Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng ý thức chính trị của công nhân ngành than Quảng Ninh trong thời kỳ đổi mới 18 1.3.. Ý
Trang 1NGUYỄN THỊ HUYỀN THÁI
KẾT HỢP HỆ THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CÔNG NHÂN
NGÀNH THAN QUẢNG NINH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CNDVBC & CNDVLS
HÀ NỘI - 2018
Trang 2NGUYỄN THỊ HUYỀN THÁI
KẾT HỢP HỆ THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CÔNG NHÂN
NGÀNH THAN QUẢNG NINH HIỆN NAY
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền Thái
Trang 41.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến ý thức chính trị và xây
dựng ý thức chính trị cho giai cấp công nhân
6
1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp kết hợp
truyền thống và hiện đại trong xây dựng ý thức chính trị của
công nhân ngành than Quảng Ninh trong thời kỳ đổi mới
18
1.3 Giá trị của những công trình đã nghiên cứu và những vấn đề
luận án tiếp tục làm sáng tỏ thêm
20
Chương 2: KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG
Ý THỨC CHÍNH TRỊ CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG NINH
HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
26
2.1 Ý thức chính trị và xây dựng ý thức chính trị của công nhân
ngành than Quảng Ninh hiện nay
26
2.2 Thực chất và tính tất yếu của việc kết hợp ý thức chính trị
truyền thống và hiện đại trong xây dựng ý thức chính trị công
nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
35
2.3 Yêu cầu cơ bản của việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong
xây dựng ý thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh
69
Chương 3: KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG
Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG
NINH HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
81
3.1 Thực trạng kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng ý
thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh
81
3.2 Nguyên nhân của thực trạng kết hợp truyền thống và hiện đại trong
xây dựng ý thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh
100
Trang 5THỨC CHÍNH TRỊ CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG NINH
HIỆN NAY
4.1 Phát huy vai trò tích cực, tự giác của các chủ thể trong xây
dựng ý thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh theo
hướng kết hợp truyền thống và hiện đại
4.3 Tiếp tục đổi mới nội dung tuyên truyền giáo dục ý thức chính
trị cho công nhân công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
theo hướng kết hợp truyền thống và hiện đại
138
4.4 Tiếp tục đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo
dục ý thức chính trị cho công nhân ngành than Quảng Ninh
theo hướng kết hợp truyền thống và hiện đại
Trang 6khoáng sản Việt Nam
YTCT : Ý thức chính trị YTCTHĐ : Ý thức chính trị hiện đại YTCTTT : Ý thức chính trị truyền thống
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn nêu cao bản chất cách mạng, lãnh đạo toàn dân làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), vai trò cách mạng, vai trò lãnh đạo, tính tiên phong của GCCN càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa quyết định Để xây dựng GCCN Việt Nam vững mạnh đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII nêu rõ:
“Quan tâm, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình
độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân;…để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân” [23, tr.160] Như vậy, xây dựng GCCN là việc làm cần thiết đã và đang được Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Quảng Ninh là một trong những cái nôi của phong trào công nhân cả nước Trong sự nghiệp đổi mới, Quảng Ninh là một vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế với nhiều công nhân lao động thuộc nhiều lĩnh vực: công nghiệp nặng, dịch vụ - du lịch, cảng biển, nông - lâm - ngư nghiệp, cửa khẩu… Trong số những công nhân ở Quảng Ninh, công nhân có số lượng đông đảo nhất là công nhân ngành than Chính vì vậy, việc xây dựng công nhân ngành than Quảng Ninh không chỉ góp phần “xây dựng tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) thành tập đoàn kinh tế mạnh ” [8], mà còn góp phần ổn định, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời “góp phần đóng góp tích cực vào việc
Trang 8đảm bảo an ninh quốc gia” [7], cũng như sự phát triển đội ngũ công nhân Quảng Ninh nói riêng và GCCN Việt Nam nói chung
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng công nhân ngành than Quảng Ninh không thể tách rời xây dựng ý thức chính trị (YTCT) của họ Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong YTCT của GCCN Việt Nam nói chung và công nhân ngành than Quảng Ninh nói riêng còn có những hạn chế, bất cập Thời gian qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời xây dựng những phẩm chất chính trị hiện đại cho người công nhân nhưng vẫn còn không ít cách nghĩ, cách làm lệch lạc trong việc xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Công tác giáo dục, tuyên truyền xây dựng YTCT cho công nhân vẫn còn tồn tại hai xu hướng cực đoan: hoặc quá coi nhẹ giá trị truyền thống mà nhấn mạnh các giá trị hiện đại, hoặc quay trở về truyền thống một cách thái quá mà không chấp nhận, bổ sung những giá trị mới
Rõ ràng, kết hợp truyền trống và hiện đại trong xây dựng YTCT cho GCCN Việt Nam nói chung và công nhân ngành than Quảng Ninh nói riêng là vấn đề lớn và cần thiết mà hoạt động lý luận và thực tiễn cuộc sống đang đặt
ra, đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng ý thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ, chuyên ngành
Triết học với mong muốn có thêm một góc nhìn mới trong giải pháp xây dựng
công nhân ngành than Quảng Ninh nói riêng và GCCN Việt Nam nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải về cơ sở lý luận, thực trạng kết hợp truyền thống
và hiện đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay, luận án đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án, từ đó đề xuất những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm
Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận của việc kết hợp truyền thống và hiện
đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh
Thứ ba, phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng của việc
kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kết
hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Về truyền thống: Luận án nghiên cứu các giá trị ý thức chính trị truyền
thống (YTCTTT) của dân tộc, của GCCN và của công nhân ngành than Quảng Ninh trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã
hội (CNXH)
Về hiện đại, luận án đề cập đến những giá trị cần đạt được trong
YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh thời kỳ đổi mới
Về kết hợp truyền thống và hiện đại, luận án tập trung nghiên cứu cơ
chế kết hợp – mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
Trang 10- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về GCCN, về YTCT của GCCN; đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
trước đây có liên quan đã được công bố ở nước ta
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp
cụ thể khác như:
- Phương pháp lịch sử - lôgic;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích - tổng hợp;
- Phương pháp trừu tượng và cụ thể;
- Các phương pháp xã hội học (bao gồm phương pháp quan sát, điều tra, thu thập, phân tích, so sánh, xử lý các số liệu) để làm sáng tỏ thực trạng YTCT và thực trạng kết hợp truyền thống và hiện đại trong việc xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án góp phần làm rõ thực chất, tính tất yếu của việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT, xây dựng YTCT cho GCCN thông qua việc nghiên cứu YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh
Luận án cũng làm rõ cơ chế của sự kết hợp - mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống với hiện đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh
Trang 11Luận án phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng của việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
Luận án đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp truyền thống và hiện đại trong việc xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản của triết học Mác - Lênin về xây dựng YTCT và xây dựng YTCT của GCCN, sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT GCCN qua thực tế công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Ninh và ban lãnh đạo TKV hoàn thiện các giải pháp để kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy triết học Mác - Lênin nói riêng
và các ngành khoa học xã hội khác nói chung Ngoài ra, luận án cũng có giá trị tham khảo trong việc hoạch định chính sách về xây dựng GCCN ở Việt Nam nói chung và công nhân ở Quảng Ninh nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN Ý THỨC CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Đã có rất nhiều nghiên cứu về YTCT và xây dựng YTCT cho GCCN, trong đó có những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Hoàng Giáp với "Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay" [76], trên
cơ sở quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về GCCN và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến GCCN ở các nước tư bản phát triển, các tác giả đã phân tích sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu GCCN theo hướng lao động cơ bắp giảm, lao động trí óc tăng và chủ lực trong các ngành nghề Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thì trình độ giác ngộ chính trị, trình độ tổ chức của GCCN ở các nước tư bản phát triển có chiều hướng suy giảm, kéo theo đó là mục tiêu, phương pháp đấu tranh với giới chủ và chính phủ tư bản tập trung chủ yếu vào các vấn đề như điều chỉnh các chủ trương, chính sách của nhà nước tư sản chứ không đặt vấn đề thay đổi các chế
độ chính trị
Khi đề cập đến công nhân truyền thống và YTCT của công nhân truyền
thống trên thế giới, cuốn sách "Lịch sử phong trào và công nhân quốc tế" [107],
đã trình bày một cách hệ thống lịch sử phong trào công nhân quốc tế qua bốn giai đoạn: từ khi giai cấp vô sản ra đời đến khi thành lập quốc tế thứ nhất; từ công xã Pari đến trước Cách mạng tháng Mười Nga; từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai và từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai khi hệ thống XHCN ra đời đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược qua đó
Trang 13YTCT của GCCN cũng hình thành và phát triển theo từng giai đoạn Tác giả khẳng định:
Giai cấp vô sản các nước dù mầu da, tiếng nói, phong tục tập quán khác nhau, nhưng những quyền lợi cơ bản thì giống nhau, họ có nguyện vọng chung là giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và phải chống với kẻ thù chung là giai cấp tư sản ở nước mình, cùng sự câu kết của giai cấp ấy trên phạm vi thế giới [107, tr 7]
Đối với YTCT của công nhân Việt Nam, Ban Cận hiện đại - Viện Sử
học Việt Nam trong cuốn sách "Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam" [4], cho rằng, GCCN Việt Nam được hình thành vào lúc dân tộc ta
chuẩn bị tích cực bước vào thời đại mới của loài người Sự ra đời này chứng minh cho các giá trị YTCTTT của công nhân Việt Nam "Tinh thần đó đã nêu cao ý thức độc lập, tự chủ, tiếp thu những tiến bộ của tư trào dân chủ, để dành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, mà không phải do giai cấp tư sản lãnh đạo" [4, tr 27] Mặt khác, "công nhân Việt Nam được truyền thụ một tinh thần yêu nước nồng nàn và tinh thần yêu nước ấy thúc đẩy ý thức giai cấp sớm hình thành" [4, tr 28] Từ chủ nghĩa yêu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
đã đưa GCCN Việt Nam đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đây, GCCN đã nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình:
Một mặt, gắn cách mạng giải phóng dân tộc thành một bộ phận không tách rời với cách mạng vô sản thế giới, mặt khác, tự mình phải gương ngọn cờ dân tộc, dân chủ, đoàn kết công nhân trong nước đánh đổ chủ nghĩa đế quốc đang thống trị đất nước và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là điều kiện giải phóng giai cấp vô sản Việt Nam, đồng thời cũng đóng góp vào thắng lợi chung của phong trào vô sản thế giới [4, tr 44]
Chuyển từ tự phát sang tự giác, từ khi giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, GCCN Việt Nam đã "vụt lớn lên với một nhận thức mới không thể có
Trang 14ở một giai cấp nào khác: phải đoàn kết đấu tranh lật đổ cả bộ máy thống trị thực dân, phong kiến, dành lại độc lập, tự do, tiến lên CNXH thì mới chấm dứt được cuộc đời nô lệ" [4, tr 49]
Dưới góc độ lịch sử, các tác giả Ngô Văn Hòa - Dương Kinh Quốc
viết cuốn sách: "Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng" [35] Khi nghiên cứu về YTCT, theo các tác giả, GCCN Việt Nam đã
sớm mang trong mình tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp và những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc
Ý thức dân tộc là động lực thúc đẩy ý thức giai cấp công nhân sớm hình thành; điều kiện sinh hoạt của người công nhân là sơ sở để từ
đó nảy sinh nên ý thức giai cấp mà trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ ý thức giai cấp đó mới chỉ thể hiện ở giai đoạn đầu, tức sự hình thành tâm lý giai cấp; chính sách sử dụng nhân công của thực dân
tư bản Pháp đứng trên góc độ hình thành ý thức giai cấp công nhân
mà xét, đã tạo điều kiện cho ý thức dân tộc và ý thức giai cấp quyện vào nhau, hòa với nhau làm một [35, tr 157]
Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, GCCN Việt Nam ngày càng trở nên đông đảo, trở thành một khối đại đoàn kết, nhất trí trong phạm vi toàn quốc Từ khi Nguyễn Ái Quốc - người Việt Nam đầu tiên tiếp thu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân Việt Nam đến khi tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập (năm 1925), phong trào "vô sản hóa", sự ra đời của Công hội đỏ và sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam thì GCCN đã bước lên vũ đài chính trị, tiến tới thành lập chính đảng của mình Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do GCCN lãnh đạo
Các tác giả của Viện Sử học với cuốn sách: "Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"
Trang 15[103] Cuốn sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả đề cập đến việc xây dựng đạo đức, lối sống, YTCT của người công nhân trong thời kỳ hội nhập quốc tế như nhận thức chính trị, tình cảm chính trị, thái độ ứng xử, văn hóa doanh nghiệp Trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng cường hội nhập quốc tế và một số yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao YTCT, đời sống văn hóa của GCCN trong thập niên 2011-2020, các tác giả đã đưa ra các quan điểm và các giải pháp xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa của GCCN Việt Nam
Tác giả Phan Thanh Khôi trong cuốn sách: "Ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta, biểu hiện thực trạng và xu hướng" [100] - cho rằng:
"ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống chính trị" [100, tr 105] Theo tác giả, biểu hiện về YTCT của GCCN nước ta hiện nay được thể hiện rõ nhất thông qua nhận thức và thái độ của người công nhân Trên cơ sở phân tích thực trạng của những nhận thức và thái độ chủ yếu
đó, tác giả cho rằng, YTCT của công nhân nước ta hiện nay không cao, không tương xứng với vị trí chủ đạo của mình trong xã hội và chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tác giả cũng đưa ra dự đoán xu hướng YTCT của GCCN trong những năm tới là YTCT của GCCN Việt Nam
sẽ có thêm những sắc thái biểu hiện, sẽ được nâng cao một bước Tuy nhiên, những biểu hiện đó vẫn biến đổi không đều nhau và vẫn không đều ở các thế hệ
và ở từng bộ phận
Các tác giả của Viện Công nhân và Công đoàn với cuốn sách: "Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI" [101], trên cơ sở phân tích thực trạng về cơ cấu tổ chức, YTCT, giác ngộ
giai cấp, năng lực chuyên môn tay nghề của GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể ở Việt Nam, các tác giả đã đưa ra những giải pháp như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức,
Trang 16nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề trong công nhân nói riêng nhằm xây dựng GCCN Việt Nam phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và tay nghề, năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, góp phần xây dựng một đội ngũ công nhân trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Tác giả Nguyễn Thị Ngân trong cuốn sách: "Xây dựng ý thức tình cảm dân tộc chân chính cho giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" [66] cho rằng GCCN nước ta là giai cấp tiên tiến nhất, đóng vai trò
chính trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta Do quá trình toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế mang lại, công nhân Việt Nam hiện nay đã mang tính quốc tế và mang tính hiện đại Cùng với sự phát triển của đất nước, người công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã có sự chuyển biến trong ý thức, từ chỗ chỉ thừa nhận giá trị cộng đồng, tập thể, dân tộc sang chỗ biết tôn trọng giá trị cá nhân trong mối quan hệ hài hòa với tập thể và cộng đồng dân tộc; chuyển biến từ dạn dày kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng ít nhạy cảm về kinh tế sang năng động, chủ động, có kiến thức khoa học, kiến thức quản lý kinh tế - xã hội và kinh nghiệm xây dựng xã hội mới Không chỉ vậy, GCCN Việt Nam còn có sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội, công nhân có nhiều trong các thành phần kinh tế Những biến đổi đó có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng tạo ra không ít cản trở cho việc xây dựng YTCT, ý thức giai cấp, ý thức tổ chức kỷ luật Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có kế hoạch giáo dục YTCT, nâng cao ý thức giai cấp, ý thức tình cảm dân tộc chân chính để người công nhân nhận thức được sứ mệnh lịch sử (SMLS) của giai cấp mình
Trong bài viết: "Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình" [49], tác giả
Trần Thị Bích Liên đã trình bày khái quát về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và chủ quan trong việc thực hiện SMLS của GCCN
Trang 17Tác giả cũng nêu lên vấn đề tích cực hóa nhân tố chủ quan trong việc thực hiện SMLS của GCCN Việt Nam Từ những lý luận đó, tác giả tập trung đưa
ra những nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định việc thực hiện và hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam hiện nay Theo tác giả, có ba nhân tố chủ quan mà tác giả đưa ra đó là: 1- Sự giác ngộ ý thức giai cấp, giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin; 2- Có một chính đảng vững mạnh, trung thành với SMLS của GCCN, với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc; 3- Sự đoàn kết thống nhất trong phong trào công nhân Từ ba luận điểm đó, tác giả cũng làm nổi bật lên thực trạng của ba nhân tố chủ quan này đang diễn ra như thế nào, những kết quả đạt được và những mặt hạn chế Trên cơ sở trình bày, phân tích về lý luận và thực trạng của các nhân tốt chủ quan có ý nghĩa quyết định việc thực hiện và hoàn thành SMLS của GCCN, tác giả đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tích cực hóa nhân tố chủ quan của GCCN Việt Nam hiện nay Một số quan điểm tác giả đưa ra mang tính định hướng như phát triển GCCN về số lượng phải đi đôi với chất lượng; xây dựng GCCN lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng GCCN vững mạnh phải gắn liền với xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và khối đại đoàn kết dân tộc; xây dựng GCCN là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời là trách nhiệm của mỗi người, mỗi tập thể công nhân Giải pháp tác giả đưa ra gồm có hai nhóm giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhóm giải pháp xây dựng GCCN
Cuốn sách của tác giả Phạm Tất Thắng: "Nâng cao ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện hiện nay" cũng bàn đến
GCCN Việt Nam hiện đại Tác giả cho rằng, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến nay, nhìn chung, một bộ phận lớn GCCN nước ta
có ý thức, nhận thức tương đối sâu sắc, rõ ràng về vị trí, vai trò của mình đối với công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời,
Trang 18đa số công nhân tỏ thái độ tự hào, trân trọng về truyền thống vẻ vang của dân tộc, cũng như những giá trị truyền thống cao đẹp, quý báu mà tổ tiên, ông cha
đã để lại, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, vào tương lai, tiến đồ tươi sáng của đất nước, của dân tộc Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau mà trong YTCT của GCCN hiện nay còn có những biểu hiện yếu kém, hạn chế: không ít công nhân chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của giai cấp mình trong thời đại mới, cũng như trong tiến trình đổi mới, CNH, HĐH đất nước; một số công nhân không thấy hết vị trí, vai trò của Công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích của mình cũng như trong việc tham gia quản lý, điều hành, giám sát sản xuất, kinh doanh; một bộ phận không nhỏ công nhân ít am hiểu
về đặc điểm, tình hình và sự biến đổi nhanh chóng của thế giới hiện nay, kể cả của các nước trong khu vực; thiếu tin tưởng vào tương lai, tiền đồ của CNXH, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; một số công nhân ít quan tâm
và kém hiểu biết về lịch sử cũng như truyền thống dân tộc, thiếu tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước, vào tương lai, tiền đồ của dân tộc Dựa trên thực trạng và những nguyên nhân đó, tác giả đưa
ra một số định hướng, giải pháp cơ bản để nâng cao YTCT, nhận thức chính trị của GCCN nước ta trong thời kỳ mới
Các tác giả trong Đề tài cấp Nhà nước (2010): "Xây dựng và phát triển văn hóa giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế" [69] mặc dù chưa nhấn mạnh tác động của kinh tế thị trường đến nhận
thức, tình cảm, thái độ chính trị của công nhân, nhưng trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của GCCN Việt Nam hiện nay, đề tài đã chỉ rõ những hạn chế trong đời sống văn hóa của người công nhân như các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần còn rất nghèo nàn, thiếu sáng tạo đã ảnh hưởng tới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân Phê phán thái
độ thờ ơ với đời sống chính trị - xã hội và những biểu hiện tiêu cực của một
Trang 19bộ phận công nhân trong sinh hoạt chính trị, tư tưởng Các tác giả cũng đã đưa ra những luận cứ khoa học là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho việc nghiên cứu các vấn đề về văn hóa và đời sống văn hóa của GCCN, các nhân
tố cơ bản tác động đến đời sống văn hóa, YTCT của GCCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Đề tài khoa học cấp Nhà nước (2009) do Đặng Ngọc Tùng chủ nhiệm:
"Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 -2020" [94] mặc dù
không đi sâu vào đánh giá nhận thức chính trị, tư tưởng của công nhân nhưng thông qua việc tổng kết, đánh giá thực trạng xây dựng GCCN Việt Nam, tác phẩm cũng đã đề cập đến những vấn đề về thái độ, tình cảm của người công nhân trong các doanh nghiệp, những bất cập trong thực tế đã gây nên tâm lý bức xúc của người công nhân Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đất nước, tác phẩm cũng đưa ra những yêu cầu xây dựng GCCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng GCCN và tổ chức Công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước để góp phần xây dựng GCCN lớn mạnh
Tác giả Phan Văn Tuấn trong bài viết: "Nâng cao ý thức chính trị, pháp luật cho giai cấp công nhân hiện nay" [93] cũng khẳng định: cùng với
quá trình CNH, HĐH đất nước, GCCN nước ta đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, GCCN đã đóng góp trực tiếp to lớn vào quá trình phát triển của đất nước Cùng với các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội khác, GCCN nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước
Trang 20Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời sống của GCCN ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một trong những vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay là trình độ nhận thức chính trị, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp của GCCN Việt Nam hiện nay chưa tương ứng với yêu cầu về trình độ phát triển của nền kinh
tế, công nghệ và toàn cầu hóa Về nhận thức lý luận, tư tưởng, trình độ giác ngộ giai cấp vẫn còn nhiều khác biệt, còn rất hạn chế và không cơ bản Đa số hiện nay là thế hệ công nhân trẻ, có trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật, nhưng lại là thế hệ lớn lên trong chế độ mới, mới gia nhập vào GCCN, về mặt nhận thức chính trị còn nhiều hạn chế, bất cập Mặt khác, GCCN Việt Nam ra đời và phát triển ở một nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp chậm phát triển, do đó tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật còn hạn chế Tâm
lý, thói quen và tác phong lao động gắn liền với nền sản xuất nhỏ còn in đậm trong đội ngũ công nhân Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp đồng bộ để công tác giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, ý thức kỷ luật, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp của GCCN Việt Nam thực sự đạt hiệu quả
Tác giả Dương Xuân Ngọc với bài viết "Nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam trước yêu cầu và nhiệm vụ mới" [67] Từ nhận
thức chung về YTCT, những tiêu chí về YTCT của YTCT của GCCN Việt Nam (bao gồm 7 tiêu chí) Trên cơ sở đó, tác giả Dương Xuân Ngọc khẳng định, GCCN Việt Nam đã có sự giác ngộ cao về YTCT cả về tổ chức, nhận thức và thái độ Song, trên một số phương diện, trong YTCT của GCCN còn một số hạn chế, yếu kém như: chưa nhận thức được đầy đủ về vị trí, vai trò lãnh đạo của GCCN, vai trò và vị trí của tổ chức trong hệ thống chính trị… Những hạn chế này theo tác giả bắt nguồn từ nền sản xuất còn kém phát triển
ở nước ta Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao YTCT cho GCCN Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế
Trang 21Tác giả Phạm Thị Xuân Hương trong bài viết: "Nâng cao ý thức giai cấp cho công nhân - Một việc quan trọng cần làm trong giai đoạn hiện nay"
[36] đã tập trung làm nổi bật vai trò của việc nâng cao ý thức giai cấp cho công nhân; thông qua việc trình bày một cách khái quát thực trạng và nguyên nhân của thực trạng ý thức giai cấp của GCCN Việt Nam, tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao YTCT cho GCCN, đồng thời đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức để nâng cao ý thức giai cấp cho GCCN Việt Nam
Ở một góc nhìn khác, trong mối quan hệ giữa GCCN với dân tộc, tác
giả Lê Duy Sơn với “Sự phát triển mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
[80] cho rằng, thực chất sự chuyển hướng đường lối cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam là sự thay đổi về chất của đường lối yêu nước Chủ nghĩa yêu nước trên lập trường của GCCN là phù hợp với nguyện vọng của giai cấp và dân tộc Từ khi ra đời, GCCN đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng
… Bị nhiều tầng áp bức, bóc lột, trong nó có mối thù dân tộc với tính cách là người nô lệ bên cạnh mối thù giai cấp với tính cách là người lao động bị bóc lột Hoàn cảnh đó đã hun đúc trong giai cấp công nhân Việt Nam ý thức giải phóng giai cấp và ý thức giải phóng dân tộc, tạo nên ở giai cấp này tính sắc sảo, khả năng nhạy bén để nhận thức mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình Đương nhiên khả năng đó lúc đầu còn là sự tự phát; trình độ tự giác sẽ ngày càng nâng lên theo đà của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và việc tăng cường truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Bước ngoặt là từ năm 1930, với việc giai cấp công nhân tổ chức thành chính đảng của mình, thì khả năng đó trở thành nhận thức tự giác ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng, gương cao ngọn cờ
Trang 22độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Cũng từ đó giai cấp công nhân
đã chính thức dành được ngọn cờ lãnh đạo, người đại diện chân chính cho phong trào yêu nước ở Việt Nam [80]
Bên cạnh các công trình trong nước còn có một số công trình công trình nước ngoài cũng nghiên cứu về đề tài này như:
Tác giả Sumil Kumar Sen trong cuốn sách: Working class movements
in India 1885 - 1975 [114], trên cơ sở nghiên cứu lịch sử các phong trào công
nhân toàn Ấn Độ từ 1885 - 1975; vai trò của tổ chức Công đoàn trong phong trào công nhân; vai trò của tổ chức Liên đoàn Phụ nữ Quốc gia Ấn Độ trong công tác giáo dục tác phong, tư tưởng cho công nhân tác giả cho rằng, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện sản xuất và lối sống hiện đại đã có ảnh hưởng có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống, tác phong, nhận thức chính trị, tư tưởng của đại đa số các tầng lớp dân cư, nhất là những người lao động trong xã hội Tuy nhiên, GCCN các nước vẫn có vai trò quan trọng là lực lượng chính sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, có khả năng chiếm lĩnh, làm chủ thành tựu khoa học kỹ thuật, đại diện cho phương thức sản xuất mới
Bàn về công nhân Trung Quốc, các tác giả Liễu Khả Bạch - Vương
Mai - Diêm Xuân Chi, "Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại" [3]
lại tập trung nghiên cứu vị trí và vai trò của GCCN đương đại từ đó tác động tới YTCT của người công nhân Qua việc phân tích thực trạng, xu hướng biến đổi của GCCN cùng với sự biến đổi và phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội, các tác giả đã chia khái niệm về GCCN thành: GCCN đồng nghĩa với giai cấp vô sản theo các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác, GCCN truyền thống
và GCCN đương đại Theo các tác giả, GCCN hiện nay là một cộng đồng lớn
và phức tạp, có sự phân hóa, phân tầng sâu sắc Đặc điểm lớn nhất của GCCN hiện nay là được "trí thức hóa, trí tuệ hóa" Đặt trong mối quan hệ với sự phát triển của kinh tế tri thức, các tác giả khẳng định, trình độ tri thức, công nghệ của công nhân ngày một tăng lên là một tất yếu Do vậy, họ có vai trò đặc biệt
Trang 23quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tri thức và phát triển sản xuất xã hội Các tác giả khẳng định, GCCN không chỉ là người sáng tạo ra của cải và giá trị xã hội chủ yếu mà còn chiến đấu hăng hái trong lĩnh vực kinh tế tri thức
mà học cũng là người đại diện quan trọng cho lực lượng sản xuất tiên tiến, trước sau như một, họ luôn là lực lượng cơ bản thúc đẩy sản xuất phát triển Với vị trí và vai trò đó, các tác giả đã đề xuất những giải pháp cơ bản để bảo
vệ quyền lợi cơ bản, hợp pháp của công nhân, từ đó tạo điều kiện và môi trường để họ tiếp tục phát huy vai trò to lớn của mình đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác về GCCN, tác
giả Covalep trong bài viết: "Những cơ sở và nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội"
[13] khẳng định những quan điểm của chủ nghĩa Mác về GCCN trong giai đoạn hiện nay vẫn còn giữ nguyên giá trị GCCN hiện đại vẫn là lực lượng chủ đạo của mọi cuộc cách mạng vì nó vẫn là giai cấp trực tiếp sản xuất ra cả cải vật chất; là giai cấp trung tâm của những mâu thuẫn gay gắt nhất trong xã hội, có tinh thần cách mạng triệt để và tính kỷ luật nhất, kiên quyết nhất; là giai cấp quan tâm đến sự cải biến xã hội theo hướng XHCN; là giai cấp tiên phong, chỗ dựa đáng tín cậy và là đồng minh cho các giai cấp, tầng lớp khác trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công Đồng thời, tác giả cũng đưa ra quan điểm bác bỏ sự nhầm lẫn giữa trí thức và công nhân trí thức, cho rằng công nhân bao gồm cả những thành phần thuộc tầng lớp trí thức Tuy nhiên, GCCN nếu muốn thắng lợi thì cũng phải biết tạo ra trong mình những đại biểu ưu tú nhất
Cũng nghiên cứu về công nhân thế giới, tác giả Nhiếp Văn Lân trong
bài viết: "Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa" [110], cho rằng sự tác động của các
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng trong lực lượng sản xuất đã làm thay đổi kết cấu xã hội và YTCT của GCCN Số công nhân truyền thống
Trang 24ngày càng giảm và thay vào đó là sự tăng lên của tầng lớp trung gian Sự thay đổi này đã dẫn tới những thay đổi về trình độ giác ngộ, trình độ tổ chức của GCCN như: Đồng cảm nhận thức về giai cấp bị phai nhạt dần; sự suy giảm về yêu cầu thay đổi chủ nghĩa tư bản (CNTB); khả năng tổ chức, động viên của hành động tập thể giảm sút Những thay đổi đó đã làm cho mối quan hệ giữa GCCN và chính đảng của nó có một khoảng cách nhất định, quan hệ truyền thống giữa GCCN với phong trào XHCN có những thay đổi Do đó, tổ chức Đảng Cộng sản phải có tư duy đổi mới trong nhìn nhận, đánh giá GCCN, phải đưa ra những chính sách mang tính thực tiễn mới có khả năng tập hợp GCCN và củng cố mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với GCCN
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG NINH TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI
Phần lớn những công trình nghiên cứu viết về công nhân Quảng Ninh
là công nhân ngành than Quảng Ninh Vì vậy, đã có không ít công trình khoa học bàn về vấn đề xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh Cụ thể:
Tác giả Thi Sảnh viết về "Quá trình chuyển hóa từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân khu mỏ Quảng Ninh" [78] đã nghiên cứu quá trình chuyển hóa từ chủ nghĩa yêu nước đến
chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân khu mỏ Quảng Ninh, lịch
sử GCCN Việt Nam Bài viết khái quát hoàn cảnh ra đời, nguồn gốc xuất thân, đặc điểm và tình cảnh công nhân mỏ dưới thời Pháp thuộc Công nhân
mỏ Quảng Ninh bị bóc lột tàn nhẫn, khốc liệt hơn nhiều so với những công nhân thuộc ngành nghề khác cùng thời vì đây là vùng đất thuộc quyền chiếm hữu trực tiếp của bọn chủ mỏ thực dân Tập trung với mật độ cao và có tính chất thuần nhất, người thợ mỏ Quảng Ninh đã khá thống nhất về mặt tư tưởng, tiến dần từng bước từ chủ nghĩa yêu nước đến CNXH Họ hòa mình vào các phong
Trang 25trào dân tộc chân chính bằng các cuộc đấu tranh mang đặc thù GCCN hiện đại với chủ nghĩa Mác - Lênin cáo Đảng Cộng sản và trở thành đấu tranh tự giác
Các tác giả thuộc Trung tâm phát triển và tri thức - Hội nhà văn Việt
Nam, "Than Việt Nam - Hôm qua, hôm nay và ngày mai" [92] đã trình bày
điều kiện tự nhiên khoáng sản than của vùng mỏ, tầm quan trọng của ngành than trong nền kinh tế đất nước, lịch sử quá trình khai thác than, sự hình thành đội ngũ công nhân mỏ và phong trào đấu tranh của họ từ tự phát lên tự giác qua các thời kỳ từ đó hình thành nên văn hóa công nhân mỏ và những khẩu hiệu truyền thống thể hiện tưởng chính trị đặc trưng - "Kỷ luật và đồng tâm"
Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam với công trình: "80 năm vinh quang thợ mỏ Việt Nam" [82] đã khái quát quá trình hình thành và phát triển
trong suốt chặng đường lịch sử hào hùng của đội ngũ công nhân vùng mỏ Quảng Ninh Cuốn sách gồm nhiều bài viết về truyền thống lịch sử ngành than
từ 12/11/1936 đến nay Đó là những truyền thống về tính kỷ luật trong đấu tranh, sự đùm bọc tương thân tương ái của những người cùng cảnh ngộ, cùng nghề nghiệp, cùng giai cấp… Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống ấy kết hợp với sức mạnh của ngành, của thời đại, công nhân ngành than Quảng Ninh nói riêng và công nhân công nhân của TKV nói chung đang ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong thời
kỳ hội nhập đang tiếp tục đang tiếp tục đặt ra cho công nhân ngành than Quảng Ninh những nhiệm vụ vinh quang nhưng cũng đầy khó khăn thách thức Công nhân ngành than Quảng Ninh đang phát huy sức mạnh của truyền thống, sức mạnh của cả hệ thống chính trị xứng đáng với tấm Huân chương Sao vàng và danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới mà Đảng, Nhà nước đã phong tặng
Tác giả Bùi Văn Kích với bài viết: "Phát huy truyền thống "Kỷ luật và đồng tâm", xây dựng đội ngũ công nhân lao động ngành than - Khoáng sản Việt Nam vững mạnh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
Trang 26nhập quốc tế" [44] đã nghiên cứu về truyền thống "Kỷ luật và đồng tâm"
đồng thời trình bày một cách khái quát đặc điểm hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân vùng mỏ Quảng Ninh, đặc điểm quá trình hình thành, phát triển truyền thống đấu tranh của đội ngũ này từ tự phát sang tự giác và
sự sáng tạo độc đáo của cuộc tổng bãi công năm 1936 dẫn đến sự ra đời khẩu hiệu "Kỷ luật và đồng tâm" ghi vào lịch sử truyền thống đấu tranh của công nhân vùng mỏ Quảng Ninh Theo tác giả bài viết, hiện nay, "Kỷ luật và đồng tâm", không chỉ là khẩu hiệu hành động, là sức mạnh của công nhân
mỏ mà đã trở thành đặc trưng của nếp sống văn hóa - "văn hóa công nhân mỏ" Việc phát huy truyền thống ấy sẽ góp phần xây dựng công nhân ngành Than - Khoáng sản Việt Nam đáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trong bài viết "Giáo dục truyền thống trong thanh niên công nhân ngành than" [104] của tác giả Phùng Văn Vịnh đã bàn đến vai trò của Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh dưới sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo đã đạt được những kết quả nhất định về giáo dục các giá trị truyền thống cho thanh niên công nhân ngành than Quảng Ninh Để có được thành quả ấy, Ban lãnh đạo Thường vụ Đoàn Thanh niên Quảng Ninh đã đặc biệt coi trọng công tác giáo dục truyền thống cho đoàn viên thanh niên như tuyên truyền giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhất là trong những ngày lễ lớn, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các phong trào thi đua Qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm, một số nội dung trọng tâm cần làm để thực hiện tốt việc giáo dục truyền thống cho
thanh niên công nhân mỏ
1.3 GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC LÀM SÁNG TỎ THÊM
1.3.1 Giá trị của những công trình đã nghiên cứu
Mặc dù còn có những cách tiếp cận vấn đề khác nhau song các tác giả đều khẳng định: trình độ lý luận chính trị của GCCN nói chung còn thấp, họ
Trang 27quan tâm nhiều hơn đến vấn đề công ăn, việc làm mà ít đề cập đến các vấn đề chính trị, xã hội khác đặc biệt là các vấn đề về học tập lý luận chính trị Từ
đó, các công trình cũng nêu ra các giải pháp chung Trong đó có những công trình đã đề cập đến giải pháp: đổi mới và tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đổi mới công tác xây dựng Đảng
Các công trình khoa học liên quan đến sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành Than Quảng Ninh cho thấy Quảng Ninh là một trong những cái nôi của GCCN Việt Nam Trong các công trình viết về lịch sử Đảng bộ Quảng Ninh, đội ngũ công nhân ngành than cũng được các tác giả tập chú ý và chiếm một phần lớn trong nội dung các tác phẩm vì thực chất lịch sử Đảng bộ Quảng Ninh chính là lịch sử của ngành than Quảng Ninh Nhìn chung, các công trình này đã trình bày được điều kiện, nguồn gốc, quá trình hình thành đội ngũ công nhân ngành than Quảng Ninh cùng với YTCT của nó Phân tích được quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Mác - Lênin thông qua các phong trào đấu tranh từ tự phát sang tự giác của đội ngũ công nhân nhân mỏ Trình bày được những nét căn bản đặc trưng của của các giá trị truyền thống và yếu tố hiện đại trong YTCT của đội ngũ công nhân này Qua đó, các công trình đã thấy được tầm quan trọng của các giá trị truyền thống, của văn hóa công nhân mỏ trong việc xây dựng YTCT của GCCN Việt Nam nói chung và đội ngũ công nhân ngành than Quảng Ninh với YTCT của mình nói riêng thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước Tuy nhiên, các công trình mới dừng lại ở các yếu tố truyền thống lịch
sử vẻ vang của đội ngũ công nhân ngành than Quảng Ninh, những thành tựu, yêu cầu và thách thức đặt ra trong tình hình mới đối với công nhân ngành than Quảng Ninh và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của ngành than hiện nay một cách khái quát Còn sự kết hợp giữa truyền thống dân tộc, truyền thống công nhân mỏ với các yếu tố hiện đại trong YTCT của người công nhân và cơ chế kết hợp giữa chúng thì hầu như chưa có công trình nào đề cập cũng như
Trang 28chưa có tác phẩm nào nghiên cứu một cách tập trung, cơ bản về các giá trị truyền thống của công nhân ngành than ở Quảng Ninh
Thực trạng YTCT của công nhân ngành than quảng Ninh cũng được
đề cập đến trong các bài báo, bài nghiên cứu, trên các tạp chí, cổng thông tin tỉnh Quảng Ninh khi viết về thực trạng của đội ngũ công nhân mỏ Các công trình đã trình bày những số liệu thực tế chứng minh về ý thức giác ngộ, trình
độ lý luận chính trị, ý thức pháp luật cũng như những giải pháp đã và đang áp dụng để xây dựng YTCT cho đội ngũ công nhân ngành than Quảng Ninh Các công trình cũng nêu bật lên việc các chủ thể, các cá nhân, các tổ chức có liên quan đã nhận thấy được vai trò của việc giáo dục các giá trị truyền thống cho người công nhân trong xây dựng YTCT của họ, vai trò của việc phát huy các giá trị ấy trong sự phát triển ngành than nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện nay mà ngành này đang phải đối mặt Mặc dù vậy, những bài biết về thực trạng YTCT của công nhân than Quảng Ninh hiện nay còn rất ít và nhỏ lẻ, lồng ghép trong các đề tài nghiên cứu khác Thực trạng của việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành Than Quảng Ninh thì hầu như không có
Giải pháp nhằm xây dựng YTCT cho GCCN nói chung và giải pháp xây dựng YTCT cho đội ngũ công nhân ngành than nói riêng được nhiều tác giả nghiên cứu về GCCN hiện đại đề cập Các tác giả này đã đề xuất được nhiều giải pháp cụ thể và thiết thực Từ các giải pháp lớn mang tính định hướng như cải cách, đổi mới các chủ trương đường lối chính sách, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người công nhân, đổi mới việc tuyên truyền giáo dục, xây dựng, kiện toàn tổ chức Đảng, tổ chức Công đoàn vững mạnh đến các giải pháp cụ thể gắn với các chỉ tiêu trong từng giai đoạn nhằm xây dựng YTCT, nâng cao nhận thức về vai trò SMLS của GCCN Bên cạnh đó, các tác giả cũng chỉ ra những bất cập, tồn tại hạn chế của các giải pháp đang được áp dụng khiến cho công tác tuyên truyền, giáo dục chưa đạt hiệu quả
Trang 29cao, ý thức giác ngộ của người công nhân chưa được như mong muốn Nhưng giải pháp kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT cho công nhân dường như lại chỉ được xem là một giải pháp rất nhỏ, không được chú ý nhiều và các tác giả thường chỉ nhắc đến một cách lướt qua, điểm xuyết trong những giải pháp lớn, đặc biệt là trong các giải pháp giáo dục, tuyên truyền trong xây dựng ý thức công nhân
Đối với công nhân than Quảng Ninh, các tác giả thường đề cao giá trị truyền thống trong xây dựng YTCT cho người công nhân mỏ, còn việc kết hợp các giá trị truyền thống ấy với những giá trị hiện đại và làm thế nào để kết hợp, coi nó như một giải pháp quan trọng nhằm xây dựng YTCT cho những người công nhân này để đáp ứng với yêu cầu mới của thời kỳ CNH, HĐH và thời kỳ hội nhập thì chưa thấy có bài viết hay tác giả nào đề cập
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng
tỏ thêm
Trên cơ sở kế thừa giá trị của những công trình nghiên cứu trước đó cùng với sự tìm tòi, nghiên cứu của tác giả về những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, luận án tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận án tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận của việc kết hợp giữa
giá trị YTCTTT và giá trị YTCTHĐ trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh như: mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT, tính tất yếu của việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành Than Quảng Ninh, những yêu cầu cơ bản của việc hợp giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh…;
Thứ hai, luận án nghiên cứu một cách cơ bản những giá trị YTCTTT
mang tính chất đặc trưng của công nhân mỏ và những yếu tố gì thuộc về giá trị YTCTHĐ của đội ngũ công nhân này, thực trạng của việc kết hợp những giá trị đó trong xây dựng YTCT công nhân ngành than;
Trang 30Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của thực trạng
kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh; đồng thời đề xuất những giải pháp cơ bản để sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT cho đội ngũ công nhân ngành than
Quảng Ninh đạt hiệu quả cao
Tiểu kết chương 1
Kết hợp truyền thống và hiện đại là quy luật khách quan của sự phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm cả đời sống tinh thần, đặc biệt là sự phát triển YTCT Những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta
đã có những chính sách nhằm gìn giữ, phát huy truyền thống cũng như tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hiện đại trong việc xây dựng YTCT cho GCCN, song trên thực tế, hiệu quả của công tác này đối với GCCN Việt Nam nói chung và công nhân ngành than Quảng Ninh còn nhiều hạn chế Vẫn có không ít những cách nghĩ, cách làm lệch lạc trong việc định hướng, tuyên truyền cho người công nhân, thái độ đối với các giá trị truyền thống của giai cấp, của dân tộc và của ngành cũng như xử lý mối quan hệ giữa những giá trị truyền thống và yếu tố hiện đại Trong các giai đoạn lịch sử, kể cả giai đoạn hiện nay, một bộ phận lớn công nhân than Quảng Ninh có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp Ý thức nói chung cũng như trong YTCT nói riêng của họ, vẫn còn bị chi phối bởi những tập quán, cách thức làm ăn, những tâm lý, thái độ, những quan điểm, tư tưởng thủ cựu, ngại thay đổi, ngại đổi mới hoặc phủ định sạch trơn Vì vậy trong nhận thức của người công nhân
đã tồn tại cả hai xu hướng cực đoan: hoặc coi nhẹ các giá trị truyền thống mà nhấn mạnh các giá trị hiện đại, hoặc quay trở về với truyền thống một cách thái quá, cực đoan khi mà công tác lý luận chưa làm rõ nhiều vấn đề nổi lên trong quá trình đổi mới Vì vậy, việc đánh giá tổng quan lại các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT GCCN Việt Nam nói chung và công nhân Quảng Ninh nói riêng
Trang 31sẽ góp phần bổ sung vào nhận thức lý luận cũng như đưa ra các giải pháp thực tiễn đối với vấn đề này Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đề tài này vẫn chưa có nhiều công trình chuyên biệt nhất là dưới góc độ triết học, còn nhiều vấn đề đặt ra và cần tiếp tục làm sáng tỏ Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải đi sâu, tập trung hơn nữa sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT, coi đây là một giải pháp quan trọng nhằm xây dựng YTCT của GCCN Việt Nam nói chung và công nhân ngành Than Quảng Ninh nói riêng, góp phần giúp GCCN hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong thời
kỳ CNH, HĐH
Trang 32Chương 2 KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG
Ý THỨC CHÍNH TRỊ CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG NINH
HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
2.1 Ý THỨC CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG NHÂN NGÀNH THAN QUẢNG NINH HIỆN NAY
2.1.1 Ý thức chính trị
Ý thức chính trị là một trong những hình thái của ý thức xã hội, xuất hiện khi xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh đời sống chính trị của xã hội, trong đó cốt lõi là mối quan hệ giữa các giai cấp YTCT là một lĩnh vực rộng lớn
và phức tạp và có vai trò quan trọng trong xã hội có giai cấp Nó được biểu hiện qua hai cấp độ là tâm lý chính trị và hệ tư tưởng chính trị Để hiểu được YTCT
thì cần phải tìm hiểu hai khái niệm hợp thành là ý thức và chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan vào bộ não của con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Sự phản ánh ý thức không phải là sự phản ánh thụ động giản đơn,
mà là sự phản ánh chủ động, sáng tạo hiện thực khách quan
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Chính trị là toàn bộ những hoạt
động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vận động giành chính quyền, duy trì
và sử dụng quyền lực Nhà nước, sự tham gia vào công việc Nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước” [63, tr.87] Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của chính trị suy cho cùng là sự biểu hiện tập trung của kinh tế V.I.Lênin chỉ rõ: “Chính trị là
sự biểu hiện tập trung của kinh tế… chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế ” [40, tr.121]
Như vậy, có thể hiểu YTCT là thái độ, sự hiểu biết, sự quan tâm đến những vấn đề liên quan tới những vấn đề giành, giữ, bảo vệ chính quyền của các tầng
Trang 33lớp, giai cấp trong xã hội Do đó, YTCT là sự phản ánh các quan hệ chính trị giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước
Ý thức chính trị có hai cấp độ chính là cấp độ thực tiễn - đời thường và cấp độ tư tưởng - lý luận Cấp độ thực tiễn - đời thường là biểu hiện của các dạng tâm lý, cảm xúc, mơ ước,… nảy sinh tự phát trong hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm, xã hội của con người, từ môi trường xung quanh và ảnh hưởng chính trị trực tiếp nào đó Cấp độ tư tưởng - lý luận được biểu hiện ở mức độ khái quát dựa trên những tri thức, hiểu biết về những vấn đề chính trị YTCT thực tiễn - đời thường chưa có tính hệ thống, không có tầm nhìn lịch sử rộng lớn nhưng điều đó không có nghĩa là nó tầm thường mà ngược lại, nó có nội dung phong phú, bao hàm nhiều mặt của đời sống chính trị, và ở mức độ nào
đó phản ánh được phần nào bản chất các vấn đề chính trị So với cấp độ tư tưởng - lý luận thì YTCT ở cấp độ thực tiễn - đời thường có điểm mạnh ở chỗ
nó gần hơn với hiện thực trực tiếp của đời sống chính trị, do đó nó có thể phản ánh một cách đầy đủ, toàn vẹn hơn đời sống chính trị YTCT thực tiễn - đời thường là kho tàng để YTCT có tính lý luận tìm kiếm và khái quát thành nội dung của mình
Ý thức chính trị rất phong phú nhưng cái cốt lõi của nó là sự hiểu biết, nhận thức của một giai cấp về địa vị lịch sử, về lợi ích giai cấp, nhiệm vụ của giai cấp trong sự phát triển của xã hội Do vậy, ở cấp độ thứ hai, YTCT tư tưởng - lý luận được biểu hiện là những quan điểm chính trị đã được hệ thống hóa thành một chỉnh thể mang tính hợp lý, tính khoa học, phản ánh được mối quan hệ bản chất, tất yếu, phổ biến của các hiện tượng trong đời sống chính trị, được thể hiện dưới dạng các khái niệm khoa học mà đỉnh cao là các học thuyết chính trị và hệ tư tưởng chính trị Hệ tư tưởng chính trị của giai cấp phản ánh trực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp của giai cấp đó Hệ tư tưởng chính trị là hệ thống những quan điểm, tư tưởng thể hiện lợi ích căn
Trang 34bản của một giai cấp nhất định, được cụ thể hóa và biểu hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của Đảng, trong luật pháp, chính sách của Nhà nước Hệ
tư tưởng được hình thành một cách tự giác, được các nhà tư tưởng xây dựng
và truyền bá Hệ tư tưởng chính trị thường gắn với các tổ chức và các cơ quan chính trị, thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích của giai cấp mình
Hệ tư tưởng chính trị của giai cấp nắm chính quyền có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội Thông qua các tổ chức Nhà nước, nó tác động trở lại cơ
sở kinh tế, biểu hiện ở chỗ nó thông qua quyền lực Nhà nước để bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế mà giai cấp cầm quyền là người đại diện cho quan
hệ sản xuất chiếm vị trí thống trị trong xã hội đó Hệ tư tưởng chính trị còn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội nói chung Thông qua các tổ chức Nhà nước sẽ xác lập vị trí chi phối của hệ tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền trong văn hóa, nếp sống và mọi lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội
Ý thức chính trị nói chung và hệ tư tưởng chính trị nói riêng có tác động tích cực hoặc tiêu cực tới đời sống xã hội phụ thuộc vào tính chất tiến bộ hay lạc hậu, cách mạng hay phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó Điều đó tùy thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp cầm quyền quyết định Khi giai cấp đó còn tiến bộ, cách mạng, tiêu biểu cho tiến trình lịch sử thì hệ tư tưởng - chính trị của nó là tiến bộ, phản ánh đúng hiện thực của đời sống chính trị và có tác động tích cực đến sự phát triển của xã hội Khi giai cấp trở thành lạc hậu, không còn giữ vai trò lịch sử thì hệ tưởng của là nó phản khoa học, phản ánh xuyên tạc, sai lầm các hiện tượng trong đời sống chính trị và nó
sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
Việt Nam hiện nay đang tiến lên theo con đường chủ nghĩa xã hội (CNXH) Mặc dù trong xã hội vẫn còn đối kháng giai cấp, vẫn còn nhiều hệ
tư tưởng chính trị tồn tại, tuy nhiên hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công
Trang 35nhân chính là hệ tư tưởng giữ vị trí thống trị, chủ đạo trong xã hội Đây là hệ
tư tưởng tiến bộ, cách mạng và khoa học, phản ánh được nhu cầu, quyền lợi, lợi ích của toàn thể nhân dân lao động Hệ tư tưởng này đối lập với hệ tư tưởng của những giai cấp bóc lột, tư hữu trong xã hội, định hướng đúng đắn cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến hành cuộc đấu tranh một cách tự giác để xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, công bằng, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử
Qua phân tích nội hàm khái niệm YTCT có thể hiểu, YTCT của GCCN Việt Nam là những tình cảm chính trị, thái độ chính trị, quan điểm chính trị, tư tưởng chính trị của GCCN, phản ánh vị trí, vai trò của GCCN trong mọi mặt của đời sống chính trị YTCT của GCCN Việt Nam có hệ tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được hình thành trong qua trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN ở Việt Nam
Ý thức chính trị của công nhân ngành than Quảng Ninh cũng bao gồm những đặc trưng cơ bản của YTCT của GCCN Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình hình thành, phát triển, nó chịu tác động bởi những điều kiện hoàn cảnh đặc thù YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh là những tư tưởng, quan điểm, thái độ chính trị của công nhân ngành than Quảng Ninh dựa trên hệ tư tưởng của GCCN Việt Nam Nó được hình thành trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và trong thời kỳ đổi mới của dân tộc, của giai cấp, của ngành than và của tỉnh Quảng Ninh YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh chính là sự giác ngộ và tự ý thức về giai cấp mình, về quyền và nghĩa vụ của GCCN Việt Nam; là sự nhận thức về đường lối chính trị, hệ thống chính trị, là thái độ, tình cảm đối với sự nghiệp đổi mới, với giai cấp, tầng lớp và dân tộc Việt Nam Đồng thời YTCT của công nhân ngành than Quảng Ninh cũng là sự nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cũng như trên phạm vi thế giới… nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”
Trang 362.1.2 Xây dựng ý thức chính trị công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay
Từ tổng thể nội dung YTCT, có thể thấy YTCT là một mặt đời sống tinh thần của người công nhân ngành than Quảng Ninh Xây dựng YTCT có vai trò quan trọng đối với địa vị và sứ mệnh giai cấp của công nhân ngành
than Quảng Ninh Có YTCT, người công nhân mới xứng đáng vai trò là người
công nhân mới, con người mới Việt Nam; công nhân ngành than Quảng Ninh mới xứng đáng là những người thuộc về giai cấp làm chủ, giai cấp cầm quyền (thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam) Có YTCT, người công nhân, về đạo đức, sẽ tu dưỡng theo tinh thần của đạo đức cách mạng; về pháp luật, sẽ phấn đấu cho nhà nước pháp quyền XHCN; về xã hội sẽ phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, tiến bộ… Có YTCT, người công nhân hiểu được
vị trí kinh tế của giai cấp mình Lúc này, YTCT được biểu hiện tập trung ở ý thức lao động khi tham gia hoạt động sản xuất, quan tâm đến sản xuất, kinh doanh của đơn vị, tích cực và sáng tạo trong lao động vì lợi ích hài hòa của mình, của doanh nghiệp và của xã hội Có YTCT, người công nhân sẽ điều chỉnh hành vi của mình thông qua các mối quan hệ xã hội như: gia đình, doanh nghiệp, ngoài xã hội theo nguyên tắc: “Mình vì mọi người, mọi người
vì mình” Do vậy, xây dựng YTCT có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng một hình ảnh đẹp đẽ của người công nhân ngành than Quảng Ninh trong thời
kỳ mới, góp phần làm cho SMLS của GCCN có tính thuyết phục trước các giai cấp, tầng lớp xã hội khác ở nước ta Điều này góp phần làm cho GCCN mới có thể là nòng cốt của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Có thể hiểu, xây dựng YTCT công nhân là hoạt động của các chủ thể tham gia xây dựng YTCT sử dụng các công cụ (kinh tế, văn hóa, chính trị…)
và phương pháp (tuyên truyền, giáo dục, nêu gương…) tác động vào đối tượng xây dựng YTCT (cụ thể ở đây là YTCT của người công nhân) nhằm
Trang 37nâng cao nhận thức và xây dựng thái độ, tình cảm chính trị đúng đắn của người công nhân đối với thể chế chính trị trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Công đoàn…), đối với những nội dung chính trị quan trọng (chế độ, chính thể, đường lối chính sách… phát triển Quốc gia), đối với các giai cấp, tầng lớp cơ bản (nông dân, trí thức, tư sản…) nảy sinh trong quá trình xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Từ đây có thể thấy, việc xây dựng YTCT công nhân phụ thuộc vào những yếu tố như: chủ thể tham gia xây dựng YTCT, nội dung xây dựng YTCT, phương pháp xây dựng YTCT
Về chủ thể tham gia vào xây dựng YTCT cho công nhân ngành than
Quảng Ninh; căn cứ vào Quyết định số 345/2005/ QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ, ngày 26 tháng 12 năm 2005 Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở Tập đoàn Than Việt Nam và Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam, ngày 25 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quyết định số 989/QĐ-Ttg về việc chuyển công ty mẹ
TKV thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ
sở hữu Ngày 19 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 212/2013/NĐ-CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Qua
đó, hệ thống chính trị của TKV hiện nay như sau: Đảng bộ TKV (trực thuộc Đảng bộ Doanh nghiệp Trung ương), Đảng bộ Than Quảng Ninh (trực thuộc tỉnh ủy Quảng Ninh) và các chi đảng bộ cơ sở; Ban lãnh đạo quản lý điều hành tập đoàn (Hội đồng thành viên TKV là đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại TKV do Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ công thương, Tổng giám đốc TKV và các Phó Tổng Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm), Ban lãnh đạo các công ty mẹ và công ty con;Công đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (trực thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam), các công đoàn bộ phận và các tổ công đoàn và các tổ chức chính trị -
xã hội khác thuộc TKV và Than Quảng Ninh Trên cơ sở đó, các chủ thể tham
gia vào xây dựng YTCT cho công nhân ngành than Quảng Ninh bao gồm:
Trang 38Một là, Trung ương (Đảng, Nhà nước, Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam và một số bộ ngành có liên quan), tỉnh Quảng Ninh (Đảng bộ tỉnh, các
sở, ban, ngành có liên quan trực thuộc tỉnh, Cơ quan Khối cấp tỉnh), TKV (Đảng bộ, Ban lãnh đạo, Công đoàn), các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể của Đảng bộ Than Quảng Ninh và của địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là các chủ thể có vai trò định hướng, tạo môi trường cho việc xây dựng YTCT cho GCCN nói chung và công nhân ngành than Quảng Ninh nói riêng Thông qua các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, các chính sách cụ thể của ngành, của địa phương mà việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong xây dựng YTCT cho công nhân ngành than Quảng Ninh được xác định đúng phương hướng, có môi trường pháp lý để
thực hiện và cơ sở để đảm bảo nhu cầu lợi ích chính trị cho người công nhân
Hai là, tổ chức đảng, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác
ở doanh nghiệp trực thuộc Đảng bộ Than Quảng Ninh Đây là những chủ thể trực tiếp và quan trọng tác động đến YTCT của người công nhân YTCT không thể tự phát hình thành trong công nhân Nó chỉ có thể hình thành trong quá trình sản xuất, học tập, rèn luyện của người công nhân Các tổ chức đảng, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác ở doanh nghiệp có chức năng lãnh đạo, định hướng công tác tư tưởng, giáo dục lý luận chính trị cho công nhân trong doanh nghiệp Trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị, định hướng nhận thức chính trị cho công nhân Công đoàn là tổ chức chính trị quan trọng bảo vệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích chính trị cho công nhân Thông qua việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của các đảng bộ TKV, tỉnh Quảng Ninh, than Quảng Ninh, tổ chức đảng, công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác ở doanh nghiệp trực thuộc Đảng bộ Than Quảng Ninh có nhiệm vụ phát huy vai trò lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp, động viên người công nhân thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả, chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn và phát huy các giá trị
Trang 39truyền thống tốt đẹp của doanh nghiệp, của ngành, của giai cấp, của dân tộc
và của địa phương; tăng cường đoàn kết giữa người công nhân và người quản
lý, lãnh đạo doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp thực thi đúng đắn luật lao động; giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt tình hình, tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người công nhân, để kịp thời giải quyết những vướng mắc, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân
Ba là, người sử dụng lao động, ban lãnh đạo trong các doanh nghiệp
của ngành than Quảng Ninh là những người tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho tổ chức đảng, công đoàn hoạt động tốt trong lĩnh vực xây dựng YTCT cho công nhân Người sử dụng cũng có thể gây hiệu ứng tích cực hay tiêu cực đến YTCT của người công nhân thông qua các quy chế, kỷ luật lao động, hoạt động quản lý lao động trong công ty và hình ảnh của chính bản thân người sử dụng lao động
Bốn là, đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng (đội
ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên ) có vai trò quan trọng trong việc truyền tải đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhiệm vụ chính trị của tỉnh, của ngành than đến với người công nhân qua công tác tuyên truyền Không chỉ vậy, đội ngũ này còn có vai trò nắm bắt tâm
lý, nguyện vọng và định hướng thông tin cho người công nhân Chất lượng tuyên truyền, giáo dục YTCT cho công nhân phụ thuộc vào nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục của đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Năm là, bản thân người công nhân ngành than Quảng Ninh là khách
thể chính đồng thời cũng là chủ thể của của xây dựng YTCT Việc xây dựng YTCT cho công nhân thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, mức độ trau dồi YTCT, tính tự giác của người công nhân và khả năng tiếp thu và chuyển hóa những giá trị lý luận vào hành động thực tế và công việc của họ
Trang 40Trên cơ sở nhận thức về xây dựng YTCT công nhân ngành than
Quảng Ninh, nội dung xây dựng YTCT công nhân ngành than Quảng Ninh bao gồm:
Một là, xây dựng cho người công nhân ý thức giác ngộ về sứ mệnh
lịch sử của GCCN Việt Nam trong truyền thống đấu tranh cách mạng cũng như trong sự nghiệp xây dựng CNXH mà trong giai đoạn hiện nay là đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH Giáo dục, bồi dưỡng để người công nhân có hiểu biết về các giá trị truyền thống đấu tranh cách mạng của dân tộc từ đó có nhận thức đúng đắn, tình cảm, niềm tin về học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó đặt niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có thái độ kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, xuyên tạc, muốn phủ nhận, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Hai là, tuyên truyền, giáo dục cho người công nhân những hiểu biết
khái quát về các giá trị tuyền thống như đoàn kết, kỷ luật từ đó thấy được vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, có niềm tin và tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… Đặc biệt, còn làm cho họ biết được
và có thái độ đúng trước những bất cập hiện nay của các tổ chức này
Ba là, trang bị cho người công nhân những nhận thức về những nội
dung lớn trong đường lối, những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, nhất
là có liên quan trực tiếp đến công nhân và công nghiệp mà cụ thể ở đây là ngành than Giúp họ biết được và nắm được những văn bản pháp luật quan trực tiếp đến cá nhân, đơn vị Qua đó làm cho người công nhân biết được và tuân thủ quyền và nghĩa vụ của mình với tính cách là công dân
Bốn là, xây dựng cho người công nhân nhận biết về lịch sử dân tộc,
lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam để từ đó người công nhân thấy được tầm quan trọng và thực thi liên minh với nông dân và trí thức, thái độ đúng đắn đối với đối với người sử dụng lao động Qua đó góp phần xây dựng mối