1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGƢỜI ĐỒNG TÍNH TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI: TỪ ẨN ỨC ĐẾN TỰ SỰ

192 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi những định kiến, kì thị, phân biệt đối xử với người đồng tính vẫn tồn tại và tác động tiêu cực đến đời sống người đồng tính nói riêng và sự tiến bộ của toàn xã hội nói chung thì việc

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ HOÀNG HIẾU

NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TRONG XÃ HỘI

VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI: TỪ ẨN ỨC ĐẾN TỰ SỰ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, không sao chép, trùng lặp với bất kì công trình nào đã đƣợc công bố Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận án là chính xác, trung thực Các trích dẫn trong luận án đã đƣợc dẫn nguồn theo quy định Tất cả những sự giúp đỡ và phối hợp trong quá trình thực hiện luận án đã đƣợc xin phép và cảm ơn

Tác giả luận án

Vũ Hoàng Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 7

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 8

7 Cơ cấu của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Những nghiên cứu về đồng tính ở Việt Nam 9

1.1.2 Những nghiên cứu về chiến lược phản kháng của các nhóm ngoài lề 15

1.1.3 Những nghiên cứu về chiến lược phản kháng của cộng đồng thiểu số tính dục 19

1.1.4 Các nghiên cứu về tự sự của các nhóm ngoài lề và người đồng tính 23

1.2 Cơ sở lý luận 28

1.2.1 Hệ thống khái niệm 28

1.2.2 Lý thuyết và quan điểm tiếp cận 32

CHƯƠNG 2 ẨN ỨC ĐỒNG TÍNH 42

2.1 Nhận diện ẩn ức ở người đồng tính 42

2.1.1 Câu chuyện của Phong 42

2.1.2 Ẩn ức căn bản, đặc thù ở người đồng tính 47

2.1.3 Những hệ lụy của ẩn ức đồng tính 52

2.2 Ẩn ức - một kiến tạo văn hóa xã hội 55

2.2.1 Người đồng tính và những trải nghiệm bị kì thị và phân biệt đối xử 56

2.2.2 Định kiến về đồng tính: sự hợp thức hóa hệ thống lưỡng cực nhị phân giới và quan niệm dị tính chuẩn mực 58

Trang 5

CHƯƠNG 3 TỰ SỰ ĐỒNG TÍNH 64

3.1 Tự sự đồng tính qua sáng tác văn học nghệ thuật 64

3.1.1 Tự sự về dục cảm đồng tính và quá trình tự định vị bản thân 66

3.1.2 Tự sự về tình yêu, nỗi đau và khát khao giải phóng 68

3.1.3 Giải phóng ẩn ức qua văn học nghệ thuật 73

3.2 Tự sự đồng tính qua thực hành nghi lễ lên đồng 81

3.2.1 “Chuyển giới nhập đồng” và những câu chuyện cuộc đời của người đồng tính 81

3.2.2 Lên đồng : một dạng thức tự sự đặc thù 85

3.3 Tự sự đồng tính qua mạng xã hội 94

3.3.1 Người đồng tính và mạng xã hội 95

3.3.2 Không gian ảo, căn tính thực 98

3.3.3 Facebook cá nhân: cuốn nhật kí mở của những câu chuyện thường ngày 102

CHƯƠNG 4 TỪ ẨN ỨC ĐẾN TỰ SỰ: KIẾN TẠO BẢN SẮC, CỘNG ĐỒNG, QUYỀN LỰC VÀ NHỮNG THAM CHIẾU TỪ BỐI CẢNH VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 110

4.1 Từ ẩn ức đến tự sự: con đường kiến tạo bản sắc và cộng đồng 110

4.1.1 Kiến tạo và thể hiện bản sắc 111

4.1.2 Hình thành và phát triển cộng đồng 114

4.2 Tự sự đồng tính - một hình thức diễn ngôn kiến tạo quyền lực và những tham chiếu từ xã hội Việt Nam đương đại 119

4.2.1 Đại tự sự dị tính và các tiểu tự sự đồng tính: cuộc chiến cho chân lý và quyền lực 119

4.2.2 Những tham chiếu từ đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam đương đại 124 KẾT LUẬN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 170

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Bạn biết đấy, đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính hay chuyển giới cũng đều là con người” 1

Ở Việt Nam, đồng tính luyến ái không được biết đến nhiều cho tới khoảng mươi năm trở lại đây Trong xã hội Việt Nam - một xã hội phụ hệ, trọng nam, chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc đang trong quá trình chuyển mình từ truyền thống sang hiện đại, những người đồng tính bị xem là thành phần thiểu số dị biệt Việc chưa phổ biến những thông tin khoa học, chưa truyền tải sâu rộng tiếng nói của người trong cuộc cùng với sự bảo thủ của những quy phạm truyền thống đã làm nảy sinh và nuôi dưỡng những định kiến, kì thị, phân biệt đối xử đối với cộng đồng thiểu số tính dục Sự định kiến, kì thị này thể hiện từ đa dạng các loại diễn ngôn: diễn ngôn y tế, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn pháp luật, diễn ngôn truyền thông,… cho đến các hành vi xã hội Bằng những cách thức đó, xã hội đã ngoài lề hóa những người

1

Judith Light: một diễn viên nổi tiếng người Mỹ, một nhà hoạt động xã hội vì quyền của cộng đồng LGBT Nguyên gốc câu nói của bà là: “You know, gay, lesbian, bisexual, trangender - people are people”

2 Đây là con số trung bình, trên thực tế tỉ lệ này có thể nhiều hơn

3 Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, năm 2016, dân số Việt Nam trong độ tuổi từ 15 trở lên là

Trang 7

đồng tính, biến họ thành “kẻ yếu”, khiến họ chất chứa nhiều ẩn ức, hoang mang, day dứt với bản sắc/căn tính của mình

Đối mặt với những vấn đề đặc thù đó, người đồng tính đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để đương đầu với những áp lực xã hội, giải phóng ẩn ức, khẳng định bản sắc và tăng quyền, trong đó tự sự được xem như một “vũ khí” đắc lực Việc tìm đến với không gian của văn học nghệ thuật, của lên đồng và mạng xã hội để trải lòng và kể câu chuyện cuộc đời mình chính là những phương thức tự sự điển hình của những thân phận bị ngoài lề hóa ấy

Trên phương diện học thuật, tự sự là một khái niệm trọng tâm của ngành nghiên cứu văn hóa Con người, dù muốn hay không, đều sống trong, bằng và với các tự sự Với tư cách là một thuật ngữ, tự sự được nhắc đến nhiều trong khoảng năm thập niên trở lại đây và mở ra một bước ngoặt quan trọng trong học thuật - “bước ngoặt tự sự” (narrative turn) Ở góc độ văn hóa, tự sự gắn liền với các vấn đề về bản sắc, cộng đồng, quyền lực - những vấn đề căn bản

và nóng hổi tính thời sự của cuộc sống hôm nay Bởi vậy, nghiên cứu (phương thức) tự sự ở những người đồng tính sẽ giúp chúng ta thêm thấu hiểu những góc khuất cũng như những vấn đề then chốt ở nhóm thiểu số tính dục này, đồng thời qua đó, hiểu hơn về những dòng chảy phức hợp, những xu thế vận động đa chiều trong lòng xã hội Việt Nam đương đại

Khi những định kiến, kì thị, phân biệt đối xử với người đồng tính vẫn tồn tại và tác động tiêu cực đến đời sống người đồng tính nói riêng và sự tiến

bộ của toàn xã hội nói chung thì việc đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản về đối tượng này là một trong những việc làm rất quan trọng Vì vậy, chúng tôi tin

rằng đề tài luận án Người đồng tính trong xã hội Việt Nam đương đại: từ ẩn

ức đến tự sự có tính cấp thiết cao trong bối cảnh Việt Nam hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu con đường từ ẩn ức đến

tự sự của người đồng tính: tìm hiểu xem các phương thức tự sự (cụ thể là qua

Trang 8

sáng tác văn học nghệ thuật, qua thực hành nghi lễ lên đồng và qua mạng xã hội) đóng vai trò như thế nào trong việc giúp người đồng tính phản kháng lại những áp chế của xã hội, giải phóng ẩn ức, kiến tạo bản sắc và tăng quyền trong bối cảnh đặc thù của xã hội Việt Nam đương đại

Để thực hiện mục đích đặt ra, chúng tôi hướng nghiên cứu của mình vào việc tập trung trả lời các câu hỏi cụ thể sau:

- Ẩn ức căn bản, đặc thù của người đồng tính là gì và ẩn ức ấy bắt nguồn

từ những căn nguyên/điều kiện văn hóa, xã hội nào?

- Để giải quyết vấn đề ẩn ức của bản thân, người đồng tính đã sử dụng những phương thức tự sự điển hình nào?, Tại sao tự sự lại là một phương thức hiệu quả trong nỗ lực giải phóng ẩn ức?

- Các phương thức tự sự đó giúp người đồng tính phản kháng lại những

áp chế xã hội, kiến tạo bản sắc và quyền lực như thế nào?

- Quá trình từ ẩn ức đến tự sự ở người đồng tính phản ánh những gì về đời sống văn hóa xã hội Việt Nam đương đại?

Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

- Thu thập, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về người đồng tính ở Việt Nam và về chiến lược phản kháng của các nhóm ngoài lề, trong đó

có người đồng tính

- Phân tích các trải nghiệm, trạng thái tâm lí, biến cố đáng chú ý trong cuộc đời của người đồng tính để nhận diện ẩn ức căn bản ở họ, đồng thời phân tích các căn nguyên văn hóa, xã hội đã sản sinh ra ẩn ức ấy

- Phân tích các tác phẩm văn học nghệ thuật của/về người đồng tính (cụ thể là những tự truyện, truyện ngắn, phim, ca khúc, vở kịch, tranh ảnh… về đề tài đồng tính), phân tích thực hành nghi lễ lên đồng ở những thanh đồng là

Trang 9

người đồng tính và các tài khoản facebook cá nhân của những người đồng tính để làm rõ các phương thức tự sự đặc thù ở nhóm người này

- Phân tích các tự sự đồng tính trong với mối quan hệ với những vấn đề bản sắc, cộng đồng, quyền lực và trong sự liên hệ với các điều kiện văn hóa,

xã hội Việt Nam đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là ẩn ức và tự sự (của/về) người đồng tính

- Khách thể nghiên cứu của luận án là những người đồng tính

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu là ẩn ức của người đồng tính, chúng tôi tìm hiểu câu chuyện cuộc đời của 15 người đồng tính (11 người đồng tính nam, 4 người đồng tính nữ) trong độ tuổi 19 - 50 Chúng tôi tập trung vào đặc điểm tính cách, sở thích, thói quen, các mối quan hệ gia đình, xã hội và những sự biến quan trọng trong cuộc đời của họ Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện từ năm 2014 đến cuối năm 2017 tại Hà Nội

Với đối tượng nghiên cứu là các (phương thức) tự sự đặc thù của người đồng tính mà cụ thể ở đây là qua sáng tác văn học nghệ thuật (1), qua thực hành nghi lễ lên đồng (2) và qua các hoạt động trên mạng xã hội (3), chúng tôi đi sâu phân tích các loại văn bản tự sự Đối với phương thức tự sự thứ nhất, chúng tôi khảo sát các tác phẩm văn học nghệ thuật về người đồng tính, nhưng tập trung vào các tác phẩm đương đại được công bố từ khoảng năm

2000 trở lại đây Với phương thức tự sự thứ hai, chúng tôi quan sát và phân tích các màn trình diễn lên đồng Quá trình quan sát tham dự này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2015 - 2017 tại Hà Nội, Thanh Hóa Với phương thức tự sự thứ ba, chúng tôi tiến hành khảo sát 100 tài khoản

Trang 10

facebook cá nhân của người đồng tính trong khoảng thời gian hai năm 2017 -

2018

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi xác định đây là một nghiên cứu định tính Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính sau:

- Phương pháp phân tích văn bản: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 3 (Tự sự đồng tính) Chúng tôi xem mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài đồng tính, mỗi câu chuyện tự thuật được chia sẻ trên mạng xã hội, thậm chí mỗi màn trình diễn lên đồng đều là một văn bản tự sự Trong quá trình phân tích, chúng tôi chú ý đến tính “liên văn bản” (inter-textuality) của các tự sự Julia Kristeva, trong bài viết “Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết” (Word, Dialogue and Novel), cho rằng: “bất kì văn bản nào cũng được cấu trúc như một bức khảm các trích dẫn; là sự hấp thụ và biến đổi các văn bản khác Nó không phải là một khách thể mang tính cá nhân, cô lập, tự trị mà là sản phẩm của một sự biên tập văn bản văn hóa - lịch sử” [132, tr 37] Còn với Roland Barthes, văn bản là “một tấm lụa, được dệt từ vô số trung tâm văn hóa khác nhau”, “một không gian đa chiều kích” [57, tr 146] Được gợi ý từ những quan điểm trên, chúng tôi đặt các văn bản tự sự này trong sự kết nối, chuyển hoán, tương tác với các văn bản khác (ví dụ, đặt tự truyện “Bóng” trong mối quan hệ với tiểu sử của tác giả, với hoàn cảnh ra đời của nó, với bối cảnh văn hóa xã hội đương thời, với các văn bản, diễn ngôn trước đó về đồng tính luyến ái,…) Vì vậy, chúng tôi không chỉ phân tích các văn bản này trên các phương diện: nội dung phản ánh (câu chuyện nào được

kể, những vấn đề nào được đề cập, những thông điệp nào được truyền tải…), phương thức phản ánh (bằng ngôn ngữ nghệ thuật, thực hành tín ngưỡng hay phương tiện truyền thông…), mà còn tìm hiểu các mã văn hóa được gài vào

Trang 11

trong các văn bản tự sự để từ đó hiểu rõ hơn về những gì đang diễn ra trong lòng xã hội Việt Nam…

- Phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố về cuộc đời của những người đồng tính Phương pháp này chủ yếu được thực hiện ở chương 2 (Ẩn

ức đồng tính) và chương 3 (Tự sự đồng tính)

Ẩn ức là một hiện tượng tâm lý đặc thù ở người đồng tính được sản sinh

ra từ những áp chế xã hội Để tìm hiểu sâu hơn về ẩn ức này, chúng tôi đã tiến hành các phỏng vấn bán cấu trúc, vừa có tính định hướng vừa có độ mở cao với 15 người đồng tính đến từ nhiều vùng miền khác nhau, có nguồn gốc xuất thân, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân, độ tuổi, giới tính khác nhau Phương pháp phỏng vấn này giúp chúng tôi có cái nhìn tương đối bao quát về cuộc đời của các đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, trong cái nhìn bao quát đó, từ quan niệm như trên về ẩn ức, chúng tôi đặc biệt chú ý đến đặc điểm tính cách, sở thích, thói quen, sở trường, sở đoản, thị hiếu, thẩm mĩ, các mối quan hệ gia đình, xã hội, các sự kiện, biến cố mang tính bước ngoặt trên những chặng đường đời của các đối tượng nghiên cứu

Tương tự như vậy, ở chương 3, khi tìm hiểu về thực hành lên đồng ở những người đồng tính, chúng tôi ngoài việc sử dụng phương pháp quan sát tham dự (sẽ trình bày ở dưới), cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu, hồi cố

về những mối quan hệ đặc biệt, những biến cố mang tính dấu mốc để có thể hiểu hơn về tiểu sử cuộc đời của đối tượng nghiên cứu, qua đó, lý giải động

cơ vì sao họ tìm đến với lên đồng và diễn dịch những tự sự mà họ đã tạo ra qua việc thực hành nghi lễ này Ngoài ra, chúng tôi cũng cố gắng thu thập thêm các thông tin về đối tượng nghiên cứu trong phạm vi và khả năng của mình thông qua những buổi trò chuyện với các con nhang đệ tử, những người thân, bạn bè của các thầy đồng và thông qua việc tìm hiểu các hoạt động trên mạng xã hội của họ Để lý giải các phương thức tự sự qua sáng tác văn học

Trang 12

nghệ thuật và qua mạng xã hội có vai trò như thế nào trong việc giúp người đồng tính xoa dịu ẩn ức, chúng tôi cũng phỏng vấn sâu một số tác giả và chủ tài khoản facebook là người đồng tính

- Quan sát tham dự: Phương pháp này được sử dụng ở mục 3.3 của chương 3 Để diễn giải ý nghĩa của hoạt động đồng cốt ở một số lượng đáng

kể những người đồng tính, chúng tôi đã tham dự 10 vấn hầu của 7 thanh đồng trong khoảng thời gian từ năm 2015 - 2017 Trong số 7 thanh đồng này có 5 người là đồng tính nam, và 2 người là đồng tính nữ Người có thâm niên hầu đồng lâu nhất là 13 năm và ít nhất là 1 năm Phương pháp này giúp cho chúng tôi quan sát tỉ mỉ hoạt động đồng cốt ở những người đồng tính: từ không khí, quang cảnh buổi lễ cho đến hành động, cử chỉ, sự chuyển biến các sắc thái tâm lí của thanh đồng và phản ứng cộng hưởng của các con nhang đệ tử, đồng thời cho phép chúng tôi được trải nghiệm các trạng thái, cung bậc cảm xúc của một người dự lễ Trong quá trình tham dự, chúng tôi luôn ý thức rằng các thanh đồng trước hết là những người đồng tính, nên luôn hướng sự quan sát của mình gắn với các vấn đề văn hóa tính dục của đối tượng nghiên cứu

- Ngoài ra, để hỗ trợ cho những diễn giải, bàn luận của mình, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Là công trình đầu tiên ở Việt Nam tập trung vào vấn đề ẩn ức của người đồng tính trong mối liên hệ với (các phương thức) tự sự;

- Khẳng định tính kiến tạo xã hội của ẩn ức bằng việc diễn giải các căn

nguyên văn hóa - xã hội chính yếu và đặc thù đã hình thành và nuôi dưỡng ẩn

ức ở người đồng tính;

- Khám phá các phương thức tự sự đặc thù ở những người đồng tính và khẳng định ý nghĩa phản kháng văn hóa (cultural resistance) của chúng;

Trang 13

- Khám phá những chiều kích của xã hội đương đại Việt Nam từ góc

nhìn tính dục, ẩn ức và tự sự của người đồng tính

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lí luận

Ý nghĩa lý luận của luận án được thể hiện trên hai phương diện:

Thứ nhất, bằng việc chứng minh tự sự như một phương thức phản kháng các áp chế xã hội, luận án đóng góp quan điểm học thuật vào cuộc tranh luận

về chiến lược phản kháng của người đồng tính nói riêng và của các nhóm bị ngoài lề hóa nói chung

Thứ hai, cũng thông qua việc tranh luận rằng tự sự là phương thức giải phóng ẩn ức ở người đồng tính, luận án đóng góp vào lý thuyết về chức năng

và ý nghĩa của tự sự từ góc nhìn văn hóa

- Ý nghĩa thực tiễn

Qua việc nghiên cứu các phương thức tự sự và vai trò của nó trong việc giúp người đồng tính phản kháng lại các áp chế xã hội, từ đó, góp phần giải phóng ẩn ức, luận án cung cấp thêm kiến thức về một mảng vấn đề chưa được quan tâm nhiều trong xã hội Việt Nam hiện nay Với ý nghĩa đó, luận án là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học và những ai quan tâm đến vấn đề đồng tính nói riêng và văn hóa tính dục nói chung

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Ẩn ức đồng tính

Chương 3: Tự sự đồng tính

Chương 4: Từ ẩn ức đến tự sự: kiến tạo bản sắc, cộng đồng, quyền lực và

những tham chiếu từ bối cảnh Việt Nam đương đại

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về đồng tính ở Việt Nam

1.1.1.1 Những nghiên cứu về định kiến, kì thị và phân biệt đối xử đối với

người đồng tính nói riêng và cộng đòng LGBT nói chung

Tiêu biểu cho mảng chủ đề này là các nghiên cứu mang tính can thiệp của các tổ chức phi chính phủ trong đó iSEE được xem là tổ chức hoạt động tích cực và có nhiều thành quả hơn cả Các nghiên cứu của iSEE được thực

hiện từ năm 2010 đến 2016 như Tổng quan về kì thị với người LGBT [30], Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên một số báo in và báo mạng [19], Báo cáo kết quả ban đầu từ khảo sát nữ yêu nữ [50], Thực trạng trẻ em đường phố LGBT [17], Người đồng tính, song tính và chuyển giới ở Việt Nam Tổng luận các nghiên cứu [33], “Có phải bởi vì tôi là LGBT?”: phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam

[13],… đã phân tích những chiều cạnh của định kiến và kì thị đối với người đồng tính: trên phương diện học thuật và trong các tài liệu chính thống là việc phổ biến những kiến thức sai lệch về người đồng tính; trên phương diện truyền thông và kiến tạo dư luận xã hội là sự khắc họa phiến diện và mô tả lệch lạc chân dung người đồng tính, xem người đồng tính có bản năng tình dục khác thường, có lối sống phóng túng, nhiều hiểm họa, có nhân cách - đạo đức phần nhiều là không tốt…; trên phương diện thái độ xã hội là những quan niệm cực đoan của xã hội, cho đồng tính là một loại bệnh lý, cần được điều trị

và xem đồng tính là mối họa đối với thiết chế hôn nhân tryền thống… Ngoài các nghiên cứu của iSEE, về chủ đề định kiến đối với người đồng tính, còn có

Trang 15

nghiên cứu của USAID và UNDP [53], Khuất Thu Hồng và cộng sự [131], [11], Vũ Mạnh Lợi và cộng sự [195], Phạm Thu Hoa và Đồng Thị Yến [9]

1.1.1.2 Những nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe, HIV trong cộng đồng thiểu số tính dục, đặc biệt là nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

Đáng chú ý trong mảng chủ đề này là các nghiên cứu của Khuất Thu Hồng [130], Ngo Duc Anh và cộng sự [155], Vũ Ngọc Bảo và P Girault [1],… Các nghiên cứu này chủ yếu cung cấp hiểu biết về tình dục đồng giới nam (MSM) ở Việt Nam, dịch tễ học về HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM cũng như bối cảnh xã hội liên quan tới các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM Các nghiên cứu cho thấy MSM ở Việt Nam bao gồm các nhóm nhỏ mang những chân dung khác nhau như: bóng kín, bóng lộ, mại dâm nam và nam "ẩn" Những đối tượng này đối mặt với các nguy cơ lây nhiễm HIV từ nhiều nguyên nhân, như không nhận thức được các nguy cơ tiềm tàng và các biện pháp dự phòng HIV, ít được tiếp cận với các dịch vụ và phương tiện phòng chống HIV/AIDS Các nghiên cứu này cũng đưa ra các khuyến nghị về chính sách và chương trình nhằm công nhận sự tồn tại của MSM và nhu cầu cần thiết phải thực hiện các chương trình dự phòng HIV ở cấp quốc gia nhằm giảm thiểu lây nhiễm HIV trong nhóm này

1.1.1.3 Những nghiên cứu về đồng tính từ góc nhìn kiến tạo xã hội

Theo những tư liệu chúng tôi có được, nghiên cứu đầu tiên về đồng tính

ở Việt Nam có nhan đề “Eunuch mandarins, soldats mamzelles, effeminate boys and graceless women: French colonial contructions of Vietnamese genders” [Quan thái giám, những người lính nữ tính, các chàng trai ẻo lả và những phụ nữ kém duyên: Cấu trúc giới ở Việt Nam thời Pháp thuộc] của tác

giả Frank Proschan [163] công bố trên Tạp chí Gay and Lesbian Quarterly số

8 năm 2002 Theo Proschan, đồng tính chưa bao giờ bị coi là phạm pháp ở

Trang 16

Việt Nam trong thời Pháp thuộc và kể cả trong các giai đoạn lịch sử trước đó Ông dẫn chứng các bộ luật Hồng Đức (thời Lê) và Gia Long (thời Nguyễn) có các hình phạt đối với tội hiếp dâm, cưỡng dâm, ngoại tình và loạn luân (giữa hai người khác giới) nhưng không nhắc tới quan hệ đồng giới Tuy nhiên, việc đàn ông ăn mặc quần áo phụ nữ, thiến và tự thiến bị coi là phạm pháp Trong thời Pháp thuộc, kê gian và đồng dâm nam cũng không hề bị cấm Không chỉ

ở Việt Nam mà ở cả các thuộc địa khác, chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính

Cũng từ góc nhìn kiến tạo luận, bài viết “Social contruction of male homosexualities in Vietnam” [Kiến tạo xã hội những người đồng tính nam ở Việt Nam] của M.E Blanc [65] xem xét đồng tính trong bối cảnh chuyển đổi của văn hóa Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại Tác giả cho rằng, quan

hệ đồng tính ít được biết đến vì nó bị coi là vô đạo đức trong hệ tư tưởng Nho giáo và là mối đe dọa các giá trị của gia đình truyền thống Việt Nam Cũng theo Blanc, khái niệm đồng tính luyến ái ở Việt Nam chưa tồn tại một cách rõ ràng vì các thực hành tính dục thay đổi rất nhanh trong vòng một thế kỉ qua

và tiếng Việt vẫn còn đang thích ứng với thực tế mới này

Năm 2009, nhóm tác giả Khuất Thu Hồng, Lê Bạch Dương, Nguyễn

Ngọc Hưởng ra mắt cuốn sách Tình dục trong xã hội Việt Nam đương đại Chuyện dễ đùa khó nói [11] Cuốn sách dành ra một chương (khoảng 50

trang) để bàn về tình dục đồng giới với các nội dung: thuật ngữ - khái niệm, tóm tắt lịch sử của tình dục đồng giới ở Việt Nam, các diễn ngôn và cội nguồn của sự ám ảnh, kì thị về tình dục đồng giới Những nội dung này được tiếp cận từ góc độ kiến tạo xã hội của tình dục

1.1.1.4 Những nghiên cứu về vấn đề đồng tính qua các tác phẩm văn học

Nghiên cứu về đề tài đồng tính qua văn chương, đáng chú ý, có các bài viết sau: “Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị của dục cảm

Trang 17

đồng tính trong văn chương Việt Nam từ và về thời Pháp thuộc” của Nguyễn Quốc Vinh [51] trên trang mạng talawas.org, “Đáp lời con quái Sphinx hay

ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu” trong sách Bút pháp của ham muốn của

Đỗ Lai Thúy [48] và “Văn học đồng tính ở Việt Nam - từ các hình thức ngụy trang đến các tự thuật thú nhận” của Trần Ngọc Hiếu [8] Dù có những khác nhau về đối tượng khảo sát nhưng điểm chung của các nghiên cứu trên là dựa trên thuyết đồng tính (queer theory - có người dịch là thuyết lệch pha), các nghiên cứu chỉ ra rằng các tác phẩm văn học chính là nơi ngụy trang hay tự thú của những dục cảm đồng tính và việc sáng tác văn học là cách để những nghệ sĩ-đồng tính tự cởi trói cho chính mình

1.1.1.5 Những nghiên cứu về vấn đề bản sắc ở người đồng tính và phong trào xã hội

Đáng chú ý trong mảng chủ đề này là các nghiên cứu của Norton [27], [156], P Horton [121], H Rydstrom và cộng sự [174], Doan Bao Chau [90], Mai Thị Hạnh [7], Phạm Quỳnh Phương [37], [38], [39], [40]… Norton [28], [156] nghiên cứu sự trình diễn bản sắc/căn tính của những người đồng tính qua một thực hành tín ngưỡng, cụ thể là lên đồng Qua việc khảo sát lễ nhạc (ở hoạt động đồng cốt) trong mối quan hệ với các vai trò giới, Norton [28], [156] lập luận rằng: việc biểu diễn nhạc lễ có tầm quan trọng thiết yếu đối với việc hoán đổi vai trò giới trong quá trình lên đồng Những đặc điểm giới của các vị thần linh được xác định không chỉ thông qua trang phục nghi lễ và hành động của các thầy đồng, mà còn thông qua việc sử dụng các làn điệu chầu văn và những ca từ riêng dành cho các vị nam thần và nữ thần, tiêu biểu cho các đặc điểm “giống đực” và “giống cái” Việc hoán chuyển giới trong quá trình nhập thần cho phép cả những thầy đồng nam lẫn nữ vượt qua những đường phân định về giới, phá vỡ những đặc điểm giới truyền thống, giúp căn tính của họ được lộ diện

Trang 18

Trong khi đó, Horton [121] và Rydstrom cùng các cộng sự [174] lại đề cập đến sự “hữu hình hóa” người đồng tính trong mối liên hệ với các phong trào xã hội và các chiến lược thương thảo Trong bài viết “'I thought I was the only one': the misrecognition of LGBT youth in contemporary Vietnam” [Tôi

đã nghĩ rằng mình là người duy nhất: nhận thức sai lầm về giới trẻ LGBT trong xã hội Việt Nam đương đại], Horton đã chỉ ra rằng những cuộc diễu hành vì quyền của LGBT và các cuộc thảo luận về hôn nhân đồng giới đã đẩy vấn đề đồng tính luyến ái lên vị trí trung tâm những năm gần đây Dựa trên các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc những người đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính ở Hà Nội, bài viết đã chứng minh khả năng hiển thị ngày càng tăng của đồng tính luyến ái và nhấn mạnh những tác động tiêu cực tiềm ẩn của những nhận thức sai lầm về cộng đồng thiểu số tính dục này Bên cạnh đó, H Rydstrom và các cộng sự trong bài viết “Contesting heteronormativity: the fight for lesbian, gay, bisexual and transgender recognition in India and Vietnam” [Thách thức quan niệm dị tính chuẩn mực: cuộc chiến cho sự công nhận LGBT ở Ấn Độ và Việt Nam] cũng chỉ ra rằng các cuộc tranh luận công khai gần đây về tình dục ở Ấn Độ và Việt Nam đã đưa lại sự tăng quyền cho những người đồng tính, song tính và chuyển giới Trên cơ sở các nguồn tài liệu thứ cấp và điền dã dân tộc học được thực hiện tại Delhi và Hà Nội, nghiên cứu của nhóm tác giả Rydstrom cho thấy nỗ lực to lớn của các tổ chức

xã hội dân sự trong công cuộc đấu tranh vì quyền của cộng đồng LGBT Bài viết cũng xem xét sự thương lượng của những tổ chức này với chính phủ sở tại Đại dịch HIV đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho người đồng tính

và là nguyên nhân gây ra những định kiến, kì thị, nhưng trớ trêu thay, cũng chính đại dịch này lại là “điểm đến chiến lược” của các tổ chức xã hội dân sự,

mà qua đó sự hiện diện của những thân phận yếu thế này mới bắt đầu được thừa nhận

Trang 19

Về các phong trào xã hội của người LGBT, báo cáo của Doan Bao Chau [90] “Analysis communication strategy of I DO- LGBT campaign organised organised by iSEE” [Phân tích chiến lược truyền thông cuả chiến dịch I DO - LGBT do iSEE khởi xướng] đã trình bày về vai trò của iSEE - một tổ chức xã hội dân sự đấu tranh vì quyền của những nhóm thiểu số - thông qua những chiến lược truyền thông được sử dụng trong một chiến dịch cụ thể

Các công trình và bài viết của Phạm Quỳnh Phương tìm hiểu phong trào LGBT- một phong trào xã hội tính dục (sexual social movement), phong trào bản dạng (identity movement) như một nghiên cứu trường hợp “để khám phá những động năng xã hội Việt Nam hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hóa và qua đó chỉ ra sự vận hành của diễn ngôn, quyền lực, vai trò của truyền thông

và hệ tư tưởng, năng lực chủ thể của giới trẻ, tiếng nói của những “hành động tập thể” cũng như sự tăng quyền của cộng đồng thiểu số tính dục vốn ít có tiếng nói trong đời sống xã hội” [40, tr 7-8]

Tóm lại, các nghiên cứu kể trên xoay quanh một số vấn đề quan trọng về người đồng tính như: định kiến, kì thị và phân biệt đối xử với người đồng tính, các diễn ngôn xã hội về đồng tính, rào cản văn hóa cho người đồng tính, sức khỏe và những quyền căn bản của người đồng tính, các tổ chức dân sự và phong trào xã hội vì người đồng tính, bản sắc và tăng quyền cho người đồng tính Trong bức tranh tổng quan tình hình nghiên cứu về đồng tính ở Việt Nam như vậy, luận án của chúng tôi tìm hiểu về những tự sự của/về người đồng tính và xem nó như là một phương thức phản kháng các áp chế xã hội và một chiến lược giải phóng ẩn ức ở những người đồng tính - những thân phận

bị ngoài lề hóa trong bối cảnh Việt Nam đương đại

Trên cơ sở đó, chúng tôi đặt luận án của mình trong bối cảnh nghiên cứu

về chiến lược/phương thức phản kháng của các nhóm ngoài lề, trong đó có

Trang 20

nhóm thiểu số tính dục (LGBT) nói chung và tự sự của các nhóm ngoài lề và người đồng tính nói riêng

1.1.2 Những nghiên cứu về chiến lược phản kháng của các nhóm ngoài lề

Trong số các công trình nghiên cứu về các nhóm ngoài lề, chúng tôi chú

ý đến các nghiên cứu tìm hiểu về những phương thức phản kháng mà các nhóm này sử dụng nhằm chống lại các áp chế xã hội, để bước từ ngoại vi vào trung tâm, từ dòng ngầm (underground) nhập vào chính mạch (mainstream)

Trong cuốn sách nổi tiếng Vũ khí của kẻ yếu: các hình thức phản kháng hàng ngày [Weapons of the weak: everyday forms of resistance], J Scott

[180] đưa ra quan điểm cho rằng áp bức và kháng cự luôn ở trong một dòng chảy liên tục Nếu chỉ tập trung nghiên cứu các cuộc biểu tình, đảo chính, hay bạo động như các nhà khoa học chính trị thường làm thì chúng ta có thể dễ dàng bỏ lỡ những hình thức tinh tế nhưng mạnh mẽ của những “sự phản kháng hàng ngày” Khảo sát các xã hội nông thôn, Scott đặc biệt chú ý đến những phản ứng của người nông dân đối với sự thống trị của những kẻ cầm quyền Ông nhận thấy các cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy công khai của nông dân là rất hiếm và nếu có thì cũng không tạo ra nhiều ảnh hưởng Thay vì quan tâm đến những hình thức phản kháng “lộ”, ông chú ý nhiều hơn đến những hình thức phản kháng “ngầm”: từ trốn tránh, lôi kéo, bất tuân, giả vờ, ngụy trang, ăn trộm, trốn thuế,… cho đến sử dụng các thủ thuật ngôn ngữ, vu khống nặc danh, ngụy tạo tin đồn, lợi dụng nghi lễ… Theo ông, đó là những hình thức phản kháng khôn ngoan, tránh sự đối đầu trực tiếp, có khả năng che đậy ý thức hệ và đạt hiệu quả cao

Quan điểm của ông có sức ảnh hướng lớn đến các các nhà nghiên cứu sau này khi những tác phẩm của họ quan tâm nhiều hơn đến các phương thức phản kháng phi bạo lực và tinh tế của các nhóm yếu thế trong xã hội

Trang 21

1.1.2.1 Những nghiên cứu về chiến lược cất lên tiếng nói và khẳng định

và xây dựng, duy trì niềm tin vào một thể chế dân chủ

Cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tiếng nói và sự hiện diện, nhƣng Mitra [153] đặc biệt chú ý đến vai trò quan trọng của Internet Nghiên cứu

“Voices of the Marginalized on the Internet: Examples From a Website for Women of South Asia” [Tiếng nói của nhóm ngoài lề trên Internet: những ví

dụ từ một trang mạng vì phụ nữ ở Nam Á] của bà tìm hiểu những chiến lƣợc diễn ngôn và văn bản đƣợc sử dụng bởi một trang web, để qua đó hiểu hơn những hiệu quả/tác động của việc cất lên tiếng nói của nhóm ngoài lề trong không gian mạng Bài viết lập luận, với sự phát triển lớn mạnh của Internet, nhiều nhóm ngoài lề đã tận dụng tình hình đó để khẳng định sự xuất hiện của mình trong một không gian phi chính thống Internet đã thực sự mở ra một diễn đàn, một không gian độc đáo cho phép các cá nhân yếu thế, các nhóm nhóm ngoài lề đƣợc tự do phát ngôn, thể hiện âm sắc trong giọng nói của

Trang 22

mình Sự hiện diện của không gian mạng đã mở ra những câu hỏi và cả những

cơ hội về niềm tin, tính xác thực, quyền lực đối với các cá nhân cũng như các nhóm ngoài lề

1.1.2.2 Những nghiên cứu về chiến lược sử dụng truyền thông

Truyền thông là một phần quan trọng trong chiến lược/phương thức phản kháng của các nhóm ngoài lề (C Ryan và cộng sự [173], B Mehra và cộng sự [150], D Croteau và cộng sự [86], L.R Frey và cộng sự [104],…) Trong bài viết: “Media, movements, and the quest for social justice” [Phương tiện truyền thông, phong trào và sự tìm kiếm công bằng xã hội], nhóm tác giả C Ryan [173] xem xét những nỗ lực của các nghiên cứu truyền thông và các dự

án hành động nhằm hỗ trợ các nhóm ngoài lề trong việc sử dụng tin tức như một nguồn lực chính trị (political resource) Các phân tích nhấn mạnh rằng phương tiện truyền thông đóng vai trò là một “đấu trường” trong các phong trào xã hội nhằm tìm kiếm sự thay đổi chính trị và công bằng cho các nhóm yếu thế Còn Mehra và cộng sự [150] trong nghiên cứu “The internet for empowerment of minority and marginalized users” [Internet và sự trao quyền cho những người sử dụng thiểu số và ngoài lề] xuất phát từ khách thể nghiên cứu là các nhóm ngoài lề như: gia đình có thu nhập thấp, thiểu số tính dục và phụ nữ Mĩ gốc Phi, đặt trong bối cảnh văn hóa của thời đại kĩ thuật số đã chỉ

ra rằng các “thành viên thứ yếu” trong xã hội đã kết nối máy tính, Internet với các thực hành hằng ngày ra sao và điều đó tạo nghĩa cho cuộc sống của họ như thế nào Từ đó, Mehra lập luận rằng Internet là một tác tố có tiềm năng to lớn trong việc nâng cao công bằng xã hội cũng như trao quyền cho các cộng đồng bị ngoài lề hóa

1.1.2.3 Những nghiên cứu về chiến lược thương thảo, đàm phán

Một chiến lược đáng chú ý của nhóm ngoài lề được đề cập đến trong

nhiều nghiên cứu là sự thương thảo, đàm phán (C Valdivia và J Gilles [191],

Trang 23

Snow và Mulcahy [184],…) Công trình của Valdivia và Gilles [191] có tựa

đề “Gender and resource management: Households and groups, strategies and transitions” [Giới và quản lí tài nguyên: các hộ gia đình và các nhóm, chiến lược và sự dịch chuyển] là kết quả của một nghiên cứu về mối quan hệ giới và việc quản lí nguồn tài nguyên ở châu Á, châu Phi, Bắc Mĩ và Mĩ latinh vào thập niên cuối của thế kỉ trước Trước sự biến động về dân số và sự chuyển dịch trong cơ cấu nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân trở nên bị ngoài lề hóa và trong các hộ gia đình này, tiếng nói của phụ nữ thường bị bỏ qua Liên tục đàm phán, thương lượng là chiến lược mà các hộ gia đình nông dân sử dụng để đảm bảo sinh kế, để có cơ hội tiếp cận các nguồn tài nguyên, thị trường và tri thức

Trong khi đó, công trình “Space, Politics, and the Survival Strategies of the Homeless” [Không gian, chính trị và những chiến lược sống của người vô gia cư] của Snow và Mulcahy [184] nghiên cứu mối quan hệ giữa không gian

đô thị và chiến lược của người vô gia cư thông qua việc khảo sát dữ liệu từ các tờ báo địa phương ở một thành phố phía Tây Nam nước Mĩ trong những năm từ 1992 đến 1997 Trong quá trình ứng phó với những thách thức và đàn

áp xã hội, người vô gia cư đã cho thấy sự hiện tồn của một không gian xã hội năng động Việc kiến tạo nên không gian này chính là chiến lược thích ứng và

phản kháng hằng ngày của những thân phận yếu thế Đây cũng được xem là cách đàm phán của nhóm người này với những hạn chế về không gian cũng

như những áp chế xã hội mà họ phải đối mặt

1.1.2.4 Những nghiên cứu về chiến lược sử dụng và đầu tư vốn xã hội

Một số nghiên cứu lại quan tâm đến việc sử dụng và đầu tư vốn xã hội như là một chiến lược của các nhóm ngoài lề (P Chaney [77], Htun [122], Nguyễn Vũ Hoàng [10]…) Đáng chú ý là bài viết “Social Capital and the Participation of Marginalized Groups in Government: A Study of the

Trang 24

Statutory Partnership Between the Third Sector and Devolved Government in Wales” [Vốn xã hội và sự tham gia các nhóm ngoài lề trong chính phủ: một nghiên cứu về sự hợp danh giữa khu vực thứ ba và chính quyền phân cấp] của

tác giả Paul Chaney [77] Hơn một thập kỉ sau, chiến lược đó đã được nhắc lại

và được phân tích kĩ hơn qua trường hợp các nhóm ngoài lề ở Bolivia trong công trình “Political inclusion of marginalized groups: indigenous reservations and gender parity in Bolivia” [Hòa nhập chính trị của các nhóm ngoại vi: những hạn chế mang tính bản địa và sự bình đẳng giới ở Bolivia] của Htun [114] Tập trung vào trường hợp của Bolivia, nghiên cứu này phân tích khi nào và tại sao các nhóm ngoài lề có thể tiếp cận được với quyền lực chính trị Bài viết đối chiếu, so sánh thực tế hành động, diễn biến và kết quả ở hai nhóm ngoài lề: phụ nữ và dân bản địa Điều thú vị và đáng ngạc nhiên là mặc dù chính phủ người bản địa lên nắm quyền vào đầu năm 2006 nhưng phong trào xã hội của người bản địa lại yếu hơn hẳn và không đem lại kết quả như mong đợi so với phong trào xã hội của cộng đồng phụ nữ Điều gì giải thích cho kết quả có vẻ nghịch lí này? Ở đây, đoàn kết là một thành-tựu-chính-trị Phụ nữ Bolivia đã sử dụng vốn xã hội như một chiến lược quan trọng trong phong trào xã hội Trong khi phụ nữ đã vượt qua những chia rẽ nội bộ (về sắc tộc, về thành phần xã hội, về nguồn gốc…) để vận động cho sự bình đẳng giới, thì phong trào dân bản địa thất bại bởi vẫn còn loay hoay trong sự chia rẽ tự thân

1.1.3 Những nghiên cứu về chiến lược phản kháng của cộng đồng thiểu

Trang 25

ảnh, lo sợ đồng tính (homophobia) Những chiến lược nào đã được nhóm thiểu số tính dục lựa chọn và sử dụng để phản kháng lại chủ nghĩa dị tính, qua

đó khẳng định sự hiện diện của mình chính là câu hỏi thu hút sự quan tâm của các tác giả Harbeck [115], Sear và Williams [181], Bell và cộng sự [60],…

Công trình Coming out of the classroom closet: Gay and lesbian students, teachers, and curricula [Bước ra từ tủ kín: các giáo viên, sinh viên đồng tính

và chương trình giảng dạy] của Harbeck [115] sau khi công bố đã tạo ra một

cú huých trong việc trao quyền cho các nhà giáo dục để họ trở nên “hữu hình”

và đóng vai trò hình mẫu cho các sinh viên đồng tính Khi hầu hết các nhà giáo dục và các sinh viên đồng tính vẫn là những thực thể “vô hình” do những định kiến, kì thị và thù địch từ xã hội, khi sự công khai bản dạng tính dục vẫn

là điều cấm kị thì cuốn sách này rất có giá trị trong việc phá vỡ sự im lặng

trong môi trường học đường Trong khi đó, công trình Overcoming heterosexism and homophobia: Strategies that work [Vượt qua chủ nghĩa dị

tính và nỗi lo sợ đồng tính: Những chiến lược khả thi] của Sears và Williams [181] lại cung cấp những ý tưởng và chiến lược khẳng định sự đa dạng bản sắc, đấu tranh với chủ nghĩa dị tính và nỗi lo sợ đồng tính trong các thiết chế

xã hội như: giáo dục, chính trị, truyền thông Tư duy phản biện, khát vọng lật đổ chủ nghĩa dị tính, nỗ lực “come out” (công khai bản dạng/xu hướng tính dục) cùng sự gắn bó mật thiết với với cộng đồng là những nhân tố quan trọng trong quá trình hòa nhập

Việc đối phó với chủ nghĩa dị tính cũng được đề cập đến trong nghiên cứu “Voice, silence, and diversity in 21st century organizations: Strategies for inclusion of gay, lesbian, bisexual, and transgender employees” [Tiếng nói, sự

im lặng và sự đa dạng trong các tổ chức ở thế kỉ XXI: Các chiến lược hòa nhập của những người lao động đồng tính, song tính và chuyển giới] của Bell

và cộng sự Cộng đồng người lao động đồng tính, song tính, chuyển giới

Trang 26

(LGBT) được xem như một trong các nhóm thiểu số vô hình (invisible

minorities) Là nhóm thiểu số vô hình, tiếng nói của những người lao động

LGBT luôn bị gạt bỏ và rơi vào im lặng bởi những thứ được coi là “bình thường” tại nơi làm việc Từ chỗ đứng đó, cộng đồng thiểu số này cung cấp một căn cứ để xem xét cơ chế phát ngôn của người lao động Bell đã chỉ ra những hậu quả của sự ngoài lề hóa và đồng thời đề xuất các phương thức để tiếng nói của những người lao động LGBT được lắng nghe Chiến dịch

“Don‟t ask, don‟t tell” (Không hỏi, không nói) của quân đội Mĩ được sử dụng như một lăng kính, để thông qua đó, phân tích tiếng nói cũng như sự im lặng của người lao động LGBT trong các tổ chức nghiệp đoàn Chủ nghĩa dị tính

có thể thúc đẩy sự im lặng khi tồn tại một cảm giác rằng nói lên là vô ích và đầy hiểm họa

1.1.3.2 Những nghiên cứu về chiến lược khẳng định, kiểm soát và quản trị bản sắc/căn tính phi dị tính

Hình thức phản kháng thông qua việc khẳng định, kiểm soát và quản trị bản sắc/căn tính phi dị tính được đề cập đến trong các nghiên cứu của (Chrobot-Mason và cộng sự [78], Griffin [110], Valentine [192], Cox và Gallois [85], Berstein [63],…) Nhóm tác giả Chrobot-Mason, Button và DiClementi [78] cho thấy những người lao động đồng tính rất có ý thức trong việc đưa ra quyết định có hay không tiết lộ bản dạng tính dục của mình tại nơi làm việc Trong khi các nghiên cứu trước chỉ ra rằng các nhân viên đồng tính thường sử dụng các chiến lược khác nhau như “đóng vai”, “né tránh” và “tích hợp” để kiểm soát một bản sắc tính dục bị kì thị, nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa từng chiến lược nói trên với các yếu tố như: ý thức và sự thỏa mãn về bản sắc tính dục, các hệ lụy liên đới… Kết quả chỉ ra những người lao động đồng tính có nhiều khả năng sử dụng chiến lược tích hợp khi họ có nhận thức sâu sắc và mạnh mẽ hơn về căn tính của mình

Trang 27

Đặt trong bối cảnh của lí thuyết dán nhãn đương đại và phê bình nữ quyền, Griffin [110] mô tả các chiến lược kiểm soát bản sắc tính dục được sử dụng bởi các nhà giáo dục đồng tính Tham gia vào nghiên cứu này là 13 nhà giáo dục tự xác định là đồng tính Họ được phỏng vấn về những trải nghiệm của mình với tư cách là một nhà giáo dục đồng tính Những người tham gia đã chọn các chiến lược quản trị bản sắc: (a) bỏ qua, (b) che giấu, (c) công khai ngầm, và (d) công khai rõ ràng

Gill Valentine [192] lại đề cập đến sự thương thỏa giữa các loại bản sắc tính dục như một chiến lược hòa nhập và phản kháng ở đối tượng đồng tính

nữ Tác giả lập luận, bản chất của cộng đồng dân cư đồng tính (gay residential communities) được giới học thuật quan tâm đáng kể, đặc biệt là cách những biểu hiện mở của bản sắc tính dục đồng tính tác động đến đặc điểm không gian ở cấp độ địa phương Tuy nhiên, mặc cảm hay ám ảnh là người đồng tính đã khiến họ kìm hãm hoặc che giấu xu hướng và bản dạng tính dục của mình ở những thời điểm và nơi chốn khác nhau Nghiên cứu này tìm hiểu cách những người đồng tính nữ đương đầu với sự thù địch và phân biệt đối xử thông qua sự đàm phán, thương lượng giữa các loại bản sắc đối nghịch Tuy nhiên sự giằng xé phức tạp giữa bản sắc thực với những bản sắc

hư cấu là nguyên nhân dẫn đến những xung đột nội tại mãnh liệt Do đó, sự cân nhắc toan tính và thương lượng được đưa ra như một lựa chọn mà những người đồng tính nữ sử dụng để giải quyết mâu thuẫn này Cũng quan tâm đến vấn đề căn tính, Cox và Gallois [85] khảo sát mô hình phát triển bản sắc đồng tính từ điểm tựa của lí thuyết bản sắc xã hội Các tác giả cho rằng các quan điểm về phát triển bản sắc đồng tính đều tập trung vào các quá trình tâm lí cá nhân nên một sự thay đổi cách tiếp cận từ góc độ tâm lí xã hội là cần thiết Theo đó, sự phát triển bản sắc đồng tính có cơ sở từ thực tiễn xã hội, chịu sự chi phối bởi yếu tố tâm lí xã hội cũng như bối cảnh văn hóa - lịch sử Trong

Trang 28

khi đó, Berstein [63] phát triển ý tưởng về sự triển khai bản sắc (identity deployment) như một hành động tập thể mang tính chiến lược Một so sánh những chiến lược được sử dụng trong các chiến dịch về quyền của người đồng tính cho thấy rằng sự tương tác giữa các tổ chức phong trào xã hội, các nhân vật chính trị, và các nhóm đối lập đã xác định nên các loại bản sắc được triển khai

1.1.4 Các nghiên cứu về tự sự của các nhóm ngoài lề và người đồng tính

1.1.4.1 Những nghiên cứu về tự sự như một chiến lược hình thành, phát

Bài viết của Hall [112] khám phá những góc khuất trong đời sống của nhóm khuyết tật học vấn thông qua việc diễn giải các tự sự của họ Bài viết cũng cho thấy họ đã bị loại trừ như thế nào và tìm cách hòa nhập xã hội từ vị trí của kẻ ngoài lề ra sao Ở đây các tự sự đóng vai trò quan trọng trong quá

Trang 29

trình hòa nhập vào những không gian xã hội dòng chính (mainstream spaces) của nhóm này

socio-Vấn đề bản sắc luôn là vấn đề nóng bỏng trong các cuộc tranh luận chính trị hiện nay Carol Johnson [127] phân tích các tự sự về bản sắc từ ba trường hợp cụ thể: nhóm người thuộc địa Australia, nhóm đồng tính luyến ái nữ, và vai trò của tính giai cấp/đẳng cấp trong xã hội Anh-Mỹ đương đại Bài viết của ông đã khám phá hai dạng tự sự: dạng tự sự bản sắc bị ngoài lề hóa (marginalized identity narratives), dạng tự sự bản sắc đặc quyền (privileged identity narratives), và những xung đột qua lại giữa chúng Chẳng hạn, câu chuyện của nhóm đồng tính nữ có màu sắc tương phản với những đạo luật tôn giáo chống đối hôn nhân đồng tính… Những giao cắt phức tạp, sự tương thích

và khác biệt giữa các tự sự đã chỉ ra đáng kể cách khái niệm bản sắc được thoát thai Nghiên cứu này cũng chứng minh rằng các tự sự đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các diễn ngôn kiến tạo bản sắc

Nhìn nhận tự sự như một chiến lược gắn liền và thể hiện tính chủ thể văn hóa là ý tưởng được đề cập trong một số nghiên cứu (Hegde [117],

Sanchita [175],…) Đối tượng nghiên cứu của công trình “Narratives of silence: Rethinking gender, agency, and power from the communication experiences of battered women in South India” [Những tự sự của sự im lặng: nghĩ lại về giới, tính chủ thể và quyền lực từ những trải nghiệm của những người phụ nữ bị bạo hành ở miền Nam Ấn Độ] [117] là những người phụ nữ

bị bạo hành ở miền Nam Ấn Độ Những khái nệm về tính tự chủ hay tính chủ thể, những ý tưởng về giới, quyền lực đã được nhìn nhận và suy xét lại thông qua việc khảo sát và diễn giải các tự sự của những người phụ nữ bị bạo hành Tuy nhiên, những tự sự này là những tự sự của sự im lặng Sự im lặng và cơ chế vận hành của nó đã phản ánh sự phụ thuộc và những giới hạn về tính tự chủ của nhóm phụ nữ yếu thế này và phơi bày sự phức tạp chính trị trong bối

Trang 30

cảnh của một Ấn Độ đương đại Trong khi đó, sử dụng phương thức tự sự mà

cụ thể là dũng cảm công khai các câu chuyện sâu kín của bản thân là chiến lược của phụ nữ Pakistan nhằm phản kháng lại sự ngoài lề hóa Đây là nội dung chính được trình bày trong công trình “Status of women in Pakistan” [Vị thế của phụ nữ ở Pakistan] của tác giả Sanchita [175]

Nghiên cứu về cuốn tự truyện của Lê Vân - một nghệ sĩ nổi tiếng - của John C Schafer có tên “Le Van and notion of Vietnamese womanhood”

[178], sau được dịch và công bố trên Tạp chí Nghiên cứu văn học với tựa “Lê

Vân và những quan niệm về giới nữ Việt” cũng nhấn mạnh đến tính chủ thể văn hóa bên cạnh vai trò tác động của bối cảnh xã hội Thông qua việc diễn giải và phân tích hành trình tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc và bản thể của một người phụ nữ bị mang tiếng là giật chồng, bất hiếu, hư hỏng, Schafer đã cho thấy chức năng phản chiếu hiện thực xã hội của tự sự khi nhận định chuyện đời của người nữ nghệ sĩ đã “phản ánh những văn bản mà người Việt theo đó dựng nên quan điểm của họ về giới”, nhưng mặt khác, vẫn nhìn ra sự “tự vận động của cá nhân” và không hề xem thường tính chủ thể của kẻ yếu khi không bỏ sót dễ dàng những tình tiết trong câu chuyện đời mà ở đó minh chứng cho “ý chí cá nhân chống lại hình thức văn hóa”

1.1.4.2 Những nghiên cứu về tự sự ở người đồng tính (trường hợp những

nhân vật, con người có thật)

Trong các nghiên cứu về tự sự của các cá nhân và các nhóm ngoài lề, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu về tự sự ở người đồng tính

Trước hết là mảng nghiên cứu tự sự của những nhân vật, những con người có thật (Dow [91], Cohler và cộng sự [82], Hammack và Cohler [114], Faulkner

và Hecht [96]…) Bằng phương pháp tiếp cận lịch sử cuộc đời, Dow [91] đã phân tích nhiều khía cạnh trong tự sự đồng tính của Ellen DeGeneres - một ngôi sao hài kịch, một MC các chương trình talkshow nổi tiếng của Mĩ Câu

Trang 31

chuyện công khai bản ngã và tự phơi bày những góc khuất cuộc đời của ngôi sao truyền hình này đã thấm nhiễm trong nó ý nghĩa của sự phản kháng, sự giải phóng và minh họa cho quyền năng của nghi lễ rửa tội (hay sự tự thú)

được mô tả trong cuốn sách kinh điển Lịch sử tính dục của Michele Foucault

Trong khi đó các nghiên cứu của Cohler và cộng sự [82], Hammack và Cohler [114], Faulkner và Hecht [96] lại thảo luận về việc tạo dựng bản sắc đồng tính thông qua các tự sự và xem bản sắc đồng tính như một sự kiến tạo mang tính

văn hóa xã hội Chương sách Making a Gay Identity: Life Story and the Construction of a Coherent Self [Hình thành bản sắc đồng tính: Lịch sử cuộc

đời và sự kiến tạo bản thân] của Cohler và cộng sự [82] trong công trình

“Identity and story: Creating self in narrative” (2006) [Bản sắc và câu chuyện: Sáng tạo bản thân trong tự sự] tìm hiểu sự tương tác của những biến đổi xã hội với việc kiến tạo bản sắc đồng tính thông qua câu chuyện cuộc đời của ba người đàn ông thuộc các thế hệ khác nhau Các tác giả cho rằng những tự sự này phản ánh cơ sở văn hóa, xã hội, lịch sử của bản sắc đồng tính Mặt khác, Cohler và cộng sự cũng xác định bản sắc đồng tính như là một tự sự, trong đó dục vọng luyến ái đồng giới được nhận ra và tích hợp vào hồ sơ cuộc đời thông qua thực tiễn xã hội Nói cách khác, bản sắc đồng tính được nhìn nhận như một câu chuyện khởi nguồn từ những động năng tính dục nhưng sau đó được thúc đẩy bởi các trải nghiệm và thực hành qua những tương tác văn hóa

- xã hội Các tác giả cũng lập luận rằng những biến động trong cuộc sống của những người đồng tính sẽ tạo ra những bối cảnh mới trong đó các tự sự về

bản sắc được bổ sung, tái tạo và chia sẻ

Bối cảnh chính trị, xã hội cho sự phát triển bản sắc tính dục tại Mĩ đã thay đổi rõ rệt kể từ giữa thế kỉ XX Những người đồng tính đã luôn phải thỏa hiệp giữa dục vọng/căn tính bản thân với các động thái ngoài lề hóa bị chi phối bởi các thế lực chính trị Hammack và Cohler [114] đã tập trung diễn

Trang 32

giải tính chính trị của sự loại trừ những người đồng tính thông qua việc khảo sát, phân tích tự truyện của một người đồng tính nam về những thăng trầm trong suốt sáu thập kỉ và lịch sử cuộc đời một nhóm thanh niên đồng tính đương thời tại Mĩ, bài viết đã trình bày chi tiết những tác động của sự im lặng, loại trừ và lệ thuộc mang tính lịch sử Chỉ ra mối liên hệ giữa tự sự với quá trình loại trừ nhưng Hammack và Cohler cũng lập luận rằng chính tự sự cũng góp phần đắc lực vào quá trình hòa nhập và kiến tạo bản sắc đồng tính Trong khi đó, nhóm tác giả Faulkner và Hecht phân tích tự sự về bản sắc của những người Do Thái đồng tính, song tính và chuyển giới 31 thông tín viên đã kể lại câu chuyện họ tranh đấu với bản ngã và dục vọng, thương thỏa và kiểm soát bản sắc tính dục của mình Trong quá trình tranh đấu và thỏa hiệp đó không tránh khỏi những xê dịch, xung đột giữa đồng hóa và tha hóa Các phân tích cho thấy bản sắc, xét cho cùng, là câu chuyện của sự đàm phán và thương thảo giữa riêng và chung, giữa cá nhân và tập thể, giữa dị hóa và đồng hóa

1.1.4.3 Những nghiên cứu về tự sự đồng tính trong văn học và điện ảnh

Bên cạnh mảng nghiên cứu tự sự của những nhân vật, những con người

có thật là một mảng nghiên cứu tập trung vào các tự sự đồng tính trong văn học và điện ảnh (ít nhiều mang tính hư cấu); đáng chú ý là các công trình:

“The Celluloid closet: Homosexuality in movies” [Chiếc tủ Celluloid: Đồng tính trong phim ảnh] của Vito Russo [172], “Gaiety transfigured: Gay self-repression in American Literature” [Vui tươi biến hình: Ẩn ức đồng tính trong văn học Mĩ] của David Bergman [62], “The double lives of man: Nararion and Identification in the late nineteenth-century representation of ec-centric masculinities” [Cuộc sống hai mặt của người đàn ông: Tự sự và bản sắc trong các đại diện của nam tính lập dị ở cuối thế kỉ XIX] của Cohen [81],

“Homosexuality and narrative” [Đồng tính và tự sự] của Dennis W Allen [54], “Queer discourse and young adult novel: Repression and power in gay

Trang 33

male adolescent literature” [Ẩn ức và quyền lực trong văn học về nam thanh niên đồng tính] của R.S Trites [189], “The psychological world of gay teenager: Social change, narrative, and “normality”” [Thế giới tâm lí của thanh thiếu niên đồng tính: Sự biến đổi xã hội, tự sự và “cái bình thường”],

“Making a gay identity: Life story and the contruction of a coherent self” [Hình thành một bản dạng đồng tính: Câu chuyện cuộc đời và sự kiến tạo bản thân] của Cohler và Hammack [82], Thông qua việc khảo sát các tự sự của những người thiểu số tính dục trong các tác phẩm văn học (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí,…) và các tác phẩm điện ảnh, các nghiên cứu này chỉ ra

rằng các tự sự có chức năng hình thành cái tôi và diễn đạt bản sắc bị che giấu

ở những người thiểu số tính dục

Ở Việt Nam, nghiên cứu về đề tài đồng tính qua văn chương, đáng chú ý,

có các bài viết sau của Nguyễn Quốc Vinh, Đỗ Lai Thúy và Trần Ngọc Hiếu

đã được nhắc tới ở mục 1.1.1.4

Đặt luận án của mình vào bối cảnh nghiên cứu như trên, chúng tôi giả thuyết rằng, trong bối cảnh chính trị, văn hóa đặc thù của xã hội Việt Nam đương đại, những người đồng tính đã lựa chọn và sử dụng các phương thức tự

sự mang dấu ấn riêng để giải phóng ẩn ức, định nghĩa bản thân và kiến tạo, diễn đạt bản sắc

Trang 34

đó, là những người có xu hướng bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục với những người cùng giới tính với mình

1.2.1.3 Ngoài lề hóa

Ngoài lề hóa (marginalization) là một quá trình trong đó các cá nhân hoặc các nhóm/cộng đồng bị bỏ quên, loại trừ hoặc gạt ra rìa xã hội một cách

có hệ thống [183] Cụ thể, họ không được nhắc đến hoặc được nhắc đến nhưng ở mức độ không thỏa đáng trong các cuộc tranh luận chính trị, đàm phán xã hội hay thương lượng kinh tế,… Các nhóm bị ngoài lề hóa cũng thường là các nhóm thiểu số Họ chịu nhiều bất lợi, thiệt thòi, bị phân biệt đối

xử, bị hạn chế cơ hội tiếp cận các quyền căn bản, thường có vị thế thấp kém

và quyền lực ít ỏi hơn so với nhóm đa số Bị ngoài lề hóa không phải là đặc điểm chỉ có ở riêng ở người đồng tính hay nhóm thiểu số tính dục mà còn có

ở nhiều nhóm thiểu số khác Cùng với xu hướng tính dục thì tuổi tác, phái tính, dân tộc, chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, giàu nghèo, sức khỏe,… là những tiêu chí mang tính lịch sử được sử dụng cho quá trình “ngoài lề hóa”

1.2.1.4 Ẩn ức

Trong quá trình khái niệm hóa thuật ngữ “ẩn ức”, chúng tôi nhận thấy về mặt sắc thái ý nghĩa, ẩn ức rất gần với thuật ngữ “repression” (được nhiều người dịch là sự dồn ép) - một khái niệm trọng tâm của ngành phân tâm học Dựa trên các quan điểm của các nhà phân tâm học về “repression” (Freud [6], Laplanche và Pontalis [137], Morris [154], Boag [66], [67]), trong luận án

Trang 35

này, ẩn ức được hiểu là tình trạng nỗ lực loại bỏ những xúc cảm, ý nghĩ, kí

ức, thôi thúc, ham muốn… ra khỏi ý thức bằng cách dồn nén, chế ngự chúng trong vô thức Những xúc cảm, ao ước, ham muốn ấy không được chính chủ nhân của chúng chấp nhận do bị cho là không phù hợp với lương tâm, đạo đức và chuẩn mực xã hội

1.2.1.5 Tự sự

Theo cách hiểu thông thường, tự sự (narrative) chỉ là một câu chuyện -

có thực hoặc hư cấu Nhưng theo cách hiểu của ngành nghiên cứu văn hóa, tự

sự có ý nghĩa rộng hơn nhiều Tự sự là phương thức hiện thực hóa câu chuyện

và có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: ngôn ngữ - nói hoặc viết, và bên cạnh đó, còn có thể là âm thanh, hình ảnh và ngôn ngữ cơ thể… Vì vậy mới có tự sự trong âm nhạc, trong hội họa, trong điện ảnh, trong nghệ thuật trình diễn… Ngoài ra, giới nghiên cứu còn cho rằng, tự sự, thậm chí còn tồn tại cả trong nhận thức, hay nói cách khác, mọi nhận thức đều có tính tự sự Gắn với nhận thức, tự sự được hiểu là một thao tác hệ thống hóa, tổng thể hóa, qua đó, mọi thứ đều được sắp xếp vào một cấu trúc có quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau, cái này là nguyên nhân hay hệ quả của cái khác Từ quan niệm đó, ẩn dụ thậm chí cũng được xem là các tự sự chứ không đơn thuần chỉ

là các biện pháp tu từ (Lakoff và Johnson [135]) Chia sẻ với ý tưởng trên, Bava [59] gọi tự sự là ẩn dụ biết kể chuyện

1.2.1.6 Bản sắc

Nhà tâm lý học người Mỹ Erik Erikson (1902-1994) là một trong những người đầu tiên quan tâm đến “bản sắc” (identity) Trong công trình của mình, ông sử dụng thuật ngữ “bản sắc bản ngã” (ego identity) (thi thoảng còn được gọi là “the self” (tự ngã)), được hiểu là những đặc tính để

phân biệt người này với người kia Theo Erikson, bản sắc chủ yếu nói đến

Trang 36

sự tự ý thức hoặc định dạng (identification) về cái cá nhân, gần tương tự như cách cá nhân được người khác quan sát và nhận diện [95]

Có hai quan điểm tiếp cận đối với vấn đề bản sắc Cách tiếp cận bản thể luận cho rằng bản sắc là cái tự có, bất biến, vĩnh cửu, được quy định bởi các tiêu chí khách quan như tổ tiên chung hay các đặc điểm sinh học Trong khi

đó, quan điểm kiến tạo luận cho rằng bản sắc là sản phẩm của các điều kiện văn hóa, xã hội,được hình thành bởi một sự lựa chọn chủ yếu các đặc điểm nhất định Khái niệm bản sắc trong luận án này được hiểu như là những đặc điểm mà bản thân người đồng tính tự tạo nên hoặc do xã hội nhìn nhận họ Nói cách khác, bản sắc không phải là cái tự thân mà là một tiến trình kiến tạo

xã hội

Trong luận án này, chúng tôi dùng thuật ngữ bản sắc theo hai nghĩa: bản sắc cá nhân và bản sắc nhóm Gắn với cá nhân, có chỗ chúng tôi sử dụng thuật ngữ “căn tính” để thay thế cho thuật ngữ bản sắc

1.2.1.7 Quyền lực

Luận án này sử dụng khái niệm quyền lực theo cách hiểu của M Foucault Với ông, quyền lực (power) được sản sinh và vận hành chủ yếu thông qua các diễn ngôn - một thuật ngữ được chính ông định nghĩa là “các

phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có tính hiệu lực nhất định trong thế

giới thực”, “một nhóm các quan điểm được cá thể hóa” hoặc “một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” (Dẫn theo Mills [152, tr 6]) Góc nhìn diễn ngôn đã dẫn Foucault tới chỗ đoạn tuyệt với các quan điểm truyền thống về quyền lực Quyền lực, theo ông, không phải chỉ là một cấu trúc hay một tác tố bao gồm những gì mà một số người có khả năng khống chế, cưỡng bức hay ra lệnh người khác theo cách hiểu cũ mà quyền lực có mặt ở khắp mọi nơi, nó phân tán hơn là tập trung, nó

Trang 37

nhập thân hơn là bị chiếm hữu, nó thuộc về diễn ngôn hơn là thuần túy có tính chất cưỡng bức [98]

1.2.1.8 Tính chủ thể

Có nhiều cách hiểu khác nhau về tính chủ thể (subjectivity) Trong luận

án này, chúng tôi sử dụng cách hiểu của các nhà nghiên cứu văn hóa, cho rằng tính chủ thể là một thực thể có năng lực tự quyết (agency) trong sự gắn kết sâu sắc với những hệ thống quyền lực Tính chủ thể được hình thành thông qua vô số tương tác trong xã hội Nó vừa là quá trình cá thể hóa vừa là quá trình xã hội hóa Trên thực tế, mỗi cá nhân không thể tồn tại cô lập trong một môi trường khép kín, mà ngược lại, họ không ngừng tham gia vào các tương tác với thế giới xung quanh Vì thế, tính chủ thể được định hình bởi chính nó và bởi những điều kiện chính trị, văn hóa, lịch sử, xã hội cũng như thế giới tự nhiên

1.2.1.9 Phản kháng

Theo Duncombe [93], phản kháng (resistance) là thực hành sử dụng văn hóa mà cụ thể là những hệ thống ý nghĩa và biểu trưng để chống lại một thứ quyền lực bá quyền Theo đó, trong luận án này, khái niệm phản kháng được sử dụng để nhấn mạnh việc người đồng tính đã dùng các tự sự và hệ thống ý nghĩa, biểu trưng đi kèm để chống lại quyền lực dị tính thống trị trong

xã hội

1.2.2 Lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Ở phần này, chúng tôi trình bày cơ sở lý luận làm nền tảng cho cách tiếp cận của luận án Đó là quan điểm tiếp cận của ngành nghiên cứu văn hóa (Cultural Studies) và lý thuyết tự sự (narrative) từ góc nhìn văn hóa

1.2.2.1 Quan điểm tiếp cận của ngành nghiên cứu văn hóa

Trước hết, luận án tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ góc nhìn của ngành nghiên cứu văn hóa Đây là một lĩnh vực liên ngành, xem văn hóa là một hệ thống các ý nghĩa và biểu trưng sản sinh từ những thực hành và những quá

Trang 38

trình luôn thay đổi, tương tác trong sự kiểm soát, chi phối ngặt nghèo của các

cơ chế quyền lực… Nghiên cứu văn hóa, theo Geertz, suy cho cùng không phải là một khoa học thực nghiệm khám phá quy luật mà là một ngành diễn giải đi tìm ý nghĩa [105, tr.5]

Như vậy, trong cách tiếp cận của ngành Nghiên cứu văn hóa, văn hóa không gắn với hệ thống giá trị trừu tượng như những thành quả tinh túy của con người, cũng không phải được tạo ra từ những thực thể xã hội riêng biệt,

ổn định, bền vững theo cách hiểu cũ, mà là một hệ thống các thực hành của con người luôn ở trong trạng thái động (Phạm Quỳnh Phương [40, tr 14] Văn hóa không phải là một bộ ý niệm tất định, vĩnh cửu mà là một hệ thống ý nghĩa phức tạp và khả biến

Là một lĩnh vực liên ngành nên nghiên cứu văn hóa có những đường biên phân định khá mờ nhạt với một số ngành khoa học xã hội khác Tuy nhiên, giữa nghiên cứu văn hóa với các ngành gần với nó vẫn có những sự khác biệt và sự khác biệt căn bản nhất chính là ở chỗ nghiên cứu văn hóa dành sự quan tâm đặc biệt đến khía cạnh quyền lực - một yếu tố tối quan trọng của văn hóa đã bị những ngành kia bỏ qua Chính sự quan tâm đặc biệt đến quyền lực đã tạo ra một “bước ngoặt văn hóa” (cultural turn) trong khoa

học xã hội nói chung và trở thành đặc trưng then chốt của ngành

Như trên đã nói, tư tưởng của Michel Foucault đóng vai trò nền tảng trong quan điểm của ngành nghiên cứu văn hóa về quyền lực Trong lý thuyết của Foucault, diễn ngôn và quyền lực là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời nhau Từ quan điểm quyền lực được sinh ra và vận hành chủ yếu thông qua các diễn ngôn, ông tiến thêm một bước nữa khi cho rằng trong bất kì xã hội nào, diễn ngôn chính là quyền lực, hay nói một cách chính xác hơn, mọi diễn ngôn đều được sản xuất bởi quyền lực, nhưng mặt khác (và

do đó), nó cũng được sử dụng như một chiến lược phản kháng [99, tr 101]

Trang 39

Thuộc về diễn ngôn, quyền lực gắn liền với “các chế độ chân lí” (regimes of truth) - được hiểu là hệ thống những tín điều và những quy phạm được chấp nhận và được chia sẻ để mọi người, theo đó, phân biệt cái đúng và cái sai, cái thật và cái giả, đánh giá mọi việc và quyết định những gì mình nên làm, có thể làm hoặc phải làm Theo ý nghĩa đó, quyền lực trở thành một thứ siêu quyền lực (metapower): nó ở khắp nơi; nó đến từ khắp nơi; nó không giới hạn trong lĩnh vực kinh tế hay chính trị mà còn ở hệ thống giáo dục, truyền thông, khoa học và đặc biệt, ý thức hệ [98, tr 131] Cái “chế độ chân lí” ấy không nhất thành bất biến và cũng không chỉ được áp đặt từ trên xuống dưới Quyền lực - nhất là quyền lực-diễn ngôn - cũng có thể đến từ những người bị trị, những người yếu thế, những nhóm thiểu số trong xã hội, nghĩa là được kiến tạo từ dưới lên

Như vậy, dưới ánh sáng của ngành nghiên cứu văn hóa, quyền lực có mặt ở khắp mọi nơi Quyền lực không chỉ thể hiện trên phương diện thể chế

mà quyền lực còn được thể hiện ở cấp độ cá nhân Quyền lực không chỉ được nhìn theo chiều từ trên xuống mà còn được soi tỏ từ dưới lên Quyền lực không chỉ nằm trong tay nhà nước và những người cầm quyền mà quyền lực còn được nhen nhóm từ những người bị trị, những người vốn không có quyền lực Ở đâu có đàn áp ở đó có phản kháng, ở đâu có quyền lực ở đó có đối quyền lực [99, tr 123] Từ góc nhìn đó, nghiên cứu văn hóa đặc biệt quan tâm đến những số phận bên lề xã hội bởi qua những số phận này, có thể hiểu được

cơ chế vận hành của quyền lực

Ở khía cạnh này, người đồng tính là đối tượng quan tâm của ngành nghiên cứu văn hóa bởi họ là nhóm thiểu số bị ngoại biên hóa, vô hình hóa dưới sự tác động của cơ chế quyền lực thông qua sự vận hành của diễn ngôn Tìm hiểu về người đồng tính, góc nhìn của ngành nghiên cứu văn hóa dựa trên quan điểm kiến tạo xã hội về tính dục của các nhà nữ quyền luận và

Trang 40

các học giả theo trường phái học thuật Pháp, xã hội học và lịch sử Định vị tính dục trong mối liên hệ mật thiết với không gian và thời gian, thuyết kiến tạo xã hội đã bác bỏ định nghĩa tính dục xuyên lịch sử, xuyên quốc gia, thay vào đó, cho rằng tính dục là do các yếu tố văn hóa, xã hội quy định, đồng thời chối bỏ quan điểm mang tính bản thể luận cho rằng sự khác biệt giữa đồng tính với dị tính là tự nhiên và tất yếu Bằng việc xem sự khác biệt đó là “sản phẩm được trù định hoặc không được trù định bởi các thực hành xã hội” (Haslanger [116, tr.17]), nói cách khác, là một sáng tạo của văn hóa và lịch

sử, hơn là sự sắp đặt của tạo hóa, lăng kính kiến tạo xã hội đã mở ra những khám phá sâu sắc hơn về những động năng khác nhau đã hình thành và duy trì các loại tính dục, từ đó, sẵn sàng trả lời cho câu hỏi: “Đồng tính được tạo ra trong/bởi những ma trận xã hội nào?” và “Việc dán nhãn đồng tính có hàm ý chính trị gì?” Trả lời những câu hỏi đó, quan điểm kiến tạo xã hội đã thách thức huyền thoại nhị phân đồng tính-dị tính, phủ định đó không phải là cách duy nhất để hiểu và phân loại tính dục, đồng thời cho rằng tính dục không phải là sự hấp dẫn mang tính bản năng, tiền xã hội, tĩnh tại mà có tính lỏng, bất định, phụ thuộc vào những tác động của lịch sử, xã hội Từ góc nhìn kiến tạo luận, tính dục, bao gồm đa dạng các động năng tính dục, tri thức tính dục, bản sắc tính dục, ham muốn tính dục, ẩn ức tính dục… trong đó có đồng tính, đều được cấu trúc bởi các nhân tố lịch sử, văn hóa, xã hội Theo đó, mối quan

hệ giữa xã hội với đồng tính được nhấn mạnh, đồng tính không phải là một khái niệm mang tính phổ quát, một đặc điểm sinh học, thuần túy bản năng, tự nhiên nhi nhiên mà được kiến tạo về mặt xã hội và bởi xã hội Thoát li quan điểm bản thể luận, các nhà nghiên cứu, dưới lăng kính kiến tạo luận, tràn trề cảm hứng trong việc khám phá ý nghĩa xã hội của từng hành vi, thực hành, cộng đồng và bản sắc đồng tính

Ngày đăng: 06/04/2019, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w