I. Khái quát chung 3 1. Thủ tục giám đốc thẩm trong vụ án dân sự 3 2. Thủ tục tái thẩm trong vụ án dân sự 6 II. So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự. 8 III. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện 11 1. Thực tiễn áp dụng 11 2. Một số kiến nghị hoàn thiện 13 Danh mục cụm từ viết tắt 16 Tài liệu tham khảo 17
Trang 1Đề tài: So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân
sự theo quy định của BLTTDS năm 2015.
A MỞ ĐẦU
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102 Hiến pháp năm 2013) Việc xét xử của tòa án thể hiện qua bản án, quyết định của tòa án
đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, không phải bất kì bản án, quyết định nào của Tòa án cũng chính xác, đúng pháp luật Để giải quyết được vấn đề nêu trên, kịp thời bảo vệ quyền lợi của các đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,
Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự, theo đó, chủ thể có thẩm quyền có quyền kháng nghị để Tòa án cấp trên xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật Cả hai thủ tục này đều được áp dụng đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng giữa chúng có những điểm khác nhau Để giúp phân biệt được hai thủ tục trên, em xin chọn đề tài: “So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu vẫn còn nhiều hạn chế, mong thầy cô có nhiều ý kiến đóng góp để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 2B NỘI DUNG
I Khái quát chung
Bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật vì những nguyên nhân khác nhau có thể có những vi phạm, sai lầm nghiêm trọng Trong những trường hợp như vậy, để khắc phục những vi phạm của bản án, quyết định đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, Tòa án cấp trên vẫn có quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục luật định Theo quy định của pháp luật tố tụng, việc xem xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án được tiến hành có thể theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
1 Thủ tục giám đốc thẩm trong vụ án dân sự
Thủ tục giám đốc thẩm trong vụ án dân sự là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi
có các căn cứ theo quy định của pháp luật 1 Như vậy, giám đốc thẩm là việc Tòa án
có thẩm quyền xét xử lại vụ án bị kháng nghị, do những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, bao gồm: Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp cao, Chánh án TAND cấp cao kháng nghị trong trường hợp phát hiện thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có vi phạm pháp luật (quy định tại Điều 331 BLTTDS 2015) Trên cơ sở kháng nghị, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và ra một trong các quyết định: (1) Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, (2) Giữ nguyên bản án, quyết dịnh đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy bỏ hoặc bị sửa, (3) Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu thấy việc điều tra đã đầy đủ, nhưng bản án được giải quyết không đúng pháp luật, (4) Hủy bản án,
1 Điều 326 BLTTDS 2015, các căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1
Trang 3quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét xử so thẩm hoặc phúc thẩm lại vì việc điều tra vụ án không đầy đủ hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong những trường hợp do pháp luật quy định, (5) Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án trong những trường hợp do pháp luật quy định Theo quy định của BLTTDS 2015 về giám đốc thẩm vụ án dân
sự, để có thể tiến hành giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tóa án phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kiện sau: (1) Bản án, quyết định của Tòa
án về vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật, (2) Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, các căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 326 BLTTDS 2015 Khi có sự vi phạm quy định tại điều này thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm sẽ
có quyền kháng nghị để Tòa án xét xử lại vụ án (3) Có kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị nêu trên đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định
Thủ tục giám đốc thẩm đã được quy định cụ thể tại Chương XX, từ Điều 325 đến điều 350 BLTTDS Theo quy định của pháp luật tố tụng về giám đốc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, giám đốc thẩm vụ án dân sự nói riêng cũng như giám đốc thẩm dân sự nói chung, không phải là một cấp xét xử Giám đốc thẩm vụ án dân sự chỉ là một thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứ không phải là một thủ tục xét xử lại vụ án của Tòa Đối tượng của hoạt động xét lại này chính là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao
Thứ hai, về thẩm quyền giám đốc thẩm Thẩm quyền giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 337 BLTTDS 2015 bao gồm: Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao
và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Theo đó, Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao
Trang 4sẽ giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, cấp huyện theo lãnh thổ bị kháng nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sẽ giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao bị kháng nghị Trong trường hợp vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền của hai tòa này thì TAND tối cao sẽ giám đốc thẩm toàn bộ vụ án
Thứ ba, thủ tục giám đốc thẩm sẽ được tiến hành khi có kháng nghị của người có thẩm quyền chứ không phải kháng cáo của đương sự
Thứ tư, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành khi việc giải quyết vụ án dân sự có sự vi phạm pháp luật ở mức độ nghiêm trọng Các căn cứ, điều kiện để có thể tiến hành theo thủ tục giám đốc thẩm đã được BLTTDS quy định tại Điều 326
Thứ năm, về yêu cầu xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm Đơn đề nghị xét lại của đương sự hoặc thông báo của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm nếu phát hiện có căn cứ theo quy định bộ luật này đều phải được người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm xem xét Sau khi xem xét xong phải có trách nhiệm trả lời cho đương sự, người thông báo về việc có kháng nghị hay không Nếu không kháng nghị thì phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ
lý do (Điều 329 BLTTDS 2015)
Thứ sáu, hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét phần quyết định của bản án, quyết định bị kháng nghị và có thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản
án, quyết định đã có hiệu lực1 Tuy nhiên, nói như vậy không phải phạm vi giám đốc thẩm của hội đồng xét xử chỉ trong giới hạn phần quyết định, bản án bị kháng nghị mà Hội đồng xét xử vẫn có quyền xem xét phần quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến nội dung kháng nghị nếu
1 Điều 347 BLTTDS 2015 về sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
1
Trang 5xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người thứ ba không phải đương sự trong vụ án
Thứ bảy, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trường hợp đã hết thời hạn nêu trên mà có các điều kiện quy định tại Khỏa 2 Điều 334 thì thời hạn kháng nghị sẽ được kéo dài thêm 2 năm nữa
Cuối cùng, trong phiên tòa giám đốc thẩm, sự tham gia của viện kiểm sát cùng cấp là yếu tố bắt buộc, còn đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác là không bắt buộc
và được triệu tập nếu cần Thiếu họ thì phiên tòa vẫn tiến hành bình thường được
2 Thủ tục tái thẩm trong vụ án dân sự
Tái thẩm trong vụ án dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó
Như vậy, thủ tục tái thẩm trong vụ án dân sự chỉ có thể được áp dụng khi có
đủ các điều kiện sau: (1) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, (2) Có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó, (3) ) Có kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị đối với các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định Tuy nhiên, không phải cứ có tình tiết mới bất kỳ là có thể xem xét áp dụng thủ tục tái thẩm Trong những trường hợp sau đây, không được coi là tình tiết mới để áp dụng thủ tục tái thẩm: (1) trường hợp mặc dù phát hiện có tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định, nhưng tình tiết
Trang 6đó đã được phát hiện trước khi Tòa án ra bản án, quyết định mà Tòa án không áp dụng tình tiết đó khi ra bản án, quyết định, (2) tình tiết tuy được phát hiện sau khi Tòa án ra bản án, quyết định, nhưng bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, mà Tòa án đã không áp dụng tình tiết đó khi ra bản án quyết định hoặc không được Tòa án khắc phục trước khi bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, (3) sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện có tình tiết mới, nhưng tình tiết mới này không làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trong thủ tục tái thẩm, Tòa án không tiến hành xét xử lại vụ án mà chỉ tiến hành xem xét, đối chiếu bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án với những tình tiết khách quan của vụ án và quy định của pháp luật để xem xét bản án hoặc quyết định bị kháng nghị đó có căn cứ và hợp pháp hay không Nếu thấy việc kháng nghị là có căn cứ thì Hội đồng tái thẩm cũng không có thẩm quyền sửa bản
án hoặc quyết định đó mà chỉ có thẩm quyền hủy bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc hủy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án
Thủ tục tái thẩm vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015 có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cũng giống như thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, thủ tục tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà ở đó, Tòa chỉ xem xét, đối chiếu bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có căn cứ theo quy định tại Điều 352 Đối tượng của hoạt động xét lại này chính là các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (Điều 354)
Thứ hai, về thẩm quyền tái thẩm, Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Hội đồng thẩm phán TAND tối cao tái
1
Trang 7thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, TAND khác bị kháng nghị Trong trường hợp vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền của hai tòa này thì TAND tối cao sẽ giám đốc thẩm toàn bộ vụ án Hội đồng tái thẩm có quyền ra một trong các quyết định quy định tại Điều 356 Bộ luật này
Thứ ba, về thủ tục tái thẩm trong vụ án dân sư Để có thể áp dụng thủ tục tái thẩm vụ án dân sự thì phải có kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm chứ không phải kháng cáo của đương sự
Thứ tư, việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm chỉ có thể được tiến hành khi
có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định
Thứ năm, về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Theo quy định tại Điều 354 BLTTDS 2015, những người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm có: Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao
Thứ sáu, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Ngoài ra, những quy định về những người tham gia phiên tòa tái thẩm, thành phần Hội đồng tái thẩm, thủ tục chuẩn bị phiên tòa và thủ tục phiên tòa tái thẩm, thời hạn mở phiên tòa tái thẩm, …theo quy định tại Điều 357, được thực hiện như các quy định của Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm
I So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự.
Giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự là hai thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có những căn cứ theo
Trang 8quy định trong BLTTDS 2015 Giữa chúng có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:
Những điểm giống nhau:
Cả giám đốc thẩm và tái thẩm trong vụ án dân sự đều được áp dụng khi có kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật này mà không phải là kháng cáo của đương sự, người đại diện của đương sự
Về thẩm quyền kháng nghị, sau khi nhận được văn bản đề nghị của đương sự hoặc thông báo của cơ quan, tổ chức về việc phát hiện có vi phạm hoặc phát hiện
có tình tiết mới thì thông báo, văn bản đề nghị đó sẽ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị ở đây là Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao
Về thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, theo quy định tại BLTTDS
2015, thẩm quyền thuộc về Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao đối với việc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao với thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao bị kháng nghị
Về tính chất, giám đốc thẩm trong vụ án dân sự cũng như tái thẩm trong vụ
án dân sự, không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị Đối tượng của việc xét lại đó chính là các bản án, quyết định trong vụ án dân sự chứ không phải là vụ
án dân sự đó Như vậy, theo quy định tại BLTTDS 2015 thì giám đốc thẩm không còn là việc “xét xử lại vụ án” như trước đây nữa mà chỉ là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Đây cũng là một điểm mới trong
1
Trang 9BLTTDS 2015 so với bộ luật trước đây, theo đó khẳng định giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt chứ không phải một cấp xét xử
Về trình tự, thủ tục áp dụng, Điều 357 BLTTDS 2015 đã quy định rõ: “Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định của Bộ luật này
về thủ tục giám đốc thẩm” Như vậy, có thể thấy các quy định trong thủ tục giám đốc thẩm trong giải quyết vụ án dân sự từ đơn đề nghị xem xét, Thủ tục nhận đơn, Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực, quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm cho tới thủ tục được thực hiện trong phiên tòa giám đốc thẩm như thời hạn mở phiên tòa, chuẩn bị mở phiên tòa, thủ tục xét xử tại phiên tòa, … đều được áp dụng với thủ tục tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự
Những điểm khác nhau:
Về khái niệm, giám đốc thẩm vụ án dân sự là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm
vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong giải quyết vụ án Tính chất của giám đốc thẩm vụ án dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa nhưng bị kháng nghị khi có căn cứ quy định tại Điều 326 BLTTDS 2015 Tái thẩm vụ án dân sự là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định Tính chất của tái thẩm vụ án dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện quy định tại Điều 352 BLTTDS 2015 có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định
Trang 10Về căn cứ kháng nghị, căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 326 gồm có ba căn cứ, còn căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 352 gồm có bốn căn cứ
Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử, thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm quy định tại Điều 343, Điều 347 BLTTDS 2015: “Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” nhưng Hội đồng xét xử tái thẩm tại Điều 356 BLTTDS 2015 không có thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà buộc phải hủy bản án và xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc đình chỉ giải quyết vụ án
Về thời hạn kháng nghị, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vụ
án dân sự là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có thể kéo dài thêm 2 năm trong trường hợp nhất định quy định tại Điều 334 còn thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 1 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
II Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện
1 Thực tiễn áp dụng
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, TAND tối cao và các Tòa án khác trong hệ thống tòa án luôn tích cực thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả, đẩy mạnh giải quyết các vụ án dân sự, khắc phục khó khăn vướng mắc Trong năm 2013, các Tòa án đã thụ lý 3.226 đơn/ vụ đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm cùng với các đơn, vụ còn lại của kỳ trước đã nâng tổng số đơn/vụ đề nghị lên 11.756 đơn/vụ Trong đó, đã giải quyết được 7.438 đơn/vụ, tăng hơn cùng kỳ năm trước 1360 đơn/ vụ, trả lời đơn cho các đương sự là không có căn
cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 6.669 vụ, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 769 vụ; số đơn còn lại là 4.318 đơn/vụ đều còn trong
1