34 CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU .... Kết quả nghiên cứu - Đã làm rõ đ
Trang 2Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Trần Thị Hồng
Thái Nguyên, 12/2017
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
I Thành viên thực hiện đề tài
- ThS Bùi Trọng Tài – Khoa Luật và Quản lý xã hội - Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
II Đơn vị phối hợp thực hiện
- Khoa Luật và Quản lý xã hội - Đại học Khoa học
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 6
8 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tiếp cận chính sách 7
1.1.1 Chính sách 7
1.1.2 Chính sách công 10
1.1.3 Chính sách khoa học và công nghệ 10
1.2 Đánh giá tác động chính sách 11
1.2.1 Khái niệm đánh giá tác động chính sách 11
1.2.2 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách 13
1.2.3 Luận giải cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ 16
1.2.4 Khung đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ 18
1.3 Tiếp cận vấn đề đại học nghiên cứu 19
1.3.1 Định nghĩa ĐHNC 19
1.3.2 Đặc trưng của đại học nghiên cứu 22
1.3.3 Tiêu chí đại học nghiên cứu 25
1.4 Vai trò tác động của chính sách khoa học và công nghệ trong quá trình thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu ở Việt Nam 29
1.4.1 Đại học nghiên cứu là tất yếu ở Việt Nam 29
1.4.2 Vai trò của chính sách KH&CN trong quá trình thúc đẩy hình thành ĐHNC ở Việt Nam31 Tiểu kết chương 1 34
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 34
2.1 Khái quát về Đại học Thái Nguyên 35
2.2 Thực trạng tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC 36
2.2.1 Nhóm chính sách KH&CN tác động đến hoạt động KH&CN của ĐHTN 36
2.2.2 Nhóm chính sách tác động đến hoạt động đào tạo thông qua NCKH 49
Trang 52.2.3 Nhóm chính sách tác động đến thiết chế tự chủ trong ĐHTN 52
2.2.4 Nhóm chính sách tác động đến hoạt động CGCN 55
2.3 Hạn chế của chính sách KH&CN đến việc thúc đẩy ĐHTN hình thành ĐHNC 62
2.3.1 Nhóm chính sách tác động đến hoạt động KH&CN 62
2.3.2 Hạn chế của chính sách KH&CN đến hoạt động chuyển giao công nghệ trong ĐHTN 64
2.3.3 Hạn chế của chính sách KH&CN đến nâng cao chất lượng đào tạo 64
2.3.4 Hạn chế chính sách KH&CN về thiết chế tự chủ trong trường ĐH 65
2.4 Đánh giá hiện trạng của ĐHTN so với tiêu chí nhận diện của ĐHNC thuộc top 500 trên thế giới 67
2.4.1 Tiêu chí về thành tích NCKH và CGCN 67
2.4.2 Tiêu chí về chất lượng đào tạo 68
2.4.3 Tiêu chí uy tín quốc tế 69
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẾN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU 71
3.1 Cơ sở cho việc đề xuất giải pháp 71
3.2 Nhóm giải pháp tác động chính sách KH&CN để thúc đẩy ĐHTN từng bước xây dựng ĐHNC 73
3.2.1 Giải pháp tác động chính sách để nâng cao thành tích NCKH 73
3.2.2 Giải pháp tác động chính sách để nâng cao chất lượng đào tạo 78
3.2.3 Giải pháp tác động chính sách để thúc đẩy thành tích chuyển giao công nghệ 80
3.2.4 Giải pháp tác động chính sách để hoàn thiện thiết chế tự chủ ở ĐHTN 83
3.2.5 Giải pháp tác động chính sách đến việc tái cấu trúc khoa, bộ môn theo hướng hoàn thiện chức năng nghiên cứu 84
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 89
KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi kết quả chính sách 13 Biểu đồ 2.1 Kết quả công bố bài báo trên tạp chí nước ngoài tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 39 Biểu đồ 2.2 Kết quả công bố bài báo trên các tạp chí trong nước tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 40
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi kết quả chính sách 13
Bảng 1.1 Bảng đánh giá các tác động của chính sách KH&CN 18
Bảng 1.2 Tiêu chí và chuẩn của đại học nghiên cứu Malaysia 26
Bảng 1.3 Chỉ số của ĐHNC thuộc top 500 thế giới 28
Biểu đồ 2.1 Kết quả công bố bài báo trên tạp chí nước ngoài tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 39
Biểu đồ 2.2 Kết quả công bố bài báo trên các tạp chí trong nước tại 03 trường ĐH thuộc ĐHTN sau khi áp dụng Nghị định 99/2014 40
Bảng 2.1 Tỷ trọng công bố bài báo quốc tế tại ba trường ĐH thuộc ĐHTN trước so với sau khi áp dụng Nghị định 99/2014/2014 40
Bảng 2.2 Kinh phí dành cho đề tài NCKH các cấp trước và sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của ba trường thuộc ĐHTN 42
Bảng 2.3 Tỷ trọng nhiệm vụ KH&CN các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường Đại học Nông Lâm 43
Bảng 2.4 Tỷ trọng nhiệm vụ KHC&N các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường Đại học Sư Phạm 43
Bảng 2.5 Tỷ trọng nhiệm vụ KH&CN các cấp trước so với sau khi áp dụng Nghị định số 99/2014 của Trường CNTT&TT 44
Bảng 2.6 Mức độ hài lòng của CB, GV về kinh phí của đề tài NCKH các cấp 46
Bảng 2.7 Đề tài các cấp của ĐHTN giai đoạn 2011 -2015 47
so với giai đoạn 2006 - 2010 47
Bảng 2.8 Nhận thức của CB, GV về lợi ích của hoạt động NCKH 47
Bảng 2.9 Cơ sở vật chất và nguồn tài liệu phụ vụ NCKH ở ĐHTN 48
Bảng 2.10 Mức độ tổ chức hội thảo, hội nghị, chuyên đề khoa học ở các cơ sở GDĐH thành viên 49
Bảng 2.11 Kết quả biên soạn giáo trình và phát triển học liệu của ĐHT 51
giai đoạn 2011 – 2015 51
(Đơn vị: Đầu giáo trình) 51
Trang 8Bảng 2.12 Sách chuyên khảo, tham khảo từ đề tài NCKH của CB, GV của ĐHTN giai đoạn 2011- 2015 55 Bảng 2.13 Sách chuyên khảo và sách tham khảo từ đề tài NCKH của GV ở 3 trường thành viên của ĐHTN giai đoạn 2011 - 2015 56 Bảng 2.14 Sản phẩm khoa học được CGCN của ĐHTN giai đoạn 2010 - 2015 57 Bảng 2.15 Sản phẩm khoa học được CGCN của 3 trường ĐH thành viên của ĐHTN giai đoạn 2011 - 2015 57 Bảng 2.16 Danh mục đề tài/ dự án đưa vào áp dụng và CGCN trong nước gia đoạn 2011-2015 của Viện KHSS 59 Bảng 2.17 Kết quả chuyển giao KH&CN của Viện Nghiên cứu phát triển Công nghệ cao giai đoạn 2011 – 2015 60 Bảng 2.18 Danh mục các đề tài/dự án được chuyển giao và cơ quan áp dụng của Viện Nghiên cứu phát triển Công nghệ cao về Kỹ Thuật Công nghiệp giai đoạn 2011 – 2015 61 Bảng 3.1: Chỉ số của các tiêu chí ĐHNC cho ĐHTN giai đoạn 2017 – 2022 71
Trang 10ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến Đại học
Thái Nguyên trong quá trình từng bước xây dựng đại học nghiên cứu
- Mã số: ĐH 2015 – TN 06-09
- Chủ nhiệm: ThS Trần Thị Hồng
- Tổ chức chủ trì: Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2015 đến tháng 9/2017
4 Kết quả nghiên cứu
- Đã làm rõ được thực trạng tác động của các nhóm chính sách khoa học và công nghệ đến các hoạt động trọng tâm của Đại học Thái Nguyên trong quá trình từng bước xây dựng đại học nghiên cứu
- Đã đề xuất được các nhóm giải pháp tác động chính sách KH&CN để nâng cao chất lượng các hoạt động trọng tâm của Đại học Thái Nguyên trong quá trình từng bước xây dựng đại học nghiên cứu
5 Sản phẩm
5.1 Sản phẩm khoa học
Có 04 bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành cấp quốc gia
1 Trần Thị Hồng (2017), “Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học góp phần
xây dựng Đại học Thái Nguyên trở thành đại học nghiên cứu”, Tạp chí Chính sách
và quản lý khoa học và công nghệ, T VI (1), tr 38-52
Trang 112 Trần Thị Hồng (2017), “Vai trò của chính sách khoa học và công nghệ đến
việc hình thành đại học nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tạp chí Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 60 – 65
* Có 01 đề tài sinh viên NCKH đã nghiệm thu:
1 Phạm Hải Yến (2016), Các yếu tố ảnh hưởng tới động lực nghiên cứu khoa học
của sinh viên trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên, Đề tài sinh viên nghiên
cứu khoa học, Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
* Đề tài là một phần trong Luận án tiến sĩ của chủ nhiệm đề tài
Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu
6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu
- Khả năng áp dụng: Kết quả nghiên cứu có thể được xem xét áp dụng vào trường hợp nghiên cứu cụ thể là Đại học Thái Nguyên
- Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu: cung cấp tài liệu tham khảo cho các
cơ quan quản lý, các trường đại học trong quá trình xây dựng đại học nghiên cứu
Trang 12INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information
Project title: The impact of science and technology policy to Thai Nguyen
University in the process of building a research university
Code number: ĐH2015 – TN 06 - 09
Coordinator: MA Tran Thi Hong
Implementing institution: TNU - University of Sciences
Duration: from 2015 to 2017
2 Objective(s)
- To research on the impact of science and technology policy to Thai Nguyen University in the step by step establishment of research university
- To propose policy impact solutions to Thai Nguyen University in the process
of step by step building a research university
3 Creativeness and innovativeness
Considering the impact of policy on science and technology policy to Thai Nguyen University in the process of step by step building a research university
4 Research results
- The impact of science and technology policy groups on the key activities of Thai Nguyen University has been clarified in the step by step establishment of research university
- The groups of policy impact solutions have been proposed to Thai Nguyen University in the process of step by step building a research university
5 Products
5.1 Scientific publications
There are 04 published papers
1 Tran Thi Hong (2017), "Improving the quality of scientific research contributing to
the establishment of Thai Nguyen University to become a research university", Journal
of Policy and Management of Science and Technology, Vol (1), pp 38 - 52
Trang 132 Tran Thi Hong (2017), "The Role of Science and Technology Policy in the
Establishment of Research Universities in Vietnam", Journal of Science and
Technology, Vol, pp 49-53
3 Tran Thi Hong (2017), "The Impact of Decree 99/2014 / NĐ-CP on Science and
Technology at Thai Nguyen University", Journal of Policy and Management of
Science and Technology, T VI (3), pp 67-83
4 Tran Thi Hong (2017), "Proposed Process of Investing in S & T Potentials for
Higher Education Institutions Orienting Research Universities in Vietnam," Journal
of Education, Ministry of Education and Training, p 60 - 65
5.2 Training results
* 01 scientific research student
1 Pham Hai Yen (2016), Factors influencing the motivation of scientific research
of students of University of Science - Thai Nguyen University, Student Research
Project, Faculty of Science - Thai Nguyen University
* The topic is part of the PhD thesis of the topic leader
The impact of science and technology policy on science and technology activities in universities to promote the formation of research universities
6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of reserach results
- Ability to apply: The research results may be considered in the case study of Thai Nguyen University
- Procedure transfer research results: providing reference materials to management agencies and universities in the process of building research universities
Organizing agency
(signature, full name, seal)
Head of the topic (signature, full name)
MA Tran Thi Hong
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập hiện nay, khoa học và công nghệ (KH&CN) là một yếu tố
có tác động to lớn đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, là chìa khoá cho việc hội nhập thành công, thực hiện rút ngắn quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước,
để bắt kịp với các quốc gia khác trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của KH&CN, Đảng ta đã dành nhiều điều kiện cho phát triển KH&CN, đã ban hành các định hướng chiến lược, cơ chế và chính sách phát triển KH&CN và gần đây nhất là Nghị quyết số 20/NQ/TW được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XI: “Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [3]
Vị trí và vai trò của giáo dục đại học (GDĐH) nói chung và các trường đại học (ĐH) nói riêng ngày càng trở nên quan trọng Các trường ĐH không chỉ có vai trò chủ chốt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao mà thực sự đã và đang trở thành các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và chuyển giao công nghệ (CGCN) hiện đại, góp phần phát triển bền vững Các trường ĐH đã thực hiện được một khối lượng lớn các hoạt động KH&CN thông qua các đề tài, dự án, chương trình KH&CN cũng như các đơn đặt hàng từ doanh nghiệp Trong đó, mô hình đại học nghiên cứu (ĐHNC), được coi là cầu nối chủ chốt giữa tri thức và khoa học toàn cầu với hệ thống tri thức và khoa học của quốc gia, không còn xa lạ với các nước phát triển Nghiên cứu của Salmi (2007) khẳng định vai trò của ĐHNC
“Trong hệ thống GDĐH, các trường ĐHNC có vai trò cốt yếu trong đào tạo chuyên
môn, đào tạo các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu là những lực lượng cần thiết
cho việc kiến tạo tri thức lẫn hỗ trợ đổi mới và phát triển kinh tế quốc gia” [27]
Các trường ĐHNC lớn trên thế giới thường là các trung tâm đào tạo ĐH và sau ĐH chất lượng cao, là các trung tâm KH&CN mạnh Ở các trường ĐHNC, đặt trọng tâm vào chức năng nghiên cứu khoa học (NCKH), trong đó hoạt động KH&CN có vai trò, thậm chí là chủ chốt, là nền tảng cho các hoạt động khác Chất lượng và hiệu quả của hoạt động KH&CN là thước đo uy tín và vị thế của một trường ĐHNC
Nhận định của Hobbs (1997)“… cực hiếm có những trường ĐH đẳng cấp quốc tế
Trang 15mà không đồng thời mạnh về nghiên cứu” [25], càng nhấn mạnh vai trò của chức
năng NCKH trong ĐHNC Mặt khác, theo thông lệ quốc tế, khi xếp hạng các trường
ĐH, tiêu chí về thành tích NCKH thường có vị trí áp đảo (Phạm Văn Hiển (2010),
A Comparation Study of Research Capabilities of East Asian Countries and Implications for Vietnam), vì vậy trong 10 trường ĐH hàng đầu thế giới, các trường
ĐH Hoa kỳ thường xuyên chiếm vị trí từ 1 đến 5 Mặt khác, quyền được quyết định đối với những vấn đề cốt yếu nhất là một trong những đặc trưng cơ bản của ĐHCN, không có quyền tự chủ cơ bản ấy, các trường ĐHNC sẽ không có năng lực hay động
cơ để cạnh tranh với nhau trên cơ sở chất lượng đào tạo và nghiên cứu hoặc khả năng tìm việc làm của sinh viên Bên cạnh, quyền được tự quyết các hoạt động liên quan, các trường ĐHNC cũng phải có trách nhiệm giải trình trước các đối tượng liên quan đến nhà trường, các bên liên quan có quyền được biết liệu ngân sách của họ có được sử dụng một cách có trách nhiệm trong việc phục vụ mục tiêu của nhà trường hay không, minh bạch về tài chính được cho là quan trọng bậc nhất ở các trường ĐHNC, những trường ĐH tinh hoa của Ấn Độ công bố báo cáo hàng năm với đầy đủ các chi tiết và dữ liệu về ngân sách và tài chính
Xây dựng ĐHNC trong những nước chưa từng có ĐHNC, hay nâng cấp các trường hiện có là một hiện tượng đang diễn ra trên toàn thế giới Việt Nam đã có những dự án hết sức tham vọng là thành lập và phát triển các trường ĐHNC nhằm tạo nên điểm nhấn tiêu biểu của KH&CN và GDĐH cũng như trí tuệ và văn hóa Việt Nam, làm trụ cột và đầu tàu trong hệ thống KH&CN, đào tạo và chuyển giao tri thức của đất nước Hàng loạt chủ trương, chính sách ra đời nhằm xây dựng và phát triển hệ thống KH&CN của trường ĐH Nghị Quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ Việt Nam về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam đã đưa ra mục tiêu cụ thể của GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020
trong hoạt động KH&CN phải đạt “ Nâng cao rõ rệt qui mô và hiệu quả hoạt động
KH&CN trong các trường ĐH Các trường ĐH lớn phải là các trung tâm NCKH mạnh của cả nước, nguồn thu từ hoạt động KH&CN, sản xuất và dịch vụ đạt tối
thiểu 25% tổng nguồn thu của các các trường ĐH vào năm 2020” [2] cũng như
quan tâm đến việc nâng dần vị thế của các trường ĐH nước ta trong xếp hạng các
Trang 16trường ĐH của thế giới Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 có đặt
mục tiêu đến năm 2020 “Việt Nam có 1 trường ĐH được xếp hạng trong số 200
trường ĐH hàng đầu thế giới” [21] Luật GDĐH số 08/2012/QH13 ngày 18 tháng 6
năm 2012, theo đó các cơ sở GDĐH được phân thành 3 tầng: (1) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; (2) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành và (3) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành Cụ thể hóa quy định của Luật GDĐH, ngày 8/9/2015 Chính phủ đã thông qua Nghị định 73/2015/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp
hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở GDĐH [6] Nghị định này áp dụng cho các ĐH
quốc gia, ĐH vùng, các trường ĐH và học viện trong cả nước Theo Nghị định đại học định hướng nghiên cứu phải là cơ sở GDĐH có hoạt động đào tạo, NCKH chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực khoa học; có quy mô đào tạo của các chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu trình độ đại học thạc sĩ và đào tạo tiến sĩ chiếm tỷ lệ lớn nhất; có năng lực nghiên cứu thể hiện trên cơ cấu đào tạo và KH&CN; đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ chiếm tỷ lệ cao
Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) là một ĐH trong ba đại học vùng trọng điểm quốc gia, đóng vai trò trọng yếu trong việc đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội khu vực trung du miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung Trải 22 năm xây dựng và phát triển, ĐHTN đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh về mọi mặt trong hệ thống giáo dục quốc dân, đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ Đồng thời, đã từng bước khẳng định được vị thế của mình trong hệ thống GDĐH Việt Nam, chứng tỏ sự thành công ban đầu của quan điểm đổi mới trong hệ thống GDĐH của Đảng và Nhà nước ta trong việc tập trung nguồn lực để xây dựng một số trung tâm ĐH đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao làm nòng cốt trong hệ thống GDĐH của cả nước Tầm nhìn của ĐHTN đến năm 2030 là giữ vững vị thế ĐH vùng trọng điểm quốc gia và trở thành một trong những ĐH định hướng nghiên cứu
đa ngành, đa lĩnh vực, từng bước hội nhập vào hệ thống các trường ĐH hàng đầu trong nước và khu vực Đông Nam Á
Trang 17Xuất phát từ những lí do trên tác giả đã lựa chọn vấn đề “Tác động của chính
sách khoa học và công nghệ đến Đại học Thái Nguyên trong quá trình từng bước xây dựng đại học nghiên cứu” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu tác động của chính sách KH&CN đến Đại học Thái Nguyên trong quá trình từng bước xây dựng đại học nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp tác động chính sách KH&CN để nâng cao chất lượng các hoạt động trọng tậm của ĐHTN góp phần đưa ĐHTN tiến dần với các tiêu chí của ĐHNC thế giới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC
- Làm rõ hiện trạng tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC; Đánh giá thực trạng của ĐHTN theo tiêu chí nhận diện của
ĐHNC thuộc top 500 thế giới
- Đề xuất giải pháp tác động chính sách KH&CN để nâng cao chất lượng các hoạt động trọng tậm của ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu về không gian
- Đại học Thái Nguyên;
- Một số cơ sở GDĐH thuộc ĐHTN;
- Một số tổ chức KH&CN trực thuộc ĐHTN
3.2 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC tập trung vào một số nhóm chính sách KH&CN cụ thể sau:
- Nhóm chính sách KH&CN tác động đến hoạt động KH&CN trong ĐHTN được cụ thể hóa ở vật mang chính sách là Nghị định 99/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng
10 năm 2014 và Nghị định số 95/2014/NĐ/CP ngày 01 tháng 12 năm 2014
Trang 18- Nhóm chính sách KH&CN tác động đến hoạt động đào tạo thông qua NCKH trong ĐHTN được cụ thể hóa tại tại Khoản 2, Điều 10, Luật KH&CN, năm 2013
- Nhóm chính sách KH&CN tác động đến hoạt động CGCN trong ĐTHN được cụ thể hóa ở vật mang chính sách là Điều 5 và Điều 10 của Luật KH&CN năm 2013
- Nhóm chính sách KH&CN tác động đến thiết chế tự chủ ĐH trong ĐHTN được cụ thể hóa ở vật mang chính sách là Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP
4 Câu hỏi nghiên cứu
Các chính sách KH&CN của Việt Nam hiện nay có tác động như thế nào đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC?
Cần thực hiện tác động chính sách KH&CN như thế nào đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Chính sách KH&CN của Việt Nam hiện nay có tác động làm cho ĐHTN được tốt hơn nhưng chưa rõ ràng và đủ mạnh để thúc đẩy ĐHTN trở thành ĐHNC
Cần tác động chính sách KH&CN vào nâng cao chất lượng các hoạt động trọng tâm của ĐHTN để tiến dần với các tiêu chí của ĐHNC thế giới
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các văn bản pháp quy phạm pháp luật với tư cách là vật mang chính sách KH&CN; các văn bản về quản lý KH&CN của ĐHTN
6.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Nhằm thu thập dữ liệu cho nghiên cứu, tác giả đã tiến hành nghiên cứu định lượng với số lượng 210 phiếu điều tra với cách thức chọn mẫu: Ngẫu nhiên dành cho các đối tượng cán bộ giảng dạy đang công tác tại 03 trường ĐH thành viên thuộc ĐHTN là Trường ĐH Sư phạm, Trường ĐH Nông Lâm và Trường ĐH Công nghệ Thông tin và Truyền thông Hình thức tiến hành: Gặp gỡ những người được điều tra, phát bảng hỏi cá nhân, hướng dẫn cách trả lời và thu lại bảng hỏi khi đã trả lời xong Tác giả chỉ thu về được 185 phiếu hợp lệ (25 phiếu không hợp lệ, vì phiếu không trả lời hoặc trả lời không hết câu hỏi trong phiếu điều tra), kết quả dữ liệu trong toàn đề tài được xử lý trên tổng số 185 phiếu hợp lệ
Trang 196.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả đã thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với các đối tượng: 15 GV – người trực tiếp làm công tác giảng dạy và NCKH; 05 nhà quản lý (Trưởng khoa) và
03 cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý hoạt động KH&CN ở một số các trường
ĐH thành viên ĐHTN Tác giả đã tiến hành trao đổi, xin ý kiến của 03 chuyên gia – những người có am hiểu sâu về lĩnh vực chính sách Những ý kiến đóng góp của chuyên gia giúp tác giả có những định hướng trong việc đề xuất các giải pháp định hướng tác động chính sách KH&CN đến đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC
6.4 Phương pháp thống kê
Tác giả đã tiến hành thống kê số liệu từ các báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN của ĐHTN và các trường ĐH được chọn làm mẫu khảo sát để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài Việc tiến hành thống kế con số định lượng của hoạt động KH&CN là cần thiết, giúp đề tài có căn cứ thực tiễn để so sánh, đánh giá về hoạt động trong trường ĐH
7 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
- Về mặt lý luận: Góp phần làm phong phú thêm về phương diện lý luận ĐHNC, đặc trưng của ĐHNC, các tiêu chí xác định ĐHNC,…
- Về mặt thực tiễn: Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu về xây dựng mô hình ĐHNC trong giới nghiên cứu về GD&ĐT
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo
Đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận về tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC
Chương 2: Hiện trạng tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHNC
Chương 3: Giải pháp tác động của chính sách KH&CN đến ĐHTN trong quá trình từng bước xây dựng ĐHTN
Trang 20Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn
đề, nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, định nghĩa chính sách lại chưa có một sự thống nhất
Theo nghĩa hẹp, chính sách có thể được thể hiện thông quan một chương trình, một mục tiêu của chương trình hay sự tác động của chương trình lên một số vấn đề của xã hội, chẳng hạn như chính sách trợ cấp hay chính sách giải quyết yêu cầu của sinh viên về nhà ở, học bổng Chính sách cũng có thể coi là một kế hoạch hoạt động Đó là một bản kế hoạch, được xây dựng công phu, cụ thể chứ không phải là những lời nói, tư duy suy nghĩ ban đầu Kế hoạch được đưa ra trong bối cảnh, môi trường cụ thể mà nhà làm chính sách đã hình dung ra hoặc do chủ thể xác định (tổ chức, cá nhân, nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng, các loại hình doanh nghiệp, v.v ) đưa ra
Theo quan niệm của các nhà chính trị, chính sách là sự bày tỏ quan điểm chính trị của các tổ chức (theo nghĩa rộng của từ này) nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, hay nói cách khác, đó là những quyết định của các tổ chức, cá nhân
về những gì họ sẽ làm hay không làm Còn những nhà quản lý vĩ mô của các tổ chức quan niệm, chính sách là những định hướng tư duy cho các nhà quản lý điều hành, tác nghiệp đưa ra những quyết định cần thiết trong những điều kiện cụ thể của môi trường sản xuất, kinh doanh Như vậy, thực chất của chính sách theo cách này chỉ là những chỉ dẫn cần thiết cho các nhà quản lý tác nghiệp để họ vận dụng vào điều kiện cụ thể, không chỉ ra cách thức tiến hành (các tác nghiệp cụ thể) Theo các quan niệm, chính sách đó là một sự lựa chọn trong tập hợp các phương án khác nhau để đi đến mục tiêu
Trong một cách tư duy cũng được nhiều người thừa nhận, chính sách là bước tiếp theo của chiến lược của các công ty, tập đoàn sản xuất, kinh doanh đề ra và đó
là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu những hoạt động cần thiết để đạt được những
Trang 21mục tiêu đề ra Với tư duy này, chính sách là các chỉ dẫn cụ thể của các nhà hoạch định đề ra các quyết định triển khai chiến lược; là bước nối giữa đường lối, chủ trương chiến lược (vĩ mô) và các hành động cụ thể (dự án, chương trình) Theo quan niệm của các nhà quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, chính sách là đường lối lãnh đạo, định hướng tư duy cho các nhà quản lý theo mục tiêu cụ thể Đó không phải là những quy tắc (với tư cách là các quy định cụ thể) bắt buộc các nhà quản lý phải chấp hành Nói cách khác, chính sách chỉ dẫn, hướng dẫn đưa ra quyết định, còn vấn đề quyết định vẫn thuộc các nhà quản lý điều hành
Dưới góc độ của tiếp cận xã hội học: “Chính sách là tập hợp biện pháp do
chủ thể quản lý đặt ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) nhóm xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới” Xét từ tiếp cận
nhân học và nhân học xã hội: “chính sách được hiểu là phương tiện tác động đến hang
loạt sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người, từ đó dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách và hơn nữa là những kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến” Từ tiếp cận tâm lý học, chính sách lại được hiểu là “tập hợp biện pháp đối xử
ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực” Xét từ
tiếp cận đạo đức học: “Chính sách thể hiện thái độ đối xử phù hợp đạo đức của một
chủ thể quyền lực, chủ thể quản lý với đối tượng bị quản lý” Xét về mặt pháp lý:
“Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối
xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hướng theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội”
Tác giả Vũ Cao Đàm cho rằng: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể
chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến
lược phát triển của một hệ thống xã hội” [8] Trong đó “Hệ thống xã hội” ở đây
được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,v.v…
Trang 22Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách đã nêu, song điều
đó không có nghĩa là chính sách mang những bản chất khác nhau Thực ra, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách Những đặc trưng này phản ánh chính sách từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như: Nghị định, chỉ thị của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tỏ chức (doanh nghiệp, trường học, v.v…)
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm
xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục,v.v…
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó, phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thỏa đáng, không dồn đối tác vào đường cùng đển đón lấy những mối hiểm họa tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp theo
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ
ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối, ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
Trang 23- Kết quả cuối cùng mà cái chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi
xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó
1.1.2 Chính sách công
Những chính sách do các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công Chính sách công thường mang tính hành động, tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội với mục tiêu xác định Hiện có nhiều quan điểm về khái niệm này
Jenkins William (1978) với tác phẩm Phân tích chính sách: quan điểm chính trị
và tổ chức Chính sách công đã định nghĩa chính sách công “là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn
liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó [24]
Dunn William N (1992) đã nêu quan điểm của mình trong tác phẩm Đánh
giá tác động của phân tích chính sách lại định nghĩa “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không
hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” [23]
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân Nó là một sự kết hợp phức tạp giữa những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau do cơ quan Nhà nước đề ra (kể
cả các quyết định không hành động)
Từ những cách tiếp cận trên ta có thể kết luận: “Chính sách công là thuật ngữ
dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định”
Trang 24quả nhằm thúc đẩy hoạt động tạo ra tri thức, truyền bá, phổ cập, ứng dụng các tri thức đó cho đổi mới
Với mỗi cách tiếp cận khác nhau có các định nghĩa khác nhau về chính sách KH&CN Có ý kiến cho rằng chính sách KH&CN là tập hợp các mục tiêu và hệ thống các biện pháp (tổ chức, hành chính, tài chính, kinh tế, xã hội,…) để thực hiện mục đích thúc đẩy hoạt động KH&CN Trong đó, các mục tiêu được phân loại như sau: mục tiêu chiến lược (dài hạn), mục tiêu chiến thuật (ngắn hạn), mục tiêu tổng hợp và mục tiêu cụ thể, mục tiêu toàn cầu và mục tiêu cục bộ (quốc gia),…
Theo Vũ Cao Đàm “Chính sách phát triển KH&CN của một đất nước, một
địa phương hoặc một hãng, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những công nghệ được ưu tiên phát triển theo hai hướng:
- KH&CN phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn về phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất
- Một mặt khác, KH&CN phải được phát triển đi trước, chuẩn bị cho những mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp hoặc mục tiêu dài hạn của kinh tế và xã hội, bên
cạnh những lĩnh vực phải đáp ứng tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất” [9]
1.2 Đánh giá tác động chính sách
1.2.1 Khái niệm đánh giá tác động chính sách
Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về đánh giá chính sách Theo Rosiet (1999) đánh giá được hiểu là “việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tìm hiểu một cách hệ thống hiệu ích (effectivness) của các can thiệp xã hội (socian intervention) tức là chính sách định hướng cải thiện tình hình xã hội Theo Scriven (1991): “Đánh giá chính sách là quá trình để xác định ưu điểm, giá trị của một cái gì đó” Trên cơ sở các định nghĩa này, Davies (2005) đã đưa ra một định nghĩa về đánh giá chính sách như sau: “đánh giá chính sách là việc sử dụng các công cụ nghiên cứu để tìm hiểu một cách có hệ thống các can thiệp chính sách, quá trình thực hiện chính sách cũng như quá trình chính sách nhằm xác định giá trị của các chính sách này trong việc cải thiện và nâng cao điều kiện kinh tế - xã hội của các bên liên quan khác nhau về chính sách”
Trang 25Vũ Cao Đàm (2017) đưa ra khái niệm“Đánh giá chính sách là xem xét chính
sách từ nhiều góc độ khác nhau, phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của chính sách để
phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau” [10 Tr98] Với người sử dụng chính
sách, người bị chính sách tác động, thì việc đánh giá chính sách sẽ giúp tìm được chỗ có lợi nhất cho công việc của đơn vị mình hoặc các nhân mình Với các cơ quan hoạch định chính sách, thì việc đánh giá chính sách sẽ giúp phát hiện những chỗ bất cập của chính sách, có thể gây phương hại đến lợi ích của cộng đồng, phương hại đến việc thực hiện mục tiêu toàn xã hội của chính sách, để tìm biện pháp điều chỉnh
Ngân hàng thế giới (2008) định nghĩa: “Đánh giá tác động là đánh giá
những thay đổi gắn với những tác động của một dự án, chương trình, chính sách Những thay đổi đó có thể được dự định trước hoặc không như dự định”
Đánh giá tác động (ĐGTĐ) được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: “Nếu không
có tác động của chính sách/chương trình/dự án thì kết quả đầu ra sẽ như thế nào”? Với cách hiểu như trên, ĐGTĐ được xem là một công việc nhằm tìm ra những lý do dẫn đến sự thay đổi gắn trực tiếp với những tác động từ chính sách Hiểu một cách đơn giản, đó là một sự so sánh kết quả đầu ra giữa việc có chính sách và không có chính sách Việc so sánh này cũng không phải là một phép trừ đơn giản của hai tình huống trên, bởi không có chính sách thì đầu ra cũng không phải nguyên trạng như lúc ban đầu mà có sự thay đổi từ các tác động khác Sự thay đổi do các tác động khác trong trường hợp không có chính sách lại không nhìn thấy được bởi đối tượng được tác động thực tế là đã có chính sách
Việc ĐGTĐ phải chỉ rõ được những bằng chứng chứng minh sự thay đổi nào gắn với những tác động trực tiếp từ các chính sách, chương trình Đây là căn
cứ để xây dựng chính sách và được gọi là xây dựng chính sách thực chứng (Evidence-based policy making) ĐGTĐ có thể giúp: Định lượng được những tác động của một chính sách tới lợi ích của đối tượng hưởng lợi; So sánh những lợi ích đạt được của các nhóm hưởng lợi khác nhau; Kiểm chứng và đưa ra các lựa chọn thay thế Theo phân tích của nhóm IRD-DIAL (2008) và theo cách phân tích chuỗi kết quả (results chain), để ĐGTĐ của chính sách, cần quan tâm đến hai nội
Trang 26dung: (i) Đánh giá quá trình triển khai; (ii) Đánh giá tác động, được thể hiện ở Hình 1.1 dưới đây
Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi kết quả chính sách
Hình 1.1 thể hiện lô-gic triển khai chính sách (đầu vào, hoạt động, đầu ra) và những kết quả mong đợi Phương pháp đánh giá tác động của chính sách cũng dựa trên lôgic này và chia thành 02 nội dung đánh giá:
(1) Đánh giá quá trình triển khai: quá trình triển khai chính sách gồm 3 phần: (i) Đầu vào: là các quy định được cụ thể hóa trên văn bản của 1 chính sách; (ii) Hoạt động: cách thức tổ chức thực hiện chính sách Từ các yếu tố đầu vào (các quy định), đánh giá làm rõ cách thức triển khai chính sách, những vướng mắc gặp phải của các địa phương trong quá trình triển khai; (iii) Đầu ra: Từ đầu vào và việc
tổ chức triển khai chính sách đã mang lại đầu ra như thế nào Đánh giá quá trình triển khai thực hiện là căn cứ để giải thích cho tác động của chính sách
(2) Đánh giá tác động chính sách: cần phân biệt sản phẩm đầu ra của chính sách (outputs) với kết quả đạt được (outcomes) nhờ việc người thụ hưởng chính sách sử dụng những kết quả của chính sách Khi đánh giá tác động chúng ta quan tâm đến những kết quả đạt được này Những kết quả này có thể trông thấy được thông qua khảo sát, nhưng để đánh giá tác động thì cần lựa chọn một tình huống phản thực phù hợp
1.2.2 Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách
1.2.2.1 Cách tiếp cận đánh giá tác động chính sách
Có thể dễ dàng nhận thấy, đánh giá chính sách là một quá trình phức tạp, bởi
có sự tham gia của rất nhiều nhóm lợi ích và các bên liên quan, cũng như tác động của chính sách có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Cách tiếp cận được sử dụng trong đánh giá chính sách gồm: Tiếp cận từ trên xuống (top – down) và tiếp cận
từ dưới lên (bottom – up) Sự phân tích từ trên xuống có nghĩa là tập hợp các dữ liệu
vĩ mô thứ cấp Dữ liệu này được phân tích từ nhiều phương pháp thống kê khác nhau Tiếp cận từ dưới lên là phương pháp tiếp cận được sử dụng trong mô hình thực chứng
Tác động Triển khai
Hoạt Động
Tác động dài hạn
Trang 27vì dữ liệu ở cấp độ vi mô được thu thập lại và khái quát thành tổng thể Nội dung của việc đánh giá có thể thay đổi theo giai đoạn của chính sách nên có thể bao gồm đánh giá trước (trước khi có chính sách), trong (chính sách đang thực thi) và sau (sau khi kết thúc chính sách)
Nếu căn cứ vào thời điểm thực hiện ĐGTĐ so với tiến độ thực hiện chính sách/dự
án thì ĐGTĐ có cách tiếp cận là: (i) đánh giá tiên nghiệm (ex-ante hoặc prospective evaluation); (ii) đánh giá hậu nghiệm (ex-post hoặc retrospective evaluation)
- Đánh giá tiên nghiệm thường được thực hiện trước hoặc vào cùng thời gian chương trình, chính sách được triển khai và hoạt động này cùng được đưa vào nội dung hoạt động của chương trình, chính sách Theo World Bank (2010), ĐGTĐ tiên nghiệm là tìm cách định lượng các tác động dự kiến của các chính sách trong tương lai, dựa trên thực trạng của khu vực mục tiêu đã cho, trong đó có thể sử dụng các
mô phỏng dựa trên giả định về tình hình kinh tế Đánh giá tiên nghiệm cũng dựa trên các mô hình cấu trúc về điều kiện kinh tế của đối tượng Chẳng hạn, có thể có các giả định liên quan đến mô hình cấu trúc như xác định các tác nhân kinh tế chính trong xây dựng chương trình (cá nhân, cộng đồng, chính quyền địa phương, trung ương), mối liên hệ giữa các tác nhân này và những thị trường khác nhau trong xác định kết quả từ chương trình
- Đánh giá hậu nghiệm của chương trình, chính sách sau khi được triển khai Đánh giá hậu nghiệm tìm cách xác định những tác động thực tế tích luỹ ở các đối tượng thụ hưởng nhờ can thiệp của chương trình Một hình thức đánh giá loại này là
mô hình hiệu quả can thiệp Đánh giá hậu nghiệm có lợi ích tức thời và phản ánh hiện thực Nhưng những đánh giá này nhiều khi bỏ sót những cơ chế đằng sau tác động của chương trình đối với dân cư, là những cơ chế mà các mô hình cấu trúc tìm cách nắm bắt và có thể có vai trò rất quan trọng đối với quá trình tìm hiểu tác động của chương trình Đánh giá hậu nghiệm cũng có thể tốn kém hơn so với đánh giá tiên nghiệm vì đòi hỏi phải thu thập dữ liệu về các kết quả thực tế ở các nhóm đối tượng tham gia và không tham gia, cũng như ở các yếu tố xã hội và kinh tế kèm theo khác có vai trò quyết định phương hướng can thiệp
Trang 281.2.2.2 Phương pháp đánh giá tác động chính sách
Có rất nhiều phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá chính sách Hơn thế nữa thật khó có thể khẳng định phương pháp nào lợi thế hơn phương pháp nào Một phương pháp nào đó được lựa chọn bởi nó phù hợp với mục tiêu đề ra, không
có phương pháp thay thế cho tất cả Các phương pháp có thể bổ trợ cho nhau Tuy nhiên, để đánh giá một cách đầy đủ, rõ ràng và toàn diện thì người nghiên cứu phải
sử dụng cả các phương pháp đinh tính và định lượng
- Phương pháp định tính
Nghiên cứu định tính nhằm làm hành vi, thái độ của đối tượng thụ hưởng chính sách và các lý do ẩn sâu hành vi, thái độ đó Ba phương pháp chính của nghiên cứu định tính là thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu và quan sát Người nghiên cứu nhận thức được thực trạng vấn đề một cách sâu sắc thông qua các câu hỏi tại sao, như thế nào Các nhóm xã hội đặc thù được tập hợp lại với nhau, cùng trao đổi một vấn đề Người nghiên cứu dễ dàng có được những chi tiết và trích dẫn thực, có sự so sánh đối chiếu thái độ, hành vi của những đối tượng cùng nhóm Quá trình thu thập thông tin trong phương pháp này được thực hiện liên tục và lặp lại: những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, nhà nghiên cứu thu thập thông tin và hình thành các giả thuyết, tiếp đến họ thu thập thông tin bổ sung nhằm chứng minh cho giả thuyết
- Phương pháp định lượng
Nghiên cứu định lượng là cách thức tìm hiểu có hệ thống về một hiện tượng/vấn đề thông qua thu thập, phân tích và trình bày số liệu Thế mạnh của nghiên cứu định lượng thể hiện thông qua số liệu mang tính khách quan, dự liệu mang tính đại diện và tổng quát hơn thông qua việc chọn cỡ mẫu đủ đại diện cho nghiên cứu hoặc có khả năng suy rộng nếu dựa trên cách thức chọn mẫu ngẫu nhiên, hoặc có khả năng theo dõi được sự thay đổi khi chọn mẫu điều tra lập lại Phương pháp này cũng cho phép người nghiên cứu phân tích được tương quan giữa các biến, phân tích được nguyên nhân-kết quả, mô hình hóa thành các sơ đồ, biểu
đồ, bảng, Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế mà người nghiên cứu cần nắm được để hạn chế được rủi ro trong quá trình sử dụng, đó là: chất lượng
và độ tin cậy của số liệu khó kiểm chứng được mức độ thực, cso nhiều yếu tố không
Trang 29thể đo lường được, khó giải thích được tại sao, như thế nào đối với các tác động được phân tích, dễ bị đánh đồng các nhóm đối tượng, không tìm hiểu sâu và mô hình hóa được các mối quan hệ và tác động nhiều chiều Ngoài các phương pháp định tính và định lượng, trong đánh giá chính sách người ta còn áp dụng phương pháp tham dự, phương pháp chuyên gia, phương pháp mô tả, v.v…
1.2.3 Luận giải cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ
1.2.3.1 Cách tiếp cận đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ
Cách tiếp cận đánh giá tiên nghiệm không phù hợp do các chính sách KH&CN được nghiên cứu trong đề tài là đã được triển khai trong thực tiễn, vì vậy cách tiếp cận đánh giá hậu nghiệm được áp dụng để đánh giá tác động của các nhóm chính sách KH&CN này Cách tiếp cận này cho phép sử dụng các phương pháp định tính trong đánh giá tác động của chính sách như thông qua lấy ý kiến của đối tượng hưởng lợi chính sách và các tác nhân liên quan Cách tiếp cận này cho phép đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra của chính sách, cũng như xác định được nguyên nhân của các kết quả đạt được Nói cách khác, đánh giá hậu nghiệm cho phép chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa kết quả/hậu quả và quá trình triển khai thực hiện chính sách
Đề tài còn sử dụng cách tiếp cận đánh giá từ top - down và cách tiếp cận đánh giá từ bottom-up để đánh giá tác động của các nhóm chính sách KH&CN này
Cụ thể: Đối với cách tiếp cận từ top - down: Đề tài đã nghiên cứu các văn bản do cơ quan quản lý nhà nước ban hành nhằm triển khai thực hiện các nhóm chính sách KH&CN trên như thế nào Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu các báo cáo tình hình kết quả hoạt động KH&CN cụ thể trong từng giai đoạn, từng năm của ĐHTN; Với cách tiếp cận đánh giá bottom-up, đề tài đã nghiên cứu nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách là đội ngũ GV, các nhà khoa học, nghiên cứu viên trong ở các trường ĐH thành viên thuộc ĐHTN thông qua thực tiễn khảo sát
1.2.3.2 Phương pháp đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ
Phương pháp được sử dụng để đánh giá tác động của chính sách KH&CN là
cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Trang 30- Phương pháp định tính: tác giả nhấn mạnh đến phương pháp: Phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp này được thực hiện đối với các nhà quản lý trực tiếp thực hiện và chỉ đạo thi hành chính sách, các cấp lãnh đạo phòng ban phụ trách trực tiếp mảng NCKH trong trường ĐH, các đối tượng thụ hưởng của chính sách Dựa trên phương pháp định tính này, tác giả có cái nhìn tổng thể về chính sách đi theo cả hai cách tiếp cận: top-down và bottom-up với sự so sánh giữa kết quả báo cáo từ phía quản lý và kết quả thực hiện trên nhóm đối tượng thụ hưởng Việc lấy ý kiến chuyên gia cũng cho phép phản ánh tác động của chính sách, mặc dù không định lượng được tác động của chính sách, nhưng cho phép xác định được hướng tác động (tích cực, tiêu cực) của chính sách và nguyên nhân
- Phương pháp định lượng: Có rất nhiều phương pháp định lượng dùng để đánh giá chính sách như phương pháp khác biệt trong khác biệt, phương pháp hồi quy các nhân tố cố định,….Tuy nhiên, khi đánh giá tác động của các nhóm chính sách KH&CN, tác giả không có sẵn nguồn dữ liệu cho phép Cơ sở dữ liệu trước khi triển khai chính sách không có sẵn và nếu thu thập lại dữ liệu đó thì chí phí rất lớn trong khi độ chính xác của dữ liệu không cao nên phương pháp định lượng (mô hình, kiểm định) không được sử dụng trong việc đánh giá các nhóm chính sách KH&CN này Tác giả đã sử dụng một số phương pháp định lượng sau:
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Sau quá trình khảo sát, dữ liệu được nhập liệu, làm sạch Số liệu được phân tích thông qua các cách thống kê mô tả, phân tích tương quan và trình bày Bên cạnh dữ liệu có được qua phương pháp điều tra,
Đề tài còn sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp, bao gồm: Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động KH&CN của ĐHTN
Phương pháp đánh giá sau chính sách Mục đích của phương pháp này là nhằm kiểm định xem các nhóm chính sách đã thực hiện được những mục tiêu mà nó
đề ra hay chưa thông qua phép so sánh giữa mục tiêu và kết quả đạt được trong thực
tế Đánh giá tác động sau chính sách cần đánh giá các nội dung liên quan đến nhu cầu, quy trình và tác động của chính sách này đem lại Bảng đánh giá các tác động của các nhóm chính sách KH&CN được thể hiện ở Bảng 1.2 dưới đây
Trang 31Bảng 1.1 Bảng đánh giá các tác động của chính sách KH&CN Chuỗi
Loại
Tác động trực tiếp (outputs)
Tác động nối tiếp (Outcomes)
Tác động gián tiếp (Impacts) Dương tính
Là tác động dẫn đến những kết quả
phù hợp với mục tiêu của chính
sách Tác động dương tính là loại
tác động mà cơ quan quyết định
chính sách mong muốn đạt tới
Các tác động này có thể xảy
ra ngay sau khi
chính sách và tạo ra phản ứng ban đầu của các nhóm
xã hội
Tác động nối tiếp từ các tác động trực tiếp
động phát sinh
động ngoại biên có ngoại biên
dương tính và ngoại biên âm tính
Nguồn: Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
1.2.4 Khung đánh giá tác động chính sách khoa học và công nghệ
Tuỳ thuộc vào các bên liên quan mà mục tiêu, nội dung và kết quả đánh giá được xem xét dưới các giác độ khác nhau, điểm mấu chốt quan trọng nhất là đánh giá lợi ích của các bên tham gia và thụ hưởng chính sách cũng như tác động của chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng chính sách theo nghĩa hẹp và đối với nền kinh tế - xã hội theo nghĩa rộng Từ những phân tích về cách tiếp cận và phương pháp đánh giá chính sách KH&CN nói trên, tác giả đã rút ra khung đánh giá kết quả và tác động của nhóm chính sách KH&CN trong nghiên cứu của đề tài như sau:
Trang 321 Đánh giá quy trình triển khai chính sách: Quy trình thực thi chính sách, những nhiệm vụ của chính sách có được triển khai đúng kịch bản đã xây dựng hay không, có đúng mục tiêu, phương tiện và đối tượng hay không
2 Đánh giá các tác động và hiệu quả triển khai chính sách, gồm:
- Phân tích các tác động dương tính- âm tính- ngoại biên của chính sách đối
với việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN, thiết chế tự chủ ĐH trong trường ĐH đã triển khai trong thực tế Đánh giá xem nhóm chính sách KH&CN này có tạo ra được các tác động mong đợi đối với các đối tượng thụ hưởng chính sách hay không
- So sánh các chỉ số về kết quả đạt được trước và sau khi thực hiện chính
sách Cách thức chủ yếu dựa vào các báo cáo tổng kết thực hiện và kết quả khảo sát,
điều tra tại một số trường ĐH thành viên thuộc ĐHTN và đối chiếu với thực tiễn đang diễn ra dưới sự tác động của nhóm chính sách KH&CN
1.3 Tiếp cận vấn đề đại học nghiên cứu
1.3.1 Định nghĩa ĐHNC
Khái niệm ĐHNC xuất hiện đầu tiên ở Đức, ngay từ cuộc cách mạng nông nghiệp Lý do rất đơn giản là nông nghiệp có tính chất đặc trưng rất rõ cho từng vùng, do đó để giảng dạy nông nghiệp phải nghiên cứu thực tế Từ đó, ĐHNC được phát triển ở nhiều nước, đặc biệt là ở Mỹ và trở thành mô hình ĐH đa ngành chất lượng cao ở mỗi nước Hiện nay, mô hình ĐHNC không còn xa lạ đối với các nước nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, Bỉ và các nước Bắc Âu khác Vậy ĐHNC là gì? Qua nghiên cứu của tác giả có nhiều cách hiểu khác nhau về ĐHNC Chẳng hạn:
- Tiếp cận theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thuật ngữ “ĐH” nguyên là một chương trong Lễ Kí được viết thành sách trong khoảng thời gian từ thời chiến quốc đến thời Tần Hán, được xem là một trong những sách chủ yếu của Nho Gia
Hai chữ “ĐH” ở đây có nghĩa là học vấn uyên bác, tinh sâu
- Tiếp cận từ các ngôn ngữ khác nhau: Chẳng hạn:
Tiếng Anh là university; tiếng La-tinh: universitas) dịch là một cơ sở GDĐH và
nghiên cứu, cung cấp giáo dục bậc ĐH và sau ĐH và có thẩm quyền cấp bằng trong nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau
Trang 33Tiếng Pháp universit dịch là một tổ chức liên kết trong lòng của nó cả hai hoạt
động: Sản xuất (nghiên cứu), tàng trữ (ấn phẩm, thư viện) và truyền bá (đào tạo ĐH)
về các lĩnh vực tri thức khác nhau Trường ĐH phân biệt với các trường ĐH thành viên ở chỗ, các trường thành viên chỉ đào tạo theo một lĩnh vực tri thức xác định”
Tiếng Nga Yhnbepcntet, dịch là trường giáo dục cao đẳng, đào tạo các chuyên
gia về các khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng Trường ĐH nói chung cũng tiến hành các hoạt động NCKH Các trường ĐH hiện đại hoạt động như một tổ hợp đào tạo – nghiên cứu- thực tiễn Trường ĐH gồm các khoa, trong đó bao gồm các bộ môn thuộc các lĩnh vực tri thức khác nhau”
Như vậy, từ cách giải nghĩa của thuật ngữ “Đại học” dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau có thể thấy, đã là đại học thì phải nghiên cứu
Dưới góc độ tiếp cận của một số tác giả, tổ chức nước ngoài về ĐHNC Chẳng
hạn: Nhóm Các Trường ĐHNC hàng đầu của châu Âu đã khẳng định rằng: “Các
trường ĐHNC đồng thời gắn những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế với việc giảng dạy đào tạo, là những đơn vị mang lại phương tiện hiệu quả nhất để kết hợp giữa nghiên cứu cơ bản và đào tạo trên cơ sở nghiên cứu.” “Các trường ĐHNC là nơi có những chuyên ngành rộng, thường xuyên định hình lại những nỗ lực nghiên cứu của mình nhằm giải quyết những nhu cầu và cơ hội mới.Nghiên cứu cơ bản cần được nở rộ cùng với nghiên cứu ứng dụng và thực tiễn chuyên ngành (LERU, 2004)
Hệ thống Carnegie về phân loại các trường ĐH đã đưa ra hai định nghĩa:
Doctoral/Research Universities – Extensive: Đào tạo cử nhân đa ngành, từ cử nhân cho đến tiến sĩ Đào tạo được từ 50 tiến sĩ trở lên mỗi năm trong ít nhất 15 chuyên ngành Doctoral/Research Universities – Intensive: Đào tạo cử nhân đa ngành, từ
cử nhân cho đến tiến sĩ Đào tạo được từ 10 tiến sĩ trở lên mỗi năm trong ít nhất 3 chuyên ngành, hoặc tổng cộng 20 bằng tiến sĩ mỗi năm nói chung (Carnegie
Foundation, 2001)
Còn theo Tuyên ngôn Hợp Phì (được công bố bởi: Hiệp hội các Trường ĐH Hoa Kỳ (AAU), Nhóm 8 trường của Australia (G8), Nhóm các Trường ĐHNC hàng đầu ở Châu Âu (LERU), và Nhóm 9 trường ĐH tinh hoa của Trung Quốc (C9) thì
“Các trường ĐHNC được định nghĩa bởi những cam kết nghiêm túc và xuyên suốt
Trang 34của họ với hoạt động NCKH (NCKH); bởi sự ưu tú, bởi bề rộng và khối lượng những kết quả nghiên cứu của họ; và bởi cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong trong mọi hoạt động của họ, từ giảng dạy, nghiên cứu đến gắn kết với giới doanh nghiệp, với Chính phủ, và với cộng đồng xã hội Việc đào tạo bậc
ĐH ở các trường ĐHNC được hưởng lợi to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư
và nghiên cứu sinh đang làm việc ở tuyến đầu của tri thức Đào tạo sau ĐH ở các trường ĐHNC được làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lượng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì được lợi nhất nhiều nhờ sự sang tạo và năng lượng của các nghiên cứu sinh Các trường ĐHNC thường chỉ là số ít trong hệ thống GDĐH của mỗi nước, nhưng bao giờ cũng chiếm một thành quả đáng kể của mỗi quốc gia” Theo cách hiểu này, ĐHNC là trung tâm của hoạt động
NCKH, các hoạt động khác như đào tạo ĐH và sau ĐH đều được hưởng lợi từ kết quả của hoạt động NCKH Nó cũng khẳng định, số lượng loại ĐH này chiếm một
số lượng ít trong hệ thống GDĐH của mỗi nước nhưng lại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Tóm lại, theo một số quan niệm nêu trên, có thể thấy ĐHNC được hiểu là nơi tập trung chủ yếu vào các hoạt động NCKH, sáng tạo và phổ biến tri thức trong các lĩnh vực then chốt của mình Giảng dạy, đào tạo trên nền tảng nghiên cứu; Các chương trình đào tạo sau ĐH có tỉ lệ cao; Thu nhập từ bên ngoài có thu nhập lớn
Trong khuôn khổ đề tài này: ĐHNC là nơi tập trung chủ yếu vào hoạt động
NCKH, sáng tạo và phổ biến tri thức trong các lĩnh vực then chốt của mình Giảng dạy, đào tạo trên nền tảng nghiên cứu
Như vậy, xét về bản chất thì ĐHNC có những điểm khác so với ĐH thực hành theo quy định về phân tầng và xếp loại ĐH ở Việt Nam hiện nay Tác giả đồng tình với các quan điểm cho rằng tất cả các trường ĐH đều phải gắn với nghiên cứu và sự tương tác giữa nghiên cứu và giảng dạy là một thứ (lý do tồn tại) của trường ĐH Tuy nhiên, ở ĐHNC thì NCKH là hoạt động nổi trội và được thể hiện trong sứ mạng của nhà trường; nghĩa là bản chất và nội dung của những hoạt động khác của nhà trường sẽ
Trang 35được định hình trên cái nền nghiên cứu Do vậy, ở ĐHNC chủ yếu thực hiện nghiên cứu cơ bản và đào tạo lực lượng nghiên cứu là chủ yếu Chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chiếm tỉ lệ lớn nhất, chủ yếu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Còn ĐH thực hành chủ yếu nghiên cứu, phát triển theo hướng triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng; chương trình đào tạo nhằm hướng tới phát triển năng lực thực hành của người học, gắn với thực tế sản xuất; Cung cấp nguồn nhân lực thực hành cho nhu cầu sử dụng lao động
thực tế; Chương trình đào tạo thực hành chiếm tỉ lệ lớn nhất
1.3.2 Đặc trưng của đại học nghiên cứu
Các trường ĐHNC đồng thời gắn những nghiên cứu đẳng cấp quốc tế với việc giảng dạy đào tạo, là những đơn vị mang lại phương tiện hiệu quả nhất để kết hợp giữa NCCB và đào tạo trên cơ sở nghiên cứu
Các ĐHNC của Hoa Kỳ có những đặc trưng sau:
- Có quy mô lớn, không phân biệt công hay tư;
- Tỷ lệ giảng dạy-nghiên cứu-dịch vụ của ĐHNC thường là 3-5-2, trong khi
ở trường cao đẳng là 8-1-1, ĐH cộng đồng là 4-4-2, ĐH của bang là 7-2-1, ĐH toàn diện (đào tạo kết hợp với nghiên cứu) là 6-3-1
- Tỷ lệ NCS và học viên cao học trong các ĐHNC thường chiếm khoảng 50%
- Số giờ dạy của GV ít hơn thời gian dành cho NCKH và CGCN
- Đào tạo và NCKH đa ngành, đa lĩnh vực với chất lượng cao
Hệ thống ĐH Malaysia có sự phân biệt rõ ràng giữa các ĐHNC, ĐH đa ngành, ĐH chuyên ngành và trường dạy nghề, cho phép mỗi trường theo đuổi mục tiêu rõ ràng, trách trùng lập và phục vụ cho nhu cầu đa dạng của người học Ở Malaysia, các ĐHNC đã trở thành tâm điểm hơn bởi nó hiện diện nguồn trí lực trong xã hội Chính phủ Malaysia, thông qua Bộ Giáo dục đã thành lập 4 ĐHNC với chức năng chủ yếu tạo ra kiến thức nền tảng, tri thức mới và công nghệ tiên tiến Mục tiêu của các ĐHNC, theo Bộ Giáo dục Malaysia là:
- Trở thành đầu tầu trong sự đổi mới;
- Thiết lập và tăng cường các trung tâm nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực ưu tiên quốc gia;
- Tạo ra các sản phẩm NCKH tầm thế giới;
Trang 36- Tạo ra các xuất bản phẩm có chỉ số ảnh hưởng cao;
- Đào tạo sinh viên có chất lượng cao;
- Tạo ra môi trường hấp dẫn cho NCKH
Các trường ĐHNC được kỳ vọng sẽ đóng góp vào nền kinh tế qua phát triển các hoạt động cầu nối kinh tế, tăng cường chuyển giao KH&CN, thương mại hóa và đào tạo nguồn nhân lực Việc quốc tế hóa trong hoạt động NCKH đã trở thành chiến lược được ưu tiên cao trong việc thành lập các ĐHNC ở Malaysia
Trong một nghiên cứu của Trương Quang Học, cũng đã chỉ ra các đặc trưng của ĐHNC như sau:
- ĐHNC có quy mô lớn, tính liên ngành cao Thường có hàng trăm mã ngành/ chương trình đào tạo trong trường ĐHNC Chẳng hạn: (ĐH Callifornia, Mĩ
có gần 600 chương trình đào tạo ở cả ba bậc, cử nhân (CN), ThS (Ths) và TS (TS);
ĐH Thanh Hoa, Trung Quốc có hơn 100 chương trình ĐH, 158 chương trình Ths và
114 chương trình TS );
- Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao: Các trường ĐH có tính tự chủ cao, họ gần như quyết định mọi hoạt động của nhà trường: tổ chức nhân sự, quản lý, học thuật, cơ sở vật chất, tài chính Đặc điểm này tập trung cao nhất trong hệ thống giáo dục ở Mỹ
- Hoạt động chủ yếu của đội ngũ cán bộ là NCKH và giảng dạy Đối với các cán bộ giảng dạy ĐH, bên cạnh hoạt động đào tạo, hoạt động NCKH là hoạt động bắt buộc Tỷ lệ thời gian dành cho các hoạt động này khác nhau tuỳ loại trường Ở các ĐHNC của Hoa Kỳ, khoảng 1/2 thời gian dành cho công tác NCKH và cứ sau 5 năm mỗi cán bộ có 1 - 2 hoc kỳ để bồi dưỡng (NCKH) Qua nghiên cứu, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn có cơ hội thăng tiến (cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ, cũng như học vị, học hàm và đi đôi với các điều này là chế độ đãi ngộ);
- Đội ngũ cán bộ có chất lượng cao và có quyền tự chủ cao trong hoạt động, đặc biệt là trong NCKH Chẳng hạn: Trường ĐH Bắc Carolina (Hoa Kỳ) có 7.400 cán bộ, trong đó có 1.975 cán bộ giảng dạy - là những người dẫn đầu quốc gia trong NCKH và giảng dạy với 10 viện sĩ Hàn lâm khoa học Quốc gia, 10 viện sĩ Hàn lâm công nghệ
Trang 37Quốc gia và hơn 400 thành viên của Viện Hàn lâm là các thầy giáo xuất sắc ĐH Seoul (Hàn Quốc) có 971 GS, 500 PGS; 80% số lượng TS của trường được đào tạo từ Hoa Kỳ;
- Kinh phí NCKH lớn và chủ yếu có từ các nguồn bên ngoài (chiếm > 50% tổng thu của trường) Kinh phí NCKH trung bình các ĐH của Mỹ là 100 triệu USD/năm (North Carolina State University: 350 triệu USD/năm; Trung tâm Nghiên cứu Ung thư, ĐH Texas: 300 tr USD/năm; ĐH Seoul: 100 triệu USD /năm)
- Các điều kiện nghiên cứu đầy đủ về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thông tin;
- Số lượng sinh viên sau ĐH (đặc biệt là nghiên cứu sinh - NCS) lớn và là lực lượng nghiên cứu quan trọng của trường (thường > 50%)
Còn theo Hướng dẫn số: 1206/HD-ĐBCLGD của ĐH Quốc Gia Hà Nội [17], ĐHNC có sáu đặc trưng sau:
- ĐHNC phải là ĐH có quy mô đa ngành, đa lĩnh vực;
- Tích hợp đào tạo và NCKH ở cả bậc ĐH: Đào tạo thực hành được tăng cường, người học được học ở cả trong và ngoài giảng đường, được tham gia vào các
đề tài nghiên cứu của GV;
- Tập trung vào đào tạo sau ĐH: Tỷ lệ quy mô đào tạo sau ĐH cao (so với đào tạo ĐH), học viên cao học và nghiện cứu sinh thực sự tham gia vào nghiên cứu
và quá trình gia tăng giá trị
- GV là nhà nghiên cứu: Thành tích khoa học là tiêu chí quan trọng để đánh giá và bổ nhiệm GV rất quan tâm và cam kết mạnh đối với nhiệm vụ nghiên cứu và nhiệm vụ phát triển các nguồn lực từ bên ngoài
- Nghiên cứu chất lượng cao: Hướng đến cả ba nhóm sản phẩm R&D – sang tạo tri thức mới, phát triển công nghệ, ứng dụng và thương mại hóa; có các nhà khoa học xuất sắc, có các công bố quốc tế với số trích dẫn cao, có sản phẩm KH&CN tiêu biểu, đóng góp hiệu quả cho cộng đồng
- Lãnh đạo hiệu quả: Có chiến lược phát triển rõ ràng, có cam kết mạnh, kiên định với sứ mệnh và tầm nhìn
Tóm lại, theo tác giả đề tài thì ĐHNC có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Là một ĐH đa ngành, đa lĩnh vực;
Trang 38- Là nơi tập trung chủ yếu đội ngũ CB,GV có trình độ cao và phải có quyền chủ động trong các hoạt động của mình, nhất là hoạt động NCKH;
- Có số lượng sinh viên sau ĐH lớn, đặc biệt là nghiên cứu sinh và đây là lượng lực nghiên cứu quan trọng của nhà trường;
- Kinh phí dành cho hoạt động NCKH là lớn và chủ yếu là lấy từ các nguồn bên ngoài;
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin đầy đủ và hiện đại phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và đào tạo của nhà trường
1.3.3 Tiêu chí đại học nghiên cứu
Trung Quốc, đưa 4 tiêu chí để phân loại các cơ sở đào tạo ĐHNC Trung Quốc, gồm số lượng bằng được cấp ở những bậc học khác nhau, tỉ lệ nghiên cứu sinh tiến sĩ và sinh viên ĐH, thu nhập từ nghiên cứu được nhà nước chi trả hàng năm, số bài báo khoa học được công bố trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu
GV Theo đó các trường ĐH Trung Quốc được chia thành 9 loại bao gồm: ĐH nghiên cứu loại I, ĐH nghiên cứu loại II, ĐH đào tạo tiến sĩ loại I, ĐH đào tạo tiến
sĩ loại II, ĐH đào tạo thạc sĩ loại I, ĐH đào tạo thạc sĩ loại II, ĐH đào tạo cử nhân loại I, ĐH đào tạo cử nhân loại II, và trường cao đẳng (Liu and Liu 2005) Tiêu chí số lượng bài báo khoa học trong danh mục SCIE và SSCI tính trên đầu người được đưa ra nhằm phản ánh hiện tượng cạnh tranh quốc tế ngày càng phát triển và đặt Trung Quốc trong một bối cảnh có tính chất quốc tế Con số thấp nhất về tỉ lệ công bố khoa học trên đầu người trong số 60 trường thành viên của Hiệp hội các trường ĐH Hoa Kỳ được chọn làm tiêu chuẩn cho Trung Quốc, chỉ
số này được xác định là 0,7 trong năm 2004 Chỉ có 10 trường ĐH Trung Quốc
có được chỉ số này ở trên mức tối thiểu của Hoa Kỳ Theo đó, các ĐH nghiên cứu loại I của Trung Quốc bao gồm ĐH Thanh Hoa, ĐH Bắc Kinh, ĐH Bách khoa Trung Quốc, ĐH Nam Kinh, ĐH Phúc Đán, ĐH Triết Giang, ĐH Giao thông Thượng Hải- một con số rất nhỏ trong tổng số các trường ĐH
Bộ Giáo dục Malaysia (Ban GDĐH và Ủy ban điều hành) đã đưa các tiêu chí và chuẩn của ĐHNC như Bảng 1.3 dưới đây:
Trang 39Bảng 1.2 Tiêu chí và chuẩn của đại học nghiên cứu Malaysia
1 Số lượng và chất lượng người
Số giải thưởng các cấp: 100
2 Số lượng và chất lượng nghiên cứu
Các ấn phẩm: 2 bài báo cấp quốc gia/quốc
tế được trích dẫn/năm hoặc chỉ số IP>500 Các tài trợ cho NCKH cho GV từ Chính phủ, doanh nghiệp và quốc tế đạt tới mức 5000/RM/GV/năm ít nhất 20% từ các nguồn hợp tác quốc tế và 20% từ các doanh nghiệp
Kinh phi cho NCKH:>60% tổng kinh phí hàng năm
Số post-doc được giao: 10 người/năm
3 Số lượng NCS, học viên cao học
Tỷ lệ 1 TS/18 GV, trong đó 60% sẽ dành cho NCKH
Tỷ lệ 3 học viên sau ĐH/GV
Tỷ lệ 1 học viên sau ĐH/4 sinh viên ĐH
Tỷ lệ sau ĐH người nước ngoài: 10%
4 Chất lượng sau ĐH Tỷ lệ sau ĐH: 50% sau ĐH Tỷ lệ học bổng sau đại học của các tổ chức
có uy tín trao qua hình thức NCKH/học bổng chung > 10%
5 Đổi mới Số bằng sáng chế/số sản phẩm được thương mại hóa/số bằng bí quyết công
nghệ/số IPR/bản quyền tác giả: số lượng 30/năm
6 Dịch vụ chuyên ngành và quà tặng Thu nhập từ đào tạo/dịch vụ/tư vấn/học
phí/lợi tức/quà tằng: >20 triệu RM/năm
với tỷ lệ 70%
Tham gia vào mạng các trường quốc tế với
tỷ lệ 30%
(Nguồn: Tham khảo tài liệu [8])
Dựa vào các chỉ số chất lượng lựa chọn, Ủy ban chuyên gia này sẽ so sánh và xếp hạng các trường ĐH, kết quả đánh giá này sẽ quyết định phân bổ ngân sách cho NCKH
Trang 40của Chính phủ và các quĩ phát triển… Các chỉ số tiến hành NCKH phải rõ ràng và đo lường được (số công trình xuất bản, giải thưởng, kết quả đào tạo, lợi nhuận từ NCKH…)
Như vậy, có thể thấy các tiêu chí về ĐHNC của Malaysia, nhấn mạnh đến kết quả NCKH khi đánh giá, xếp loại các trường ĐHNC, Chính phủ Malaysia cũng rất chú trọng đến sự khích lệ để duy trì chất lượng NCKH và phổ biến kiến thức của
các ĐHNC cũng như đảm bảo chất lượng toàn hệ thống giáo dục ĐH Malaysia
Quan điểm của các nhà khoa học ở Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường ĐHNC
được đánh giá dựa trên tiêu chí theo các nhóm tiêu chuẩn sau đây: Tiêu chuẩn 1: Thành tích NCKH và chuyển giao tri thức; Tiêu chuẩn 2: Chất lượng đào tạo; Tiêu chuẩn 3: Mức độ quốc tế hoá; Tiêu chuẩn 4: Cơ sở hạ tầng phục vụ đào tạo và NCKH [14]
Phạm Thị Ly (2013) đã chỉ ra các tiêu chí của ĐHNC bao gồm: cả các nhân
tố đầu vào (con người và nguồn lực), đầu ra (thành quả nghiên cứu và đào tạo) lẫn quá trình (tự chủ, tự do học thuật, văn hóa khoa học và tính chất toàn cầu), với những đặc điểm khiến nó trở thành khác biệt so với những trường ĐH khác và là những điều kiện cần và đủ cho một trường ĐHNC [17]
Theo Nghị định 73/2015/NĐ-CP ngày 8/9/2015 thì tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu gồm: Tỷ lệ chi cho hoạt động KH&CN ít nhất 20% tổng chi cho các hoạt động hàng năm của cơ sở GDĐH; GV cơ hữu phải dành ít nhất 50% tổng thời gian làm việc định mức cho hoạt động NCKH; Có ít nhất 80% GV, NCV cơ hữu tham gia NCKH có bài báo, công trình công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và ngoài nước hàng năm; Tỷ lệ GV, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến
sĩ không thấp hơn 30% tổng số GV, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở GDĐH; Tỷ lệ sinh viên/GV của các chương trình định hướng nghiên cứu không quá 15
Tóm lại, có khá nhiều điểm đồng nhất từ các cách nhận diện về tiêu chí ĐHNC như: Thành tích cao về NCKH và CGCN; Đào tạo chất lượng cao; Mức độ quốc tế hóa; Cơ sở vật chất và cơ chế quản trị hiện đại, hiệu quả Trong đó, thành tích NCKH được xem là tiêu chí đầu tiên khi xác định một trường ĐH là ĐHNC, điều này một lần nữa càng khẳng định rằng NCKH là chức năng trọng tâm, được ưu tiên đầu tư ở các ĐHNC
Tiêu chí của ĐHNC thuộc top 500 ĐHNC thế giới được tổng hợp và cụ thể hóa dựa trên các tiêu chí phân loại của các trường đại học Carnegie (Carnegie