1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển chuỗi giá trị hồng không hạt trên địa bàn huyện ba bể, tỉnh bắc kạn

139 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc phát triển hồng không hạt tạihuyện Ba Bể vẫn còn gặp nhiều khó khăn như: Thị trường tiêu thụ chưa ổnđịnh và có nhiều sản phẩm cùng loại cạnh tra

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––––

HOÀNG TRUNG VĨNH

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ HỒNG

KHÔNG HẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ,

TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––––

HOÀNG TRUNG VĨNH

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ HỒNG

KHÔNG HẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ,

TỈNH BẮC KẠN

Ngành: Phát triển nông thôn

Mã số ngành: 8.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Luận

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưatừng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được

cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Hoàng Xuân Vĩnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đãnhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ,động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng

và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Xuân Luận đã tận tình

hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế

và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tìnhgiúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBNDhuyện Ba Bể, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đã giúp đỡ và tạo điều kiệncho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạomọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôihoàn thành luận văn./

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Hoàng Xuân Vĩnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU ix

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài: 3

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn: 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

4 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị

4 1.1.2 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị 14

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cây ăn quả 17

1.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị 19

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 21

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 21

1.2.2 Nghiên cứu về chuỗi giá trị ở Việt Nam 23

1.2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển chuỗi giá trị 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 28

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

Trang 6

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 29

2.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 30

2.5 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 30

2.5.1 Các chỉ tiêu kinh tế 30

2.5.2 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 34

3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Bể 34

3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 35

3.2 Thực trạng phát triển chuỗi giá trị hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể 42

3.2.1 Tình hình sản xuất hồng không hạt tại huyện Ba Bể 42

3.2.2 Thực trạng chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện Ba Bể 45

3.2.3 Xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia chuỗi 50

3.2.4 Phân tích chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện Ba Bể 53

3.3 Phân tích liên kết trong chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện Ba Bể 68

3.3.1 Liên kết dọc 68

3.3.2 Liên kết ngang 82

3.3.3 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện Ba Bể giai đoạn 2015 – 2017 86

3.4 Đánh giá chung về chuỗi giá trị hồng không hạt huyện Ba Bể 90

3.4.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 90

3.4.2 Một số đánh giá về chuỗi giá trị hồng không hạt ở Ba Bể 95

Trang 7

3.5 Một số giải pháp phát triển chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện

Ba Bể 98

3.5.1 Công tác quy hoạch 98

3.5.2.2 Các biện pháp kỹ thuật

100 3.5.3 Các biện pháp kinh tế

102 3.5.4 Marketing sản phẩm hồng không hạt Ba Bể

104 3.5.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ 106

KẾT LUẬN 108

1 Kết luận 108

2.1 Kiến nghị với cấp trên 109

2.2 Đối với HTX 109

2.3 Khuyến nghị đối với nông dân trồng và thu gom hồng không hạt 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 8

KHKT : Khoa học Kỹ thuật

: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn SNV: Tổ chức

Sở NN&PTNT

phát triển Hà LanUBND : Ủy ban Nhân dân

VietGAP : Vietnamese Good Agricultural Practices Province

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi của huyện Ba Bể giai đoạn 2015

- 2017 39Bảng 3.2 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của

huyện Ba Bể 41Bảng 3.3 Sản lượng Hồng không hạt ở một số vùng trồng tập trung 43Bảng 3.4 Năng Suất, sản lượng hồng không hạt huyện Ba Bể qua 3

năm (2015 - 2017) 44

Bảng 3.5 Thông tin chung của hộ sản xuất 53Bảng 3.6 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân trồng Hồng

không hạt (tính BQ/1 ha) 55Bảng 3.7 Thông tin chung của hộ thu gom 56Bảng 3.8 Lợi nhuận của người thu gom hồng không hạt 58Bảng 3.9 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán buôn hồng không hạt

(tính BQ/1 tấn hồng không hạt) 60Bảng 3.10 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán lẻ 63

Bảng 3.11 Chi phí và lợi nhuận của HTX chế biến nông sản 66Bảng 3.12 Nội dung liên kết giữa hộ sản xuất và hộ thu gom 68Bảng 3.13 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa nông dân trồng hồng không hạt với

hộ thu gom 69Bảng 3.15 Lý do hộ nông dân trồng hồng không hạt tham gia liên kết với

hộ thu gom 70Bảng 3.16 Lý do hộ nông dân trồng hồng không hạt không tham gia liên

kết với các tác nhân khác 71Bảng 3.17 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý giữa hộ nông dân

và hộ thu gom 72Bảng 3.18 Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với hộ thu gom 73

Trang 10

Bảng 3.19: Nội dung liên kết giữa hộ sản xuất và HTX chế biến hồng không

hạt sấy giòn 74Bảng 3.20 Tình hình liên kết tiêu thụ hồng không hạt giữa nông dân

với cơ sở chế biến 75Bảng 3.21 Lý do hộ nông dân trồng hồng không hạt tham gia liên kết với

cơ sở chế biến 76Bảng 3.22 Lý do hộ nông dân trồng hồng không hạt không tham gia liên

kết với các tác nhân khác 77Bảng 3.23 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý giữa hộ nông dân

và cơ sở chế biến 78Bảng 3.24 Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với cơ sở chế biến 79Bảng 3.25 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa hộ thu gom và cơ sở chế biến 79Bảng 3.24 Tình hình liên kết tiêu thụ giữa hộ thu gom và cơ sở chế biến 80Bảng 3.25 Lý do hộ thu gom hồng không hạt tham gia liên kết với cơ sở

chế biến 81Bảng 3.26 Lợi ích khi tiêu thụ đầu ra của hộ thu gom 81Bảng 3.27 Nội dung liên kết giữa nông dân trồng hồng không hạt với

hộ nông dân trồng hồng không hạt 82Bảng 3.28 Tình hình phá vỡ cam kết và hình thức xử lý giữa hộ nông dân

và hộ nông dân 83Bảng 3.29: Lợi ích nhận được khi hộ nông dân liên kết với hộ nông dân 84Bảng 3.30 Nội dung liên kết giữa hộ thu gom và hộ thu gom 84Bảng 3.31 Tình hình phá vỡ camkết và hình thức xử lý giữa hộ thu gom

và hộ thu gom 85Bảng 3.32 Lợi ích nhận được khi hộ thu gom liên kết với hộ thu gom 86

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ chuỗi giá trị hồng không hạt huyện Ba Bể 45Hình 3.2 Mô hình SWOT chéo của chuỗi giá trị hồng không hạt Ba Bể 95

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Việt Nam là một nước có trên 70% dân số làm nông nghiệp Trongnhững năm vừa qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựunổi bật, đảm bảo an ninh lương thực, đưa chúng ta thành nước xuất khẩunông sản lớn về các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè,thủy sản Nông nghiệp là ngành duy nhất xuất siêu, góp phần ổn định cáncân thương mại và giúp chúng ta vượt qua các cuộc khủng khoảng kinh tế gầnđây

Tuy nhiên, chúng ta cũng luôn đứng trước những thử thách: “Đượcmùa mất giá, mất mùa được giá”; “Trồng-chặt” Nguyên nhân của tồn tạinày có nhiều, nhưng lý do chính là chúng ta đã không tạo dựng được thịtrường của riêng mình và ổn định thị trường đầu ra Chúng ta đã thấy rõrằng nếu ta không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước, nhất là thịtrường quốc nội thì nông, ngư dân không thể làm giàu được và do đó nôngnghiệp nước nhà cũng không thể tiến xa hơn nữa

Trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗhổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng và

vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốc gia có sảnlượng xuất khẩu nông sản lớn, nhưng tính bền vững trong sản xuất của chúng

ta chưa cao, hiện bộc lộ nhiều khiếm khuyết lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóccho đến thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Các công đoạn tạo nêngiá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị nông sản hầu như đều nằm ở ngoàilãnh thổ Việt Nam như chế biến, phân phối, trong khi các công đoạn trongnước đều tạo ra giá trị gia tăng thấp, nhất là khâu sản xuất Do đó, nâng caogiá trị gia tăng thông qua việc tạo thêm giá trị ở mỗi khâu và phân chia hàihòa trong chuỗi sẽ góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của nông sản, cảithiện thu nhập của nông dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của sản xuất

Trang 13

nông nghiệp

Hồng không hạt là một trong những loại cây ăn quả được nhiều ngườitiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới rất ưa chuộng nhờ hương vị thơmngon cùng giá trị dinh dưỡng cao Với điều kiện về đất đai, khí hậu phù hợpcho sự phát triển của cây hồng không hạt, tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện

Ba Bể nói riêng đã và đang phát triển giống hồng không hạt nói trên Từchỗ chỉ là cây trồng ăn chơi, đến giờ, cây hồng không hạt đã trở thành câylàm giàu cho nhiều nông hộ ở Bắc Kạn Cây hồng đã được cấp chỉ dẫn địa lý,trở thành sản phẩm đặc sản và khẳng định được vị thế là cây trồng mũinhọn mang lại cuộc sống ấm no, giàu có cho người dân

Những năm qua, huyện Ba Bể đã tích cực tuyên truyền, vận động nhândân mở rộng diện tích trồng chồng không hạt, tăng cường các biện phápchăm sóc cây theo tiêu chuẩn, xây dựng nhiều mô hình trang trại trồng hồngvới quy mô lớn, nhờ đó tạo thu nhập cao cho người trồng hồng

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc phát triển hồng không hạt tạihuyện Ba Bể vẫn còn gặp nhiều khó khăn như: Thị trường tiêu thụ chưa ổnđịnh và có nhiều sản phẩm cùng loại cạnh tranh; Việc ứng dụng khoa học kỹthuật vào sản xuất hồng còn nhiều hạn chế; Sản xuất cây giống sạch bệnhchưa đáp ứng được yêu cầu trồng mới; Khâu bảo quản và vận chuyển cònhạn chế; Thiếu vốn đầu tư sản xuất…

Do đó, việc phân tích và phát triển chuỗi giá trị mặt hàng hồng khônghạt tại huyện Ba Bể và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chuỗi giá trị cũngnhư việc phân phối hài hòa lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi cungứng hồng không hạt Ba Bể là cần thiết Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài:

“Phát triển chuỗi giá trị hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể, Bắc Kạn” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên địa bànhuyện Ba Bể, Bắc Kạn

- Phân tích hệ thống tiêu thụ Hồng không hạt theo quy mô, kênh phânphối…, qua đó đề xuất mô hình dựa vào thế mạnh địa phương

- Kiến nghị giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất, tiêu thụhồng không hạt tại Bắc Kạn theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị vàphát triển thương hiệu hồng không hạt tại địa phương

3 Ý nghĩa của đề tài:

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về cây hồng không hạt

- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứukhoa học cho mỗi học viên

- Quá trình thực tập giúp học viên có điều kiện tiếp cận với thực tế củng

cố kiến thức đã được trang bị trên nhà trường đồng thời vận dụng vào thực tếmột cách hiệu quả nhất

- Là tài liệu tham khảo cho khoa, trường, cơ quan trong ngành và sinhviên, học viên khóa sau

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn:

Đánh giá được thực trạng phát triển chuỗi giá trị hồng không hạt trênđịa bàn huyện Ba Bể, Bắc Kạn

- Đưa ra phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyếtnhững khó khăn, trở ngại nhằm phát triển năng suất cây hồng không hạt ngàycàng hiệu quả và bền vững

- Kết quả nghiên cứu của đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảocho địa phương trong quá trình liên kết trong sản xuất kinh tế hộ nông dântrong thời gian tới, là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo, các ban ngành đưa

ra các phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khókhăn, trở ngại nhằm phát triển liên kết trong sản xuất ngày càng hiệu quả vàbền vững

Chương 1

Trang 15

a) Khái niệm chuỗi

Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về

phương pháp chuỗi (filière) Phương pháp này gồm các trường phái tư duy

nghiên cứu khác nhau và sử dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổchức ngành, kinh tế ngành, khoa học quản lý và kinh tế chính trị Macxít Khởiđầu, phương pháp này được các học giả của Pháp sử dụng để phân tích hệthống nông nghiệp của Mỹ những năm 1960s, từ đó đưa ra những gợi ý đối vớiviệc phân tích hệ thống nông nghiệp của Pháp và sự hội nhập theo chiều dọccủa các tổ chức trong hệ thống nước này Chính sách nông nghiệp của Pháp sửdụng phương pháp này như là công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuấtkhẩu đặc biệt đối với những mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa Chođến những năm 1980s, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốcgia khác trên thế giới Trong thời gian này, khung filière không chỉ tập trungvào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đặc biệt đến mối liên kếtgiữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu

tiêu dùng cuối cùng Như vậy, khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận

thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của cáchàng hoá và xác định những người tham gia vào các hoạt động [20]

Trong lý thuyết về chuỗi, khái niệm “Chuỗi” được sử dụng để mô tả

hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có thể là sản phẩm hoặc là d ị c h v ụ )

Trang 16

b) Khái niệm chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một

sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn

sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt

bỏ sau khi đã sử dụng

Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trongchuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi “Chuỗi giá trị” nghĩa

là: Một chuỗi các quá trình sản xuất (các chức năng) từ cung cấp các dịch vụ

đầu vào cho một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế biến,

marketing, và tiêu thụ cuối cùng; “Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhà chế biến, các thương gia, và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể”; “Một mô hình kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựa sản phẩm và công nghệ thích hợp cùng với cách thức tổ chức các đối tượng liên quan để tiếp cận thị trường” Định nghĩa này có thể giải thích theo

nghĩa hẹp hoặc rộng

Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạt

động trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt độngnày có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình muađầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v Tất

cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng [20] Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành phẩm

cuối cùng Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửachữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm.Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện thoại diđộng có dịch vụ hậu mãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế cótính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đối với cácdoanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên liệu

tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm và

vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm

Trang 17

Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô

thành một sản phẩm bán lẻ [17] Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ hệ thống sảnxuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanhnghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…

Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối, cácchiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trongchuỗi Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp tiếp cậnthấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi,những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ giữa

họ hình thành và phát triển như thế nào,…

Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùngquan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội

và môi trường trong phân tích chuỗi giá trị Việc thiết lập (hoặc sự hình thành)các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như đấtđai, nước), có thể làm thoái hoá đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm[16] Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến cácmối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ, do quan hệ quyền lựcgiữa các hộ và cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc

dễ bị tổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người thamgia chuỗi giá trị [16]

Những mối quan ngại này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nôngnghiệp Lý do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng cácnguồn tài nguyên Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổbiến các tiêu chuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích chuỗi giá trị có thể

áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia của người nghèo và các tác độngtiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến người nghèo [13]

Trang 18

Theo Lambert và Cooper (2000), một chuỗi cung ứng ứng có 4 đặctrưng cơ bản như sau:

+ Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc.

+ Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, dovậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức

+ Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin

có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý

+ Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là manglại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực củamình

- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học,

do vậy làm tăng biến động và rủi ro

- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ dập thối

và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau

- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm

an toàn và vấn đề môi trường

c) Ngành hàng

Trang 19

Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière)

được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuấtnông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các

hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến,thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980,phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đềchính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển

và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng

Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong

nghiên cứu ngành hàng “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”.

Theo Fearne: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản

phẩm cuối cùng Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành độngxuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sảnphẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến đểtạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ” [16]

Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân

(hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất

tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sảnphẩm nông nghiệp” [7]

Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quátrình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động,

có quan hệ móc xích với nhau Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thểảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác Trong quá trình vậnhành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trongngành hàng đó

Trang 20

Sự dịch chuyển được xem xét theo ba dạng sau [7]:

+ Sự dịch chuyển về mặt thời gian

Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác

Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ

Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dựtrữ thực phẩm

+ Sự dịch chuyển về mặt không gian

Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ởnơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm

Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọitầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sảnphẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt khônggian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mởrộng giao lưu kinh tế của Chính phủ

+ Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)

Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác độngcủa công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sảnphẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêudùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạngcàng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra

Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rấtphức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ vàchính sách Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới

dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc

lẫn nhau và các phương thức điều tiết” [7]

d) Tác nhân

Trang 21

Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tựquyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, nhữngdoanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt độngkinh tế của họ [16] Tác nhân được phân ra làm hai loại:

- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh );

- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy ).

Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tậphợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉtập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cảcác hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vikhông gian phân tích

Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đóchính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng vớitên tác nhân Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chứcnăng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể cómột hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch

về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sauthường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nócho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì

ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng

e) Bản đồ chuỗi giá trị

Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) về

những cấp độ vi mô cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giátrị, bản đồ chuỗi giá trị bao gồm một bản đồ chức năng kèm với một bản đồ vềcác chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết phảibao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị

- Khung phân tích của Porter [2]: Trường phái nghiên cứu thứ hai liên

quan đến công trình của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh.

Porter

Trang 22

đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tựđịnh vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhàcung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnhtranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể

cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác

biệt)?

Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như mộtkhung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế

cạnh tranh (thực tế và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng các

nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổngthể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể

tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó.

Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá

trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng

gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm

Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùngvới ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnhtranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnhtranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị baogồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếpthị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiếnlược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v

Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ ápdụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợcác quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ, một phân tích về chuỗigiá trị

Trang 23

của một siêu thị ở châu Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị đó sovới các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả nhập từ nước ngoài[23] Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đíchkinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanhsiêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quảnước ngoài và chiến dịch quảng cáo sẽ chú ý đặc biệt đến những vấn đề này

Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985) [2]

Một cách để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm “hệ thốnggiá trị” Có nghĩa là: thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công tyduy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗicác hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giátrị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuấtmột hàng hoá hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phânphối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộnghơn so với khái niệm “chuỗi giá trị của doanh nghiệp” Tuy nhiên, cần chỉ rarằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu làcông cụ giúp quản

lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược

Chuỗi giá trị

của nhà cung

cấp

Chuỗi giá trị của công ty

Chuỗi giá trị của người mua

Trang 24

Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) [22]

- Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giátrị được áp dụng để phân tích toàn cầu hoá Các nhà nghiên cứu Kaplinsky vàMorris đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hoá, người ta nhận thấykhoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên Các tác giả nàylập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất

là trong một viễn cảnh năng động:

+ Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi,phân tích chuỗi giá trị sẽ phân tích được tổng thu nhập của chuỗi giá trị thànhnhững khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được

+ Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty,vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào?

Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tếđược coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhậpkhẩu và bán lẻ, trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận đượccác thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của cácnước đang phát triển và của những người tham gia thị trường ở các nước đangphát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này Muốn tiếp cậnđược mạng lưới này thì sản phẩm phải đạt được các yêu cầu của toàn cầu hoá

1.1.1.3 Một số khái niệm liên quan đến phát triển chuỗi giá trị

* Khái niệm phát triển

“Phát triển” tuy ban đầu được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăngtrưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, đượcnâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển”được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ pháttriển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội…

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết họcchỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển làmột

Trang 25

thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tạitrong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốccủa phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”.

* Khái niệm phát triển chuỗi giá trị

Phát triển chuỗi giá trị vẫn còn là một khái niệm mới ở Việt Nam.Hoạt động phát triển chuỗi giá trị ở Việt Nam thực hiện theo phương phápluận Liên kết Giá trị (ValueLinks) của GTZ và các tài liệu liên quan Đây làmột bộ công cụ được sử dụng nhằm tăng cường năng lực thể chế và quan

hệ hợp tác trong các tiểu ngành, tạo cơ hội cho các nhà sản xuất tiếp cậnvới thị trường trong nước và quốc tế, gia tăng giá trị cho sản phẩm, đẩymạnh xuất khẩu, qua đó tăng thu nhập cho người sản xuất

1.1.2 Các công cụ phân tích chuỗi giá trị

Trong quá trình phân tích chuỗi giá trị ngành hàng có 7 công cụ, tuỳ yêucầu của ngành hàng Trong khuôn khổ đề tài Phân tích chuỗi giá trị hồngkhông hạt tại huyện Ba Bể, tác giả sử dụng 3 công cụ để phân tích, cụ thể nhưsau:

1.1.2.1 Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích

- Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giátrị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóanào để phân tích Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạnchế nên phải lập ra phương pháp để lựa chon một số nhất định các chuỗi giátrị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được

- Các câu hỏi chính có thể sử dụng khi lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên là:Việc chọn những chuỗi giá trị để phân tích dựa trên những tiêu chí chính nào?

Có những chuỗi giá trị tiềm năng nào có thể phân tích? Sau khi áp dụng nhữngtiêu chí lựa chọn, những chuỗi giá trị nào là thích hợp nhất để phân tích?

- Các bước tiến hành thực hiện công cụ này là quá trình lập thứ tự ưutiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựa chọn trong một tìnhhuống có nguồn lực khan hiếm Bốn bước này bao gồm việc xác định một hệthống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ tự ưu tiên các chuỗi giá trị,đánh giá

Trang 26

tương đối mức độ quan trọng của các tiêu chí đó, xác định các tiểu ngành, sảnphẩm, hàng hóa tiềm năng có thể xem xét và sau đó lập một ma trận để xếpthứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên Lựa chọn ưu tiên cuối cùng có thểxác định dựa vào kết quả xếp loại đạt được.

1.1.2.2 Lập sơ đồ chuỗi giá

trị

- Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm ba mụctiêu: Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa cáctác nhân và các quy trình trong một chuỗi giá trị; thể hiện tính phụ thuộc lẫnnhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị; cung cấp cho các bên

có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị

- Các câu hỏi chính: Không có sơ đồ chuỗi giá trị nào hoàn toàn toàndiện và bao gồm tất cả mọi yếu tố Việc quyết định lập sơ đồ những gì phụthuộc vào các nguồn lực ta có, phạm vi và mục tiêu của nghiên cứu và nhiệm

vụ của tổ chức của chúng ta Một chuỗi giá trị, cũng như thực tiễn, có rấtnhiều khía cạnh: dòng sản phẩm thực tế, số tác nhân tham gia, giá trị tích luỹđược, Vì vậy, việc chọn xem sẽ đưa vào những khía cạnh nào mà ta muốnlập sơ đồ là rất quan trọng

Câu hỏi có thể hướng dẫn chọn những vấn đề nào để đưa vào sơ đồ: Có

những quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị? Ai tham gia vào

những quy trình này và họ thực tế làm những gì? Có những dòng sản phẩm,thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị? Khối lượng của sản phẩm, số lượng

những người tham gia, số công việc tạo ra như thế nào? Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đầu và được chuyển đi đâu? Giá trị thay đổi như thế nào

trong toàn chuỗi giá trị? Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?

Những loại dịch vụ (kinh doanh) nào cung cấp cho chuỗi giá trị?

- Sơ đồ chuỗi giá trị gồm các bước sau: Lập sơ đồ các quy trình cốt lõitrong chuỗi giá trị; Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào cácquy trình này; Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức; Lập sơ đồkhối

Trang 27

lượng sản phẩm, số người tham gia và số công việc; Lập sơ đồ dòng luânchuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý; Xác định trên sơ đồ giá trị ở cáccấp độ khác nhau của chuỗi giá trị; Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữanhững người tham gia trong chuỗi giá trị; Lập sơ đồ các dịch vụ kinh doanhcung cấp cho chuỗi giá trị.

1.1.2.3 Chi phí và lợi nhuận

Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một

số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn đểnghiên cứu tiếp Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói mộtcách đơn giản hơn, là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra

và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được

- Để xác định được chi phí và lợi nhuận chúng ta cần dựa vào một sốcâu hỏi chính sau:

+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia

là gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?

+ Thu nhập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao nhiêu?Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia là baonhiêu?

+ Lợi nhuận thuần, lợi nhuận biên và mức hoà vốn của mỗi người thamgia là bao nhiêu?

+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên thay đổitheo thời gian như thế nào?

+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên được phânchia giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?

+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn so vớicác chuỗi giá trị sản phẩm khác? Nói cách khác, chi phí cơ hội của việc thuêmua các nguồn lực sản xuất cho chuỗi giá trị cụ thể này là thế nào?

+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn cácchuỗi giá trị tương tự ở những nơi khác?

Trang 28

+ Nguyên nhân của việc phân chia chi phí và lợi nhuận trong một chuỗigiá trị là gì?

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cây ăn quả

* Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lí, đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây ăn quả củatừng vùng Hộ nông dân có được những vị trí thuận lợi với những mảnh đấtmàu mỡ, gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến, gần thị trường tiêuthụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn…đây là nhữngnơi có sự phân công lao động cao là điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa.Những nơi vùng sâu, vùng xa, do vị trí không thuận lợi nên sản xuất hànghóa kém phát

triển

Khí hậu và môi trường sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiệnsinh trưởng của cây ăn quả Những nơi có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi,được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiênnhiên gây ra đặc biệt là hiện tượng mưa bão, sâu bệnh hại cây trồng Vì vậy,nếu khí hậu và môi trường sinh thái tốt cây trồng phát triển thuận lợi và ngượclại

* Nhóm yếu tố khoa học - công nghệ

Nhóm yếu tố khoa học công nghệ gồm yếu tố kỹ thuật canh tác vàứng dụng khoa học công nghệ trong khâu tạo giống, canh tác và chế biếnsau thu hoạch

- Yếu tố ứng dụng tiến bộ trong kỹ thuật nhân giống

- Yếu tố kỹ thuật canh tác

Trang 29

Người trồng cây ăn quả phải nắm bắt được nhu cầu thị trường cụ thểtrong hay ngoài nước với khối lượng và giá bán cụ thể theo thời gian cụ thể.

Sau khi nghiên cứu thị trường, xem xét vốn là yếu tố đầu vào không thểthiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn đóng vai trò là yếu tố cơ bảntrong sản xuất và lưu thông hàng hóa Quy mô vốn lớn, hộ trồng cây ăn quảmới có cơ hội để chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ thành sản xuất trang trại

- Yếu tố về thị trường: Trong yếu tố thị trường người mua và người bántác động qua lại để quyết định giá cả và sản lượng Cơ chế thị trường bao gồmnhiều yếu tố tác động qua lại với nhau

- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh

Trong bối cảnh hội nhập, để cạnh tranh có hiệu quả, các hộ nông dântrồng cây ăn quả phải biết hợp tác lại với nhau thành hợp tác xã và thành lậphiệp hội trồng, kinh doanh sản phẩm Hợp tác không những để bảo vệ nhaukhi tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thế giới mà còn là cơ hội để có thêm vốn,thêm nhân lực, thêm kinh nghiệm sản xuất và tiến hành phát triển sản xuấthàng hóa có hiệu quả hơn, tự bảo vệ chống lại tình trạng bị chèn ép (ép cấp,

ép giá) của tiểu thương Thực tế với thị trường sản phẩm rau quả tươi vừa quacho thấy, đã xuất hiện nơi thì rất nhiều sản phẩm rau quả nơi thì không có đểtiêu thụ Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hóa, hỗ trợ nhau

về mọi mặt từ vốn,

Trang 30

kỹ thuật, giúp nhau tiêu thụ sản phẩm thì các hộ nông dân trồng bưởi, hồng quả phải hợp tác lại với nhau.

Bên cạnh đó, sự cần thiết phải cân bằng mối quan hệ giữa hộ trồng cây

ăn quả với các tổ chức khác trong cộng đồng nông thôn là yếu tố quan trọnggiúp duy trì và thúc đẩy sự phát triển bưởi, hồng theo hướng sản xuất hànghóa

* Nhóm yếu tố quy hoạch, chỉ đạo và quản lý vĩ mô

Công tác quy hoạch vùng sản xuất về các mặt kế hoạch sử dụng đất, xâydựng cơ sở hạ tầng và điều kiện môi trường kinh tế-xã hội từ các chính sáchcủa Trung Ương và địa phương ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành vùngsản xuất Tuy nhiên, quy hoạch vùng sản xuất phải dựa trên cơ sở nắm bắtđược nhu cầu thị trường, khả năng gắn kết với thị trường đầu ra, chế biến, tiêuthụ sản phẩm, kỹ năng tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường mới có lợi nhuậncao

Nhóm yếu tố quản lý vĩ mô gồm có: Chính sách đất đai, chính sách laođộng - việc làm, chính sách tín dụng, chính sách thuế và trợ cấp Nhóm yếu tốnày có ảnh hưởng gián tiếp đến việc phát triển bưởi, hồng theo hướng sản xuấthàng hóa bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như:Chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản, chínhsách cho vay vốn, chính sách chế độ đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh

tế nông nghiệp,…

1.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nàotrong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty,doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗigiá trị áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:

Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích chuỗi giá trị lập sơ đồmột cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bánmột (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểmcủa những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi,

Trang 31

đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trongnước và nước ngoài Những chi tiết này có thể thu thập được nhờ kết hợp điềutra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thông tin và số liệuthứ

Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dung để xác định vai trò của việcnâng cấp trong chuỗi giá trị Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kếsản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòngsản phẩm Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời củacác bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại.Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt độngnâng cấp đó diễn ra như thế nào Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cảngia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnhhưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra

Thứ tư, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quảntrị trong chuỗi giá trị Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mốiquan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị.Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về

Trang 32

thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điềuchỉnh các sai lệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành.

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thànhcác chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trịnhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là độngthái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanhtheo hướng ổn định, bền vững Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giátrị ngành chăn nuôi lợn theo hình thức nuôi gia công sẽ cho phép chỉ ra nhữngtồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trìnhgiao dịch, phân phối lợi nhuận, mối liên kết và thông tin giữa các tác nhân đểđưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới

Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiêncứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tínhcạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩmcũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia

Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đếnchuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗigiá trị trong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâmđến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thờigian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu củakhách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó [16]

Fearne và Hughes (1998) [16] cũng đã phân tích được những ưu điểm

và nhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị:

Ưu điểm:

Giảm mức độ phức tạp trong mua và bán; giảm chi phí và tăng chấtlượng sản phẩm; giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới; giá cả đầuvào ổn

Trang 33

định; cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫnnhau.

giữa các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions, Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork)

đến những người nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ và những người làmthuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển nhưKenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tácnhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, giá trịgia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởnglợi nhuận thấp nhất Chính vì chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tácnhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuậnnhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợinhuận cao hơn

Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008 [14],

đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị củangành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang pháttriển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thịtrường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thịtrường, điều này đang

Trang 34

gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cả đầu vào tăng cao đanggây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuấtnhỏ lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần ra khỏi thị trường và không tham giađược vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt ra cho chuỗi giá trị ở các nướcnày là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗtrợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi.

1.2.2 Nghiên cứu về chuỗi giá trị ở Việt Nam

- Trong Luận án tiến sĩ “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liênkết kinh tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả ĐỗThị đông năm 2011 đã nêu bật những đối tượng tham gia vào chuỗi giá trị củangành may, từ đó chỉ ra các mối liên kết kinh tế có trong ngành dệt may Mặtkhác, tác giả đã đánh giá việc tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp may vàcác khâu khác trong quá trình tạo ra và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùngbao gồm liên kết dọc và liên kết ngang giữa các chủ thể trong ngành may Từ

đó kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của ngành mayxuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu

- Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản (2010),chủ biên PGS.TS Đinh Văn Thành Thực tế cho thấy, tham gia vào chuỗi giátrị toàn cầu đang là xu thế phổ biến hiện nay và sự tham dự này mang lại lợiích kinh tế và xã hội to lớn, kể cả đối với các nước đang và kém phát triển.Hiện tại, Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớntrong khu vực và thế giới với nhiều sản phẩm đặc trưng như cà phê, điều, hồtiêu, chè, gạo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đãbộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây truyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch,chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốcgia hàng đầu xuất khẩu nông sản, nhưng tính bền vững trong sản xuất chưacao, đang bộc lộ những khuyết điểm lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đếnthu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Nông sản của Việt Nam đã thamgia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại

Trang 35

ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàngnông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại Haynói cách khác, Việt Nam mới tham gia được ở khâu tạo ra giá trị ít nhất trongchuỗi giá trị toàn cầu.

Cuốn sách cũng phân tích nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nói trên là

do sự lạc hậu về công nghệ trước và sau thu hoạch, trình độ hạn chế củanhững tác nhân tham gia chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu marketingphân phối và tiêu thụ Bên cạnh đó, các yếu tố tạo môi trường cho sự tham giahiệu quả vào chuỗi như dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng còn hạn chế Các chínhsách phát triển thương mại hàng nông sản còn nhiều bất cập Mặt khác, tronglúc tư duy phát triển, chúng ta quá trú trọng đến sản lượng, số lượng mà chưachú trọng đúng mức đến giá trị gia tăng Chính vì vậy, thay vì tiếp cận sảnlượng, vấn đề tiếp cận giá trị gia tăng đang trở thành yêu cầu cấp thiết

- Công trình nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biếnvới nông dân” của tác giả Hồ Quế Hậy (2007) đã trình bày bản chất mối liênkết kinh tế và nội dung của mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chếbiến với nông dân Đồng thời tác giả đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn củacác ngành hồng không hạt, điều, thuốc lá trong việc hình thành mô hình liênkết giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân Bên cạnh đó, tác giả chỉ rõ thựctrạng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân trồngbôn vải ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện mốiliên kết này bao gồm các giải pháp vĩ mô của nhà nước và các giải pháp củadoanh nghiệp chế biến

Xuất phát từ thực trạng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến

và nông dân trồng bông, tác giả đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơbản để hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến vớinông dân trồng bông vải bao gồm các giải pháp đối với bản thân doanh nghiệpbao gồm phát triển mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch, hợp đồng ràngbuộc đầu

Trang 36

vụ và tiến tới xây dựng mô hình liên kết thông qua chế độ tham dự cổ phầnđồng thời cần hoàn thiện nội dung của mô hình liên kết theo hướng đa dạng vàlinh hoạt Xây dựng vùng chuyên canh bông vải tạo động lực thúc đẩy hìnhthành và phát triển các mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biếnvới nông dân trồng bông vải.

- Luận văn thạc sỹ “Các giải pháp gắn kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ

cá Tra ở huyện An Giang”, (2009) Nguyễn Mạnh Cường đã phân tích, hệthống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêuthụ thủy sản nói chung và sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá Tra nói riêng.Đồng thời, đánh giá thực trạng vấn đề gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêuthụ cá Tra tại huyện An Giang và đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu

- Đề tài cấp Bộ “Vấn đề liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệpViệt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của tácgiả Nguyễn Thị Thủy và các thành viên, năm 2011: Làm rõ tính tất yếu củamối liên kết giữa bốn nhà: Nhà nông - Nhà nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhàkhoa học, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn; phân tích thực trạng mối liên kết đó ở Việt Nam qua hơn 20 năm đổimới trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường liên kết bốn nhàtrong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam

- Tác giả Nguyễn Văn Thường và Nguyễn Thế Nhã trong cuốn “Đổi mới

tổ chức quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa” Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2001: trình bày cácđặc điểm có ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý các doanh nghiệp nông nghiệpNhà nước ngành hàng Cà phê và Cao su; Phân tích quá trình hình thành hệthống Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Daklak và tiếntrình đổi mới tổ chức, quản lý của Doanh nghiệp này trong ngành cà phê và cacao; Đồng thời cuốn sách đưa ra những giải pháp chủ yếu về tổ chức và pháttriển chế biến, tiêu thụ cà phê trong các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước ở

Trang 37

tỉnh Daklak cũng như giải pháp vĩ mô nhằm phát triển ngành hàng cà phê tạitỉnh Daklak.

Bên cạnh cá công trình nghiên cứu trên còn một số bài báo đăng trên cácbáo và tạp chí của tác giả như: Trần Tiến Khải “Liên kết dọc trong chuỗi giátrị nông sản: nhìn từ vụ Bianfshco”, thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 31/3/2012;

Lê Bền, “Bài học từ cây cà phê, chè ở Sơn La”, báo Nông nghiệp Việt Namngày

03/4/2012

Như vậy, việc nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm trong đó có cả sảnphẩm nông nghiệp ở trong nước và nước ngoài đã rất nhiều, đồng thời cónhững nghiên cứu cụ thể để phát triển cụ thể theo từng sản phẩm như: ChuỗiXoài, chuỗi bưởi, chuỗi cà phê, chuỗi chè Thái Nguyên Nhưng theo tác giáthì những nghiên cứu trên phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng địađiểm cụ thể Chúng ta không chỉ áp dụng một cách triệt để vào một sản phẩmnào đó của một khu vực nào đó Muốn có một nghiên cứu tốt, một nghiên cứuthực sự sẽ tác động đến sự phát triển của một sản phẩm nông nghiệp nào đónhư với tỉnh Bắc Kạn chúng ta cần phải có những nghiên cứu cụ thể, đề xuấtphát triển chuỗi đó, cũng như là căn cứ để đề xuất giải pháp với sự giúp đỡcủa chính quyền nhằm phát triển chuỗi một cách bền vững

1.2.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển chuỗi giá trị

Việc quan tâm xử lý các vấn đề môi trường và xã hội trong chuỗi giá trị

sản phẩm thông qua các giải pháp sáng tạo, không chỉ giúp “Doanh nghiệp đầu tầu” thu hút được thêm nhiều nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức phát

triển mà còn giúp việc kinh doanh của Doanh nghiệp ngày càng hiệu quả vàbền vững hơn

Đối với chuỗi giá trị sản phẩm có tiềm năng thị trường nhưng còn sơ khaichưa phát triển, sự hỗ trợ kỹ thuật hiệu quả ban đầu từ tổ chức tư vấn pháttriển, kết hợp với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị địa phương,

và nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông địa phương để hỗ trợ thườngxuyên cho các tác nhân trong chuỗi giá trị là điều kiện quan trọng để thànhcông

Trang 38

Việc tổ chức người sản xuất thành các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã kinhdoanh có sự liên kết chặt chẽ với Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu trongviệc sản xuất hàng hóa theo một quy trình thống nhất đảm bảo chất lượngtheo yêu cầu của thị trường xuất khẩu là hướng đi tốt đang được phát huy.Trong bối cảnh có nhiều trường hợp phá hợp đồng giữa người sản xuất vàDoanh nghiệp, thì hình thức “Hợp đồng mở” thu mua sản phẩm theo giá thịtrường tỏ ra dễ được chấp nhận hơn, qua đó tạo lòng tin làm ăn lâu dài giữadoanh nghiệp và người sản xuất.

Trong các chuỗi giá trị sản phẩm chưa phát triển, vai trò của nhà nước vàcác tổ chức phát triển hỗ trợ kỹ thuật nên tập trung vào việc kết nối và nângcao năng lực cho các tác nhân trong chuỗi, khuyến khích tư nhân đầu tư kinhdoanh với nông dân, và tạo môi trường kinh doanh minh bạch thuận lợi chocác tác nhân này thay vì làm thay thị trường

Trong xu thế về sử dụng thực phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm cho conngười, các sản phẩm xanh và sạch từ nông nghiệp hữu cơ đang được thị trường

ưa chuộng cần được nghiên cứu và thúc đẩy

Việc duy trì VietGAP/ GlobalGAP chỉ được thực hiện khi thị trường yêucầu, sau đó là doanh nghiệp xuất khẩu và người sản xuất thực sự bắt tay vớinhau trong mối quan hệ khăng khít cùng có lợi để sản xuất và kinh doanh sảnphẩm theo một quy trình quản lý chất lượng cao đáp ứng các tiêu chuẩn xuấtkhẩu chính thức, với sự hỗ trợ tích cực của nhà nước để tạo môi trường kinhdoanh thuận lợi nhất cho các bên trong chuỗi giá trị sản phẩm

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Có những tác nhân nào tham gia chuỗi giá trị của hồng không hạthuyện Ba Bể?

- Sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi này như thế nào?

- Những hạn chế, khó khăn và yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triểnchuỗi giá trị của hồng không hạt huyện Ba Bể như thế nào?

- Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗigiá trị của hồng không hạt huyện Ba Bể?

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các tác nhân và nội dung hoạt động trong chuỗigiá trị của hồng không hạt huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Mô tả thực trạng phát triển của cây hồng không hạt trên địa bàn huyện

Trang 40

- Đề xuất được một số giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tácnhân trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây hồng khônghạt của tỉnh về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập tài liệu về các văn bản chỉ đạo của huyện, huyện đang đượctriển khai về phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi tại Sở NN& PTNT,Chi cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, Chi cục Phát triển nông thôn,Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trung tâm khuyến nông, Liên minhHợp tác xã, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ba Bể; Thuthập số liệu về tình hình thực hiện chuỗi giá trị hồng không hạt tại huyện BaBể

2.4.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp

Thông qua điều tra hộ nông dân, hộ sản xuất, hộ thu mua bán buôn, cácdoanh nghiệp, người bán lẻ và người tiêu dùng

Thông qua điều tra hộ nông dân tìm hiểu thêm cả những vấn đề về kinh

tế, đời sống, xã hội của các hộ sản xuất

Phỏng vấn sâu những đối tượng là trưởng bản, xã, các cơ quan có liênquan đến phát triển sản xuất Hồng không hạt theo chuỗi Tất cả thông tin thuthập được tổng hợp và phân tích theo mục tiêu nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra

Các bước chọn mẫu được tiến hành như sau:

Bước 1 Căn cứ trên khả năng thực hiện và quỹ thời gian cho phép và đặcđiểm địa bàn nghiên cứu, yêu cầu của đề tài nghiên cứu để xác lập cỡ mẫu cầnthiết

Bước 2 Chọn 2 xã đại diện cho vùng trồng hồng không hạt quy mô lớncủa huyện Ba Bể: xã Quảng Khê và xã Đồng Phúc;

Bước 3: Chọn mẫu cụ thể đối với các tác nhân trong chuỗi

Ngày đăng: 05/04/2019, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đinh Văn Thành (2010), “Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực tham gia của hàng nôngsản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Thành
Năm: 2010
14. Dự án: Bảo tồn và phát triển thương mại hóa sản phẩm hồng không hạt BắcKạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển thương mại hóa sản phẩm hồng không hạt Bắc
15. Dự án: Xây dựng “Chỉ dẫn địa lý Bắc Kạn” cho sản phẩm hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn (triển khai từ năm 2008-2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ dẫn địa lý Bắc Kạn”
16. Đinh Văn Thành, “Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản”, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàngnông sản”
17. Hồ Quốc Hậu, “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân”,2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân”
20. Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp “Phát triển chuỗi giá trị lúa gạo đồng bằng sông cửu long và thương hiệu gạo Việt Nam” Ts. Đào Thế Anh, Th.S. Hoàng Thanh Tùng, ThS. Thái Văn Tình (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triểnchuỗi giá trị lúa gạo đồng bằng sông cửu long và thương hiệu gạo ViệtNam
21. Siebe Van Wijk, Amanda Allbritton, Dang Viet Quang (2005), Tác động của chuỗi giá trị cây hoa hồng đến sự phát triển kinh tế ở Miền Bắc Việt Nam, Ngân hàng phát triển châu Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác độngcủa chuỗi giá trị cây hoa hồng đến sự phát triển kinh tế ở Miền Bắc ViệtNam
Tác giả: Siebe Van Wijk, Amanda Allbritton, Dang Viet Quang
Năm: 2005
22. Vũ Đình Tôn và Piere Fabre, Phương pháp phân tích ngành hàng , Rome, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích ngành hàng
23. Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương) (2009), Hội thảo Chuỗi giá trị toàn cầu đối với hàng nông sản và vấn đề tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay, Hà Nội, Ngày 24-2- 2009.II. TIỀNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Chuỗigiá trị toàn cầu đối với hàng nông sản và vấn đề tham gia của Việt Namvào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công Thương)
Năm: 2009
24. Asian Development Bank (2005), M4P Week 2005, “Proceedings of a series of review and planning events held by Making markets Work better I. for the Poor (M4P)” during the week 31st of October to 4th of November 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M4P Week 2005", “Proceedings of a seriesof review and planning events held by Making markets Work better I. forthe Poor (M4P)
Tác giả: Asian Development Bank
Năm: 2005
1. Axis Research (2006), Báo cáo phân tích chuỗi giá trị thanh long Bình Thuận Khác
2. Axis Research (2006), Báo cáo phân tích chuỗi giá trị rau an toàn TP.Hồ Chí Minh Khác
3. Axis Research (2005), Phân tích chuỗi giá trị nho Ninh Thuận Khác
4. Axis Research (2006), Phân tích chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long Khác
6. GTZ (2006), Phân tích chuỗi giá trị bơ Đắc Lắc. Chương trình Phát triển MPI- GTZSME (Chương trình hợp tác phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức) Khác
7. Metro, GTZ, Bộ Thương Mại (2006), Báo cáo phân tích chuỗi giá trị rau an toàn TP. Hà Nội Khác
8. Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (2007), Cẩm nang ValueLinks - Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị Khác
10. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của UBND tỉnh Bắc Kạn năm 2017 Khác
11. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn, Báo cáo tổng kết hàng năm Khác
12. Dự án: Ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển giống hồng không hạt đặc sản tại tỉnh Bắc Kạn; Dự án Nông thôn miền núi; Nghiệm thu năm 2008-2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w