Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động.. Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động tr
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -BÀI TẬP LỚN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN
Sinh viên : Trương Mỹ Huyền Trang
Lớp Quản trị Khách sạn POHE
STT : 42
Mã sinh viên : 11144437
Hà Nội, 18/01/2015
Trang 2CÂU HỎI
Câu 1.Phân tích quan điểm của Mác về lượng giá trị một đơn vị hàng hóa Theo quan điểm của Mác, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì lượng giá trị một đơn vị hàng hóa sẽ thay đổi theo chiều hướng như thế nào? Giải thích.
Quan điểm trên có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất.
Câu 2 Trình bày quan điểm về khủng hoảng kinh tế và những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Mác Cho biết khả năng vận dụng những biện pháp chống khủng hoảng Kinh tế của Mác vào nền Kinh tế thị trường hiện nay.
Trang 3Lượng giá trị hàng hóa theo quan điểm của Các Mác
1.Khái niệm
- Giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng lao động của hàng hóa được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó và tính bằng thời gian lao động Lượng giá trị hàng hóa không phải
do mức phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định, mà nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ trang thiết bị trung bình , trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong XH đó Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa ấy mới quyết định giá trị của hàng hóa đó
2 Cấu thành lượng giá trị hàng hóa:
- Để sản xuất ra hàng hóa thì cần phải có chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc,công cụ, nguyên vật liệu,…và lao động sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới.Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất đóng vai trò bảo tồn và di
chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm , đây là bộ phân giá trị cũ trong sản phẩm ( c) , còn lao động trừu tượng ( biểu hiện ở sự hao phí lao động sống trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng giá trị sản phẩm, đây là bộ phận giá trị mới trong sản phẩm (kí hiệu là v+m) Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hoá bao gồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới
Kí hiệu W = c+v+m
Trang 4Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới thời gian lao động xã hội cần thiết đều ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa Chúng ta xem xét ba yếu tố cơ bản: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động
Năng suất lao động : Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động Nó được
đo bằng lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại Như vậy, giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một
đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi
Trang 5 Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của
hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Ý nghĩa của việc nghiên cứu giá trị hàng hóa Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là thật sự cần thiết, thứ nhất là để xác định được giá cả của hàng hóa làm ra, thứ hai là để tìm ra được những nhân tố tác động đến nó, từ đó có thể tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất (ví dụ tăng năng suất, đầu tư khoa học công nghệ hiện đại…) mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận cao
Theo quan điểm của Mác, lượng giá trị một đơn vị hàng hóa phụ thuộc vào năng suất lao động, cường độ lao động, mức độ phức tạp của lao động… vì thế cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ta sẽ có thêm nhiều ứng dụng máy móc kĩ thuật, công nghệ cao được áp dụng vào quy trình sản xuất, trình độ công nhân được cải thiện, nâng cao -> năng suất lao động sẽ tăng lên ,thời gian để làm ra một sản phẩm sẽ giảm đi -> do đó lượng giá trị một đơn vị hàng hóa cũng sẽ giảm Lượng giá trị hàng hóa tỉ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỉ lệ nghịch với năng suất lao động
Trang 6
Quan điểm của Các Mác về lượng giá trị hàng hóa có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất , thứ nhất là xác định được giá cả hàng hóa làm ra, thứ hai là hiểu được những nhân tố ảnh hưởng đến nó, từ đó tìm ra cách làm giảm đi giá cả sản xuất ( đầu tư khoa học công nghệ để tăng năng suất…) mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị sản phẩm để có thể tiến tới cạnh tranh trên thị trường
Ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình sản xuất Đổi mới công nghệ phải dựa trên chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với xu thế công nghệ thế giới Cần tranh thủ tiếp thu những công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, mạnh dạn đầu tư các dây chuyền sản xuất hiện đại, khi đó phần lớn công việc sẽ được thực hiện bằng máy móc, giảm đi lượng công việc tay chân mà các công nhân phải làm
Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân viên có kiến thức, kĩ thuật cao, đủ khả năng điều hành và sử dung các loại máy móc hiện đại Phổ biến cho công nhân những kiến thức liên quan đến chất lượng sản phẩm, giá cả thị trường…để nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, làm ra được những sản phẩm mẫu mã đa dạng, đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng
Biết sử dụng hợp lý những nguồn nguyên liệu sẵn có , giá thành rẻ để đưa vào sản xuất
Đặt nhà máy ở những nơi gần với thị trường tiêu thụ , trục giao thông thuận lợi
sẽ làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển mà vẫn đảm bảo năng suất
Mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường, tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng
Trang 7Quan điểm của Mác về khủng hoảng kinh tế
1.Những lý luận của Mác về khủng hoảng kinh tế và bản chất của nó:
Ngay từ khi tiền tệ xuất hiện trong sản xuất hàng hóa giản đơn, nó đã mang trong mình mầm mống của sự khủng hoảng Đến chủ nghĩa tư bản, khi mà nền sản xuất đã được xã hội hóa cao độ, khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi Sự ra đời của cuộc đại công nghiệp cơ khí đầu thế kỉ XIX đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi những cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ.Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là khủng hoảng sản xuất “thừa” với các biểu hiện chủ yếu sau:
Khủng hoảng sản xuất thừa của tư bản công nghiệp do sự tắc nghẽn trong
quá trình lưu thong hàng hóa của tư bản thương nghiệp
Khủng hoảng tài chính tiền tệ do sự dư thừa của các loại giấy tờ có giá ( tư
bản giả) Sự dư thừa của tư bản tiền tệ trong hệ thống các ngân hàng dẫn đến những cuộc khủng hoảng tiền tệ giữa các quốc gia do sự di chuyển của các dòng vốn lưu động, gây nên sự thiếu ở thị trường này nhưng lại thừa tiền ở thị trường khác
Khủng hoảng nợ công do sự dư thừa của trái phiếu chính phủ, thứ để biến
những khoản tiền tiết kiệm của người dân trở thành tư bản
Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là theo Mác, khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
Trang 82 Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế dưới cái nhìn của Mác:
Theo Mác , nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Mâu thuẫn giữa tính tổ chứ, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội
Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa
Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê
3 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế:
Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản của chũ nghĩa tư bản mang tính chu kì Chu kì kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế
tư bản vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau Một chu kì kéo dài khoảng 8-12 năm Các Mác chính là người đầu tiên phát hiện ra tính chu kì của khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế gồm có 4 giai đoạn:
Khủng hoảng : là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới Ở giai đoạn
này , hàng hóa ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh do cung lớn hơn cầu, sản xuất đình trệ, các xí nghiệp đóng cửa Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng Khủng hoảng công nghiệp và thương nghiệp dẫn đến cả khủng hoảng tiền tệ tín dụng, phá hủy nghiêm trọng lực lượng sản xuất, người lao động thất nghiệp đông đảo, đời sống vô cùng khó khăn Nghiêm trọng hơn đó lại là điều kiện để các nhà tư bản tăng cường bóc lột công nhân, do đó công nhân buộc phải chấp nhận các điều kiện lao động nặng nhọc, hoặc tiền lương thấp trong khi đó cường độ lao động lại tăng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội
Trang 9 Tiêu điều : là giai đoạn tiếp sau khủng hoảng Đặc điểm của giai đoạn này là
sản xuất ở trạng thái trì trệ, không còn tiếp tục đi xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thâó tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Phục hồi : là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất
Công nhân lại được thu hút vào làm việc, mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên
Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất mà chu kỳ
trước đã đạt được Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xâu dựng thêm Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội Do đó lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới
Trang 10Những biện pháp của Mác để chống khủng hoảng kinh tế:
Theo Mác,để chống khủng hoảng kinh tế và tác động xấu của tính chu kì trong khủng hoảng , ta cần phải kéo dài thời gian phục hồi,hưng thịnh và rút ngắn thời gian khủng hoảng ,tiêu điều trong một chu kì Mác đã đề ra những biện pháp chủ yếu sau:
Hạn chế và cố gắng triệt tiêu những mâu thuẫn sẵn có và mâu thuẫn mới phát sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Việc giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn có thể giúp ngăn chặn khủng hoảng kinh tế và giảm được những thiệt hại đáng kể khi khủng hoảng xảy ra
Các nhà tư bản phải giảm chi phí sản xuất bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân đồng thời đổi mới tư bản cố định ( máy móc, thiết bị…), từ đó làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Nhà nước cần có tác động trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng thống nhất, đảm bảo mức cung ứng tiền tệ ổn định , đảm bảo mức lãi suất chênh lệch trong các ngành có tỉ suất lợi nhuận khác nhau
Giảm thuế và hạ lãi suất cho vay để kích cầu
Các nhà tư bản cần phải kết hợp quá trình đào tạo qua sự phát triển của lực lượng sản xuất với khoa học kĩ thuật để đảm bảo cơ cấu lao động ở mức hợp lý với điều kiện sản xuất của mọi quốc gia nhưng không bị chi phối bởi giới hạn thị trường
Cân bằng hợp lý giữa cung và cầu trên thị trường
Các tập đoàn, công ti lớn phải đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, hay nói cách khác là quốc hữu hóa một phần nền kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa Từ đó nâng cao hiệu quả trong tổ chức quản lý và hạn chế nhiều rủi ro trong hoạt động