1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

59 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 833,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà NộiThực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng Ba Vì Hà Nội

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành

Đặc biệt, em xin gửi đến TS TrầnVăn Thăng, người đã tận tình hướng

dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh chị kỹ sư, công nhân tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng, xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trong suốt quá trình thực tập tại trại

Đồng thời nhà trường đã tạo cho em có cơ hội được thực tập nơi mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua công việc thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong chuyên môn để giúp ích cho công việc sau này của bản thân

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Trần Thị Minh Châu

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lịch sát trùng áp dụng tại trại lợn nái 21

Bảng 2.2 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại 22

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm(2015 - 2017) 36

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 37

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện thủ thuật trên đàn lợn con 40

Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến khi cai sữa 41

Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 42

Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 43

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 44

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập 4

2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 14

2.2.3 Quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 20

2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 22

2.2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34

3.1 Đối tượng 34

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34

3.3 Nội dung tiến hành 34

3.4 Phương pháp tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 34

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 34

3.4.2 Phương pháp theo dõi 34

3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 35

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Nguyễn Xuân Dũng 36

4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 37

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 37

4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 38

4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi tại trại

Nguyễn Xuân Dũng 41

4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Xuân Dũng 43

4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Xuân Dũng 43

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Nguyễn Xuân Dũng 44

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

I Tiếng Việt 48

II Tiếng Anh 50

Trang 8

từ hai nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại, năng suất chăn nuôi ngày càng tăng lên, thời gian nuôi được rút ngắn, do

đó lợi nhuận thu được từ chăn nuôi đang có xu hướng tăng nhanh hơn lợi nhuận thu được từ trồng trọt Thứ hai, mức sống của con người ngày càng tăng lên kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng thức ăn, xu hướng tiêu dùng sản phẩm trồng trọt giảm đi nhanh chóng nhường chỗ cho sản phẩm chăn nuôi Nhu cầu về thịt trên thị trường ngày càng tăng lên, đặc biệt là nhu cầu về sản phẩm thịt lợn Hai lý do chủ yếu trên chính là động lực để thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn ngày càng phát triển Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi không mới nhưng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đó lại là ngành chăn nuôi có triển vọng nhất Nếu được đầu tư đầy đủ về vốn, công nghệ, chăn nuôi trên quy mô lớn thì hiệu quả thu được của ngành thực sự là không nhỏ, đặc biệt là đối với mức thu nhập của đại đa số hộ gia đình nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới kinh tế, đồng thời nó cũng góp phần vào giải quyết một phần số lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái

là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta

Trang 9

để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với

sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em thực hiện đề tài:

“Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho lợn nái nuôi tại trại lợn Nguyễn Xuân Dũng, Ba Vì, Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Xuân Dũng được xây dựng năm

2014, là trang trại gia công của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với quy mô 2000 lợn bố mẹ Trang trại được xây dựng trên địa bàn xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trên một quả đồi thuộc thôn Hương Canh với diện tích gần 5 ha

Xã Khánh Thượng là một xã miền núi nằm ở sườn Tây núi Ba Vì, với diện tích tự nhiên 2.882,43 ha Cách trung tâm huyện Ba Vì trên 35 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 82 km Xã có địa bàn giáp ranh với 2 tỉnh (phía Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ),

có trục đường giao thông Sơn Tây - Chẹ - Hợp Thịnh - Kỳ Sơn - Hoà Bình đi qua Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển thức ăn cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại

2.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết

Huyện Ba Vì nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại lợn Nguyễn Xuân Dũng cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ tháng

10 đến tháng 2 năm sau) Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4oC Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7oC; nhiệt độ tối cao lên tới 42oC Ở độ cao

400 m nhiệt độ trung bình năm 20,6oC Từ độ cao 1000 m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16oC Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,2oC Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,1oC Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm,

Trang 11

tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40% Mùa Hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 22 người, trong đó có: 1 quản lý, 2 kỹ sư chính của công ty,

2 tổ trưởng (1 chuồng đang mang thai, 1 chuồng đẻ), 1 bảo vệ, 14 công nhân

và 2 cấp dưỡng

2.1.4 Cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập

Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng

+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, ti vi, tủ lạnh, quạt, + Những vật dụng cá nhân như: kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị

+ Trại còn đầu tư mua bàn chơi bi a, cầu lông để công nhân giải trí sau giờ làm việc

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư với đầy đủ các trang thiết bị cần thiết

- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn có chửa) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy

- Có hệ thống quạt gió, giàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động

- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông

- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

Trang 12

- Về cơ sở hạ tầng:

Trại được xây dựng rất khoa học và hiện đại Trước cổng có hố sát trùng bằng vôi, có vòi phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại Trại được xây dựng gồm các khu riêng biệt: khu nhà ở, sinh hoạt của công nhân, sinh viên

và khu chuồng nuôi

+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi Khu nhà dành cho quản lý trại có phòng khách để đón tiếp khách Tất cả các phòng ở của công nhân và kỹ sư đều được xây dựng khang trang tiện nghi

+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)

là nhà ăn trưa cho công nhân và kỹ sư trại

- Trại được xây dựng trên quả đồi khoảng 5 ha với 6 dãy chuồng lớn chạy dài lợp mái tôn Mỗi 1 dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ Khu chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt gồm: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng lợn có chửa, 1 chuồng lợn đực và 2 chuồng cách ly Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc đảm bảo thoáng mát về mùa hè và

ấm áp về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 6 dãy chuồng chạy dài Trong đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ với 58 ô chuồng sàn Chuồng lợn có chửa gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và

hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Phía đầu chuồng là hệ thống

Trang 13

giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40

cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại

Phòng pha tinh của khu chuồng nuôi được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp tiệt trùng dụng cụ và một số thiết bị khác Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng lợn nái đẻ 1A

và chuồng lợn có chửa 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa

và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

Trang 14

• Khó khăn

Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn Năm 2014, khi trại vừa được thành lập bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại thiệt hại lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại

Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là: tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản Khi gia súc đã hoàn thiện về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh và nội tiết con vật bắt đầu có những phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản

xạ giao phối

Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn nái

* Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:

- Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, con nái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh Lúc này, tinh trùng

và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai

Trang 15

- Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào

- Xuất hiện các phản xạ sinh dục: lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con nái động dục, con đực có phản xạ giao phối

- Thời điểm thành thục về tính: lợn cái bắt đầu khoảng 6 tháng tuổi (từ 4

- 8 tháng tuổi)

- Đối với các giống gia súc khác nhau thời gian thành thục về tính là khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng (120 - 150 ngày), lợn ngoại 6 - 7 tháng (180 - 210 ngày)

* Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, di truyền, thời tiết, khí hậu, mùa vụ, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng…

* Các yếu tố di truyền

Các giống khác nhau thì có tuổi thành thục về tính khác nhau Thời điểm rụng trứng lần đầu tiên xảy ra vào lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4

- 5 tháng tuổi

* Các yếu tố ngoại cảnh

Bên cạnh yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, khí hậu, nhiệt độ tất cả đều có ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái

* Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng

Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường

Trang 16

những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém

Nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn nái hậu bị cần chú ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi khối lượng đạt 80 - 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày (14% protein thô) Điều chỉnh mức ăn hợp lý để khối lượng đạt 120 - 140 kg ở chu

kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước phối giống 14 ngày, cho ăn chế

độ kích dục, tăng từ từ lượng thức ăn (1 - 2,5 kg), bổ sung thêm khoáng và chất điện giải sẽ kích thích lợn nái ăn nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 -2,1 trứng/ lợn nái

Trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc cần điều chỉnh chế độ ăn hợp lý để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho lợn nái Sau khi phối giống cần chuyển chế

độ ăn hạn chế và thay thế bằng mức năng lượng trung bình để hạn chế tối thiểu tỷ lệ chết phôi, chết thai làm giảm số con sinh ra/ổ

* Mùa vụ và thời gian chiếu sáng

Thành thục về tính phục thuộc vào mùa vụ Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tuấn Anh

và cs, 1998 [1]) Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Mùa đông có thời gian chiếu sáng ngắn và mùa hè thì ngược lại Nếu lợn cái được chiếu sáng 12 giờ/ngày sẽ động dục sớm hơn những con được chiếu sáng trong ngày ngắn

* Mật độ nuôi nhốt

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt với mật độ cao trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên, nếu nuôi tách biệt từng cá thể cũng sẽ làm chậm sự thành thục về tính so với nuôi

Trang 17

nhốt theo nhóm Bên cạnh đó, đực giống cũng ảnh hưởng tới sự động dục của lợn cái

* Sự thành thục về thể vóc

Thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt mức độ hoàn chỉnh, xương cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Thời gian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa là sau khi sinh, con vật được thành thục về tính thì vẫn tiếp tục lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi không nên cho gia súc sinh sản quá sớm vì khi đó

cơ thể mẹ chưa phát triển đầy đủ về thể vóc sẽ gây ảnh hưởng xấu như: trong thời gian mang thai có sự phân tán chất dinh dưỡng, ưu tiên phát triển cho bào thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cơ thể mẹ và cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ

Mặt khác khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm con vật khó đẻ Cho nên việc quy định tuổi và khối lượng phối giống lần đầu rất

có ý nghĩa trong chăn nuôi Các nhà khoa học khuyến cáo với lợn ngoại nên

bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu, nên phối ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3 tùy thuộc vào khối lượng đạt được Với lợn ngoại khoảng 8 - 9 tháng tuổi và đạt 110 - 120 kg, lợn nội 6 - 7 tháng tuổi đạt 40 - 50 kg (Lê Xuân Cương, 1986[3])

Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) không làm ảnh hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau

2.2.1.2 Chu kì tính

Nguyễn Thị Thúy Mỵ và Trần Thanh Vân (2014) [13] cho biết: lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15- 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Trang 18

Chu kỳ động dục là một quá trình phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Kèm theo đó là sự thay đổi của toàn bộ cơ thể và nhất là cơ quan sinh dục về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả những biến đổi đó lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Ở những cơ thể đã có thai do sự tồn tại của thể vàng nên không còn chu

kỳ tính và nó được tiếp tục sau khi sinh sản xong một thời gian Thời gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả về thể chất con vật và ngoại cảnh tác động

Giai đoạn trước động dục:

Là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu hủy đến lần động dục tiếp theo Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày Quan sát bên ngoài thấy cơ quan sinh dục có biểu hiện xung huyết, âm hộ bắt đầu sưng lên và hơi mở ra có màu hồng tươi,

có nước nhờn chảy ra nhưng loãng, lợn bắt đầu biếng ăn và hay kêu rít, tỏ ra không yên tĩnh và thích nhảy lên lưng con khác

Giai đoạn này cần chú ý là không nên dẫn tinh và phối ép vì trứng chưa rụng, lợn không có khả năng thụ thai

Giai đoạn động dục:

Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi, giống, chế độ chăm sóc quản lý, thông thường chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, là giai đoạn quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai Trong giai đoạn này những biến đổi bên ngoài cơ thể càng thể hiện rõ ràng hơn Âm hộ xung huyết, niêm mạc trong suốt, niêm dịch chảy nhiều Cuối giai đoạn này lợn hưng phấn cao độ, ở trạng thái không yên tĩnh, giảm khả năng thu nhận thức ăn, chạy, kêu phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác Thích gần con đực, có các phản xạ giao phối: hai chân sau dạng

ra, đuôi cong về một bên (biểu hiện ở lợn nội rõ hơn lợn ngoại)

Trang 19

Ở giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự tồn tại của thể vàng và chu kỳ sẽ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong Nếu con cái không thụ thai thì sẽ chuyển sang giai đoạn kế tiếp Giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực

Sau khi động dục khoảng 24 - 30 giờ lợn cái bắt đầu rụng trứng, trứng rụng kéo dài 10 - 15 giờ Vì vậy nên phối cho lợn cái 2 lần để đạt kết quả cao (Trần Tiến Dũng và cs., 2002[6])

Giai đoạn sau động dục:

Giai đoạn sau động dục kéo dài 3 - 4 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và

cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục về trạng thái sinh lý bình thường Tất cả mọi phản xạ động dục, tính hưng phấn mất hẳn và chuyển sang giai đoạn yên tĩnh

Giai đoạn yên tĩnh:

Giai đoạn này kéo dài khoảng 10 - 12 ngày, đây là giai đoạn dài nhất và tùy thuộc vào sự tồn tại của thể vàng, khi thể vàng tiêu biến thì chu kỳ động dục mới lại bắt đầu

Trong thực tế còn gặp trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục ngầm và hiện tượng lưỡng tính Động dục thầm lặng là hiện tượng lợn đến chu kỳ động dục nhưng không có các biểu hiện động dục rõ ràng làm cho người nuôi khó nhận biết (chu kỳ này thường kéo dài 36 - 45 ngày) Hiện tượng lưỡng tính, cơ quan sinh dục bên ngoài của lợn cái bình thường nhưng

có những hành động giới tính thường xuyên do con vật bị rối loạn hormone hoặc con cái ít cho con đực nhảy lên (trường hợp này phải loại bỏ sớm)

2.2.1.3 Thời điểm phối giống thích hợp

Dựa vào chu kỳ tính, sự vận động và tồn tại của tinh trùng trong đường sinh dục cái để xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái

Trang 20

Hiện nay, người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng 12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục, nhất là đối với lợn ngoại

2.2.1.4 Sự điều hòa chu kỳ động dục

Chu kì tính của lợn được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo cơ chế điều hòa ngược

Hoạt động của chu kỳ này phụ thuộc vào sự điều tiết của các hormone

quan trọng nhất là FSH (follicle stimulating hormone) và LH (lutrinizing

quá trình rụng trứng Hai hormone này phải có một tỷ lệ nhất định mới có thể đảm bảo được cho quá trình chín và rụng trứng diễn ra tốt nhất Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào thượng bì bao noãn tiết ra

thích con vật gây hiện tượng động dục Đồng thời dưới tác động của hormone, cơ quan sinh dục dần biến đổi, tử cung, âm đạo hé mở, sừng tử cung, ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này

Cuối chu kỳ động dục, oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết LH, giảm FSH Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng Tại vị trí rụng trứng,

mạch quản và tế bào sắc tố vàng phát triển tạo thể vàng Thể vàng tiết

ức chế tiết FSH và LH của tuyến yên cho trứng không phát triển được

Thời gian mỗi lần trứng rụng thông thường kéo dài 4 - 6 giờ, ở lợn hậu

bị kéo dài tới 10 giờ Trứng rụng không được thụ tinh đến ngày thứ 15 thì thể

vàng bị tiêu biến chuyển sang thể bạch, lúc này không tiết progesterone nữa

và một chu kỳ mới bắt đầu

Trang 21

2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con

2.2.2.1 Quy trình chăm sóc lợn nái chửa

Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa có vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất lợn con giống Mục đích và yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị xảy thai hoặc

đẻ non, tăng số lợn con đẻ ra trên lứa, lợn con có sức sống cao, lợn mẹ phát triển bình thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng nuôi con sau này

Phương pháp phát hiện lợn có chửa

Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống sẽ tác động các biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn nếu lợn nái không chửa thì có kế hoạch phối giống lại kịp thời

Thời gian chửa của lợn nái trung bình là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm hai kỳ:

+ Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

+ Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn có chửa từ 85 ngày đến khi đẻ Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái là sau khi phối giống 21 ngày mà không thấy có biểu hiện động dục thì có thể coi là lợn nái

đã có chửa Lợn nái sau khi phối giống thấy có những biểu hiện như mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn chuyển sang thèm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề,… đó là lợn nái đã có chửa sau khi phối

Trang 22

Ngược lại, khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có hiện tượng xung huyết thì có thể lợn nái đó chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống lại kịp thời

Quy luật sinh trưởng phát triển của bào thai

Hiểu rõ quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con Quá trình phát triển của phôi thai trải qua 3 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp

tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ

Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa

Cơ thể lợn mẹ trong thời gian có chửa thì sự tổng hợp vật chất được đẩy mạnh, quá trình oxy hóa thì giảm tương đối Quá trình trao đổi chất và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng như cơ thể phôi thai Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể

Trang 23

trao đổi chất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể lợn nái có chửa như: nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao

Quy trình nuôi dưỡng lợn nái chửa

* Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ

- Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: đạm thô 13%, năng lượng trao đổi

2900 kcal/kg thức ăn

- Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)

Giai đoạn chửa kì I:

+ Với nái hậu bị: 1,6 - 1,8 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

+ Với nái dạ: 2 - 2,2 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần

Giai đoạn chửa kì II:

+ Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần

+ Với nái dạ: 3 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần

- Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh

Trang 24

- Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày, để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu

đủ do dễ gây sảy thai

- Cho lợn uống nước tự do

* Chăm sóc lợn nái chửa

+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống

+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không

+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng

+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vaselin

2.2.2.2 Quy trình chăm sóc nái đẻ (nái nuôi con)

Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác động tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau

Trang 25

xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, loại củ quả đạm động vật, các loại khoáng, vitamin…

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất,

hư hỏng

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng chất theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0%, photpho 0,7%

- Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh, nếu

có rau xanh

+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30%

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

Trang 26

+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ

Đối với lợn nái nội

Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm: Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô: 0,4 đơn vị

Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm

Kỹ thuật cho ăn

+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau

+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định

+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần + Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời

Kỹ thuật chăm sóc và quản lý

+ Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7

Trang 27

ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú

ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các khung đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin

+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24ºC, ẩm độ là

70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con

Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5 m chuồng ở/ 1 lợn nái và 15 m sân chơi/1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m, với mỗi khung cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4 m x 0,7 m

2.2.3 Quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

2.2.3.1 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại

Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn Vì vậy, trong suốt thời gian thực tập, chúng tôi đã thực hiện tốt các công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại như sau:

+ Hàng ngày, trước khi vào chuồng làm việc công nhân cũng như sinh viên đều phải đi qua phòng sát trùng và tắm sạch sẽ mặc quần áo lao động, đi ủng rồi mới vào chuồng

+ Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn mẹ nằm đè phân

Trang 28

+ Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau sàn nhựa (hoặc rắc vôi rồi quét) + Rắc vôi lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng

+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ quanh chuồng

Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và được tiêu độc bằng thuốc sát

trùng Ommicide 2 lần hàng ngày, pha với tỷ lệ 320 ml/1000 lít nước

Lịch sát trùng của trại được thực hiện như sau:

Bảng 2.1 Lịch sát trùng áp dụng tại trại lợn nái

Thứ

Trong chuồng

Ngoài Chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái

chửa Chuồng đẻ

Chuồng cách ly

CN Phun sát

trùng Phun sát trùng Thứ 2

Quét hoặc

rắc vôi đường đi

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực

Thứ 3 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + quét vôi đường đi

Quét hoặc rắc vôi đường đi Thứ 4 Xả vôi xút

Thứ 5 Phun ghẻ

Phun sát trùng + xả vôi xút gầm

Phun ghẻ

Thứ 6 Phun sát

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi

Phun sát trùng

Phun sát trùng

Phun sát trùng Thứ 7 Vệ sinh tổng

chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng chuồng

Vệ sinh tổng khu

Trang 29

2.2.3.2 Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

Quy trình tiêm phòng vaccine phòng bệnh cho đàn lợn luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng kỹ thuật Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra trong cơ thể chúng miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, vi rút gây bệnh, tăng sức đề kháng cho cơ thể, nhằm giảm đáng kể thiệt hại về kinh tế do dịch bệnh xảy ra

Bảng 2.2 Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại

Loại lợn Ngày tuổi Phòng bệnh Loại vắc xin dùng Liều

(ml/con)

Đường đưa thuốc

Lợn hậu bị

25,29 tuần tuổi Khô thai Parvo 2 Tiêm bắp

26 tuần tuổi Dịch tả Coglapest 2 Tiêm bắp 27,30 tuần tuổi Giả dại Begonia 2 Tiêm bắp

28 tuần tuổi LMLM Aftopor 2 Tiêm bắp Lợn nái sinh

sản

10 tuần chửa Dịch tả Coglapest 2 Tiêm bắp

12 tuần chửa LMLM Aftopor 2 Tiêm bắp

Lợn con

2 - 3 ngày tuổi Thiếu sắt

Fe- Dextran-B12

2 Tiêm bắp

3 - 6 ngày tuổi Cầu trùng Diacoxin

10 - 14 ngày tuổi Mycoplasma Myco- pac 2 Tiêm bắp

16 - 18 ngày tuổi Dịch tả Coglapest 2 Tiêm bắp

2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.4.1 Hiện tượng đẻ khó

Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [22], lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Khi đẻ khó mà không xử lý đúng cách, có thể gây bệnh ở đường sinh dục và làm cho gia súc trở nên vô sinh, thậm chí làm chết

Ngày đăng: 05/04/2019, 22:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan (1998), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái, heo con, heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Lê Xuân Cương (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cương
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Năm: 1986
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 - 52 8. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị", tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 - 52 8. Trương Lăng (2000), "Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 - 52 8. Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Trương Lăng, Xuân Giao (2002), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Lao động - Xã hội, tr. 80 - 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2002
10. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại & phòng chữa bệnh thường gặp, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại "& phòng chữa bệnh thường gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Hồng Minh, Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu, Phạm Kim Đăng (2013), “Biểu hiện lâm sàng và một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tập XI (số 5), tr. 641 - 647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện lâm sàng và một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa”, "Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh, Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu, Phạm Kim Đăng
Năm: 2013
13. Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân (2014), Bài giảng chăn nuôi chuyên khoa, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chăn nuôi chuyên khoa
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân
Năm: 2014
14. Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh (2016), “Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 14 (5), tr. 720 - 726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2016
15. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguy ễn Thị Hương (1999), Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 158 - 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguy ễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
16. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2006), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Phan Thị Hồng Phúc và La Văn Công (2014), Bài giảng Ngoại sản thú y, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ngoại sản thú y
Tác giả: Phan Thị Hồng Phúc và La Văn Công
Năm: 2014
18. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2006), Chăn nuôi lợn trang trại, Nxb Lao động - Xã hội, tr. 127 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn trang trại
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
19. Nguyễn Văn Thanh (2002), Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu và bệnh đường sinh dục thường gặp ở lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
20. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010), “Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”
Tác giả: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
21. Trekaxova A.V., Đaninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản
Tác giả: Trekaxova A.V., Đaninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm