ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC iii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi DANH MỤC CÁC BẢNG vii DANH MỤC CÁC HÌNH viii MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 2 a. Mục đích 2 b. Yêu cầu nghiên cứu 3 3. Cấu trúc của đồ án 3 Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1. Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4 1.1.1. Một số khái niệm 4 1.1.2. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 6 1.2. Khái quát về sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 13 1.2.1. Người dân và sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai 13 1.2.2. Sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 17 1.2.3. Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người dân 22 1.3. Cơ sở pháp lý 26 1.3.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 26 1.3.2. Một số về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 28 1.4. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện 34 1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 34 1.4.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện tại Việt Nam 38 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42 2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 42 2.2. Nội dung nghiên cứu 43 2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 43 2.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bảo Thắng 43 2.2.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 43 2.2.4. Sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án 43 2.2.5. Đề xuất một số giải pháp 44 2.3. Phương pháp nghiên cứu 44 2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 44 2.3.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu 44 2.3.4. Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) 45 2.3.5. Xây dựng thang đo và các biến quan sát 46 2.3.6. Phương pháp kế thừa 47 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48 3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 48 3.1.1. Điều kiện tự nhiên 48 3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội huyện Bảo Thắng 54 3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Bảo Thắng 65 3.2.1. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 65 3.2.2. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Bảo Thắng 73 3.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 77 3.3.1. Giới thiệu khái quát về dự án 77 3.3.2. Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ của Dự án 79 3.3.3. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án 83 3.4. Đánh giá mức độ tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án 89 3.4.1. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân được thông báo về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 92 3.4.2. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc góp ý hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 98 3.4.3. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc giám sát của người dân trong công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 100 3.4.4. Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân tham gia vào quá trình ra quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 102 3.5. Đánh giá kết quả thực hiện và sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Dự án 104 3.5.1. Phân tích SWOT trong kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 104 3.5.2. Phân tích SWOT về sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 105 3.6. Đề xuất giải pháp 107 3.6.1. Giải pháp chính sách 107 3.6.2. Giải pháp về kĩ thuật 108 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 110 1. Kết luận 110 2. Kiến nghị 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC 118
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
_
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
_
SINH VIÊN: NGUYỄN ĐÌNH HỒNG
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã ngành : 52850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
Hà Nội - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Hoàng Thị Phương Thảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ
án này là trung thực và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đồ án đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đồ án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả của đồ án
Nguyễn Đình Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đồ án tốt nghiệp với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Đất đai - Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội đã truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, tạo điều kiện cho em hoàn thành báo cáo, sử dụng phát huy trong cuộc sống cũng như sự nghiệp sau này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Hoàng Thị Phương Thảo người
đã trực tiếp tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em thực hiện đề tài này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm hạn chế của một sinh viên nên đồ án của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp
và chỉ bảo của các thầy cô giáo để đồ án tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 2
a Mục đích 2
b Yêu cầu nghiên cứu 3
3 Cấu trúc của đồ án 3
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 6
1.2 Khái quát về sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 13
1.2.1 Người dân và sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai 13
1.2.2 Sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 17
1.2.3 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người dân 22
1.3 Cơ sở pháp lý 26
1.3.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 26
1.3.2 Một số về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 27
1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện 34
Trang 61.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 34
1.4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện tại Việt Nam 38
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 42
2.2 Nội dung nghiên cứu 43
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 43
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Bảo Thắng 43
2.2.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 43
2.2.4 Sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án 43
2.2.5 Đề xuất một số giải pháp 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 44
2.3.2 Phương pháp điều tra chọn mẫu 44
2.3.4 Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) 45
2.3.5 Xây dựng thang đo và các biến quan sát 46
2.3.6 Phương pháp kế thừa 47
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 48
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 48
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng 54
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Bảo Thắng 65
3.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 65
3.2.2 Tình hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Bảo Thắng 73
3.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 77
Trang 73.3.1 Giới thiệu khái quát về dự án 77
3.3.2 Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ của Dự án 79
3.3.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án 83
3.4 Đánh giá mức độ tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án 89
3.4.1 Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân được thông báo về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 92
3.4.2 Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc góp ý hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 98
3.4.3 Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc giám sát của người dân trong công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 100
3.4.4 Đánh giá mức độ tham gia của người dân về việc người dân tham gia vào quá trình ra quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 102
3.5 Đánh giá kết quả thực hiện và sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Dự án 104
3.5.1.Phân tích SWOT trong kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 104
3.5.2.Phân tích SWOT về sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 105
3.6 Đề xuất giải pháp 107
3.6.1 Giải pháp chính sách 107
3.6.2 Giải pháp về kĩ thuật 108
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 110
1 Kết luận 110
2 Kiến nghị 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 118
Trang 84 CN- TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
5 DS-KHHGĐ Dân số - kế hoạch hóa gia đình
6 GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
9 Hội đồng BT, HT, TĐC Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
19 NLN&TS Nông lâm nghiệp và thủy sản
20 Phòng TN&MT Phòng Tài nguyên và Môi trường
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có sự tham gia của người dân 24
Bảng 1.2 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định theo Luật đất đai 2013 26
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Bảo Thắng qua một số năm 55
Bảng 3.2: Diện tích, cơ cấu đất đai phân theo mục đích sử dụng 74
Bảng 3.3 Biến động sử dụng đất huyện Bảo Thắng giai đoạn 2010 – 2015 76
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích các loại đất thu hồi thực hiện Dự án 79
Bảng 3.5: Xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và đối tượng không được bồi thường, hỗ trợ tại Dự án 83
Bảng 3.6 Đơn giá bồi thường đối với đất ở trong khu vực GPMB 84
Bảng 3.7 Áp giá sơ bộ khi bồi thường về tài sản vật kiến trúc của Dự án 84
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện bồi thường của Dự án 85
Bảng 3.9 Kết quả thực hiện hỗ trợ 87
Bảng 3.10 Tổng hợp số hộ tái định cư của Dự án 88
Bảng 3.11: Tổng hợp kết quả đánh giá của người dân trong thực hiện chính sách BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại Dự án 91
Bảng 3.12: Kết quả sự tham gia của người dân trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án nghiên cứu 93
Bảng 3.13: Đánh giá của người dân về các hình thức công khai thông tin tại Dự án 95
Bảng 3.14 Sự tham gia của người dân về bồi thường, hỗ trợ tại Dự án 99
Bảng 3.15 Khung phân tích SWOT trong kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 105
Bảng 3.16 Phân tích SWOT về sự tham gia của người dân trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 106
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mức độ tham gia của người dân 17 Hình 2.1 Các mức độ đánh giá sự tham gia của người dân khi thực hiện Dự án 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp, làm địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sản xuất kinh doanh, cơ sở kinh tế, văn hóa Cùng với sự phát triển của xã hội, đất đai được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau và nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng lên Việc sử dụng đất có hiệu quả
cả về kinh tế - xã hội và tính bền vững môi trường ngày càng có ý nghĩa Sử dụng đất đai vào các mục đích an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, đặc biệt là các dự án phát triển đô thị, dự
án sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Thu hồi đất không chỉ là một phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước mà còn là giải pháp đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Trên thực tế, thu hồi đất là hoạt động khó khăn, phức tạp và dễ phát sinh tham nhũng, tranh chấp, khiếu kiện, bởi hoạt động này trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau: Nhà nước, xã hội, lợi ích của người bị thu hồi đất và lợi ích của người được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất… Trong nhiều trường hợp, người bị thu hồi đất không đồng thuận với việc thu hồi và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do sự thiếu công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện việc thu hồi đất [14]
Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện việc thu hồi đất đó là vai trò sự tham gia của người dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Luật đất đai năm 2013 ra đời đã có những đổi mới trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Sự tham gia của người dân trong công tác này cũng được luật hóa nhằm thể hiện tính dân chủ, tăng cường sự giám sát và sự tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý Nhà
Trang 12nước về đất đai nói chung và việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng
Tuy nhiên, sự tham của người dân trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, còn gây ra nhiều bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án Có thể thấy, đây là một vấn đề quan trọng tác động tới việc thực hiện công khai, minh bạch thông tin trước nhân dân, giảm tính dân chủ trong quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dự án, đồng thời gây ra nhiều khó khăn trong công tác phòng, chống tham nhũng
Huyện Bảo Thắng là một huyện trọng điểm của tỉnh Lào Cai, nằm ở vị trí tiền đồn, cửa ngõ của Tổ quốc Huyện Bảo Thắng đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ vùng biên cương của đất nước Cùng với sự phát triển của
cả nước nói chung, của tỉnh Lào Cai nói riêng, trong thời gian qua trên địa bàn huyện Bảo Thắng đã có những dự án khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng Trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các dự án trên địa bàn huyện còn tồn tại một số vướng mắc, khó khăn và sự tham gia của người dân còn hạn chế
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai"
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
a Mục đích
- Tìm hiểu kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại dự án
Hạ tầng kỹ thuật sau kè bờ tả sông Hồng, khu vực cầu Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án
- Đánh giá kết quả thực hiện và sự tham gia của người dân trong bồi thường,
Trang 13hỗ trợ, tái định cư tại dự án và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện công tác này trên địa bàn huyện Bảo Thắng
b Yêu cầu nghiên cứu
- Nắm vững chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và hệ thống các văn bản có liên quan
- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra, thu thập phải có độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan
- Việc tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệu, tài liệu điều tra, thu thập được có
độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan, phản ánh đúng quá trình thực hiện các chính sách liên quan đến đề tài trên địa bàn nghiên cứu
- Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với thực tế của địa phương nhằm góp phần hoàn thiện việc thực hiện tốt công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện công tác này trên địa bàn huyện
3 Cấu trúc của đồ án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, đồ án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1.1.1 Một số khái niệm
a Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi là việc lấy lại cái đã nhường, cấp phát cho người khác hoặc bị lấy đi
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu, do vậy, khái niệm thu hồi đất gắn liền với sự tồn tại của quyền sở hữu toàn dân về đất
đai Theo cách giải thích từ ngữ tại Khoản 11, Điều 3, Luật đất đai năm 2013: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người
được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.”
Bản chất của thu hồi đất là việc thông qua các biện pháp hành chính để chuyển quyền sử dụng đất theo một cơ chế bắt buộc Thu hồi đất bao gồm các đặc điểm sau:
- Xảy ra theo một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (Do vi phạm pháp luật về đất đai, người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng đất)
- Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính, trong đó phải thể hiện
rõ họ tên, địa chỉ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, thể hiện rõ vị trí, diện tích và các loại đất bị thu hồi Quyết định thu hồi đất phải được ban hành bởi một cơ quan hành chính có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
- Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp [3]
b Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại
về vật chất, về tinh thần mà mình gây ra cho người khác, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ
Trang 15quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường
Bồi thường có nghĩa trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác Theo quy định tại Khoản 6,
Điều 4, Luật đất đai năm 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”
Trong quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn:
- Về xác định đối tượng được bồi thường: đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm
cả người đang sư dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận và những người có lợi ích liên quan
- Về xác định thiệt hại: ngoài các thiệt hại về đất, nhà cửa và tài sản khác gắn liền với đất còn có những thiệt hại khác mà mà người sử dụng đất cần phải được bồi thường như: thiệt hại về nguồn nước sinh hoạt, cây trồng, vật nuôi, các chi phí đầu
tư vào đất, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh …[3]
Khoản 11, Điều 3, Luật đất đai năm 2013 đã đưa ra cách giải thích từ ngữ:
“Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.”
c Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới Theo quy định của Luật đất đai 2013: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi ổn định đời sống sản xuất và phát triển.” [23] Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là đầu tư của người sử dụng đất mang lại
Như vậy khác với bồi thường là việc trả lại những giá trị tương xứng bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước đối với sự hi sinh,
Trang 16mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng [3]
d Tái định cư
Tái định cư là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người
bị Nhà nước thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác Ở Việt Nam, khái niệm tái
định cư chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, tái định cư được
hiểu là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn Theo nghĩa rộng tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Nếu bồi thường thiên về mức độ tương xứng thì tái định cư thiên về chính sách tạo lập chỗ ở Trong quy định của Luật đất đai có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cư được xây dựng để bồi thường bằng nhà ở, đất
ở cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở
e Giá đất
Giá đất là giá trị của quyển sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Có những phương pháp xác định giá đất được áp dụng hiện nay là: phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp thu nhập; phương pháp chiết trừ và phương pháp thặng
dư Tùy vào từng loại đất khác nhau sẽ áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định giá đất [3]
1.1.2 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
a Bản chất chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta
Quyền sở hữu đất đai
Theo quy định tại Điều 158, Luật dân sự năm 2015: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.” Trong đó, “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”,
Trang 17bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng [21]
Quyền sở hữu đất đai bao gồm ba quyền năng cơ bản sau: Quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai và quyền định đoạt đất đai Hiến pháp và các quy định của pháp luật về đất đai khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện là chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu Với việc Nhà nước là đại diện chủ sở hữu về đất đai thì quyền sở hữu về đất đai có những đặc điểm sau:
- Quyền của Nhà nước về chiếm hữu đất đai
Nhà nước các cấp tự nắm giữ tổng tài nguyên đất đai thuộc phạm vi lãnh thổ của mình, sự nắm giữ này là tuyệt đối và không điều kiện, không thời hạn Để tổ chức việc sử dụng đất, Nhà nước quyết định giao một phần quyền chiếm hữu của mình cho người sử dụng trên những thửa đất, khu đất cụ thể với một thời gian hạn chế, có thể là lâu dài nhưng không phải vĩnh viễn
- Quyền của Nhà nước về sử dụng đất đai:
Nhà nước thực hiện quyển sở hữu đất đai về mặt kinh tế bằng cách khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, tài nguyên đất đai, tuy nhiên Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà tổ chức cho toàn xã hội sử dụng và khai thác các tiềm năng đất đai
- Quyền của Nhà nước về định đoạt đất đai
Quyền định đoạt về đất đai của Nhà nước được thể hiện cơ bản và tuyệt đối, thông qua các hoạt động cụ thể như giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chững nhận quyền sử dụng đất Bên cạnh đó, trong các hoạt động cụ thể thể hiện quyền định đoạt, Nhà nước có quyền thu hồi lại phần diện tích đã giao, đã cho thuê Các hoạt động cụ thể của quyền định đoạt được gắn liền với quyền quản lý đất đai
Quyền sử dụng đất
Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
Trang 18đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.” Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền
sử dụng đất được pháp luật bảo hộ Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang
sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật [23] Điều này cũng được cụ thể hóa trong Điều 4, Luật đất đai năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Nhà nước - đại diện chủ sở hữu, không sử dụng toàn bộ đất đai mà trao quyền
sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, các nhân để sử dụng vào các mục đích dưới các hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất
Quyền sử dụng đất là một tính chất đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam Trên cơ sở khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, pháp luật đất đai đã từng bước phát triển, hoàn chỉnh các quy định về “người sử dụng đất” và “các quyền sử dụng đất”, theo đó “người sử dụng đất” ngày càng được mở rộng là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; “quyền sử dụng đất” bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng , cho thuê, cho thuê lại, để thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được thực hiện thông qua các giao dịch dân sự [3]
b Chính sách phân phối địa tô trong quản lý đất đai theo cơ chế thị trường
Địa tô và quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai
Địa tô là một phạm trù kinh tế gắn liền với chế độ sở hữu đất đai, là hình thái dưới đó quyền sở hữu đất đai được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu Theo các nhà kinh tế học thì các chi phí phải thanh toán để sử dụng đất đai gọi là địa tô (ngày nay thông thường gọi là thuế sử dụng đất) Theo
Trang 19thuật ngữ của kinh tế học cổ điển, địa tô là một dạng hình đặc trưng của thu nhập
mà chủ sở hữu đất đai nhận được
Liên quan đến vấn đề địa tô, quyền sở hữu và quyền sử dụng phải được phân định rõ giữa các chủ thể và phải được quy định trong các đạo luật quan trọng như Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai,… Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Còn quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; quyền này chỉ là một trong ba quyền của chủ sở hữu Đối với Việt Nam, quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân và do Nhà nước là đại diện, còn các người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng trên mảnh đất được Nhà nước giao, cho thuê Hiểu theo khái niệm trên thì những người đang có quyền sử dụng đất không có quyền trong việc thu địa tô Điều này trên thực tiễn đã và đang làm cho các chủ thể tham gia quan hệ đất đai gặp phải những vấn đề phức tạp từ việc sử dụng một khoảnh đất cụ thể cho đến việc quản lý vĩ mô trong nền KTTT định hướng XHCN [3]
Địa tô trong giao đất, cho thuê đất
Quá trình vận hành nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, vấn đề quyền SDĐ và BĐS được đề cập, nghiên cứu trong mối quan hệ giữa giá trị quyền SDĐ (được hiểu là “giá đất”) với chế độ phân phối địa tô Về bản chất, địa tô xuất hiện nhằm giải quyết quan hệ giữa người sở hữu đất đai (chủ đất) với người có nhu cầu
sử dụng các loại đất cho các mục đích Ngoài địa tô tuyệt đối, người sử dụng những diện tích đất có điều kiện phát triển thuận lợi hơn, sinh lợi hơn còn có nghĩa vụ trả cho chủ đất số tiền thuê đất cao hơn dưới hình thức địa tô chênh lệch 1, đây là phần lợi ích tăng lên do điều kiện thuận lợi của đất đai tạo ra vì thế nó được phân phối và
nó thuộc quyền hưởng thụ của chủ đất Dưới chế độ công hữu về đất đai, Nhà nước
là người đại diện chủ sở hữu cho toàn dân đứng ra thu địa tô tuyệt đối dưới hình thức thu thuế đất tối thiểu đối với các loại đất; địa tô chênh lệch 1 là của toàn xã hội Nhà nước Việt Nam giao đất ổn định lâu dài hoặc có thời hạn, cho thuê đất có thời hạn Người được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất (có thể được miễn nộp) và nộp thuế sử dụng đất, người được thuê đất phải nộp tiền thuê đất Tuy hình thức địa
Trang 20tô tuyệt đối không còn, cơ cấu đầu tư vào các mục đích sử dụng đất khác nhau sẽ do quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước quyết định Như vậy, giá đất và thuế đất phải được hình thành trên cơ sở phân tích thường xuyên lợi nhuận từ việc sử dụng đất trong cơ chế thị trường để xác định đúng địa tô chênh lệch 1 thuộc nhà nước và địa
tô chênh lệch 2 thuộc nhà đầu tư Đây là biện pháp hữu hiệu để tạo được nguồn thu cho ngân sách cũng như khuyến khích được người sử dụng đất đầu tư vào đất có hiệu quả [3]
Địa tô và giá đất
Về nguyên lý, giá cả hình thành trên cơ sở giá trị, nhưng giá cả thị trường còn phụ thuộc và bị tác động của rất nhiều yếu tố như quan hệ cung - cầu, tâm lý và hiểu biết Vì vậy, dù Nhà nước có định giá chính xác đến bao nhiêu thì giá đất giao dịch trên thị trường sẽ luôn luôn sai lệch so với giá đất do Nhà nước quy định, và thường
là chênh lệch theo xu hướng cao hơn Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tăng giá đất cho sát với giá giao dịch trên thị trường đến lượt nó lại là tác nhân tác động, thúc đẩy tăng giá trao đổi trên thị trường làm cho cuộc rượt đuổi tiếp tục diễn ra và là tác nhân làm giá đất trên thị trường tiếp tục tăng lên không có điểm dừng
Trong khi giá đất của Nhà nước quy định chưa tiến sát được với giá đất trao đổi trên thị trường, Nhà nước tiếp tục chấp nhận sử dụng chính sách hai giá: giá do Nhà nước xác định khi giao đất, cho thuê đất hoặc tính thuế đất thường thấp hơn giá xác định để bồi thường khi thu hồi đất Khi Nhà nước thay đổi quy hoạch hoặc đầu
tư hạ tầng, thu hút phát triển các hoạt động kinh tế xã hội làm tăng giá trị đất đai thì người sử dụng đất hoặc nhà đầu tư được hưởng trọn giá trị gia tăng của đất đai,
kể cả trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Chính hạn chế trong việc phân phối lợi ích khi giá trị đất đai tăng lên là động cơ thúc đẩy đầu cơ đất đai và là nhân tố thúc đẩy giá đất thị trường tăng lên, tạo ra nhiều nghịch lý như: nền kinh tế kém phát triển, mức thu nhập thấp nhưng giá đất liên tục tăng lên không thu hút được đầu tư; người có đất bị thu hồi dù có nhận được mức tiền bồi thường lớn hơn mức sinh lợi của đất mang lại, song vẫn không hài lòng vì lợi ích sau khi thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được phân
Trang 21chia thỏa đáng từ đó phát sinh khiếu kiện [17]
Để giải quyết tận gốc những mâu thuẫn và nghịch lý như trên, cần xác định một cơ chế hình thành giá đất độc lập với những biến động bất thường của giá cả mua bán, trao đổi đất đai trên thị trường, đồng thời phải có một cơ chế phân phối lợi ích hợp lý khi giá đất gia tăng
Có 3 loại địa tô cùng tồn tại trên đất đai, trong đó mỗi loại có nguồn gốc và vai trò riêng có của nó:
- Địa tô chênh lệch 1 có được nhờ vào những điều kiện thuận lợi vốn có của đất đai như độ phì nhiêu màu mỡ, sự đồng bộ của hệ thống hạ tầng, thuận lợi tiếp cận và lợi thế về điều kiện vị trí Do vậy, về nguyên tắc, lợi ích mang lại từ địa tô chênh lệch 1 phải được phân phối chung cho xã hội, mà Nhà nước với vai trò là người quản lý xã hội phải có trách nhiệm giải quyết Việc điều tiết và phân phối địa
tô chênh lệch 1 sẽ tạo ra sự công bằng, bình đẳng về lợi ích giữa những người sử dụng đất có điều kiện, vị trí khác nhau
- Địa tô chênh lệch 2 là lợi ích mang lại từ đất đai nhưng do người sử dụng biết cách đầu tư, sử dụng một cách hợp lý hơn tạo ra Do vậy, về nguyên lý, địa tô chênh lệch 2 sẽ thuộc về người tạo ra nó - tức là người sử dụng đất Chính sách phân phối địa tô chênh lệch 2 có vai trò khuyến khích những người sử dụng đất hợp
lý hơn, có hiệu quả hơn
- Địa tô tuyệt đối thể hiện vai trò đóng góp của đất đai vào làm gia tăng lợi nhuận cho mỗi hoạt động kinh tế xã hội Địa tô tuyệt đối không phụ thuộc vào điều kiện vị trí đất đai, không phụ thuộc vào trình độ của người sử dụng, mà tùy thuộc vào vai trò của đất đai trong mỗi hoạt động kinh tế - xã hội Do vậy, địa tô tuyệt đối trong mỗi hoạt động kinh tế - xã hội sẽ khác nhau và thay đổi khi Nhà nước cho phép thay đổi mục đích sử dụng đất Do vậy, địa tô tuyệt đối thuộc về người có thẩm quyết định mục đích sử dụng đất
Việc xác định giá đất của Nhà nước dựa vào xác định giá trị của các loại địa tô không chỉ hình thành nên giá cả đất đai cân bằng trên thị trường, không phụ thuộc vào sự biến động thất thường của các quan hệ trao đổi mua bán trên thị trường Giá
Trang 22đất do Nhà nước xác định sẽ phản ánh đúng giá trị thị trường đích thực của đất đai,
có tác dụng làm căn cứ định hướng cho việc xác định giá cả trong các quan hệ giao dịch mua bán đất đai trên thị trường [9]
c Quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Giải quyết lợi ích kinh tế - xã hội không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất của mỗi chủ thể tham gia trong quan hệ đất đai mà còn phải đảm bảo công bằng giữa các chủ thể, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển đúng hướng và cho sự phát triển của các lợi ích khác [42]
Có thể thấy một phần nguồn lực đất đai vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả, tác động đến mục tiêu kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà nguyên nhân chủ yếu còn chưa giải quyết được quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội trong các quan hệ đất đai giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất
bị thu hồi (3 bên) Tình trạng chung hiện nay mới chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt, nhắm đến khoản lợi nhuận từ đất đai (do quy hoạch) mang lại, các chủ thể đang ra sức khai thác, chuyển nhượng, cho thuê, chuyển đổi nhiều diện tích đất đai màu mỡ sang các loại đất phi nông nghiệp, trong khi tình trạng người dân thiếu việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp chưa được coi trọng Quan hệ lợi ích giữa 3 bên hiện nay còn nhiều bất cập: người sử dụng đất bị thu hồi luôn mong muốn được bồi thường thỏa đáng, các nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách, trong khi đó Nhà nước chỉ thực hiện thu các khoản với mức thu thấp và trong nhiều trường hợp còn bị khấu trừ hết bởi tiền bồi thường mà nhà đầu tư đã ứng trước [2] Cũng như các loại tài nguyên thiên nhiên khác, đất đai hàm chứa những giá trị khác nhau: giá trị sử dụng trực tiếp (ví dụ giá trị về quyền sử dụng đất trên thị trường…) giá trị sử dụng gián tiếp (giá trị sinh thái, môi trường,…) và giá trị vô hình (giá trị mang tính tâm linh, thiêng liêng …) Vì vậy, mức bồi thường cho người dân khi bị thu hồi đất như thế nào cho hợp lý và hài hòa lợi ích cần được giải quyết trong thực tế quản lý và sử dụng đất của chúng ta
Hiện nay, những lợi nhuận mà các nhà đầu tư có được mà một phần là do họ
Trang 23không xử lý môi trường và gây ô nhiễm môi trường cho xã hội, cộng đồng địa phương mà đáng ra những lợi nhuận đó phải được phân bổ hài hòa cho xã hội và cộng đồng địa phương, cộng đồng dân cư bị mất đất chưa được hưởng lợi ích của sự phát triển này mà đúng ra, lợi ích của dự án phát triển kinh tế phải được phân chia một cách công bằng giữa ba đối tượng: Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp là những nhà đầu tư tiền của, công sức, trí tuệ để tạo ra giá trị thặng dư, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, góp phần đưa giá trị quyền sử dụng đất trở thành nguồn vốn, nguồn nội lực quan trọng cho đất nước
Do đó, việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi cần được xác định rõ ràng trên cơ sở Nhà nước điều tiết lợi ích giữa nhà đầu tư với người bị thu hồi đất đảm bảo nhà đầu tư vẫn có lãi trong khi người bị thu hồi đất chấp thuận, ổn định đời sống; đồng thời, Nhà nước cần ban hành các chính sách bồi thường hợp lý để buộc các doanh nghiệp sử dụng đất tiết kiệm, phát triển theo hướng bền vững nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện môi trường [16]
1.2 Khái quát về sự tham gia của người dân trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Người dân và sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai
a Thuật ngữ “người dân”
Nhân dân hay còn gọi là người dân, quần chúng, dân là thuật ngữ chỉ về toàn thể những con người sinh sống trong một quốc gia, và tương đương với khái niệm dân tộc Nhân dân còn có khái niệm rộng hơn và được sử dụng trong chính trị, pháp lý, tư tưởng chính trị Trong lĩnh vực chính trị pháp lý, nhân dân còn tương đồng với thuật ngữ công dân là những con người mang quốc tịch và được bảo hộ của một nhà nước nơi họ đang sinh sống và thông thường là không bao gồm những người trong bộ máy cai trị [37]
Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp
Trang 24năm 2013) đã được thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 đã có những nội dung đổi mới nhằm phù hợp với sự phát triển của đất nước, đáp ứng với những yêu cầu trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa Lần đầu tiên Hiến pháp viết hoa chữ “Nhân dân” nhằm khẳng định bản chất nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Như vậy có thể thấy,
sự tham của người dân vào việc quản lý Nhà nước đang ngày càng được đề cao [34]
Hiện nay, chưa có cách giải thích từ ngữ hoặc định nghĩa về “người dân” một cách chính thức Bên cạnh đó, nhiều tài liệu đánh đồng các thuật ngữ “người dân”,
“cộng đồng”, “nhân dân” khi nói tới sự tham gia của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia vào trong một quyết định, một dự án nào đó
Chính vì thế trong đồ án này, tác giả sử dụng thuật ngữ “người dân” với cách
hiểu: Người dân là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức đang sử dụng, quản
lý đất có đất bị thu hồi khi Nhà nước thu hồi đất
b Sự tham gia của người dân
Khái niệm
- Sự tham gia:
Tham gia - participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia Theo GS
Tô Duy Hợp thì tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người dân và trở thành khoa học [25]
Sự tham gia là một quá trình mà qua đó những bên có liên quan sẽ có ảnh hưởng đối với định hướng phát triển, kiểm soát các nguồn lực và các quyết định có ảnh hưởng đến họ [4] Sự tham gia không phải là ngẫu nhiên mà cần phải được xúc tác Người quản lí (Nhà nước) cần quan tâm về mặt tiến độ và cũng cần để cho đối tượng tham gia (người dân) kiểm soát những gì đang diễn ra [33]
- Sự tham gia của người dân:
Sự tham gia của người dân là quá trình trong đó người dân tác động vào trong quá trình thực hiện một quyết định, một dự án Các hoạt động của cá nhân không có
Trang 25tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của người dân [25].
Sự tham gia của người dân là một quá trình mà qua đó những mối quan tâm, nhu cầu và mong đợi của người dân được phản ánh trong quá trình ra quyết định [4]
và đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án
Sự cần thiết của sự tham gia của người dân
- Sự tham gia của người dân là một yêu cầu
Điều này đã được pháp luật quy định, đảm bảo quyền của người dân “được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ” [18], đảm bảo nguyên tăc “Dân là gốc, phát huy vai tò làm chủ của nhân dân” như câu khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được nêu ra từ Chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng năm 1984 của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Người dân có quyền tham gia vào việc ra quyết định vì kết quả của các quyết định sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Nếu các quy định và điều luật về sự tham gia không được thực hiện hoặc quá trình ra quyết định không rõ ràng khi huy động
sự tham gia của người dân thì những người tham gia dự án có thể sẽ ngừng hoặc trì hoãn việc ra quyết định hay thực hiện quyết định và hậu quả là sẽ phát sinh thêm nhiều việc, tốn kém hơn và gây chậm trễ hơn
- Sự tham gia của người dân giúp giảm bớt những khó khăn trong quá trình ra quyết định
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể trao đổi về các vấn đề của người dân trong quá trình ra quyết định từ đó có thể ngăn ngừa những vấn đề nghiêm trọng hơn xảy ra sau này
Sự tham gia của người dân làm tăng sức mạnh bởi vì khi làm việc cùng nhau
sẽ tăng tính tự tin và khả năng để giải quyết các vấn đề khó khăn Đồng thời đảm bảo thu được những kết quả của dự án tốt hơn vì chính người dân biết rõ nhất là họ cần gì, những khả năng đóng góp, đồng thuận của họ
- Sự tham gia của người dân cải thiện cả quá trình, đưa đến những kết quả và
Trang 26 Các mức độ tham gia của người dân
Mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý được phát triển theo từng cấp độ, phụ thuộc và mối quan hệ đối tác giữa Chính phủ và người dân Mức độ tham gia của người dân thể hiện vai trò kiểm soát của Chính phủ giảm dần
và mức độ hợp tác cũng như quyền làm chủ của người dân tăng lên Theo nghiên cứu của dự án “Tăng cường sự tham gia của người dân và Quản lý Nhà nước tại các
đô thị Việt Nam thông qua Hiệp hội các Đô thị Việt Nam” do Liên Minh Châu Âu tài trợ, có 05 mức độ tham gia của người dân
Trang 27Hình 1.1 Mức độ tham gia của người dân
- Mức độ thông báo: Đây là mức độ thấp nhất của sự tham gia và cũng là yếu
tố quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi Mức độ này cung cấp cho người dân các thông tin khách quan và cần thiết để giúp họ hiểu vấn đề, các phương án hoặc giải pháp
- Tham vấn: Người dân được cung cấp thông tin, từ đó đóng góp ý kiến và Nhà nước tiếp nhận phản hồi từ phía cộng đồng về kết quả phân tích, phương án hoặc các quyết định
- Tham gia ra quyết định: Người dân có cơ hội và được phép tham gia thảo luận đóng góp ý kiến để đưa ra quyết định và được tham gia quản lý
- Phối hợp thực hiện: Dàn xếp để phân phối lại quyền lực giữa người dân và nhà cầm quyền Cả hai phải có trách nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định
- Trao quyền ra quyết định: Người dân được Nhà nước trao quyền ra quyết định, Nhà nước chỉ đóng vai trò kiểm soát
1.2.2 Sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
a Sự cần thiết của người dân tham gia
Về phía người dân
Trang 28Sự tham gia xuyên suốt các khâu trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của người dân là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tiến độ của công tác giải phóng mặt bằng
- Người dân là đối tượng bị thu hồi đất, được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nhà nước khi ban hành Luật đất đai luôn giữ nguyên tắc Nhà nước thu hồi đất thì người có đất bị thu hồi được bồi thường bằng đất cùng loại hoặc bằng tiền với giá trị tương đương Trên thực tế đất đai ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất và nguồn sống của con người Vì đất là tư liệu sản xuất của người bị thu hồi đất nên ngoài việc được bồi thường như một tài sản còn phải bồi thường về thu nhập, sinh kế cho người mất đất
Trong quá trình tham vấn lấy ý kiến của người bị thu hồi đất tại một số địa phương, Tổ chức Liên minh đất đai (LANDA) cho biết: hầu hết ý kiến của người dân tại các địa phương tổ chức lấy ý kiến đều cho rằng quá trình thực hiện thu hồi đất luôn thiếu minh bạch, người dân luôn bị đặt vào thế bị động, thậm chí là ép buộc
di dời và mất chỗ ở Số tiền mà nhiều người được đền bù bồi thường, thậm chí không đủ để mua một suất ở tái định cư Họ cũng mất cả sinh kế từ nông nghiệp mà gần như không có cơ hội tìm sinh kế mới Khảo sát ý kiến về cơ chế đồng thuận của người dân đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho thấy có tới 95% ý kiến cho rằng cần đạt được sự đồng thuận của người dân, trong đó 64% cho rằng cần lấy ý kiến của toàn bộ cộng đồng dân cư địa phương (không chỉ lấy ý kiến của người bị thu hồi đất) và phương án chỉ được phê duyệt khi đạt được 70% ý kiến đồng thuận 93% ý kiến cho rằng người mất đất có quyền giới thiệu các tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất độc lập tham gia vào danh sách đấu thầu cung cấp dịch vụ giá đất[10]
Như vậy, việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của người dân có đất thu hồi, người dân có quyền được tham gia vào công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Sự đồng thuận người dân trong quá trình thực hiện góp phần giảm thiểu những nguy cơ, thực hiện đúng tiến độ dự án, đỡ tốn kém
Trang 29- Người dân luôn có nhu cầu được tiếp cận với chính sách của Nhà nước Các chính sách, Luật và Hiến pháp của Việt Nam trước đây chỉ quan tâm chủ yếu đến quyền của người dân được phổ biến, được tuyên truyền các đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, đến việc công khai, công bố các văn bản của các cơ quan nhà nước Lần đầu tiên Hiến pháp đã ghi nhận “quyền được thông tin” của công dân (Điều 69, Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001) Tuy nhiên, đó vẫn
là tinh thần cũ, người dân là đối tượng thụ động tiếp nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước Đến gần đây, “quyền tiếp cận thông tin” mới được ghi nhận một cách đầy
đủ hơn tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 Ngày 06/4/2016 Luật tiếp cận thống tin số 104/2016/QH13 đã được Quốc hội thông qua, đây là điều cần thiết và là một bước cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Điều này cho thấy nhu cầu tiếp cận thông tin nói chung và nhu cầu tiếp cận chính sách của Nhà nước, chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là nhu cầu chính đáng của người dân và được pháp luật bảo hộ Việc tiếp cận với chính sách của Nhà nước giúp người dân nắm được quyền và nghĩa vụ của mình; nhận biết được, xác định được, giám sát được việc tổ chức thực hiện chính sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
- Thực hiện dự án thu hồi đất là để phục vụ nhân dân
Các dự án thu hồi đất là nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau nhằm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ngày càng tăng; đảm bảo cân đối nhu cầu sử dụng đất của người dân: nhu cầu ở, lao động, sản xuất
và sinh hoạt Vì vậy, việc người dân tham gia trong quá trình thực hiện là một tất yếu
- Nhân dân là gốc, là khối đại đoàn kết dân tộc
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị Theo Người “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần
Trang 30chúng đề ra sáng kiến”, “Có dân chủ thì dân mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo”, do đó mới tạo nên động lực Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Vì vậy, phải thực hiện một nền dân chủ của nhân dân, đảm bảo lợi ích chính đáng của dân, dân chủ thực sự cho dân
Về phía Nhà nước
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân
và vì dân, quy chế dân chủ được thể hiện qua nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Do đó, chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý của Nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền mới thực sự thành công
Công tác quản lý Nhà nước rất cần sự phối hợp của người dân, nhận được thông tin phản hồi từ phía người dân Việc mở rộng hình thức tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước không chỉ đòi hỏi từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời sống xã hội và của bản thân Nhà nước Mở rộng sự tham gia mạnh
mẽ của người dân vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước
sẽ đóng góp quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay
Sự tham gia của người dân vào các hoạt quản lý Nhà nước được pháp luật quy định Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào công việc quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm cho Nhà nước giữ vững bản chất là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, pháp luật được ban hành
Như vậy, sự tham gia của người dân giúp Nhà nước vừa thực hiện được chức năng của mình, đồng thời được giám sát, điều chỉnh cho phù hợp
Về phía nhà đầu tư
Trang 31Khi người dân được tham gia đóng góp ý kiến, chủ đầu tư và người dân được đối thoại trực tiếp với nhau Qua đó, chủ đầu tư biết được những tâm tư, nguyện vọng của người dân để đưa ra những phương án giải quyết hợp lý, đảm bài hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và người dân, bên cạnh đó, việc đối thoại trực tiếp giúp người dân có thể dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin nhanh chóng và chính xác nhất
Khi sự tham gia của người dân được nhà đầu tư lắng nghe, có phương án giải quyết hợp lý, chính người dân sẽ là những người góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện dự án, chủ đầu tư sẽ đạt được những mục tiêu nhanh nhất
b Ý nghĩa của việc huy động sự tham gia của người dân trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Tăng cường sự tham gia của người dân là một trong những nguyên tắc quan trọng trong mọi lĩnh vực quản lý nhà nước đặc biệt trong lĩnh vực đất đai Nước ta đang trên con đường hội nhập toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc thu hồi đất của người dân là một tất yếu khách quan để xây dựng các công trình nhằm đáp ứng các nhu cầu đó Do đó, vấn đề được quan tâm hàng đầu khi nhà nước thu hồi đất chính là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Khi xem xét các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể thấy sự tham gia của người dân được đặc biệt chú trọng Việc đề cao sự tham gia của người dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mang một ý nghĩa
vô cùng quan trọng
- Tăng cường sự tham gia của người dân vừa là một đòi hỏi khách quan trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất vừa là cơ chế kiểm soát hoạt động này Bởi vì tất cả trình tự, thủ tục, nội dung,… liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đều do pháp luật quy định Việc tăng cường sự tham gia của người dân sẽ đảm bảo cho hoạt động này diễn ra trong đúng khuân khổ pháp luật đồng thời cải thiện chất lượng của các quyết định được ban hành
- Tăng cường sự tham gia của người dân sẽ giúp người dân được theo dõi,
Trang 32tham gia, đóng góp vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình, tạo sự đồng thuận cao khi thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Huy động sự tham gia của người dân là một trong những giải pháp quan trọng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng khi thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng Thông qua việc công khai thông tin liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư người dân có thể tham gia một cách tích cực, phát huy huy tính dân chủ, giám sát của nhân dân đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước và tố cáo các hành vi tiêu cực, làm trái với quy định của pháp luật trong quá trình thực thi quyền hạn của mình Từ đó nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền
- Tăng cường sự tham gia của người dân góp phần làm giảm những tranh chấp, khiếu kiện kéo dài liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tránh đối mặt với những trường hợp xấu nhất Khi người dân được tham gia, bày tỏ những mong muốn, nguyện vọng của mình đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
cơ quan nhà nước có thể xem xét, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn nảy sinh, tạo tâm lý thoải mái, tạo lòng tin trong nhân dân
1.2.3 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người dân
a Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người dân theo các quy định tại nghị định 69/2009/ NĐ-CP
Quy trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Nghị định 69/2009/NĐ- CP ngày 13/09/2009 của Chính Phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm bốn bước:
Bước 1: Giới thiệu địa điểm và thông báo thu hồi đất
Bước 2: Lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bước 3: Quyết định THĐ; phê duyệt và thực hiện phương án BT, HT, TĐC Bước 4: Cưỡng chế THĐ
Trang 33Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất lần đầu tiên được quy định trong Nghị định 197 với tên gọi “Tổ chức thực hiện” được
cụ thể hóa, chi tiết hóa trong Nghị định số 84 với 12 bước mà nhà đầu tư và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành Tuy nhiên qua quá trình thực hiện, Nghị định 84 đã bộc lộ một số bất cập, thời gian để thực hiện các bước cụ thể không xác định rõ gây ra tình trạng dây dưa, kéo dài, làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dự án, lợi ích của nhà đầu tư Trước thực trạng đó, Nghị định 69 đã ra đời, tiếp tục kế thừa những quy định hợp lí trong Nghị định 84 đồng thời thay đổi những quy định không còn phù hợp Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được rút gọn lại gồm 04 bước với trình tự hợp lí hơn Bên cạnh đó, sự tham gia của người dân vẫn được quan tâm nhằm đảm bảo lợi ích cho người dân Sự tham gia của người dân trong quy trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thể hiện thông qua Bảng 1.1 dưới đây:
Trang 34Bảng 1.1 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có sự tham gia của người dân
Quy trình Quy định
tại NĐ 69 Nội dung tham gia của người dân
Mức độ tham gia
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư
- Được thông báo
- Lấy ý kiến về phương án BT, HT, TĐC
- Niêm yết công khai phương án BT, HT, TĐC tại UBND cấp xã và tại các điểm sinh hoạt chung của khu dân cư
- Việc niêm yết phải được lập thành biên bản
và có xác nhận của đại diện những người có đất thu hồi
- Được thông báo
- Được đóng góp ý kiến
xã và tại điểm sinh hoạt chung của khu dân cư
- Gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư cho người có đất bị thu hồi
- Được thông báo
- Được giám sát
4 Tổ chức
thực hiện
phương án
Điều 32
Tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư theo quyết định phê duyệt phương án BT,
HT, TĐC
- Được giám sát
b Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người dân theo quy định hiện hành
Khi các điều kiện kinh tế, xã hội luôn luôn thay đổi, cùng với quá trình thực hiện chính sách dẫn đến các quy định của pháp luật dần dần sẽ bộc lộ những mặt hạn chế So với luật đất đai 2003, luật đất đai 2013 đã cải thiện được khá nhiều khía cạnh trong việc quản lý nhà nước về đất đai bao gồm quyền sử dụng đất nông nghiệp, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, định giá đất, quy hoạch sử dụng đất
Xét về quy trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, không có nhiều thay
Trang 35đổi lớn về quy trình thực hiện Về bản chất, luật mới kế thừa, luật hóa và bổ sung các quy định liên quan của nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Theo đó, quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn gồm 04 bước chính; bên cạnh
đó, Quyết định thu hồi đất chỉ có thể được ban hành khi có phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư đã được công khai, thảo luận và lấy ý kiến góp ý của người dân Luật đất đai 2013 cũng đã bổ sung các hình thức công khai thông tin đến người dân
và yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền phải ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong cùng một ngày Sau
đó tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi
có đất thu hồi Tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng người dân có đất bị thu hồi và quyết định đó phải nêu rõ mức bồi thường, và hỗ trợ, việc bố trí đất đai hoặc nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình, cá nhân, thời gian, địa điểm bồi thường, hỗ trợ….Những yêu cầu này đã rõ ràng hơn rất nhiều so với luật đất đai trước đó, sự tham gia của người dân khi thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã được luật hóa nhằm thúc đẩy quy chế dân chủ của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có sự tham gia của người
dân theo quy định của Luật đất đai 2013 được thể hiện cụ thể qua Bảng 1.2
Trang 36Bảng 1.2 Quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định theo Luật đất đai 2013
Quy trình Quy định
tại điều 69 Nội dung tham gia của người dân
Mức độ tham gia
- Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất
- Được thông báo
- Được giám sát
- Lấy ý kiến về phương án BT, HT, TĐC
- Niêm yết công khai phương án BT, HT, TĐC tại UBND cấp xã và tại các điểm sinh hoạt chung của khu dân cư, tổ chức họp trực tiếp
- Việc niêm yết phải được lập thành biên bản
và có xác nhận của đại diện những người có đất thu hồi
- Được thông báo
- Được đóng góp ý kiến
- Gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư cho người có đất bị thu hồi
- Được thông báo
- Được giám sát
1.3 Cơ sở pháp lý
1.3.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Pháp lệnh số 34/2007/UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN ngày 17/04/2008/ của chính phủ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn điều 11, điều 14, Điều 16, Điều
Trang 3722 và điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Luật đất đai số 13/2003/QH11 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Luật đất đai số 34/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2009
- Luật đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ
ngày 01/07/2014
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính Phủ
về thi hành luật đất đai
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chinh Phủ
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính Phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định 69/2009/NĐ- CP ngày 13/09/2009 của Chính Phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định cho tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất cho thuê đất
- Quyết định số 26/2013/QĐ-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2013 của UBND tỉnh Lào Cai, ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ich công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai
1.3.2 Một số về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
a Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
Trang 38cộng trong các trường hợp sau đây (theo quy định tại Điều 62, Luật đất đai 2013):
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư
mà phải thu hồi đất, bao gồm:
Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;
Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;
Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự
án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị,
Trang 39khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản
b Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Nguyên tắc bồi thường về đất
Theo quy định tại Điều 74, Luật đất đai 2013, các nguyên tắc bồi thường về đất bao gồm:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật đất đai thì được bồi thường
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật
Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng,
an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Theo quy định tại Điều 75, Luật đất đai 2013
1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
Trang 40sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
2 Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện
để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp
3 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền
sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
4 Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
5 Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
6 Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện
dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại