững chắc, an toàn và minh bạch (Luật Giám sát Thị trường Tài chính năm 2006)

1.4 Doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hóa

Doanh nghiệp nhà nước-DNNN: Quá trình cải cách DNNN được

thực hiện từ những năm 1989 đến nay Thời điểm 31/12/1990, Ba Lan

có 8.453 DNNN và được lập kế hoạch để thực hiện tư nhân hóa Đến thời điểm 31/12/2012 còn hơn 1.000 doanh nghiệp có vốn nhà nước

Trang 27

với tỷ lệ khác nhau (trong đó có hơn 100 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động trong các ngành như đài phát thanh, đường sắt, cảng biển, xổ số )

Hình thức tư nhân hóa của Ba Lan

- Bán công ty và bán tài sản;

- Giải thể, phá sản;

- Bán một phần vốn và tài sản tại công ty

Cơ quan quản lý vốn Nhà nước

- Hầu hết các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước và doanh nghiệp còn vốn nhà nước tham gia sau khi tư nhân hóa do Bộ Ngân khố (Bộ Tài chính) thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn (chỉ có duy nhất Tổng công ty Hàng không do Bộ giao thông, Hạ tầng và Kinh tế biển trực tiếp thực hiện chức năng chủ sở hữu nhưng Bộ Ngân khố vẫn thực hiện việc giám sát về tài chính)

- Một số doanh nghiệp đã tư nhân hóa còn vốn Nhà nước hoạt động trong một số lĩnh vực như thương mại, đóng tàu, cảng biển được giao cho

Cơ quan phát triển công nghiệp (mô hình Quỹ đầu tư) thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Cơ quan phát triển công nghiệp là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và do Bộ Ngân khố thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn

- Tiền thu từ quá trình tư nhân hóa và cổ tức của phần vốn nhà nước góp tại doanh nghiệp được tập trung tại một tài khoản đặc biệt và đưa vào cân đối trong Ngân sách nhà nước hàng năm Quỹ này tuy cân đối vào Ngân sách nhà nước nhưng không được dùng để chi tiêu thường xuyên mà

để đầu tư vào những nội dung cụ thể như: hỗ trợ phục vụ quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp thua lỗ (trả nợ, xóa lỗ…); xử lý lao động dôi dư; an sinh xã hội…

- Quá trình tư nhân hóa các nhà đầu tư trong và ngoài nước được mua

cổ phần không hạn chế tỷ lệ theo đúng thông lệ quy định của EU

- Để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của DNNN, Ba Lan cũng thành lập một cơ quan hoạt động như doanh nghiệp trực thuộc Bộ Ngân khố (Cơ quan Phát triển công nghiệp) có chức năng tương tự như SCIC

và DATC của Việt Nam, cụ thể: tái cấu trúc và tư nhân hóa các DNNN,

Trang 28

cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các DNNN gặp khó khăn, cung cấp các khoản vay thương mại cho các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, đầu tư (như một Quỹ đầu tư), quản lý một số đặc khu kinh tế tại những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của quá trình chuyển đổi

Tóm lại, quá trình tư nhân hóa của Ba Lan diễn ra từ lâu và là một trong những nước có tăng trưởng dương trong EU, một phần do Nhà nước tiếp tục nắm giữ và duy trì hiệu quả các DNNN nòng cốt để điều hành nền kinh tế Tuy nhiên, Chính phủ vẫn có kế hoạch tiếp tục tư nhân hóa để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Cơ chế giám sát, điều hành và xử lý doanh nghiệp có vốn nhà nước được thực hiện khách quan, minh bạch nên hầu hết các DNNN này đáp ứng được các yêu cầu được giao Đây cũng là lĩnh vực mà Việt Nam có thể học hỏi về quản

Năm 2004, Luật mua sắm chính phủ mới thay thế Luật năm 1994 và

bổ sung vào các năm sau để thực hiện các Nghị định của EU Luật mua sắm công quy định việc mua sắm của các cơ quan, chính quyền về hàng hóa và dịch vụ Luật mua sắm công của EU nhằm mở cửa thị trường mua sắm công cho cạnh tranh để hạn chế việc “mua nội địa” và thúc đẩy di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ

Nhà cung cấp nước ngoài phải có đại diện địa phương ở Ba Lan

1.6 Thị trường vốn

Vacsava là trung tâm tài chính khu vực Trung và Đông Âu Sở giao dịch chứng khoán Vacsava (Giełda Papierów Wartościowych w Warszawie S.A.- WSE) là một công ty cổ phần do Bộ Ngân khố thành lập WSE tiếp tục là trung tâm tài chính của khu vực Năm 2012 với 105 IPO, WSE dẫn đầu châu Âu về số lượng IPO và đứng thứ 5 về tổng trị giá IPO

Trang 29

với 731 tr euro, chỉ sau LSE, NYSE Euronext, SIX Thụy sỹ và Deutsche Boerse Đức

Số các niêm yết mới ở châu Âu năm 2012 chia theo các thị trường chứng khoán (nguồn: WSE)

1.7 Thị trường nội địa và thị trường nhân lực

Ba Lan có 13,495 triệu căn hộ để đáp ứng nhu cầu ở cho nhân dân, tăng 971.000 căn hộ (7,8%) kể từ thống kê năm 2002 Lực lượng lao động thuộc nhóm trẻ nhất của châu Âu và có khoảng 25 triệu người ở tuổi lao động

Năm 2011, tuổi về hưu sau nhiều tranh cãi đã được Quốc hội thông qua chương trình cải cách của Chính phủ quyết định tăng dần lên 65 tuổi cho nữ và 67 tuổi cho nam so với mức tương ứng 60 và 65 trước đây để giảm quỹ lương hưu và tăng nguồn cung cấp lao động

Về chỉ số phát triển con người-HDI (Human Development) của Liên hợp quốc thì Ba Lan đứng thứ 39 trong số 186 nước trong danh sách năm 2013

Tổng cục thống kê Ba Lan nêu năm 2011 có 2,06 tr người Ba Lan lao động ở nước ngoài, tăng mạnh so với 786.100 người vào năm 2002 Lao động ở nước ngoài đóng góp phần quan trọng trong kinh tế Ba Lan, với tiền chuyển về nước năm 2011 là khoảng 6 tỷ USD, đóng góp 1,42% GDP

và tăng mạnh thời gian gần đây lên tới gần 9 tỷ USD năm 2012

Nhu cầu nội địa cao và tiêu dùng cá nhân mạnh là một sức mạnh của kinh tế Ba Lan, giúp cho đất nước duy trì tăng trưởng kinh tế ngay cả khi phải đối mặt với các điều kiện khó khăn trên thị trường quốc tế Sự trì trệ kinh tế hiện nay của châu Âu không phải là không có ảnh hưởng đến thị trường nội địa Ba Lan, trong khi tiêu dùng cá nhân vẫn tăng trong năm

2012 (0.8%) và đóng góp đáng kể vào GDP (+0.5 pp), nhu cầu nội địa đã thu hẹp lại 0.2% và ảnh hưởng tiêu cực đến GDP (-0.2 pp)

Trang 30

Tỷ lệ thất nghiệp ở Ba Lan đã lên 10.1% trung bình năm 2012 và sẽ tăng lên 10.9% năm 2013

Phát triển tài nguyên con người

Giáo dục và đào tạo: Theo Eurostat, Ba Lan đứng thứ tư sau Anh,

Đức và Pháp về số lượng sinh viên đại học và sau đại học

Năm 1364, vua Kazimierz Đại đế xây dựng trường Đại học Jagielloński tại Cracop là một trong những trường đại học lớn và sớm nhất châu Âu và thế giới

Hiện nay, Ba Lan có 465 trường đại học, trong đó có 130 trường đại học công lập và 335 trường tư thục Có 18 trường đại học tổng hợp, 17 đại học bách khoa, 11 học viện y tế, 6 học viện nông nghiệp và 5 học viện kinh tế Niên khóa 2009/2010 có 1,93 triệu sinh viên và 17.000 sinh viên nước ngoài theo học Tỷ lệ sinh viên nước ngoài tại các trường đại học còn thấp, chỉ chiếm 0,5% (tỷ lệ trung bình tại các nước khối OECD là 9,6%) Ngành mũi nhọn của Ba Lan trong đào tạo đại học là y học, chế tạo máy, tin học và kinh tế

Chi phí cho việc học đại học và sau đại học ở Ba Lan là khá thấp so với các nước Tây Âu và kể cả so với học tại Việt Nam Chi phí ở ký túc xá của Ba Lan cũng thấp và đạt tiêu chuẩn khá Nhiều sinh viên Việt Nam muốn sang học tập tự túc tại Ba Lan nhưng khó khăn chủ yếu là làm visa nhập học Nếu học sinh muốn học sau đại học bằng tiếng Anh mà đạt các yêu cầu của những trường lớn về tiếng Anh và một số yêu cầu khác thì cũng thường được nhà trường cho một phần học bổng và việc làm thủ tục visa thuận lợi hơn Ba Lan có nhiều chương trình học bằng tiếng Anh và thu hút khá nhiều sinh viên quốc tế

Chính phủ hai nước có hiệp định dành cho nhau mỗi bên 10 suất học bổng đại học học bằng tiếng Ba Lan tại Ba Lan và học tiếng Việt tại Việt Nam Ngoài ra Chính phủ Việt Nam cũng có nguồn kinh phí dành cho sinh viên xuất sắc du học sang Ba Lan

Tổng số sinh viên Việt Nam kể cả sinh viên tự túc tại Ba Lan khoảng

500 người chủ yếu theo các ngành kinh tế, kinh doanh và một số ngành kỹ thuật, y tế Đài loan, Hàn quốc mỗi bên có khoảng 500 du học sinh nhưng

Trang 31

họ chủ yếu học ngành y và dược của Ba Lan Đây cũng là điều mà định hướng ngành nghề của du học sinh Việt Nam cần cân nhắc học những ngành mà Ba Lan có ưu thế và phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế đất nước và cho tương lai của bản thân sinh viên Thương vụ Đại sứ quán phối hợp được một Quỹ tài trợ học bổng toàn phần cho 5 sinh viên sang học thạc sỹ năm học 2012-2013 và 2013-2014

Khoa học, nghiên cứu và Phát triển-R&D: Ở Ba Lan có hai cơ quan

quan trọng phát triển khoa học, kỹ thuật là Ủy ban quốc gia về Nghiên cứu khoa học (Komitet Badań Naukowych, KBN) và Viện Hàn lâm khoa học

Ba Lan (Polska Akademia Nauk, PAN)

KBN là cơ quan chính phủ được Nghị viện Ba Lan thành lập Đây là

cơ quan tối cao về nhà nước về lĩnh vực khoa học công nghệ KBN đóng vai trò là một “Bộ” về khoa học công nghệ, đưa ra các chính sách về công nghệ, trình các đề án lớn về chi phí cho nghiên cứu khoa học và công nghệ

và phân bổ các quỹ này cho các tổ chức cơ sở nghiên cứu Bộ trưởng Khoa học là người đứng đầu cơ quan này

Hơn 40 Trung tâm nghiên cứu và phát triển R&D được các nhà đầu tư nước ngoài thành lập ở Ba Lan, trong đó có Google, Unilever, Siemens, Motorola và Samsung Trước hết là do chi phí R&D thấp, số lượng và chất lượng nhân lực R&D tốt, chất lượng các trường đại học và viện nghiên cứu

và cự ly đến khách hàng cũng như các ưu đãi của chính phủ về R&D Tổng cộng có 1.157 đơn vị R&D (sử dụng 74.596 nhân công R&D), bao gồm Viện hàn lâm Ba Lan, các trung tâm R&D và cơ quan hỗ trợ

Lĩnh vực này đặc biệt hứa hẹn phát triển mạnh ở Ba Lan khi nhìn vào lớp trẻ, số lượng sinh viên và nhân lực trong mảng R&D này

1.8 Hệ thống giao thông

Hệ thống đường bộ: Ba Lan đầu tư lớn phát triển hạ tầng cơ sở nên sẽ

tăng số đường cao tốc và kết nối giao thông Toàn đất nước là một công trường khổng lồ xây dựng đường sá, cầu cống, sân vận động phục vụ cho Euro 2012 Tổng chiều dài đường quốc gia lên gần 20.000km Đường trục cao tốc A2 Berlin-Vacsava đã xong và sẽ nối tiếp sang Belorut-Moscow Đường cao tốc phía Nam nối Dresden-Cracop sang Ucraina cũng gấp rút hoàn thành

Trang 32

Hàng không: Hãng Hàng không quốc gia LOT thành lập từ năm 1929,

hoạt động không hiệu quả lắm Đầu năm 2013, Nhà nước lại phải hỗ trợ

100 tr euro và khoản này đã được EU đồng ý Sân bay Sopanh ở Vacsava

có lưu lượng 10tr lượt khách mỗi năm Ngày 01/7/2012 đã khai trương sân bay giá rẻ Modlin cách Vacsava 35km (tiền nâng cấp khoảng 100tr USD

và lưu lượng khoảng 2tr khách/năm) Các hãng giá rẻ châu Âu như Wizzair, Ryannair tăng vọt số chuyển bay qua sân bay này

Hệ thống đường sắt: Ba Lan có hệ thống đường sắt khá dày đặc Các

thành phố đều có ga xe lửa ở ngay trung tâm thành phố, được kết nối với

hệ thống giao thông địa phương Công ty nhà nước PKP PLK SA (PKP- Polskie Linie Kolejowe), thành viên của Tập đoàn quốc gia PKP vận hành 23.429 km đường sắt (đường sắt là tài sản của quốc gia) Mạng lưới dày đặc ở phía Bắc và Tây Phía Đông thì kém hơn Mật độ đường sắt là từ 3,7

km đến 15,6 km/100 km2 Mức trung bình của quốc gia là khoảng 6,08 km đường/100 km2 Hiện có 1.500 ga hoạt động trong hệ thống của PKP Có hơn 14.200 điểm giao cắt với đường bộ và lối đi bộ, bao gồm 2.700 điểm

có nhân viên đường sắt trực bảo vệ Công ty PKP duy trì hơn 26.500 cơ sở, bao gồm khoảng 7.000 cầu và cầu vượt

Chi phí vận tải đã giảm đáng kể khi Ba Lan trở thành thành viên Schengen

1.9 Thành lập doanh nghiệp, quyền kinh doanh và giấy phép

“Hiến pháp doanh nghiệp” là Luật tự do hoạt động kinh tế ngày 02/7/2004, quy định trách nhiệm, tiến hành kinh doanh và hạn chế kinh doanh ở Ba Lan Tất cả các điều khoản nêu trong Luật này như kinh doanh, hoạt động kinh tế, giấy phép, danh mục kinh doanh có điều kiện… bao trùm lên toàn bộ luật lệ quy định toàn Ba Lan liên quan đến kinh doanh Các quy định áp dụng cho thể nhân và pháp nhân Tuy nhiên, Luật phân biệt giữa nhà đầu tư từ EU/EFTA và các nước ngoài khu vực này Đối với thể nhân và pháp nhân EU/EFTA việc kinh doanh là tự do, với cùng điều kiện và quy định cũng như các hạn chế (nếu có) như cho thể nhân và pháp nhân Ba Lan

Đối với thể nhân và pháp nhân EU/EFTA, nếu không có các hiệp định

Trang 33

quốc tế nêu khác, thể nhân và pháp nhân các nước ngoài khu vực trên chỉ được thực hiện dưới các hình thức sau:

Liên danh hữu hạn

Liên danh cổ phần hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn-LLC

Công ty cổ phần

Ngoài những hạn chế này, doanh nghiêp thành lập ở Ba Lan được phép kinh doanh không hạn chế trên cở sở đối xử quốc gia như với các doanh nghiệp Ba Lan và các nước EU khác

Thay bằng việc thành lập một pháp nhân ở Ba Lan, một công ty nước ngoài có thể thành lập văn phòng đại diện hoặc chi nhánh công ty

ở Ba Lan

Chi nhánh công ty bị hạn chế trong lĩnh vực kinh doanh của công ty

mẹ Quy trình đăng ký tương tự như đối với LLC, vì sẽ phải đăng ký ở tòa kinh doanh (Sở đăng ký doanh nghiệp, gọi là KRS) và sẽ sử dụng số KRS riêng của mình

Văn phòng đại diện sẽ chỉ được phép thực hiện trong lĩnh vực quảng cáo hoặc marketing phục vụ cho công ty mẹ Tuy nhiên các pháp nhân này phải hoạt động phù hợp với luật pháp Ba Lan, đặc biệt luật kế toán của Ba Lan Bộ Kinh tế Ba Lan cấp phép cho các thể nhân này Văn phòng đại diện hoặc chi nhánh công ty cử người đại diện cho pháp nhân của mình

Bộ luật công ty thương mại Ba Lan nêu ra 6 loại hình doanh nghiệp thương mại như sau:

Công ty hợp danh

Liên danh hữu hạn

Liên danh nghề chuyên môn

Liên danh cổ phần hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn-LLC

Công ty cổ phần

Ngoài Bộ luật này ra, luật pháp Ba Lan còn cho phép thành lập một số loại hình doanh nghiệp khác như:

Trang 34

- Liên danh dân sự theo Bộ luật dân sự cho doanh nghiệp nhỏ Liên danh dân sự này không tạo thành pháp nhân nên chỉ được coi như hợp đồng giữa ít nhất hai cá nhân hoặc pháp nhân Đối tác trong liên danh dân

sự chịu trách nhiệm riêng hoặc chung cho các món nợ của liên danh Đối tác đăng ký tại Sở đăng ký hoạt động kinh doanh Lợi nhuận của Liên danh dân sự bị đánh thuế thu nhập cá nhân vì liên danh được hiểu rất rõ ràng minh bạch xét từ khía cạnh thuế theo luật thuế Ba Lan Nhà đầu tư nước ngoài rất ít khi chọn loại hình này

- Doanh nghiệp tư nhân- DNTN Đây là dạng doanh nghiệp đơn giản nhất cho doanh nghiệp nhỏ ở Ba Lan DNTN đăng kí ở Sở đăng kí kinh doanh

Người chủ DNTN có trách nhiệm vô hạn với bất cứ món nợ nào liên quan tới DNTN Loại hình này được các nhà quản lý, giám đốc nước ngoài

sử dụng như là công cụ để họ cung cấp dịch vụ cho các công ty Ba Lan

- Nhóm lợi ích kinh tế châu Âu: Luật Ba Lan cho phép thành lập tổ chức kinh tế gọi là Nhóm lợi ích kinh tế châu Âu; đặc điểm chính của loại hình này là không hoạt động vì lợi nhuận mà là phát triển các hoạt động và lợi ích kinh tế của các thành viên của mình

- Công ty châu Âu: năm 2004, Luật của Ủy ban châu Âu có hiệu lực quy định việc thành lập công ty châu Âu-SE, hình thành bằng một trong 4 cách sau: hợp nhất hai công ty cổ phần, thành lập công ty mẹ, thành lập chi nhánh chung hoặc chuyển đổi một công ty cổ phần với các điều kiện bổ sung theo quy định pháp luật Công ty SE phải có vốn điều lệ ít nhất 120.000 euro

Li-xăng và giấy phép

Luật Ba Lan quy định một số quyết định hành chính là bắt buộc phải

có đối với doanh nghiệp để có thể tiến hành kinh doanh Sau khi hoàn thành các yêu cầu quy chế theo luật định, doanh nghiệp có thể đăng ký xin Quyết định hành chính (Li-xăng và Giấy phép kinh doanh)

Luật Ba Lan quy định có khoảng 30 ngành nghề có điều kiện cần phải được cấp Li-xăng hoặc Giấy phép theo danh mục dưới đây như:

Vận chuyển đường bộ quốc gia và quốc tế (cho cả hàng hóa và hành khách)

Trang 35

Đại lý giao nhận

Ga xe lửa

Đại lý du lịch

Dịch vụ điều tra và thám tử tư nhân

Kinh doanh trong đặc khu kinh tế

Hoạt động ngân hàng, công ty bảo hiểm, đại lý môi giới, quỹ đầu tư hoặc quỹ lương hưu

Bán buôn và sản xuất đồ uống có cồn, casino, xổ số và cá cược

2 Quan hệ kinh tế quốc tế

Là thành viên của EU, nên về cơ bản, Ba Lan chấp hành, thực hiện những quy định chung về thương mại như thuế quan, các biện pháp bảo hộ, quota trong sản xuất, buôn bán một số loại hàng hóa Tuy nhiên, cũng có một số thay đổi nhỏ như một số quy định về truyền thông, các trò chơi cá cược, đánh bạc ăn tiền Hiện nay Greenpeace đang thảo luận với Bộ trưởng môi trường để ra luật cấm trồng ngô biến đổi gen GMO tại Ba Lan

2.1 Liên minh thuế quan EU

Từ 01/5/2004, lãnh thổ Ba Lan trở thành bộ phận của Liên minh thuế

quan, một sự kiện tạo ra những thay đổi quan trọng trong hải quan liên quan đến nhập khẩu vào và xuất khẩu hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Ba Lan Tất cả các hàng rào thuế quan trước đó giữa Ba Lan với các thành viên EU

đã được dỡ bỏ Mọi luân chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa các thành viên

EU được thực hiện theo phương thức nội khối Hàng xuất nhập khẩu ra và vào Ba Lan với các nước, vùng lãnh thổ ngoài EU được thực hiện theo biểu thuế của EU

Tiếp theo, từ 01/01/2008, Ba Lan đã trở thành thành viên của Khu vực Schengen, dẫn đến việc hủy bỏ tất cả các trạm kiểm soát biên giới giữa Ba Lan với các nước láng giềng cùng là thành viên EU

Các loại thuế doanh nghiệp và/nhân viên phải trả: Thuế doanh nghiệp

19% và thuế thu nhập cá nhân có hai mức: 18% và 32%

Hải quan và thuế nhập khẩu: Hàng hóa luân chuyển giữa các nước

ngoài EU với Ba Lan được quản lý theo Luật Hải quan và phân loại như xuất khẩu và nhập khẩu

Trang 36

Tất cả các quy định liên quan đến thủ tục hải quan, mức thuế và các quyền lợi trách nhiệm liên quan đều được áp dụng các quy định của EU; mặc dù có một số vấn đề liên quan đến chính quyền địa phương vẫn có hiệu lực, cụ thể như các quy định về kỹ thuật và quy trình thực hiện

Nhập khẩu hàng hóa từ các nước ngoài EU vào EU và vào lãnh thổ Ba Lan phải trả các khoản thuế nhập khẩu (mức thuế chung của EU) và thuế giá trị gia tăng VAT ở nước làm thủ tục hải quan hoặc nước nhận hàng cuối cùng (khác nhau tùy theo nước) Quy trình này phụ thuộc vào trách nhiệm của người cung cấp và quy trình giao hàng

Thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế tiêu thụ đặc biệt quy định về thuế tiêu

thụ đặc biệt đối với sản xuất và kinh doanh các sản phẩm đã hài hòa hóa (xăng dầu, dầu sưởi, khí ga, sản phẩm thuốc lá và đồ uống có cồn) và các sản phẩm không hài hòa hóa

Thuế giá trị gia tăng VAT: Các mức thuế giá trị gia tăng VAT áp dụng

từ năm 2011 là 23% cho hầu hết sản phẩm và dịch vụ Mức 8% cho thực phẩm, khách sạn, hàng cứu hỏa, thủ công mỹ nghệ, hàng nguyên liệu xây dựng trong chương trình ưu đãi và mức 5% cho sách, ấn phẩm thường kỳ, thực phẩm chưa chế biến Mức 0% chủ yếu cho hàng xuất khẩu, hàng xuất nội khối EU và dịch vụ vận tải quốc tế

Pháp nhân trả thuế VAT có trách nhiệm nộp khai thuế hàng tháng chậm nhất vào ngày thứ 25 của tháng tiếp theo tháng mà người trả thuế phải nộp hoặc trong trường hợp người trả thuế “ít” thì chỉ phải khai trước ngày 25 của tháng tiếp theo của quý mà người đó phải có trách nhiệm nộp Trường hợp có số dư của thuế đầu ra thì doanh nghiệp sẽ phải nộp thêm Hoàn thuế VAT trực tiếp có nghĩa là việc hoàn thuế VAT bằng việc chuyển tiền từ cơ quan thuế với số tiền VAT đã được trả trong thời kỳ mua sắm trước đó Phương pháp này là phổ biến cho các trường hợp doanh nghiệp ở giai đoạn mới triển khai, như mua sắm tài sản hoặc trang bị công nghệ, khi các khoản trả VAT được tích lũy Việc hoàn thuế VAT được thực hiện trong vòng 60 ngày với điều kiện Cơ quan thuế không tiến hành kiểm tra ở doanh nghiệp khai thuế trong thời gian này Luật thuế VAT cũng có quy định thời hạn hoàn thuế ngắn hơn là 25 ngày, nhưng chỉ với những trường hợp đặc biệt Cơ quan thuế có thể dễ dàng tăng tất cả các thời hạn nêu trên trong khi tiến hành kiểm tra thuế

Trang 37

Thuế địa phương: Các thuế quan trọng của doanh nghiệp tại địa

phương là mức thuế hoặc việc miễn thuế tài sản và thuế xe cộ được ủy ban địa phương xác định nhưng không thể cao hơn mức do nhà nước quy định

2.2 Đặc khu kinh tế, Khu vực miễn thuế và Kho ngoại quan

Đặc khu kinh tế

Ba Lan hiện có 14 đặc khu kinh tế (ĐKKT-special economic zones)

Về cơ bản đây là các khu công nghiệp thuộc trung ương/địa phương/hỗn hợp) trên tổng số 16 tỉnh, thường là ở các tỉnh nghèo, tỷ lệ thất nghiệp cao ĐKKT đầu tiên được thành lập năm 1995, các đặc khu khác thành lập vào những năm 1990 với các chính sách ưu đãi trong vòng 20 năm (đến 2020

Các văn bản pháp lý có liên quan đến việc thành lập và vận hành đặc khu kinh tế: ĐKKT được thành lập và hoạt động theo Đạo luật về đặc khu

kinh tế ngày 20/10/1994

Các cơ chế, chính sách ưu đãi dành cho các nhà đầu tư: Ưu đãi về thuế giai đoạn 1994-2004:

- Đối với dự án đầu tư dưới 2 triệu euro thì tùy theo giá trị của từng dự

án sẽ được miễn giảm thuế

- Đối với dự án đầu tư trên 2 triệu euro:

+ Miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 10 năm đầu và được miễn 50% trong 10 năm tiếp theo;

+ Miễn 50% thuế xuất khẩu trong vòng 20 năm;

+ Miễn 10% thuế thu nhập doanh nghiệp nếu tạo ra 10 việc làm mới mỗi năm

Hỗ trợ giai đoạn 2008-2013:

Trang 38

- Dự án đầu tư tối thiểu 100.000 euro, có thể được miễn giảm thuế từ chính quyền địa phương từ nhiều nguồn khác nhau;

- Miễn giảm thuế thu nhập cá nhân tối đa 70% đối với DN nhỏ, 60% đối với DN vừa và 50% đối với DN lớn trong vòng 2 năm

Cơ chế chỉ đạo của chính quyền Trung ương, bộ máy quản lý điều hành hoạt động của các đặc khu kinh tế:

Hai đặc khu do Cơ quan Phát triển công nghiệp Ba Lan quản lý, 12 đặc khu còn lại do Chính quyền trung ương hoặc Chính quyền địa phương quản lý và cử người giám sát tùy từng đặc khu Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập và nguyên tắc hoạt động của mỗi đặc khu trong từng thời kỳ

Tổng diện tích của các ĐKKT là 12.531 ha, và diện tích của một ĐKKT không được vượt quá 20 ha Một doanh nghiệp có thế muốn đầu tư

ở một khu vực nằm ngoài ĐKKT thì vẫn có thể làm thủ tục nhập khu vực này vào ĐKKT theo những điều kiện nhất định Điều kiện để được kinh doanh sản xuất trong ĐKKT như sau:

- Vốn đầu tư ít nhất 100.000 euro;

- Cố phần của doanh nhân đó phải có ít nhất 25%;

- Phải duy trì dự án đầu tư cho trong vòng ít nhất 5 năm kể từ ngày hoàn thành việc triển khai dự án (3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa);

- Những chỗ làm mới được doanh nghiệp tạo ra phải được duy trì tối thiểu 5 năm kể từ khi ký hợp đồng thuê (3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Trong giấy phép đầu tư vào ĐKKT, nhà đầu tư phải nêu các chi tiết như kế hoạch đầu tư, số nhân công, ngày bắt đầu kinh doanh và hạn chót cho việc thực hiện các trách nhiệm trong giấy phép, thường là có hiệu lực đến cuối của thời hạn hiệu lực của ĐKKT đó

Thường mất khoảng 3 đến 4 tháng để hoàn thành các yêu cầu để có được giấy phép đầu tư vào ĐKKT và bắt đầu hoạt động kinh doanh theo các quy định miễn trừ của ưu đãi Ban quản lý của ĐKKT thu một khoản phí hàng năm cho việc quản lý ĐKKT

Hệ thống hỗ trợ tài chính cho dự án quan trọng của kinh tế quốc dân

Trang 39

Hệ thống này do Bộ Kinh tế quản lý và cấp hỗ trợ theo Thỏa thuận giữa Bộ Kinh tế và nhà đầu tư Với một số tiêu chí như:

Dự án phải được duy trì tối thiểu 5 năm từ ngày hoàn thành đưa vào sản xuất (3 năm cho SME-doanh nghiệp nhỏ và vừa) và mỗi chỗ làm phải được duy trì ít nhất 5 năm từ ngày chỗ làm được tạo ra (3 năm cho SME) Dạng hỗ trợ này hoàn toàn mới (chưa có tiền lệ trong khuôn khổ EU)

Hệ thống này tập trung hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, bao gồm: Ngành ô tô, Hàng không, Công nghệ sinh học, IT và điện tử, Lập doanh nghiệp dịch vụ (của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư), Nghiên cứu và phát triển-R&D

Thuê nhân công

Nhằm mục đích thuê nhân công, doanh nghiệp có thể tìm đến Văn phòng lao động địa phương Văn phòng có nhiều biện pháp và công cụ để trợ giúp cho doanh nghiệp tìm thuê lao động

Khu vực miễn thuế

Khu vực miễn thuế (DFZ) là một khu vực có pháp nhân riêng biệt,

không có cư trú ở đây và là một phần của khu vực hải quan rộng hơn và được coi như một lãnh thổ ngoại quốc được áp dụng hệ thống hải quan thống nhất Mọi việc xuất ra và nhập vào DFZ đều được thực hiện dưới sự giám sát của hải quan

Thuận lợi của DFZ là hàng hóa nước ngoài (không phải từ EU hoặc EEA-khu vực mậu dịch tự do) được nhập vào đây mà chưa phải trả thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế VAT

Cho tới ngày 16/3/2009 ở Ba Lan có 7 Khu vực miễn thuế, thường là ở cảng hàng không và hải cảng như Gdansk, Szczecin, sân bay quốc tế Vacsava…

Kho ngoại quan

Kho ngoại quan là một tòa nhà hoặc một khu vực an toàn, trong đó

hàng hóa chịu thuế (từ ngoài khu vực EU hoặc EEA) có thể được lưu giữ, tái chế hoặc đưa vào quy trình sản xuất mà chưa phải nộp thuế, phí dưới dạng bảo lãnh và nằm trong diện giám sát chung của nhà nhập khẩu hoặc đại diện của nhà nhập khẩu, và cán bộ hải quan Doanh nghiệp nhà nước

Trang 40

hoặc doanh nghiệp tư nhân đều có thể thành lập và điều hành Kho ngoại quan Trường hợp kho ngoại quan do doanh nghiệp tư nhân thành lập thì phải nộp khoản ký quỹ bảo lãnh hải quan cho nhà nước

Thuận lợi chính của Kho ngoại quan là tất cả các thanh toán liên quan tới hàng hóa nhập khẩu (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế VAT) được chậm nộp cho tới khi hàng hóa đó được đem ra tiêu thụ

ở Ba Lan

2.3 Quy định thương mại, Cấp phép xuất nhập khẩu và hải quan

Các quy định thương mại của Ba Lan

Sau khi Ba Lan gia nhập Liên minh châu Âu thì Ba Lan phải tuân thủ các quy định pháp quy của EU và thay đổi các luật lệ quốc gia của mình Thuế nhập khẩu từ Việt Nam vào Ba Lan là mức thuế chung vào EU được quy định tại Biểu thuế hài hòa điện tử của EU (TARIC):

http://www.mofnet.gov.pl/index.php?const=2&dzial=550&wysw=4 http://ec.europa.eu/taxation_customs/customs/customs_duties/tariff_aspects/customs_ta riff/index_en.htm

Cấp phép xuất khẩu và nhập khẩu

Khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thì một trong những câu hỏi quan trọng và thường gặp nhất là về cấp phép xuất nhập khẩu hay là giấy phép Với những sản phẩm phải có giấy phép thì sau khi được phê duyệt, sản phẩm sẽ được nhập vào Ba Lan

Ba Lan có giấy phép nhập khẩu các mặt hàng như nguyên liệu phóng

xạ, hàng vũ khí quân trang quân dụng và xăng dầu Ba Lan có cấm nhập một số mặt hàng và quota với một số mặt hàng như nông sản, một số sản phẩm ngành ô tô

Danh mục giấy phép nhập khẩu gồm tên hàng, mã số, hạn chế nếu có,

Ngày đăng: 06/04/2019, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w