1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

56 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà NộiThực hiện quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh sinh sản cho lợn nái tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba trại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH KHẮC SANG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SINH SẢN CHO LỢN NÁI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH KHẮC SANG

Tên đề tài:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH SINH SẢN CHO LỢN NÁI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN THANH LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành bản Khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cán bộ, công nhân tại trại lợn nái Nguyễn Thanh Lịch huyện Ba Vì, Hà Nội Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Đỗ Thị Lan Phương đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Đại học này

Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình

và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

ĐINH KHẮC SANG

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng đàn lợn của trại 5

Bảng 3.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 27

Bảng 3.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 31

Bảng 4.1 Kết quả tiêm phòng bằng vắc xin cho lợn 32

Bảng 4.2 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 34

Bảng 4.3 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 31

Bảng 4.4 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại chăn nuôi 36

Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh sinh sản ở lợn nái 38

Bảng 4.6 Kết quả một số công tác khác tại trại chăn nuôi 39

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Cơ cấu đàn lợn của trại 4

2.2 Cơ sở khoa học thông tin của đề tài 5

2.2.1 Cơ sở khoa học 5

2.2.2 Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái 17

2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 21

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26

3.1 Đối tượng 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.3 Nội dung tiến hành 26

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 26

3.4.3 Phương xác định các chỉ tiêu 27

3.4.4.Phương pháp xác định lợn mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú và đẻ khó 27

3.4.5 Phương pháp điều trị bệnh ở đàn lợn nái tại trại 29

3.4.6 Công tác vệ sinh phòng bệnh ở trại chăn nuôi 30

3.4.7.Phương pháp xử lý số liệu 32

Trang 7

v

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác phòng và chẩn đoán bệnh cho lợn ở trại chăn nuôi 32

4.1.1 Kết quả tiêm phòng bằng vắc xin cho lợn 32

4.1.2 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 33

4.2.Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái tại trại chăn nuôi lợn 34

4.3 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại chăn nuôi 36

4.4 Kết quả điều trị bệnh sinh sản ở lợn nái 37

4.5 Công tác khác 39

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 8

Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu đời sống người dân ngày càng cao Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe hợp với giá cả thị trường Trên thực tế, thịt lợn là mặt hàng có giá cả ổn định tương đối cao và được tiêu thụ trên toàn thế giới Điều này chứng tỏ tính ưu việt cho ngành chăn nuôi lợn trong nước phát triển kinh tế và

ổn định thị trường Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư kinh phí phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng nhằm cung cấp cho thị trường khối lượng sản phẩm lớn chất lượng đảm bảo Tuy nhiên, việc phát triển đàn lợn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không phù hợp, thiếu cán bộ có chuyên môn điều trị bệnh không kịp thời Làm gia tăng dịch bệnh, thiệt hại lớn đến người chăn nuôi đặc biệt là những thiệt hại do bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng Các bệnh này xảy ra phổ biến ở tất cả các lứa đẻ, làm giảm khả năng sinh sản giảm tỷ lệ thụ thai, chết thai và lưu thai Do đó, ảnh hưởng tới việc phát triển cơ cấu đàn lợn, giảm sự phát triển ngành chăn nuôi lợn nói chung và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi

Trang 9

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

- Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn nái ngoại tại trại Nguyễn Thanh

Lịch, xã Ba trại huyện Ba vì thành phố Hà nội

- Theo dõi được tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại và điều trị bệnh hiệu quả

- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ mắc sinh sản

ở lợn nái ngoại từ đó có biện pháp phòng bệnh phù hợp

- Xác định được phác đồ điều trị bệnh sinh sản đạt hiệu quả cao

Trang 10

3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm

2010 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn

CP Thái Lan) cung cấp giống lợn con của cái Landrace - Yorkshire với đực Pietrain - Duroc và cái Landrace - Yorkshire với đực Duroc Khu sản xuất gồm 3 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu và 3 chuồng cách ly Lợn sau khi sinh từ 21 đến 26 ngày tuổi được cai sữa Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 28.000 lợn con

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 2 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 12 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng và các tỉnh lân cận

Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn nái của trại được thực hiện chủ động và tích cực Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản,…Thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ

Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Sau mỗi lứa lợn, chuồng trại đều được tẩy uế bằng phương pháp: rửa sạch ô nhốt lợn, để khô sau đó

Trang 11

4

phun thuốc sát trùng như fam flus, vikon S và để trống chuồng nuôi tối thiểu

là 5 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ khác lên Với lợn con tuyệt đối không tắm rửa để tránh lạnh và ẩm ướt, định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn đực làm việc bằng thuốc sát trùng, Trại còn thường xuyên tiến hành vệ sinh môi trường xung quanh như việc dọn cỏ, phát quang bụi rậm, diệt chuột, thu dọn phân hằng ngày ở các ô chuồng

Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi “cùng vào - cùng ra”, trong

đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi) Sau một thời gian nhất định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và để trống ít nhất 5 ngày trước khi đưa đàn lợn mới lên

đẻ Như vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do đó hạn chế được khả năng lan truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác

Hệ thống thông thoáng đối với chăn nuôi lợn công nghiệp rất quan trọng, ngoài việc cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp của lợn, nó còn giúp giải phóng khí độc do phân, nước tiểu gây ra Chính vì vậy, trại đã sử dụng

hệ thống làm mát và chống nóng ở mỗi dãy chuồng vào mùa hè và hệ thống sưởi ấm vào mùa đông Bên cạnh đó các dãy chuồng được sắp xếp theo hướng Đông Nam để đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè Đặc biệt vào mùa hè, thời tiết rất nóng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái cũng như sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Do đó trại đã lắp đặt hệ thống chống nóng gồm hệ thống quạt gió ở cuối mỗi dãy chuồng có tác dụng hút không khí có hơi nước từ hệ thống dàn mát trên đầu chuồng tạo luồng khí mát, thông thoáng Hai dãy tường chuồng được phủ một tấm lưới cách nhiệt và có tác dụng giữ ẩm Chính vì vậy không khí trong chuồng lợn luôn mát và nhiệt độ luôn duy trì trong khoảng 28oC - 30oC

Trang 12

5

Trại trang bị hệ thống lồng úm bên trong có treo một bóng đèn hồng ngoại công suất 175W hoặc lắp một tấm sưởi ở mỗi ô chuồng Với lợn sau cai sữa cũng có một đèn sưởi hoặc tấm sưởi ở mỗi ô chuồng, đảm bảo luôn duy trì nhiệt độ thích hợp cho lợn con

2.1.2 Cơ cấu đàn lợn của trại

Bảng 2.1 Số lượng đàn lợn của trại

Chỉ tiêu Năm Số lợn qua các năm

2016 Năm

2017 5 năm 2018 Đến tháng

Lợn nái sinh sản (con) 1.050 1.181 1.150

Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm; Số lợn nái hậu bị từ năm 2016 là 120 nái, tới tháng 5 năm 2018 tăng lên

160 nái, nái sinh sản từ 1050 nái năm 2016 tăng lên 1150 nái ở tháng 5 năm

2018, lợn đực cũng tăng theo số lượng lợn nái

Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”

2.2 Cơ sở khoa học và thông tin của đề tài

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái

Bộ phận sinh dục bên trong

- Buồng trứng (ovanrium): còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt buồng trứng sần sùi

Trang 13

6

Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)

+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm + Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt

+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết

Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 - 2

cm, khối lượng 3 - 5 gam

- Ống dẫn trứng (oviductus): ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20 cm uốn khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3 cm nối với sừng tử cung

- Tử cung (dạ con) (uterus)

+ Cấu tạo giải phẫu tử cung

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi làm

tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ

Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1

m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai

Trang 14

7

+ Cổ tử cung

Cổ tử cung tổ cấu tạo tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với

sự góp mặt của một ít cơ trơn

Ở lợn, cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt xen

kẽ cài răng lược với nhau Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung

là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài chừng 30 - 50 cm Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung

- Âm đạo (vagina):

Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái,

nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh

Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều dài của âm đạo của lợn: 10 - 12 cm

Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô

âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14

Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối

∗ Bộ phận sinh dục bên ngoài

Là phần người ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm:

âm hộ, âm vật, tiền đình

- Âm hộ (vulvae): đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau âm

đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin) và khí quan cương cứng gọi là

âm vật (clitoris)

Trang 15

8

- Âm vật (clitoris)

Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là tổ chức cương cứng,

có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như bao quy đầu dương vật

Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung co thắt trở lại

Tiền đình (vestibulum):

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh là

âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi

ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy

Cấu tạo giải phẫu tuyến vú

Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non

- Cấu tạo: tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hoocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên

Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm có bầu vú và núm vú

Trang 16

9

+ Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo

3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc

+ Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi

cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa

Sự phát triển của tuyến vú:

- Động vật còn non tuyến vú chưa phát triển, khi đến tuổi thành thục, hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết

- Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết, ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại

Trang 17

∗ Hiện tượng rụng trứng

Noãn bào dần dần lớn lên, nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng, dưới tác dụng của thần kinh, hormones, áp suất thì noãn bào vỡ ra giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loại gia súc là khác nhau Ở lợn có 20 - 30 tế bào trứng trong 1 lần rụng

∗ Sự hình thành về thể vàng

Sau khi noãn bào vỡ, dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống, đường kính ngắn lại nằm ở nửa xoang trứng, tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch

và một ít máu chảy ra từ vách xoang, dịch và máu đông lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh (trong tế bào hạt có chứa lipoit của tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ ở đầu xoang của tế bào trứng đó và nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối

đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày, nếu gia súc

có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ

Trang 18

∗ Niêm dịch

Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng, sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra

∗ Tính dục

Do kết quả của quá trình rụng trứng, hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bề ngoài khác so với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên về cường độ cho đến khi trứng rụng

Chia làm 4 giai đoạn:

∗ Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

Trang 19

* Giai đoạn động dục

Lúc này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục có biểu hiện biến đổi sinh lý, bên trong âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại, gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi

đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

* Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần hẳn, con vật chuyển sang thời

kỳ yên tĩnh hoàn toàn

* Giai đoạn nghỉ ngơi

Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

+ Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:

Sau thời gian ở lại ống trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng thì hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm xuống trong 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục Trước ngày đẻ progesterone giảm đột ngột, estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời

kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày

Trang 20

Bệnh viêm tử cung

Viêm tử cung là một bệnh sinh sản thường gặp trong chăn nuôi lợn nái,

có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn nhưng thường xảy ra ở giai đoạn sau khi sinh, đặc biệt là trên lợn nái ngoại (siêu nạc), sau đó đến lợn nái lai, thấp nhất

ở lợn nái nội

Viêm tử cung dẫn đến lợn nái mệt mỏi, sốt, bỏ ăn, mất sữa, có thể kế phát sang viêm vú Lợn nái viêm tử cung dẫn tới làm thay đổi số lượng và chất lượng sữa, lợn con bị tiêu chảy sớm nếu không chữa dứt điểm cho lợn mẹ

Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh (Trần Ngọc Bích và cs 2016) [19] đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%

- Nguyên nhân mắc bệnh

Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân như:

+ Can thiệp không đúng kỹ thuật khi lợn đẻ khó, lợn bị nhiễm trùng từ chuồng trại do chuồng trại kém vệ sinh

+ Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin A, D, E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn

Trang 21

+ Cơ quan sinh dục ngoài bẩn

+ Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp

+ Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát, hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [20], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%

- Triệu chứng

Bệnh thể hiện ở dạng điển hình như lợn có biểu hiện mệt mỏi, sốt, hay nằm úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra trắng đục; nếu nặng dịch có máu, đứng nằm, bứt rứt không yên, lợn con thường thiếu sữa, kêu nhiều Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt,

âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhày, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhày thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến một tuần Lợn nái thường không đậu thai hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lan sang thai Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [21], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao

- Hậu quả

Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục, viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi

Trang 22

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Bệnh viêm vú

Bệnh viêm vú trên lợn nái thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị viêm dẫn đến sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn sữa Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú sữa lợn mẹ viêm sẽ bị tiêu chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn

- Nguyên nhân

Do lợn mẹ bị viêm tử cung, vi khuẩn theo máu đến tuyến vú gây viêm

vú, lợn con có răng nanh, hoặc chuồng trại có nhiều cạnh sắc làm xây xát vú

mẹ tạo điều kiện vi trùng Staphylococcus, Streptococcus xâm nhập Lợn nái

nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm

- Triệu chứng:

Theo White B R và cs (2013) [27], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có

mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm

mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa

bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy

Trang 23

- Hậu quả

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái sẽ bị chết Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi

Bệnh đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian ra thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi

- Nguyên nhân

Do chuồng chật; thiếu vận động; xương chậu lợn mẹ hẹp; lợn mẹ quá béo; khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng hoặc do tư thế thai không bình thường, thai to, thai ngược, thai chết

- Triệu chứng

Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn

đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi đưa tay vào kiểm tra thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng

do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to

- Hậu quả

Nếu không can thiệp kịp thời thì thai ngạt và chết, nái mẹ kiệt sức Biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử cung hoặc dụng cụ

Trang 24

thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh như: viêm tử cung, viêm vú, xảy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến xảy thai, đẻ non thậm trí

Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng hiệu quả cao, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng Bằng phương pháp quan sát này có thể xác định được trạng thái vật nuôi, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc, các triệu chứng bệnh Đồng thời quan sát cũng giúp chúng ta đánh giá chất lượng đàn vật nuôi, sàng lọc những con có nghi vấn mắc bệnh Khi quan sát tùy theo mục đích, vị trí nhìn, cần đứng xa hay gần con vật Tuy nhiên, nên quan sát từ xa tới gần, từ tổng quát tới bộ phận

Quan sát toàn thân là quan sát trạng thái, cử chỉ, cử động, tình trạng dinh dưỡng, dáng điệu,… của vật bệnh

Quan sát cục bộ là quan sát lần lượt từ trước ra sau, từ trái qua phải, lần lượt các cơ quan bộ phận để phát hiện những thay đổi bất thường nếu có Nên quan sát khi đủ ánh sáng Nếu thiếu ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng đèn điện hay đèn chiếu cần quan sát đối chiếu, so sánh giữa 2 bộ phận tương ứng

Trang 25

Sờ nắn là phương pháp dùng cảm giác của ngón tay, bàn tay để kiểm tra chỗ khám, xác định thân nhiệt, độ ẩm, trạng thái,… và sự mẫn cảm của cơ thể vật nuôi Sờ nắn cũng biết được cảm giác đau của con vật Qua sờ nắn người khám còn xác định được tình trạng mạch của gia súc, khám qua trực tràng Sờ nắn có 2 cách:

Sờ nắn nông là việc sờ nắn những cơ quan bộ phận nông để biết được nhiệt độ, độ ẩm của da, lực căng cơ,…

Sờ nắn sâu là để khám các khí quan, tổ chức sâu bên trong cơ thể vật nuôi Khi sờ nắn kiểm tra các cơ quan, tổ chức cơ thể vật nuôi, có thể nhận biết các trạng thái sau:

- Dạng rất cứng như sờ nắn xương

- Dạng cứng như sờ nắn gan, thận

- Dạng bột nhão: cảm giác mềm như bột

- Dạng ba động: khi sờ có cảm giác lùng nhùng di động, ấn giữa thì lõm xuống Ví dụ các tổ chức mưng mủ

- Dạng khí thủng: sờ vào có cảm giác mềm, chứa đầy khí

Tuy nhiên, để sờ nắn có hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững

vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán

* Phương pháp gõ

Trang 26

Các khí quan, tổ chức trong cơ thể động vật có cấu tạo về mặt giải phẫu

và tổ chức khác nhau Vì vậy khi gõ vào các cơ quan tổ chức đó âm hưởng thu được cũng khác nhau Lúc có bệnh, tính chất của tổ chức thay đổi thì âm hưởng phát ra lúc gõ cũng thay đổi Gõ là phương pháp khám bệnh dựa trên

cơ sở là âm hưởng, âm thanh do các vật thể chấn động tạo ra Các vật thể khác nhau, ở trong các trạng thái khác nhau, khi gõ sẽ cho các âm thanh khác nhau Các cơ quan, tổ chức trong cơ thể có cấu tạo và tính chất khác nhau nên khi gõ sẽ phát ra các âm thanh khác nhau Trong trạng thái bệnh

lý, các cơ quan tổ chức cũng thay đổi về tính chất, do đó âm phát ra khi gõ cũng thay đổi

+ Kỹ thuật gõ

Gõ trực tiếp: dùng ngón trỏ và ngón giữa của tay thuận gõ theo phương vuông góc với bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Với cách gõ này lực gõ không lớn, âm phát ra nhỏ, thường áp dụng với gia súc nhỏ

Gõ gián tiếp: là phương pháp gõ qua một vật trung gian Gõ qua ngón tay: dùng ngón giữa và ngón trỏ tay trái đặt sát lên bề mặt cơ quan, tổ chức cần khám, ngón giữa và ngón trỏ của tay phải gõ lên vuông góc với 2 ngón của tay trái Phương pháp này thường áp dụng để khám cho các loài gia súc nhỏ như dê, cừu, chó, mèo Gõ bằng búa gõ qua bản gõ: búa gõ có khối lượng

và kích thước khác nhau tùy theo vóc dáng của gia súc Gia súc nhỏ dùng loại búa có trọng lượng từ 60 - 75 gam, gia súc lớn dùng loại búa 120 - 160 gam Bản gõ và búa gõ được làm cùng loại vật liệu, có thể bằng gỗ, sừng, nhựa hay kim loại Bản gõ có dạng hình vuông, hình bầu dục hay hình chữ nhật,… sao cho thuận tiện, dễ thao tác, áp sát được vào thân con vật Cách gõ: tay trái cầm bản gõ, đặt sát lên bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Tay phải cầm búa gõ, gõ dứt khoát từng tiếng một lực gõ mạnh hay nhẹ phụ thuộc vào cơ quan, tổ chức gõ lớn hay bé, ở nông hay sâu Khi gõ mạnh các chấn động có thể lan 4 - 6 cm và sâu đến 7 cm còn nếu gõ nhẹ các chấn động lan 2 - 3 cm

Trang 27

Có hai phương pháp nghe là nghe trực tiếp và nghe gián tiếp

Nghe là phương pháp dùng tai hoặc dụng cụ chuyên dùng để nghe âm phát ra từ các cơ quan, bộ phận của cơ thể để biết được trạng thái và sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận đó Có 2 phương pháp nghe:

- Nghe trực tiếp là dùng tai áp sát vào cơ thể vật nuôi để nghe Người nghe có thể dùng miếng vải hoặc miếng khăn sạch phủ lên vùng cần nghe để giữ vệ sinh Khi nghe phần ngực vật nuôi thì người khám quay mặt về phía đầu vật nuôi Còn khi nghe phần bụng của vật nuôi thì người nghe quay mặt

về phía sau của con vật Khi nghe tay phía bên trong của người nghe đặt lên sống lưng của con vật

Trang 28

- Nghe gián tiếp là phương pháp nghe qua ống nghe Hiện nay người ta thường dùng ống nghe 2 loa, có độ phóng đại âm thanh lớn, sử dụng thuận lợi nhưng dễ lẫn tạp âm, làm tính chất âm thay đổi

+ Điều kiện nghe

Để vật nuôi nơi yên tĩnh, tránh gió to, con vật phải đứng ở tư thế thoải mái Nghe từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, ở mỗi vị trí nghe đủ lâu để xác định rõ âm thanh nghe được Khi nghe phải có sự so sánh đối chiếu giữa 2 bên

2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ở Cuba các sĩ thú y sử dụng dung dịch Lugol 5% và dùng thuốc neometrina đặt để điều trị bệnh viêm tử cung cho kết quả điều trị cao

Theo Pierre Branillet và Beruard Faralt (2003) [16], đã nghiên cứu và kết luận: điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú

Dixensivi Ridep (1997) [15], dùng rivanol 1% để thụt rửa tử cung đạt kết quả cao và không ảnh hưởng tới gia súc

Theo Popkov (1999) [17] đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái viêm tử cung đạt kết quả cao

Ngày đăng: 05/04/2019, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Minh Châu (1996), 100 câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
2. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001), Phòng và trị lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu sạch để xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phòng và trị lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu sạch để xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
3. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự điều trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điều trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1996
5. Phạm Sỹ Lăng, Phạm Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp trong trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp trong trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phạm Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
6. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
7. Lê Hồng Mận, (2007), Chăn nuôi lợn nái sinh sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
8. Lê Văn Năm (1997), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
9. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
10. Nguyễn Như Pho (2002), “Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện về sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện về sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản của heo nái”
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Năm: 2002
11. Nguyễn Văn Thanh (2004), Điều trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh ở lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
14. A.V.Trekaxova, L.M. Daniko, M.I. Ponomareva, N.P. Gladon (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản (người dịch Nguyễn Đình Chí), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản
Tác giả: A.V.Trekaxova, L.M. Daniko, M.I. Ponomareva, N.P. Gladon
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1983
15. Dixensivi Ridep (1997), Điều trị bệnh sản khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh sản khoa
Tác giả: Dixensivi Ridep
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
16. Piere Branillet, Bernand Faralt (2003), Điều trị viêm vú lâm sàng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị viêm vú lâm sàng
Tác giả: Piere Branillet, Bernand Faralt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
18. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Trần Ngọc Bích, Nguy ễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII (số 5), tr. 51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguy ễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
20. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
21. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
22. Branstad J.C., Ross, R.F. (1987), “Lactation falture in swine”, Iowa state university veterinarian, 49 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lactation falture in swine
Tác giả: Branstad J.C., Ross, R.F
Năm: 1987
23. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia”, in Pig production in Autralia. Butterworths, Sydney, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metritis - Mastitis - Agalactia
Tác giả: Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w