1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhân dân trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh hưng yên hiện nay

160 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 171,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, hiểu biết pháp luật về các quyền, nghĩa vụ của một bộ phận nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở còn hạn chế; Thứ ba, chất lượng tham gia góp ý, thảo luận của nhân dân

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN ĐẠI

VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH HƯNG YÊN

HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VI Ệ N KHOA H ỌC XÃ H ỘI

NGUY Ễ N VĂN Đ ẠI

VAI TRÒ C ỦA NHÂN DÂN TRONG TH ỰC HI Ệ N QUY CH Ế DÂN CH Ủ CƠ S Ở Ở TỈNH HƯNG YÊN

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôidưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đình Hòa và PGS,TS Trương QuốcChính; những kết quả và nội dung của luận án là trung thực; các tài liệu thamkhảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Văn Đại

Trang 4

1.2 Giá trị tham khảo của các công trình đã công bố và nội dung

nghiên cứu mới của luận án 24

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG

2.1 Vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở - khái

niệm, một số nội dung cơ bản 28 2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò của nhân dân trong thựchiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay 52

Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN

CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 71 3.1 Thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ

cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay 713.2 Một số vấn đề đặt ra hiện nay 106

Chương 4: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI

TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ

4.1 Một số quan điểm định hướng nhằm phát huy vai trò của nhân dân trongthực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay 115

4.2 Một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của nhân dân trongthực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay 119

Trang 5

DANH M Ụ C TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O 151

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

HĐND: Hội đồng nhân dân HTCT: Hệ thống chính trị

UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi quầnchúng nhân dân là chủ thể, lực lượng chân chính sáng tạo ra lịch sử Để pháthuy vai trò to lớn đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyếtlãnh đạo thực hiện phát huy dân chủ Ngày 18 tháng 2 năm 1998, Bộ Chính trịBan Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 30/CT-TW

về Quy chế dân chủ ở cơ sở; năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh 34/PL/2007 về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Xét

ở phạm vi quốc gia, qua 20 năm thực hiện, dân chủ ở cơ sở đã có nhữngchuyển biến tích cực: “Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơntrong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đạidiện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế Nhiều cấp ủy đảng, chínhquyền đã lắng nghe, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân” [25, tr 167].Nhờ vậy, kinh tế đất nước phát triển cao, chính trị - xã hội ổn định, niềm tincủa quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước ngày càng được tăng cường.Bên cạnh đó, việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở còn một số hạn chế như:

“nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân cònhạn chế… có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ,ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” [25, tr 168]

Tỉnh Hưng Yên nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Hồng, códiện tích tự nhiên 930km2, dân số hơn 1 triệu người Trong những năm gầnđây, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh có những chuyển biến khá tíchcực Đó là việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ, thương mại, như khucông nghiệp Phố Nối - Mỹ Hào, Như Quỳnh - Văn Lâm, Yên Mỹ, Văn Giang,thành phố Hưng Yên, Kim Động…, đời sống vật chất, tinh thần của phầnđông người dân Hưng Yên đã được cải thiện

Trang 7

Trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã

ban hành Đề án 01-ĐA/TU ngày 05/5/2011 về Nâng cao chất lượng, hiệu quả

thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2011-2020;

qua gần 7 năm thực hiện, nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớpnhân dân về dân chủ cơ sở được nâng lên Chính quyền các cấp tích cực thựchiện cải cách hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân;Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phươngthức hoạt động, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phongtrào thi đua yêu nước, xây dựng khu phố, làng, gia đình văn hóa… Thông quathực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, chínhquyền được tăng cường

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phát huy vai trò của nhân dântrong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên cũng còn những hạnchế, bất cập như:

Thứ nhất, một bộ phận nhân dân chưa chủ động, tích cực thực hiện các

quyền được biết, được bàn, kiểm tra, giám sát; nhiều người tỏ ra thờ ơ, thụđộng trong tìm hiểu, thực hiện các quyền dân chủ của mình

Thứ hai, hiểu biết pháp luật về các quyền, nghĩa vụ của một bộ phận

nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở còn hạn chế;

Thứ ba, chất lượng tham gia góp ý, thảo luận của nhân dân với các

chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội… chưa cao; có tìnhtrạng góp ý qua loa, chiếu lệ, chỉ quan tâm đến những phần việc liên quan trựctiếp đến lợi ích của mình

Thứ tư, trong thực tế thực hiện, cá biệt còn có tình trạng một số cá nhân

lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật

Trang 8

Biểu hiện cụ thể của những hạn chế trên là tình trạng khiếu kiện đôngngười, kéo dài, vượt cấp ở Hưng Yên có biểu hiện ngày càng phức tạp; tìnhtrạng chống người thi hành công vụ, không thực hiện các quyết định hànhchính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đặc biệt đã xuất hiện điểm nóngchính trị - xã hội cục bộ tại các xã Xuân Quang, Phụng Công, Cửu Cao huyệnVăn Giang năm 2012 liên quan đến thu hồi đất đai là ví dụ tiêu biểu

Những yếu tố trên đang tác động bất lợi đến phát huy vai trò của nhândân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, ảnh hưởng đến giữ vững ổn địnhchính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trong bối cảnh đó, pháthuy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trở thành vấn

đề có tính chất quyết định Có thể nói rằng, chưa bao giờ sự nghiệp đẩy mạnhphát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xãhội của Hưng Yên đòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh của toàn thể nhândân lại cấp thiết như hiện nay Đồng thời, chưa bao giờ sức mạnh của nhândân đòi hỏi nhất thiết phải được xác lập trên cơ sở phát huy sự giác ngộ vàkhả năng cống hiến của từng thành viên trong cộng đồng như hiện nay Điềunày có nghĩa, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, việc phát huy cho được vaitrò của quần chúng nhân dân trong thực hiện quy chế dân chủ phải được xem

là yếu tố chiến lược, quyết định sự thành công của mục tiêu đưa Hưng Yên trởthành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnhlần thứ XVII nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xác định

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn chủ đề “Vai trò của nhân dân

trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay” làm đề

tài luận án tiến sĩ Triết học của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý

luận, thực tiễn vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân

Trang 9

chủ cơ sở; luận án đề xuất một số quan điểm và nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận

án thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, tổng quan một số công trình tiêu biểu đã công bố liên quan đến

đề tài luận án;

Hai là, phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò của nhân dân trong

thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay;

Ba là, phân tích thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy

chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên từ năm 1998 đến nay và những vấn đề đặtra;

Bốn là, đề xuất một số quan điểm, nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát

huy vai trò của nhân dân tỉnh Hưng Yên trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ

sở trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu vai trò của

nhân dân tỉnh Hưng Yên trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

từ năm 1998 đến nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, có nhiều loại hình cơ sở khác nhau, như doanh nghiệp nhànước; cơ quan, đơn vị, trường học; xã, phường, thị trấn… Luận án chỉ nghiêncứu vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thịtrấn (theo Pháp lệnh 34/PL/2007-UBTVQH)

Trang 10

Về không gian: Tỉnh Hưng Yên (01 thành phố, 09 huyện, 161 xã,

phường, thị trấn)

Về thời gian: Từ năm 1998 (khi ban hành Chỉ thị 30/CT-BCT) đến nay

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nướcViệt Nam; Tỉnh ủy Hưng Yên về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở Đồng thời,luận án có kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước đã đượccông bố có liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, luận án cũng sử dụng các phươngpháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, điều tra -khảo sát, thống kê - so sánh, sàng lọc số liệu, tổng kết thực tiễn…

5 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, nghiên cứu vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân

chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay trên phương diện triết học;

Thứ hai, đề xuất một số quan điểm và nhóm giải pháp chủ yếu nhằm

tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về vai trò của nhân dântrong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở;

Trang 11

- Luận án cung cấp cơ sở lý luận, khoa học cho việc hoạch định chínhsách, pháp luật về phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dânchủ ở cơ sở hiện nay;

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiêncứu, giảng dạy các chuyên đề liên quan đến vấn đề dân chủ và thực hiện dânchủ tại Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, Trường Cao đẳng sư phạm HưngYên, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố trong tỉnh

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mụccác công trình của tác giả đã công bố, luận án gồm 4 chương, 8 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Những công trình nghiên cứu lý luận chung về vai trò của nhân dân, Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Dân chủ nói chung, Quy chế dân chủ cơ sở nói riêng là những phạm trùđược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu chủ đề nàykhông chỉ có ý nghĩa góp phần làm sáng tỏ sự cần thiết khách quan, bản chất,cách thức thực hành dân chủ, mà còn xây dựng lý luận để soi đường, chỉ đạothực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc ban hành chủ trương, chínhsách thực hiện dân chủ của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về quần chúng nhân dân và vai

trò của quần chúng nhân dân như: Lê Duẩn, “Cách mạng là sự nghiệp của

quần chúng” [14]; Phạm Văn Đồng “Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm

Trang 12

quần chúng của Hồ Chủ tịch” [26]; Việt Tiến, “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong Hiến pháp 2013” [89]; Vũ Lân, “Để quần chúng nhân dân tham gia tốt hơn vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” [39]

Trong các công trình này, các tác giả đã làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và vai trò của quần chúngnhân dân trong sự nghiệp cách mạng nói chung, ở Việt Nam hiện nay nóiriêng

Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn trong công trình “Cách mạng là sự nghiệp

của quần chúng” khẳng định, quần chúng nhân dân là phạm trù mang tính

lịch sử, trong các thời kỳ khác nhau thì lực lượng quần chúng cũng khác nhau.Theo tác giả, tính đặc thù của quần chúng nhân dân ở Việt Nam chủ yếu lànông dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 là cuộcnổi dậy của toàn dân, nhưng lực lượng chủ yếu là nông dân

Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong cuốn “Học tập quan điểm nhân dân,

quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch” cho rằng, quan điểm nhân dân của

Hồ Chủ tịch là đồng nhất với quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác Lênin Với sự vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng, HồChí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam đoàn kết chiến đấu để giữ vữngthành quả cách mạng Tác giả làm rõ vai trò của nhân dân theo quan điểm củaNgười là tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh, năng lực sáng tạo, cách mạng củaquần chúng nhân dân Để phát huy sức mạnh của nhân dân, Đảng, Nhà nướcphải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo nhằm thực hiện những nhiệm vụ cáchmạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác

-Tác giả Việt Tiến trong bài “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và

trong Hiến pháp 2013” cho rằng, Hồ Chí Minh là người có tư tưởng đầy đủ,

đúng đắn về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; coi nhân dân là lựclượng có sức mạnh vô tận và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Tư tưởng

Trang 13

của Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng và Nhà nước tatrong quá trình lãnh đạo nhân dân qua các thời kỳ cách mạng Đảng và Nhànước ta luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về sức mạnh của nhân dân,sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng

Khi phân tích vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chínhquyền, tác giả Vũ Lân cho rằng: “Cho đến nay, trong điều kiện, hoàn cảnh,nhất là trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, trong điều kiện Đảng cầmquyền, với những vấn đề cấp bách đặt ra trong xây dựng Nhà nước phápquyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì cần có cơ chế, quy chế,quy định cụ thể thống nhất, đồng bộ, bài bản, cụ thể hơn trong công tác này”

[39, tr 60] Tác giả cũng nhấn mạnh: “Nhưng dù có quy định thế nào chăngnữa, đối tượng giám sát nhất thiết phải có quần chúng nhân dân chứ khôngphải chỉ có những người đại diện cho quần chúng” [39, tr 63] Tác giả đề caovai trò của dân chủ trực tiếp trong tổ chức, hoạt động của Đảng và Nhà nướctrong điều kiện mới

Một số công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở và quy chế thực hiện

dân chủ ở cơ sở như: “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện

nay” của Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông [78]; “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Dương Xuân Ngọc [69];

“Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Cúc; “Một số vấn đề rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò của “Dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của Phạm Ngọc Quang [76]; "Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - một số vấn đề lý luận

và thực tiễn" của Đào Trí Úc [96]; "Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cường ý thức trách nhiệm của Nhà nước" của Lê Thi [86]; Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay" của Đỗ Trung Hiếu [33]; “Dân

Trang 14

chủ trực tiếp ở Việt Nam lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Văn Mạnh, Tào

Tác giả Lê Thi cho rằng, dân chủ ở cơ sở không phải là hình thức, mà làmột cấp độ của chế độ dân chủ Nội dung của dân chủ cơ sở được thể hiệndưới các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Củng cố và mở rộngdân chủ ở cơ sở là một quá trình nâng cao sức mạnh và hiệu quả hoạt độngcủa nhà nước, trước hết ở cấp xã, phường, thị trấn Đây cũng là quá trình hoànthiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả tích cực của các cơ quan nhà nước[86, tr 20]

Về chủ thể thực hiện dân chủ ở cơ sở, các công trình nghiên cứu đã chỉ

ra ba laoij chủ thể chủ yếu sau: chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo là đảng bộ các cấp từtỉnh đến xã, nòng cốt là Ban chấp hành đảng bộ, cấp ủy các cấp; chủ thể tổchức thực hiện là HĐND, UBND, UBMT Tổ quốc các cấp, các cá nhân Chủtịch UBND xã, trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, công chức cấp xã đượcgiao nhiệm vụ; chủ thể trực tiếp thực hiện là các tầng lớp nhân dân trên địabàn xã, phường, thị trấn [15, tr 124-125]

Trang 15

Về nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhiều công trình đã phân tích vàchỉ ra một số nội dung chủ yếu sau: Nhân dân thực hiện quyền được biết cácnội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội ở xã, phường, thị trấn; nhândân được bàn và quyết định một số công việc ở cơ sở; nhân dân tham gia ýkiến trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định; nhân dân thực hiệnquyền giám sát

Về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với phát triển nông thôn, trong

cuốn sách “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay” [78],

tác giả Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông cho rằng, phát huy dân chủ là mộttrong những động lực chủ yếu để phát triển nông thôn cả trong lịch sử và hiệntại của dân tộc Cũng trong công trình này, các tác giả đã đi sâu phân tích vaitrò của hệ thống chính trị trong ổn định chính trị, thực hiện quyền làm chủ củanhân dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền nhà nước ở nôngthôn

Về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân

làm chủ, trong bài viết “Một số vấn đề rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò

của “Dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [76], tác giả Phạm Ngọc Quang cho rằng: Xuất phát từ nhận thức mới về

vai trò của dân đối với Đảng, đã đến lúc phải khẳng định rằng, tự nó, Đảngkhông có quyền, mọi quyền lực mà Đảng có được là do nhân dân uỷ quyềncho Đảng và Nhà nước là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước là cơ chế có hiệu quảnhất Xét về thực chất, Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân,

vì Nhân dân Tự nó, mọi cơ quan nhà nước không có quyền Mọi quyền lựcnhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền cho nó Mặc dù không trực tiếpbàn tới bản chất mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với Nhândân làm chủ, song từ phân tích trên đã gợi ý cho luận án hướng nghiên cứu về

Trang 16

bản chất của mối quan hệ này, đặc biệt là xác định vị trí của nhân dân trongmối quan hệ

Bàn về vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của bộ máy Đảng,

chính quyền cấp cơ sở, tác giả Đào Trí Úc trong công trình "Cơ chế giám sát

của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - một số vấn

đề lý luận và thực tiễn" cho rằng, cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt

động của bộ máy Đảng và Nhà nước thông qua hai hình thức: Một là, thông

qua các tổ chức đại diện như Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn

thể nhân dân…; hai là, nhân dân trực tiếp giám sát Tuy nhiên, tác giả cũng

nhận định trên thực tế, quyền dân chủ, quyền giám sát của nhân dân hiện naycòn mang tính hình thức, do đó, kết quả không đạt được như mong muốn Vềkinh tế, nhìn chung có sự phát triển, nhưng nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưađạt được yêu cầu đề ra Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể nhân dân còn chưa đổi mới thực sự; tình trạng vi phạmdân chủ, tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy đảng, chính quyền vẫn chưađược khắc phục triệt để Cho nên, cần phải tăng cường mối liên hệ máu thịtgiữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Nhà nước nhưng nhất thiết phải có sựgiám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước Để đạt mụcđích đó, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của nhân dân trong việc giámsát hoạt động của bộ máy của Đảng và Nhà nước và các thiết chế tổ chứctrong hệ thống chính trị; từ đó, đánh giá đúng thực trạng của các cơ chế và cáchình thức giám sát hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị nước

ta Đồng thời nêu ra một số quan điểm, yêu cầu, nguyên tắc và khuyến nghị vềxây dựng các cơ chế và hình thức, các căn cứ pháp lý để nhân dân thực hiện

có hiệu quả vai trò giám sát hoạt động của Đảng và Nhà nước

Trang 17

Về vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, tác giả

Lê Thi cho rằng, năng lực làm chủ của người dân không phải tự nhiên mà có

Nó liên quan đến hai vấn đề là quyền được thông tin và trình độ học vấn, sựhiểu biết về xã hội của người dân [xem: 86, tr 20]

Một số công trình nghiên cứu về cộng đồng làng xã, tâm lý nông dân và

tác động của nó đến thực hiện dân chủ cơ sở như: Đỗ Long, “Quan hệ cộng

đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân” [45]; Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn

Thông, “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay” [80]; Lê Hữu Xanh, “Tác

động của tâm lý làng xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay” [101]; Đỗ Long, Vũ Dũng (đồng

chủ biên), “Tâm lý nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường” [46]; John Kleinen, “Làng Việt - Đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ” [54]; Nguyễn Bình Yên, “Ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến đối với con người

Việt Nam hiện nay” [102]; Phạm Giang, “Lấy dân làm gốc ở thời Trần” [27];

Đề tài khoa học cấp Bộ, "Mối quan hệ giữa yếu tố tâm lý xã hội với quá trình

thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn hiện nay" (Qua khảo sát một số

tỉnh Vùng đồng bằng Bắc Bộ) [37] Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõcăn cứ lý luận trong nghiên cứu tâm lý nông dân; những đặc trưng cơ bản củađời sống làng xã Việt Nam; ảnh hưởng của tâm lý nông dân với thực hiện dân

chủ cơ sở Trong công trình “Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý

nông dân”, tác giả Đỗ Long đã xem xét nhân cách người nông dân Việt Nam

qua các lăng kính đạo đức học và tâm lý học, chỉ ra những hạn chế trong nhâncách này; đồng thời phân tích những biểu hiện mới trong nhu cầu, nhận thức,tình cảm, năng lực, nhóm và chuẩn mực nhóm của nhân cách người nông dângiai đoạn hiện nay

Trong công trình “Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay”, các tác giả

Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông đã làm rõ một số vấn đề cơ bản về cộng

Trang 18

đồng làng xã Việt Nam từ khi hình thành đến nay; mối quan hệ giữa tổ chứcĐảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức trong cải cách hành chính,thực hiện dân chủ ở cơ sở Đặc biệt, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra một sốhạn chế liên quan đến thể chế chính trị ở nông thôn như hiệu lực của thể chếcòn yếu kém, thiếu sức mạnh… dẫn đến quyền lực của Nhà nước, của nhândân, của pháp luật không được tôn trọng Đây là nguyên nhân cơ bản làm chochủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước chưa phát huy hết hiệuquả, hiệu lực

Nghiên cứu về tâm lý nông dân Việt Nam trong giai đoạn đầu phát triển

kinh tế thị trường, các tác giả Đỗ Long, Vũ Dũng trong công trình “Tâm lý

nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường” đã cho rằng, “trong

thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường với các nhu cầu của họ về đất đai, vềứng dụng khoa học kỹ thuật, về thuê mướn sức lao động… nhưng do tâm lýbao cấp, tự người nông dân đã đặt ra những rào cản cho mình” [46, 104].Đồng thời, các tác giả cũng bước đầu làm rõ tâm trạng cũng như các nguyệnvọng của nông dân trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế thị trường Đây chính

là một trong những giai đoạn ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ cá nhân và cộngđồng ở nông thôn Việt Nam

Đánh giá về truyền thống dân chủ trong lịch sử Việt Nam, tác giả Phạm

Giang, trong công trình “Lấy dân làm gốc ở thời Trần” đã chỉ ra các đặc

điểm, hình thức thực hiện dân chủ thời nhà Trần Tác giả đã khái lược tưtưởng lấy dân làm gốc trong lịch sử phong kiến Việt Nam Đặc biệt là dướitriều đại nhà Trần, các vua tôi đã biết huy động sức mạnh của dân tộc lúc bấygiờ, tạo nên sức mạnh vô địch làm nên thắng lợi vĩ đại, ghi vào sử sách nướcnhà ba lần đại thắng quân Nguyên Mông Qua đó, tác giả phân tích và nêu lên

tư tưởng của người xưa đã biết vận động, lắng nghe và rất quan tâm đến việc

“lấy dân làm gốc”, như việc vua nhà Trần ý thức đặt ra những giới hạn quyền

lực của triều đình, đặt ra chức Gián quan Ít có triều đại phong kiến nào như

Trang 19

triều đại nhà Trần đã tổ chức nên Hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến của nhândân lo cho việc nước, khi đất nước lâm nguy Hội nghị thể hiện quyết tâm sắt

đá kháng chiến vì chính nghĩa của toàn dân trước quân Nguyên Mông xâmlược, biểu hiện sự kết hợp giữa tinh thần bất khuất của nhân dân và vì nhândân Ở thời kỳ này, các vua Trần chú trọng lắng nghe ý kiến, tranh thủ sựđồng thuận của đông đảo nhân dân Vì vậy, “lịch sử khẳng định: Biết đặtquyền lợi nhân dân lên trên, nhà Trần đã thực sự là người đại diện xứng đángcho dân tộc” [27, tr.114]; “Trần Quốc Tuấn tổng kết: “Vua tôi đồng lòng, anh

em hoà thuận, cả nước chung sức, giặc phải bị bắt” [27, tr.115] và “Khoan thưsức dân làm kế sâu rễ, bền gốc Đó là thượng sách giữ nước”[27, tr.113] Cóthể khẳng định rằng, ở bất cứ thời nào, các nhà “cầm quyền” biết dựa vào dân,phát huy và huy động sức mạnh từ nhân dân (dân chủ là vô địch) để giữ nước,phát triển đất nước, là biện chứng của phạm trù dân giàu thì nước mạnh, lànguồn gốc của sự ổn định chính trị, làm cho cuộc sống bình yên, toàn dânđoàn kết là tiền đề cho mọi thắng lợi

Từ những khái quát trên có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về vai trò của quần chúng nhân dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có thực hiện dân chủ ở

-cơ sở

Một số công trình đã làm rõ khái niệm, nội dung, bản chất, sự ra đời Quy chếdân chủ cơ sở ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; tác động của các nhân tố chủ quan,khách quan đến thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, nhất là ở nông thôn Đây lànhững tư liệu cần thiết mà tác giả sẽ kế thừa trong quá trình thực hiện luận án

1.1.2 Những nghiên cứu về thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài “Không ngừng phát huy dân

chủ ở cơ sở, khơi dậy tiềm năng, sức mạnh to lớn của nhân dân”, Tạp chí

Trang 20

Cộng sản, số 139 (7/2018) đã đánh giá một số thành tựu cơ bản qua 20 nămthực hiện Quy chế dân chủ cơ sở như: (1) Nhận thức về dân chủ và thực hànhdân chủ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xãhội, cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng được nâng lên; (2) Việc thựchiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần phát huy vai trò, tiềm năng, sứcsáng tạo của nhân dân tham gia bàn bạc những công việc của địa phương, đấtnước Những thành tựu trên là do cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị -

xã hội đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện, đẩy mạnh tuyêntruyền, quán triệt và tổ chức thực hiện; sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớpnhân dân [Xem: 93, tr 6]

Tác giả Trần Quang Nhiếp trong công trình “Nhìn lại mười năm thực

hiện Quy chế dân chủ cơ sở” [71] cho rằng, qua mười năm thực hiện quy chế

dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã đạt được những kết quả rất tích cực, gópphần tạo động lực thúc đẩy, phát huy quyền làm chủ của người dân, thu hútnhân dân tham gia quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơquan nhà nước, khắc phục một phần tệ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ,

xa rời quần chúng nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức; đóng góptích cực vào cải cách hành chính; tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân.Tác giả đã chỉ ra bốn thành tựu nổi bật là: (1) Nhận thức của cấp ủy, chínhquyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội về dân chủ và dân chủ trựctiếp của nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực; (2) Góp phần đẩy mạnh pháttriển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địaphương; (3) Tác động tích cực vào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; (4)Góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh, hoạt độnghiệu lực, hiệu quả

Tác giả Nguyễn Văn Hiển trong công trình “Về thi hành Pháp lệnh thực

hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 2007” [31] đã chỉ ra một số thành tựu chủ

Trang 21

yếu về phát huy vai trò của người dân như: “Nhận thức của người dân về cácquyền dân chủ; năng lực, trách nhiệm của nhân dân trong giám sát, tham giagóp ý kiến cho việc quản lý, điều hành của chính quyền, cán bộ ngày càngcao Nhân dân ở nhiều địa phương đã tích cực tham gia xây dựng, thực hiệnhương ước, quy ước qua nhiều hình thức khác nhau [31, tr.131-132] Vềnhững hạn chế, tác giả cũng chỉ ra: Mặt bằng nhận thức của người dân về quychế dân chủ ở cơ sở còn hạn chế, còn có tâm lý chông chờ, ỷ lại, thụ độngtrong nhận thức các quyền dân chủ; tình trạng cục bộ lợi ích trong thực hiệndân chủ cơ sở ở nhiều nơi…[Xem: 31, tr132-133]

Tác giả Nguyễn Hồng Chuyên trong công trình “Thực hiện pháp luật

về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [10] đã chỉ ra một số thành tựu và hạn chế trong thực hiện

dân chủ ở cơ sở như: Về thành tựu: Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

về thực hiện dân chủ ở cấp xã đã được quan tâm thực hiện; nhận thức, hiểubiết pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã của cán bộ và nhân dân đã đượcnâng cao; chính quyền cấp xã đã thực hiện niêm yết, thông báo những nội

dung công khai để nhân dân biết Về hạn chế: công tác phổ biến, tuyên

truyền, giáo dục pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã chưa đáp ứng được sựmong đợi của cán bộ và nhân dân; kiến thức, hiểu biết của một bộ phận nhândân về nội dung của pháp luật dân chủ ở cấp xã còn hạn chế; việc thực hiệncác nội dung dân biết, dân bàn, dân giám sát ở một số nơi còn mang tính hìnhthức [10, tr 34-42]

Tác giả Huỳnh Đảm trong công trình “Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy

chế dân chủ ở cơ sở” [16] đã tổng kết bốn thành tựu lớn là: (1) Nhận thức của

các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và toàn xã hội về dân chủ và dânchủ trực tiếp của nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực; (2) Góp phầnđẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, antoàn xã hội ở cơ sở; (3) Góp phần tích cực vào xây dựng đời sống văn hóa ở

Trang 22

cơ sở; (4) Góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch,vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả [16, tr.18-20] Tác giả cũng chỉ ramột số hạn chế trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở như: Một bộ phậncán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết, ý nghĩa của thực hiệndân chủ ở cơ sở cho nên thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo,thiếu gương mẫu trong thực hiện Quy chế Tình trạng phô trương, hình thứctrong tổ chức thực hiện Quy chế ở nhiều nơi Một bộ phận nhân dân có hiểubiết pháp luật, ý thức thực hiện dân chủ còn thấp; tư tưởng tự do, vô tổ chức,

bè cánh, dòng họ còn khá nặng nề ; năng lực giám sát của nhân dân còn hạnchế…[Xem 16, tr.20-22]

Tác giả Hà Thị Khiết trong bài “Những bài học kinh nghiệm về xây

dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở " đã chỉ ra bốn thành tựu chủ yếusau: (1) Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần tích cựcthúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở;(2) Góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sởđảng và chất lượng đảng viên; (3) Nâng cao năng lực quản lý, điều hành củacác cơ quan nhà nước và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; (4) Gópphần đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Mặttrận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội [38, tr.23-26] Tác giả cũng chỉ ramột số hạn chế, yếu kém cần khắc phục như: (1) Quyền làm chủ của nhân dân

ở nhiều nơi còn bị vi phạm; (2) Việc công khai, minh bạch các chế độ, chínhsách, nhất là chế độ, chính sách về nhà đất, tài chính, tài sản, quy hoạch, kếhoạch chưa được nghiêm túc theo quy định; (3) Công tác tuyên truyền, giáodục chưa được quan tâm đúng mức, nhận thức và thực hiện Quy chế chưađồng đều, thiếu trách nhiệm; (4) Sự phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, cácđoàn thể trong công tác chỉ đạo, kiểm tra còn chưa đồng bộ, chặt chẽ… [38,

tr 26-27]

Trang 23

Công trình "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện

nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"[11] tác giả Nguyễn Cúc cho rằng,

xây dựng một chế độ thật sự do nhân dân lao động làm chủ không chỉ là mụctiêu phấn đấu, mà còn phải được cụ thể hoá từng bước trong cuộc sống hàngngày, nhằm tạo động lực cho sự phát triển xã hội Để đáp ứng nhu cầu, nhiệm

vụ cách mạng, nhằm mở rộng, phát huy mạnh mẽ dân chủ ở cơ sở, ngày

18-21998 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 30 CT/TW về thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở Trên cơ sở Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành nhiềuNghị định quan trọng về thực hiện quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở (xã,phường, thị trấn ) Quy chế đi vào cuộc sống đã tạo ra bầu không khí dân chủcởi mở hơn trong xã hội, thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân, củng cốlòng tin của nhân dân vào chế độ Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước, tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũngnhư tình trạng lợi dụng dân chủ, vi phạm kỷ cương, pháp luật còn xảy ra ởnhiều nơi Việc cải cách hành chính, giám sát, kiểm tra thực hiện quy chế dânchủ còn hạn chế

Trong cuốn “Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” [3],

tác giả Lương Gia Ban nhấn mạnh quan điểm của Lênin, cho rằng muốn thựchiện một nền dân chủ thực sự cho những người lao động, một mặt, phải tăngcường chuyên chính vô sản để bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động; mặtkhác, phải làm thế nào để cho quần chúng nhân dân lao động tham gia mộtcách đông đảo vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, vì nếu không

tổ chức cho toàn dân tham gia quản lý một cách dân chủ những tư liệu sảnxuất đã tước đoạt của giai cấp tư sản thì không thể thực hiện được những biệnpháp cách mạng Từ đó, rút ra những bài học và ý nghĩa lịch sử từ di sản tưtưởng quý báu của V.I Lênin và Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựngnền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Đây là cơ sở hữu ích để tácgiả luận án tiếp thu, tích luỹ kiến thức, đào sâu nghiên cứu thực hiện luận án

Trang 24

Đề tài khoa học cấp Bộ "Quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở

một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay" của Nguyễn Thị Ngân (chủ nhiệm)

[68] Từ việc khảo sát điều tra, đánh giá công tác thực trạng triển khai thựchiện QCDC ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sơ kết giai đoạn 19982001, cáctác giả khẳng định tính thiết thực của phương châm "dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra", coi việc tiếp tục hoàn thiện, thực hiện QCDC cơ sở (xã,phường, thị trấn) nhất là ở địa bàn nông thôn là bước đột phá trong quá trìnhxây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta; đồng thời, các tác giả cũng nêu một

số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ

sở góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nôngthôn mới

Trong bài "Phát huy quyền lực chính trị của dân trong thực hiện dân

chủ ở cơ sở"[81], tác giả Hoàng Đức Sơn cho rằng: việc thực hiện dân chủ ở

cơ sở gắn bó chặt chẽ với quá trình thực thi quyền lực chính trị của nhân dân.Quyền lực chính trị của dân được xây dựng trên nền tảng khối đại đoàn kếttoàn dân, được tập hợp, tổ chức và dẫn dắt bởi hệ thống chính trị, trong đóĐảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo Do vậy, để phát huy quyền lựcchính trị của dân cần tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnhtoàn diện, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàcác đoàn thể nhân dân ở cơ sở, tiếp tục thực hiện tốt QCDC ở cơ sở (nay làPháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn)

Nhận xét chung, các công trình nêu trên đã khái quát, đánh giá thựctrạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay, nhất

là từ sau khi ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Vềnhững thành tựu chủ yếu, hầu hết các công trình nghiên cứu cho rằng, nhậnthức và thực hiện dân chủ ở cơ sở đã được nâng lên một bước Cán bộ vàngười dân đều hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của phát huy dân chủ ở cơ

Trang 25

sở Nhờ thực hiện phát huy dân chủ, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội

ở nông thôn có chuyển biến tích cực Bên cạnh những thành tựu, các côngtrình trên cũng chỉ ra một số, hạn chế chủ yếu, như một bộ phận nhân dân cònthờ ơ với vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở; việc thực hiện quy chế chưa nghiêmdẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp ở nông thôn; một bộ phậnlợi dụng các quyền dân chủ dẫn đến vi phạm pháp luật, gây mất trật tự ở nôngthôn Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan;trong đó, có một số nguyên nhân chủ yếu như trình độ phát triển kinh tế - xãhội ở nông thôn còn thấp, không đồng đều; ảnh hưởng từ tàn dư tư tưởngphong kiến, các thiết chế truyền thống ở nông thôn; hệ thống văn bản cònchồng chéo; năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn bất cập

1.1.3 Những nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở hiện nay

Để phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở trong thời gian sắp tới, trong bài “Không ngừng phát huy dân chủ ở cơ sở,

khơi dậy tiềm năng, sức mạnh to lớn của nhân dân”, Tạp chí Cộng sản, số

139 (7/2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo thực hiện năm nhómgiải pháp cụ thể là: (1) Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoànthể cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa cácquan điểm chỉ đạo của Đảng, nhất là Chỉ thị 30-CT/TW và Kết luận120KL/TW; (2) Các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tiếptục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm chính sách, phápluật được thực thi có hiệu quả; (3) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chứcchính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, nhất lànhững vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân; (4) Pháthuy vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong thực hiện Quy chếdân chủ ở cơ sở; (5) Nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền để

Trang 26

nâng cao nhận thức của nhân dân, giúp người dân tự giác thực thi pháp luật vàthực hiện tốt dân chủ trực tiếp theo quy định của pháp luật [93, tr 8-9]

Cùng mục tiêu trên, tác giả Lê Thi đề xuất một số giải pháp như: Bảnthân người dân cần có ý thức giữ gìn trật tự công cộng, biết tôn trọng phápluật, thực thi đúng pháp luật, có tinh thần dám phê phán, tố cáo, ngăn chặnnhững hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, khắc phục thái độ né tránh, thờ

ơ, bỏ mặc vì sợ liên lụy đến bản thân [86, tr 21]

Tác giả Huỳnh Đảm, trong công trình Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy

chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đã đề xuất năm nhóm giải pháp để nâng

cao chất lượng thực hiện dân chủ ở cơ sở là: (1) Đẩy mạnh công tác tuyêntruyền, giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những chủtrương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và thực hiện dân chủ ở

cơ sở; (2) Nâng cao trình độ dân trí nói chung, đặc biệt là kiến thức pháp luật

để nhân dân hiểu biết quyền và nghĩa vụ của mình, có ý thức sống và làm việctheo Hiến pháp, pháp luật; (3) Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận cần phối hợpchặt chẽ, thường xuyên trong tổ chức, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; (4)Gắn xây dựng và thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn với việc thực hiệncác nhiệm vụ chính trị của địa phương [Xem: 16, tr.24-26]

Tác giả Nguyễn Văn Hiển, trong công trình “Về thi hành Pháp lệnh

thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007” [31], đề xuất một số giải

pháp sau: (1) Hoàn thiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

và các văn bản pháp luật khác có liên quan; (2) Xây dựng, hoàn thiện một sốđạo luật làm cơ sở cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; (3) Nâng cao năng lựclãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở; (4) Nâng cao hiệu quả côngtác tuyên truyền

Trang 27

Trong đó, tác giả kiến nghị: “Trong thời gian sắp tới, để tổ chức thựchiện Hiến pháp năm 2013, nâng cao chất lượng, bảo đảm quyền dân chủ ở cấp

xã của công dân, cần nâng Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 lên thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” [31, tr.

295296] Luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn nên tiếp tục ghinhận các nội dung cơ bản của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thịtrấn 2007, đặc biệt là nhóm các quyền thực hiện dân chủ của người dân (côngkhai, bàn bạc, quyết định, giám sát) Bên cạnh đó, Luật thực hiện dân chủ ở

xã, phường, thị trấn cần bổ sung các nội dung như: Quy định về bầu Trưởngthôn, Tổ trưởng tổ dân phố; quy định vấn đề thực hiện dân chủ ở các huyệnđảo không có chính quyền cấp xã; bổ sung các chế tài để xử lý cơ quan khôngthực hiện/ thực hiện không đầy đủ các quy định về dân chủ, công khai [31,

tr 296-297]

Tác giả Nguyễn Hồng Chuyên trong công trình “Thực hiện pháp luật về

dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cho rằng: Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện

pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã theo hướng xây dựng, ban hành Luậtthực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Luật này cần tập trung vào các nộidung: (i) Kế thừa các quy phạm pháp luật phù hợp, đã được thực tiễn kiểmnghiệm trong quá trình thực hiện Pháp lệnh 34/PL/2007; (ii) Mở rộng hơn nữanội dung các quyền dân chủ của công dân, trao cho nhân dân địa phươngquyền được bàn và quyết định trực tiếp nhiều hơn các vấn đề, nội dung liênquan thiết thực đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội và lợi ích chung của cộngđồng; (iii) Bổ sung các hình thức công khai những nội dung nhân dân phảiđược biết như phát miễn phí tài liệu tới từng hộ gia đình để người dân có thờigian đọc, nắm bắt kỹ hơn nội dung thông tin [10, tr 331-333]

Đồng ý kiến trên, tác giả Đỗ Văn Dương trong công trình “Thực hiện

pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

Trang 28

thời kỳ đổi mới” cho rằng, Pháp lệnh 34/2007/UBTVQH11 vẫn còn hạn chế

với tầm vóc của vấn đề, nếu cứ để hình thức Pháp lệnh thì tính ổn định khôngcao và giá trị pháp lý thấp hơn luật Do vậy, cần phải nâng Pháp lệnh thựchiện dân chủ thành bộ luật để bảo vệ tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân,đảm bảo tính hiệu lực và tính khả thi cao trong thực tiễn [15; tr 218-219]

Tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm trong công trình: “Một số giải pháp phát

huy dân chủ ở cơ sở” [108] đã đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm phát huy

dân chủ cơ sở ở Việt Nam giai đoạn hiện nay là: (1) Tăng cường công táctuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của cán bộ,đảng viên và nhân dân về dân chủ; (2) Lấy mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm tiêu chí thực hiện dân chủ cơsở; (3) Xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm dân chủ trong thực hiện đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; (4) Nâng cao hiệu quả hoạtđộng của chế độ thực hành dân chủ trong các cơ quan, đơn vị nhằm phát huyquyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức, vai trò của người đứng đầuđơn vị Tác giả cho rằng “tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũcán bộ, công chức cấp xã, để cán bộ, công chức thực sự là công bộc của nhândân; làm việc vì lợi ích của nhân dân, góp phần xây dựng niềm tin của nhândân vào Đảng, Nhà nước” [82, tr 45]

Trong công trình “Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến

trình đổi mới” [5], tác giả Hoàng Chí Bảo đề xuất một số khuyến nghị chủ

yếu để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở nông thôn như: (1) “Giáo dụcnhận thức mới về dân chủ như một trọng điểm, trước hết là trong Đảng, trongNhà nước và hệ thống chính trị” [5, tr 250]; (2) Xây dựng hệ thống các vănbản quy định thực hiện dân chủ theo hướng ngắn gọn, giản dị, dễ nhớ, dễthuộc, dễ làm” [5, 250251]; (3) Chú ý đúng mức đến vai trò của thôn vàtrưởng thôn; đổi mới căn bản nội dung, phương pháp, phương thức đào tạo,

Trang 29

bồi dưỡng, sử dụng cán bộ cơ sở ở nông thôn cho thích hợp với điều kiện hiệnnay…

Trong công trình “Tiếp cận và giải quyết công việc cho dân trong tiến

trình đổi mới” [85], tác giả Nguyễn Văn Thâm cho rằng, để nâng cao chất

lượng giải quyết công việc cho dân, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụsau: (1) Đổi mới nhận thức về cách tiếp cận và giải quyết công việc cho dân;(2) Đổi mới cơ chế và hình thức tiếp cận và giải quyết công việc cho dân; (3)Hoàn thiện các cơ sở pháp lý về tiếp cận và giải quyết công việc cho dân; (4)Nâng cao nhận thức, năng lực của cán bộ tham gia hoạt động tiếp cận và giảiquyết công việc cho dân… [Xem: 85, tr 173-230]

Tác giả Nguyễn Dương Hùng trong công trình “Kiện toàn hệ thống

chính trị ở xã nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” [35], đã đề xuất ba nhóm giải pháp để kiện toàn hệ

thống chính trị, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sôngHồng gồm: (1) Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; (2)Hoàn thiện hệ thống pháp luật; (3) Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở vànâng cao các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của hệ thống chính trị

Trong bài viết “Ý nghĩa của Quy chế dân chủ cơ sở với phát triển kinh

tế - xã hội” [83], tác giả Đỗ Thị Thạch đã làm rõ những tác động tích cực của

Quy chế dân chủ cơ sở đối với phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là

ở các vùng nông thôn qua 8 năm thực hiện Trong đó, tác giả nhấn mạnh đếnvai trò chủ thể quyền lực nhân của dân được phát huy, sự đổi mới trong hoạtđộng của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ngày càng rõ néthơn…

Trong bài “Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Hưng Yên” [70], sau khi

đánh giá kết quả khảo sát thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở Hưng Yên giai

Trang 30

đoạn từ năm 1998 đến năm 2012, Tác giả Đức Nhuận đã chỉ ra những thànhtựu, hạn chế và đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Tăng cường côngtác lãnh đạo của cấp ủy cơ sở về thực hiện pháp lệnh dân chủ; (2) Gắn thựchiện dân chủ cơ sở với các nhiệm vụ chính trị của địa phương; (3) Phát huytính tiên phong, gương mẫu của cán bộ đảng viên; (4) Phát huy vai trò các tổchức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Quychế dân chủ cơ sở

Tác giả Nguyễn Thị Tuyết trong bài “Thực hiện pháp luật về dân chủ

trên địa bàn huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên hiện nay” [94], đề xuất năm

nhóm giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ cấp xã ở huyện KimĐộng là: (1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân chủ; (2) Tăng cường sựlãnh đạo của cấp ủy đảng về thực hiện dân chủ; (3) Đẩy mạnh công tác tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ; (4) Nâng cao chất lượng hoạtđộng của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cấp xã; (5) Tăng cường công táckiểm tra, giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

Đánh giá chung: Các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp cụ thể khác

nhau, trong đó tập trung vào bốn nhóm giải pháp cơ bản sau: Trước hết, phải

nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ

trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; thứ hai, cần hoàn thiện hệ

thống các văn bản quy định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhất là các văn

bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; thứ ba, phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở; thứ tư, nâng cao trình độ dân trí nói chung, hiểu biết

pháp luật của nhân dân về dân chủ nói riêng Đây là những tư liệu rất cần thiết

để tác giả tham khảo trong nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao vai tròcủa nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiệnnay

1.2 GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VÀ

Trang 31

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN ÁN

1.2.1 Giá trị tham khảo của các công trình đã công bố đối với tác giả luận án

Một là, các công trình đã công bố có liên quan đến chủ đề dân chủ cơ sở

đã bước đầu làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản như: Nhân dân, vai trò củanhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội; Quy chế dân chủ cơ sở, những nộidung chủ yếu của Quy chế dân chủ cơ sở; sự phát triển nhận thức về Quy chếdân chủ cơ sở ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; những nhân tố chủ yếu ảnh hưởngđến vai trò của nhân dân trong thực hiện dân chủ cơ sở Đặc biệt, một sốcông trình đã phân tích khá sâu sắc nội dung các quyền được biết, được bàn,được kiểm tra, giám sát của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

Hai là, các công trình đã đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ

sở ở Việt Nam nói chung, tỉnh Hưng Yên nói riêng qua 20 năm thực hiện Chỉthị 30/CT-TW; chỉ ra những thành tựu cơ bản như: Nhận thức về Quy chế dânchủ cơ sở của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng tăng lên; việc thựchiện dân chủ đã từng bước đi vào nền nếp; nhân dân đã tích cực, chủ độngtham gia bàn bạc, quyết định, giám sát các công việc ở cơ sở Các công trìnhnghiên cứu cũng khẳng định, nhờ thực hiện dân chủ ở cơ sở nên đời sống kinh

tế ngày càng phát triển, chính trị - xã hội được bảo đảm, mối quan hệ giữanhân dân với Đảng, Nhà nước ngày càng bền chặt

Ba là, các công trình đã công bố chỉ ra một số quan điểm, giải pháp

nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sởnhư: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về dânchủ; hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân chủ cơ sở; đẩy mạnh phát triển kinh

tế - xã hội tạo nền tảng vật chất thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; tăng cườngcông tác lãnh đạo của cấp ủy cơ sở

Trang 32

Những kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đã công bốđược tác giả trân trọng kế thừa trong luận án

Những khoảng trống mà các công trình hiện có chưa làm được: Một là,

chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về vai trò của nhân dân trong thựchiện Quy chế dân chủ cơ sở Hầu hết các nghiên cứu chỉ nghiên cứu chung vềthực hiện quy chế hay pháp luật dân chủ cơ sở Trong đó, đánh giá về vai trò

của nhân dân chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu Hai là, chưa có

công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của nhân dân trongthực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên hiện nay trên phương diệntriết học Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luậtdân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên, nhưng đây là những công trình nghiên cứutrên phương diện luật học và bàn chung về thực hiện pháp luật dân chủ ở tỉnh Hưng Yên, chứ chưa đi sâu nghiên cứu vai trò của nhân dân trong thực hiệnQuy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên Hiện cũng chưa có công trình nào đisâu nghiên cứu nội dung, hình thức, thực trạng vai trò của nhân dân trong thựchiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên Đây chính là nội dung mới màluận án triển khai thực hiện

1.2.2 Nội dung nghiên cứu mới của luận án

Một là, phân tích một số vấn đề lý luận về vai trò của nhân dân trong

thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở Trong đó, tác giả sẽ làm rõ nội dung, hìnhthức và những nhân tố tác động đến vai trò của nhân dân trong thực hiện Quychế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Hai là, đánh giá thực trạng vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy

chế dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ năm 1998 đến nay; chỉ rõnhững thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra

Trang 33

Ba là, đề xuất một số quan điểm, nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục

phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian sắp tới

Tiểu kết chương 1

Vấn đề dân chủ và phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện Quychế dân chủ cơ sở được xác định là một trong những vấn đề lớn cả về lý luận

và thực tiễn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đề tài này

đã được nhiều nhà khoa học, quản lý nghiên cứu trên nhiều phương diện khácnhau, như triết học, chính trị học, xã hội học, luật học

Các công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích, đánh giá những nộidung cơ bản như quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nguồn gốc,bản chất, chức năng của dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; quátrình hình thành và sự phát triển nhận thức của Đảng về thực hiện dân chủtrong thời kỳ đổi mới; những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thực hiện dânchủ ở cơ sở Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá những thành tựu, hạnchế trong việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; một số côngtrình nghiên cứu các kinh nghiệm trong việc phát huy dân chủ cơ sở, phát huyquyền làm chủ của nhân dân ở một số quốc gia trên thế giới

Trang 34

Trong các công trình đã công bố, đã có một số công trình nghiên cứuviệc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hưng Yên gần đây Tuy nhiên,việc nghiên cứu đó được thực hiện trên phương diện luật học và nghiên cứuthực hiện quy chế dân chủ nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu vềvai trò của nhân dân trong thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trên phương diện

triết học Đây là nội dung mà luận án sẽ tập trung nghiên cứu

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ

CƠ SỞ Ở VIỆT NAM

2.1 VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ - KHÁI NIỆM, MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm nhân dân, vai trò của nhân dân

"Nhân dân" trong tiếng Hy Lạp là “demos”, trong tiếng Anh là

“People”, về cơ bản được giải thích là cộng đồng người sinh sống trong một

quốc gia hay khu vực địa lý nhất định Trong ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay, cócác khái niệm tương đồng như: Dân, quần chúng nhân dân, người dân… Đây là khái niệm được dùng trong nhiều ngành khoa học xã hội và nhân vănkhác nhau

Trong Từ điển Triết học (1986), các học giả Liên Xô tiếp cận khái niệm nhân dân theo các nghĩa: Thứ nhất, theo nghĩa thông thường, nhân dân là “cư

dân của một quốc gia, của một nước” [95, tr 401], tức toàn bộ những ngườithực hiện hoạt động sinh sống của mình trong phạm vi một cộng đồng xã hộinhất định Tuy nhiên, chỉ trong xã hội xã hội chủ nghĩa, khái niệm "nhân dân"

Trang 35

mới bao quát toàn bộ dân cư, tất cả các nhóm xã hội của nó Bởi vì, trong các

xã hội có đối kháng giai cấp, dân cư bao gồm trong đó cả giai cấp, tầng lớp

thống trị - bộ phận không thể nằm trong thành phần nhân dân Thứ hai, với

nghĩa khoa học chặt chẽ, nhân dân là: “cộng đồng người thay đổi trong lịch

sử, bao gồm một bộ phận, những tầng lớp, những giai cấp của dân cư mà theođịa vị khách quan của mình, có khả năng cùng nhau tham gia giải quyếtnhững nhiệm vụ phát triển tiến bộ của một nước trong một thời kỳ nhất định”

[95, tr.401] Theo V.I.Lênin, khi dùng danh từ "nhân dân", C.Mác đã gộp vàodanh từ ấy những thành phần nhất định, có khả năng làm cách mạng đến cùng.Nhân dân bao gồm những người sản xuất trực tiếp - những người lao động,các nhóm dân cư không bóc lột - với tư cách là những thành phần chủ yếu củamình, tuy nhiên, không phải lúc nào nhân dân cũng có thể được quy vàonhững giai cấp và tầng lớp đó Trong tiến trình phát triển xã hội, khi tiến hànhnhững cải cách cách mạng nhất định, bản thân những nhiệm vụ khách quan,nội dung của cách mạng cũng thay đổi, cho nên cả thành phần xã hội của cáctầng lớp tạo nên nhân dân trong giai đoạn đó cũng không thể không thay đổi.Tính tiến bộ, cách mạng - tiêu chí quan trọng để xác định thành phần nhân dân

- không phải là bất biến ở mỗi người, bộ phận người, giai cấp, tầng lớp Một

bộ phận người dù trước đó tiến bộ nhưng một khi trở nên phản động thì bị loạitrừ khỏi thành phần nhân dân; trái lại, từ phản động trải qua quá trình cải biếnsâu sắc, triệt để, trở thành lực lượng tiến bộ, có chung lợi ích với đông đảo bộ

phận khác trong xã hội thì được đưa vào thành phần nhân dân Thứ ba, với

tính cách là một phạm trù xã hội học, “nội dung của khái niệm nhân dân phảnánh sự thay đổi kết cấu xã hội của xã hội” [95, tr 401] Trong xã hội công xãnguyên thủy, sự khác nhau giữa các thuật ngữ “dân cư” và “nhân dân” làkhông có ý nghĩa đáng kể Còn trong các hình thái kinh tế - xã hội có đốikháng giai cấp, sự khác nhau này hết sức quan trọng, bởi vì diễn ra sự chia rẽngày càng sâu sắc giữa các nhóm dân cư thống trị, bóc lột với đông đảo quầnchúng nhân dân

Trong Đại từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhân dân

được hiểu là "bộ phận gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầnglớp xã hội khác nhau, chủ yếu là những người lao động, phân biệt với bộ phậnkhác là giai cấp và tầng lớp thống trị xã hội" [103, tr.1238] Quan niệm này kếthừa cách tiếp cận nhân dân theo quan điểm mác-xít, đó là xem xét nhân dân

Trang 36

trong mối quan hệ với địa vị xã hội (thống trị và bị thống trị) Tuy nhiên,trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với mục tiêu, lýtưởng xây dựng xã hội dân chủ, công bằng; với quan điểm cán bộ, đảng viên

là người đầy tớ của nhân dân, thì việc xác định nhân dân như trên cần phảiđược bổ sung, điều chỉnh Hơn nữa, ngay cả những người làm việc trong cơquan công quyền - cán bộ, công chức, viên chức, – thì không phải lúc nào

họ cũng tồn tại với tư cách và vị thế đó Khi không thực thi công vụ, trongsinh hoạt đời thường thì họ cũng tồn tại với tư cách công dân, một thành phầntrong nhân dân

Trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhau, khái niệmnhân dân cũng được hiểu khác nhau Trong khoa học pháp lý, nhân dân tươngđồng với khái niệm công dân là những người mang quốc tịch và được bảo hộcủa một nhà nước nơi họ sinh sống

Trong khoa học chính trị, nhân dân là khái niệm dùng để chỉ địa vị pháp

lý của người dân trong một nước dân chủ, khác với “thần dân”, “thảo dân”trong xã hội phong kiến

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ rất sớm, cả ở phương Đông lẫnphương Tây, đều đề cập đến "nhân dân" như là khái niệm cơ bản trong hoạtđộng chính trị Các triều đại phong kiến Trung Quốc xem "nhân dân" là mộttập hợp người được xác định bởi địa vị bị trị trong mối quan hệ với giai cấpphong kiến thống trị Nói cách khác, nhân dân là tập hợp những người trong

xã hội mà đặc điểm lớn nhất là không nắm giữ quyền lực chính trị, không làmviệc trong bộ máy triều đình, không thừa hưởng vị thế xã hội từ quan hệ huyếtthống với người nắm giữ quyền lực chính trị Quan niệm này tiến bộ hơn sovới thời chiếm hữu nô lệ ở chỗ đã xác định được nhân dân với hai đặc điểm:Chiếm số đông và là lực lượng lao động sản xuất chính trong xã hội Tuy

Trang 37

nhiên, hạn chế cơ bản của quan niệm này là lấy quan hệ đẳng cấp làm tiêu chíquan trọng nhất để xác định nhân dân và xem nhẹ vai trò của nhân dân

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, cụ thể ở Hy Lạp và La Mã, nhân dânđược xem là một tập hợp bao gồm trong đó thành phần chủ yếu là chủ nô,tăng lữ, thương gia, trí thức và dân tự do Người nô lệ chiếm đa số và là lựclượng lao động chính của xã hội không được xem là thành phần trong nhândân Quan niệm này chọn lọc những thành phần riêng biệt trong toàn thể xãhội, không tùy thuộc vào số lượng hay vai trò đối với lao động sản xuất nhưthế nào, mà dựa trên quan niệm đẳng cấp của giới cầm quyền, để đưa vàothành phần cấu thành tập hợp người được gọi là nhân dân Với quan niệm này,nhân dân không phải là lực lượng chiếm số đông, càng không phải là lựclượng lao động chính của xã hội Đó là tập hợp những người giữ địa vị thốngtrị (chủ nô) và những người được hưởng quyền lợi từ quan niệm đẳng cấp củagiai cấp thống trị đó (dân tự do)

Quan niệm về nhân dân của các học giả tư sản: Từ thời Cận đại đếnnay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân dân và vai trò của nhân dân.Tựu trung lại, phần đông sử dụng khái niệm nhân dân thường với nghĩa chỉchung cho toàn thể thành viên trong xã hội giới hạn bởi chủ quyền quốc giadân tộc - quốc dân - hay chỉ các thành viên trong xã hội được giới hạn bởiquyền công dân do pháp luật quy định - công dân

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp cận phạm trù "nhândân" dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử "Nhân dân" không phải là phạmtrù “nhất thành bất biến” mà có sự thay đổi tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội

và tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp ở mỗi quốc gia C.Mác

và Ph.Ăngghen xem nhân dân là cộng đồng xã hội nhất định mà các thànhviên trong đó được gắn kết với nhau bởi lợi ích chung Đó là quần chúng đôngđảo những người bị trị so với thiểu số giai cấp thống trị Theo nghĩa đó,

Trang 38

V.I.Lênin cho rằng: "quần chúng là toàn bộ những người lao động và nhữngngười bị tư bản bóc lột" [42, tr.235]; " quần chúng là đa số, và hơn nữachẳng những chỉ là đa số công nhân, mà là đa số tất cả những người bị bóclột" [42, tr.38] Cũng theo quan điểm của V.I.Lênin, trong mỗi giai đoạn lịch

sử, ở điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, phạm trù nhân dân bao gồm các giaicấp, tầng lớp đóng vai trò tiến bộ, cách mạng

Quan niệm về nhân dân của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin có những đặc điểm nổi bật sau:

-Một là, trong khi chỉ ra nhân dân là cộng đồng người đông đảo của xã

hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không xem thành phần cấuthành cộng đồng đó là một khối đồng nhất V.I.Lênin cho rằng: “Khi dùngdanh từ “nhân dân”, Mác không thông qua danh từ ấy xoá mờ mất sự khácbiệt về giai cấp " [40, tr.159] Cụ thể hơn, nhân dân là cộng đồng người có sựkhác nhau về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, Nhân dân

là khái niệm vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp; là khái niệm có ýnghĩa chính trị, nói về một xã hội đã phân chia thành giai cấp, các tập đoànngười có địa vị và lợi ích khác nhau Mặc dù khẳng định có sự khác biệt dẫnđến nhân dân không phải là khối đồng nhất, nhưng các nhà kinh điển của chủnghĩa Mác – Lênin không vì thế mà xem nhẹ tính thống nhất Đó là cộng đồng

có sự khác biệt nhưng được gắn kết thống nhất bởi nhiều yếu tố

Hai là, yếu tố chủ yếu gắn kết các thành phần để tạo nên cộng đồng

nhân dân là sự tương đồng về địa vị kinh tế - xã hội Ở nhiều quan niệm,C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xác định trên nghĩa chung nhất nhân dân là tất

cả những người bị thống trị, bị bóc lột Hoàn cảnh đó dẫn đến sự gần gũi vềlợi ích chung, như thế vẫn chưa đủ bởi trong đông đảo những người bị bóc lột,không phải ai cũng nằm trong thành phần nhân dân Nhân dân chỉ bao gồm tất

cả những người bị bóc lột đóng vai trò tiến bộ, cách mạng Những ai trong số

Trang 39

đông người bị bóc lột thể hiện vai trò phản động, phản cách mạng, đi ngượclại lợi ích chung tiến bộ của đông đảo người trong xã hội thì không được xem

là nhân dân Như vậy, yếu tố tiến bộ, cách mạng cũng được các nhà kinh điểnMác - Lênin xem trọng khi quan niệm về nhân dân

Ba là, nhân dân vừa được quan niệm trên bình diện chung bao gồm tất

cả các thành phần trong xã hội bị bóc lột, đóng vai trò tiến bộ, cách mạng,đồng thời không ít lần, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng xácđịnh nhân dân trong phạm vi hẹp hơn - phạm vi nòng cốt - chỉ gồm nhữngngười lao động, hẹp hơn nữa là những người lao động đông đảo nhất, đóngvai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Với C.Mác vàPh.Ăngghen, đó là công nhân, nông dân V.I.Lênin thì bổ sung thêm vào đómột lực lượng mới là binh lính

Ở Việt Nam, phạm trù "nhân dân" đã được đề cập trong tư tưởng chínhtrị từ rất sớm Các triều đại phong kiến, các nhà tư tưởng, nhà chính trị lớnđều đề cập, xem nhân dân là bộ phận đông đảo của xã hội đặt dưới sự trị vìcủa nhà nước phong kiến

Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, nhân dân là số đông, là cơ sở của xãhội, là lực lượng có vai trò quyết định đến việc ủng hộ hay phế truất một triềuđại, một ông vua; là người dân lao động - những người chịu nhiều đau khổ và

bị áp bức bóc lột nhiều nhất không chỉ khi có nạn ngoại xâm mà ngay cả khiđất nước yên bình

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa tinh hoa của tư tưởng tiến bộnhất thế giới ngày nay là lý luận Mác - Lênin gắn với thực tiễn đấu tranh giảiphóng dân tộc Việt Nam, đi đến khẳng định nhân dân, quần chúng là lựclượng cách mạng cốt yếu Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm nhân dânbao giờ cũng gắn với một bối cảnh và mục đích cụ thể Ví như, trong phátđộng các phong trào cách mạng, Người hay dùng chữ “nhân dân ta”, “nhân

Trang 40

dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn”; để giải thích với một chủ đề cụthể, Người hay dùng các hình tượng cho người nghe dễ hiểu, có lúc Ngườinói, nhân dân ta gồm “gái, trai, già, trẻ” của “năm lớp sĩ, nông, công, thương,binh” như là đỉnh của ngôi sao năm cánh trên Quốc kỳ; cũng có lúc, Ngườichỉ rõ: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc vànhững phần tử khác yêu nước”; đồng thời Người còn nhấn mạnh nhân dân lànền tảng của quốc dân Những người sống và theo chế độ cũ, theo bọn phảnđộng nhưng sau này đã cải tà quy chính vẫn được xếp vào hàng nhân dân;ngược lại, những kẻ phản bội thì bị loại ra khỏi thuật ngữ nhân dân mà Ngườidùng

Vậy, có thể nói, vì lợi ích cách mạng, vì phục vụ cách mạng, vì nhândân, vì dân tộc mà tùy theo thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã sử dụngdanh từ nhân dân rất hợp lý, qua đó, đã góp phần không nhỏ để tập hợp đượcđông đảo lực lượng cách mạng và phát huy được sức mạnh của toàn thể dântộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay luôn tồn tại trongmối quan hệ máu thịt với nhân dân Việt Nam Tư tưởng thể hiện xuyên suốtqua nhiều văn kiện của Đảng là: "Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôngiáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùngcủa đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác vàngười đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dùsống trong nước hay ở nước ngoài" [24, tr.45] Như vậy, nhân dân là toàn thểdân tộc, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, vị thế xã hội, dân tộc, tín ngưỡng,tôn giáo… cùng tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Phạm trù "nhân dân" không chỉ gồm cộngđồng dân cư trên lãnh thổ Việt Nam mà còn gồm cả những người Việt Namsinh sống ở nước ngoài Trong sự đồng thuận, thống nhất, đoàn kết toàn dân,

Ngày đăng: 06/04/2019, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w