1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SĨ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

102 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 786,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, hoạt động của Viện kiểm sát về thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng hình sự nói chung và trong xét xử các vụ

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT

Trang 2

riêng tôi Các số liệu, trích dẫn, kết luận nêu trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.

Ý kiến của giáo viên hướng dẫn Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Ngân

Trang 3

NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT

XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 7 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 7

1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 7 1.1.2 Khái niệm kiểm sát (việc tuân theo pháp luật trong) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

14

1.1.3 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 18

1.2 Ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự 21 1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát (việc tuân theo pháp luật) trong xét xử sơ thẩm 23 1.4 Quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản liên quan; Điểm mới về vấn đề này trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 26

1.4.1 Quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản liên quan 26 1.4.3 Điểm mới trong quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 50

CHƯƠNG 2 55 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦATHỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 55 2.1 Thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 55

2.1.1 Kết quả đạt được trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự của Viện kiểm sát 55 2.1.2 Những hạn chế trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự của Viện kiểm sát 63 2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát (việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát) trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 68 c) Nguyên nhân do cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ còn nhiều thiếu thốn 74

2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát (việc tuân theo pháp luật) trong xét xử sơ thẩm 75

2.2.1 Chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 75 2.2.2 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật 78 2.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, Kiểm tra viên và Kiểm sát viên

83

2.2.4 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất , chính sách đãi ngộ cho cán bộ của ngành kiểm sát 88

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Số vụ án và số bị cáo đã xét xử sơ thẩm và Viện kiểm sát

nhân dân các cấp thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm

(2011-2015)

57

Trang 5

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sựCHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đảng và Nhà nước ta hiện đang tiến hành xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Một trong những nội dung chủ yếu của nó

là cải cách tư pháp nhằm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, côngbằng, nghiêm minh Viện kiểm sát là một trong các cơ quan trọng yếu trong

hệ thống các cơ quan tư pháp được giao thực hiện chức năng bảo đảm cho nềnpháp chế được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất Nghị quyết số08/NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trong tâmcủa công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08 -NQ/TW) đã xác

định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án, trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm

vụ Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo cho tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” Để có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trước

những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp tr ong giai đoạn hiện nay, việcđổi mới cả về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát là một yêu cầu tất yếukhách quan

Trong những năm qua, hoạt động của Viện kiểm sát về thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng hình sự nói chung và trong xét xử các vụ án hình sự nói riêng đã đạt đượcnhững kết quả đáng kể và đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của toàn xã hội, các quyền và lợiích hợp pháp của công dân, bảo đảm việc xét xử của Tòa án đúng người, đúngtội, đúng pháp luật

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét

Trang 7

xử các vụ án hình sự nói riêng cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế (nhưtrong một số trường hợp còn bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội; việctham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự chưa thực sự tích cực, chủđộng; tinh thần trách nhiệm, trình độ và kỹ năng nghiệp vụ của Ki ểm sát viêncòn nhiều , bất cập; …), chưa đáp ứng được đầy đủ và kịp thời yêu cầu củacông cuộc cải cách tư pháp hiện nay.

Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra được các nguyên nhân của nhữngbất cập, hạn chế nêu trên để đưa ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệ u nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátviệc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm hình sự (vàtrong xét xử các vụ án hình sự nói chung) là một yêu cầu cấp thiết, khách quanhiện nay Yêu cầu này đặt ra cho khoa học pháp lý câu hỏi về cách tiếp cậnmới, cách nhìn mới cả về phương diện lý luận và thực tiễn chức năng, nhiệm

vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩmhình sự nói riêng

Tất cả những vấn đề mang tính thời sự nêu trên đã thúc đẩy sự quan tâm,mong muốn nghiên cứu của cá nhân tác giả, cũng là lý do tác giả chọn đề tài

“Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ” làm đề

tài Luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét

xử sơ thẩm đã thực sự trở thành một vấn đề được quan tâm trong công cuộccải cách tư pháp hiện nay Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết trên các tạpchí về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luậtnhư : “Phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháptrong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 09 (tháng 5/2009) của tác giảNguyễn Tiến Sơn; “Bàn về việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòahình sự sơ thẩm”, Tạp chí kiểm sát, số 13 (tháng 7/2007) của tác giả DươngThanh Biểu… Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Những vấn đề lý luận và thựctiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự và đáp ứng yêu cầu cải cách tư

Trang 8

pháp” của Tiến sỹ Lê Hữu Thể; Đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lýluận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945đến nay” (1999) của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Luận án tiến sĩ Luật học

“Quyền công tố ở Việt Nam” (2002) của Lê Thị Tuyết Hoa; Luận văn thạc sĩluật học “Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự” (2002) củaTôn Thiện Phương; Luận văn thạc sĩ Luật học “Kiểm sát việc tuân theo phápluật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2005) của LêLan Chi; “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” (2007), Nxb Tư pháp … và một

số luận văn thạc sỹ, tài liệu luật học tại các trường đại học, học viện khác.Các công trình nghiên cứu vấn đề này tuy đã làm rõ vị trí, vai trò của cơquan tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên trong xét xử sơ thẩm; những bấtcập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động; đưa ra những phương hướng, giảipháp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau, cáccông trình nghiên cứu thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật ở các giai đoạn khác nhau; mặt khác hoạt động thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát trên thực tế còn nhiềuvướng mắc, đặc biệt trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay cần có nhữnggiải pháp đồng bộ, kịp thời nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử tạiphiên tòa, đảm bảo phán quyết của Tòa án công minh, đúng người, đúng tội.Tiếp thu những thành quả của các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn là

sự tiếp nối làm sâu sắc hơn nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát tại phiên tòahình sự sơ thẩm Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề cơ bản

về cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátxét xử sơ thẩm hình sự trong những năm gần đây (2010 - 2015) để làm cơ sở

Trang 9

cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này củaViện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm hình sự.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là qu y định của pháp luật về thực hànhquyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Việ n kiểm sát trong cảgiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn hoạt động này của Việnkiểm sát

4 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu làm r õ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm nâng caochất lượng hoạt động này của Viện kiểm sát nhân dân

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thế nào là thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự? Những ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểmsát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là gì?

- Chỉ ra mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm vụ án hình sự?

- Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định như thế nào về thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự?

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện chức năng của Việnkiểm sát trong xét xử sơ thẩm hình sự; chỉ ra những vướng mắc, bất cập, hạnchế và nguyên nhân của chúng?

- Hãy đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củaViện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự?

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý l uận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây

Trang 10

dựng cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạocủa Đảng trong các Nghị quyết số 08 - NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TWcủa Bộ Chính trị.

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng kếthợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phươngpháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê… để giải quyết vấn đề

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã xây dựng được khái niệm: thế nào là thực hành quyền công

tố, thế nào là kiểm sát xét xử, thế nào là xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Luận văn đã làm rõ được ý nghĩa của thực hành quyền công tố và kiểm

sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Luận văn đã đi vào phân tích được mối quan hệ giữa giữa hoạt động

thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Luận văn đã chỉ rõ những quy định của pháp luật hiện hành về thựchành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện chức năng củaViện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm hình sự; chỉ ra những vướng mắc, bất cập,hạn chế và nguyên nhân của chúng

- Luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữachất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 2 chương:

Chương 1: Nhận thức chung về thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử

Trang 11

- Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

- Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót

- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểmsát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 12

CHƯƠNG 1:

NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM

SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đãxuất hiện rất sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước vàpháp luật Nhưng ở nước ta, dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là vănbản pháp lý đầu tiên đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cậpđến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 137) Thuật ngữ này đượcnhắc lại ở Điều 1 và Điều 3, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981.Như vậy, trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, khái niệm “quyềncông tố” và “thực hành quyền công tố” đã xuất hiện Từ đó đến nay đã cónhiều tài liệu giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đếnkhái niệm này Song, cho đến nay, trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp,vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao trong nhận thức về vấn đề này

Để làm rõ được thế nào là “thực hành quyền công tố”, trước tiên ta cầnxác định thế nào là “quyền công tố”, việc xác định này dựa trên những kháiniệm, nội dung, phạm vi quyền công tố một cách cụ thể và thống nhất

- Quyền công tố:

“Công tố” theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng (1988) có nghĩa là:

“Điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” Hiện nay, xungquanh vấn đề “Quyền công tố” có nhiều quan điểm khác nhau, chủ yếu là cácquan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà

nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi

Trang 13

ích của Nhà nước, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ lợi ích cá nhân1 Quan điểmnày đã quá mở rộng nội dung và phạm vi quyền công tố khi cho rằng quyềnnày có cả trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động …

Quan điểm thứ hai coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình

thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình

sự2 Do vậy dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như một hoạtđộng độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công

Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao

cho Viện kiểm sát mà trực tiếp là Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước thực hiệnviệc buộc tội tại phiên tòa3 Quan điểm này đã nhấn mạnh quyền công tố chỉ

là quyền buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa và như vậy thì phạm vi củaquyền công tố bị thu hẹp, chỉ giới hạn trong phiên tòa hình sự, mà không có ởcác giai đoạn tố tụng khác Về bản chất, quan điểm này đã đồng nhất quyềncông tố với quyền buộc tội và bảo vệ sự buộc tội của Viện kiểm sát tại phiêntòa hình sự

Quan điểm thứ tư (Đây cũng là quan điểm được thừa nhậ n rộng rãi hiện

nay) cho rằng quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việctruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc vềNhà nước và Nhà nước giao cho một cơ quan chuyên trách – cơ quan công tốthực hiện (ở nước ta cơ quan này là Viện kiểm sát) Để thực hiện quyền này,

cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ

để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định truy tố bịcan ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa4 Những người

1Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 10;

tr.62-67

2Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1995), “ Giáo trình tội phạm học, Luật TTHS và

Luật hình sự Việt Nam”, Nxb Pháp lý, Hà Nội; tr.31

3Võ Thọ (1985) “Một số vấn đề về Luật TTHS”, Nxb Pháp lý, Hà Nội;tr.86-88

4Lê Hữu Thể (2005), “ Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong

giai đoạn điều tra”, Nxb Tư pháp, Hà Nội; tr.40

Trang 14

theo quan điểm này cho rằng quyền công tố là quyền buộc tội (quyền truy cứutrách nhiệm hình sự) nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội.

Bản thân tác giả cho rằng quan điểm này là đầy đủ nhất vì đã thể hiệnđược hầu hết nội dung của quyền công tố, quyền này thuộc về Nhà nước,được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện để phát hiện tội phạm vàtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, điều này được thể hiện

rõ trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2015, Điều 23 BLTTHS năm2003:

Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định “Viện kiểmsát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm c hỉnh vàthống nhất” Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định “Viện kiểm sát nhândân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Điều 1 Luật Tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 cũng nêu rõ: “Viện kiểm sát nhân dânthực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định củaHiến chương và pháp luật” Điều 23 của BLTTHS năm 2003: “Viện kiểm sátnhân dân thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy

tố người phạm tội ra trước Tòa án” Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Viện kiểmsát phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xácminh tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ratrước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.Như vậy, bản chất củaquyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội Hay nói cách khác, bản chất của quyền công tố là việc đòitrừng phạt những hành vi phạm tội để bảo vệ lợi ích công

Có thể rút ra khái niệm như sau: Quyền công tố là quyền của Nhà nước

giao cho cơ quan tiến hành tố tụng - Viện kiểm sát - trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện sự buộc tội đối với người đó trước phiên tòa.

Trang 15

Từ khái niệm trên có thể thấy, đối tượng của quyền c ông tố là tội phạm

và người phạm tội; Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội với người đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khitội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật không bịkháng nghị

- Thực hành quyền công tố

Như đã phân tích ở trên, bản chất của Quyền công tố là quyền yêu cầutrừng trị công khai những hành vi vi phạm pháp luật hình sự đối với ngườiphạm tội Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chốngtội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định cácquyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứutrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Các quyền năng đó được giaocho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội thì cơ quan ấy được coi là cơ quan thựchành quyền công tố Theo pháp luật nước ta, thuật ngữ “thực hành quyềncông tố” lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1980 khi quy định

về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Từ đó đến nay, Viện kiểm sát nhândân tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố theo quy định tạiĐiều 137 Hiến pháp năm 1992, Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 23BLTTHS năm 2003 Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2015 của Bộ Chínhtrị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ “Trước mắt, Việnkiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyềncông tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” Như vậy, trong tiến trình cải cách

tư pháp, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát vẫn được giữnguyên Hay nói cách khác, chủ thể của việc thực hành quyền công tố theoquy định của nước ta là Viện kiểm sát nhân dân

Tác giả Lê Hữu Thể cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụn g

tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu

Trang 16

trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy

tố và xét xử” 5

“Quyền năng pháp lý” ở đây là khả năng định đoạt, chi phối các mốiquan hệ pháp luật Biểu hiện của quyền năng này trong hoạt động thực hànhquyền công tố là một loạt các hoạt động như công bố cáo trạng, tham gia xéthỏi, tranh luận… nhằm hướng một đối tượng vào hành vi vi phạm pháp luật

đã cáo buộc

Phạm vi thực hành quyền công tố: Về nguyên tắc thì phạm vi của quyềncông tố và thực hành quyền công tố là đồng nhất với nhau, tức là đều xuấthiện từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực phápluật Tuy nhiên, không phải tội phạm nào xảy ra cũng đều được phát hiện kịpthời và tiến hành khởi tố (những trường hợp tội phạm ẩn) hoặc khi đã pháthiện tội phạm xảy ra nhưng cũng cần có những hoạt động xác minh, thu thậptài liệu trước khi khởi tố (các hoạt động tiền tố tụng) Mặt khác, không phảimọi trường hợp việc thực hành q uyền công tố đã được phát động đều đượckết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà có thể kết thúc sớm hơnkhi có một trong các căn cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Nhưvậy, trong thực tế thì phạm vi thực hành quyền công tố thường hẹp hơn phạm

vi của quyền công tố Phạm vi của thực hành quyền công tố bắt đầu từ khikhởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bịkháng nghị hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hìnhsự

Nội dung của thực hành quyền công tố: Hiện nay vẫn còn một số quanđiểm chưa thống nhất về nội dung thực hành quyền công tố Có quan điểmcho rằng, nếu coi khởi tố vụ án hoặc bắt, tạm gia bị can là nội dung thực hànhquyền công tố thì cả Cơ quan điều tra và Tòa án cũng đều là cơ quan thực

5 Theo Lê Hữu Thể (1999), Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, VKSNDTC, Hà Nội, tr.19-21, tr.27

Trang 17

hành quyền công tố Tác giả cho rằng quan điểm này là không chính xác vìkhông phải cứ khởi tố vụ án hoặc bắt bị can, bị cáo đều là thực hành quyềncông tố và không phải chỉ có truy tố và buộc tội mới là thực hành quyền công

tố Nội dung của thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyềnnăng pháp lý để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội Do vậy, chỉ có cơ quan nào được phép sử dụng tất cả các quyềnnăng pháp lý này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tộitrong suốt quá trình tố tụng hình sự (từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) thìmới là cơ quan thực hành quyền công tố Ở nước ta chỉ có Viện kiểm sát là cơquan thực hành quyền công tố

Trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chứcViện kiểm sát nhân dân, tôi cho rằng những quyền năng pháp lý mà Việnkiểm sát tự quyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo là nhữngquyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố

Có thể rút ra khái niệm về nội dung thực hành quyền công tố: Là tổnghợp các quyền năng tố tụng mà Viện kiểm sát sử dụng nhằm đảm bảo pháthiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm

và người phạm tội, không làm oan người vô tội, được thực hiện ngay từ kh ikhởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng

- Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự:

Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của tố tụng hình sự, chia thành ba giaiđoạn nhỏ là giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn xét xử tại phiên tòa và giaiđoạn sau khi kết thúc phiên tòa Phạm vi của hoạt động thực hành quyền công

tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được bắt đầu từ khi bản cáo trạng

và quyết định truy tố của Viện kiểm sát cùng hồ sơ vụ án được chuyển đếnTòa án cho đến trước k hi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bị khángcáo, kháng nghị và hồ sơ được chuyển lên Tòa án có thẩm quyền xét xử phúcthẩm

Trang 18

Theo quy định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 và các Điều 206, Điều 207, Điều 217 BLTTHS năm 2003 thì trong xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố thông quacác nhiệm vụ: đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có), thẩmvấn, thực hiện luận tội, tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những ngườitham gia tố tụng khác

Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn này thể hiện tập trung tạiphiên tòa sơ thẩm với đặc trưng của nó là trực tiếp và bằng lời nói nên ở giaiđoạn này Kiểm sát viên phải công bố các quyết định và yêu cầu bằng lời nói,mặc dù quyết định truy tố bằng bản cáo trạng đã ban hành bằng văn bản trước

đó Kiểm sát viên tham gia xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa màkhông ban hành các văn bản cá biệt Lời nói của Kiểm sát viên tại phiên tòaxem là một văn bản pháp lý có hiệu lực thi hành ngay những quyết định củaViện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa về việc luận tội, truy tố

bị cáo ở điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt

ra sao, cũng như quyết định rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng đã truy tốcủa Viện kiểm sát trước đó

Mặc dù các quyết định truy tố của Viện kiểm sát bằng bản cáo trạng đã

có hiệu lực pháp luật nhưng tại phiên toà, Kiểm sát viên phải công bố lại cácquyết định này và việc công bố lại bằng lời nói của Kiểm sát viên có giá trịpháp lý trực tiếp để trên cơ sở đó Hội đồng xét xử xem xét việc thực hiện giớihạn xét xử cũng như thực hiện quyền bào chữa của bị cáo Nói như vậy không

có nghĩa là hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát tại phiên tòakhông được lập thành văn bản mà hoạt động này còn được thực hiện trước khiphiên tòa diễn ra và cả sau khi phiên tòa kết thúc Viện kiểm sát trước hết cóquyền ban hành các quyết định bằng văn bản cá biệt khác nhau như quyếtđịnh truy tố, quyết định kháng nghị, sau phiên tòa, Viện kiểm sát cũng có thểkiến nghị chính thức bằng văn bản đối với những vi phạm pháp luật tronghoạt động xét xử của Tòa án đã được Kiểm sát viên kiến nghị trực tiếp bằnglời nói trước đó tại phiên tòa xét xử sơ thẩm Dù thế nào thì tại phiên tòa,

Trang 19

Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình chủ yếu bằng lời nói của Kiểmsát viên là chủ yếu và nó có giá trị pháp lý trực tiếp tại phiên tòa.

Cần phân biệt nội dung thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩmvới thực hành quyền công tố trong xét xử phúc thẩm Về cơ bản, nội dungthực hành quyền công tố ở hai giai đoạn này tương tự như nhau Tuy nhiên,trước khi xét hỏi phúc thẩm cần có hoạt động trình bày tóm tắt nội dung vụ

án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị

Như vậy, thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm là việc Kiểm sát

viên đại diện cho Viện kiểm sát buộc tội thông qua việc công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, luận tội và tranh luận, bảo vệ quyết định truy tố của mình, nhằm làm sáng rõ các tình tiết của vụ án, giúp cho Hội đồng xét xử đưa

ra quyết định, bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơthẩm có quan hệ chặt chẽ với kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại giai đoạnnày, gắn liền với việc thực hiện quyền năng cụ thể như quyền buộc tội và luậntội đối với bị cáo tại phiên tòa

1.1.2 Khái niệm kiểm sát (việc tuân theo pháp luật trong) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Khái niệm Kiểm sát (việc tuân theo pháp luật)

Theo Hiến pháp năm 1960, Viện kiểm sát nhân dân không chỉ thực hiệnchức năng công tố (do Viện Công tố trước đây thực hiện) mà cũng thực hiệnchức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên các lĩnh vực hoạt đ ộng hànhchính, kinh tế, xã hội và hoạt động tư pháp Các chức năng trên đây của Việnkiểm sát nhân dân tồn tại cho tới năm 2002 khi Quốc hội nước ta sửa đổi một

số điều của Hiến pháp năm 1992 và ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2002 Nghị quyết số 51/2001/NQ-QH Quốc hội thông qua ngày25/12/2001 sửa đổi, bổ sung Điều 137 của Hiến pháp năm 1992 với nội dung:

Trang 20

“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hàn h nghiêm chỉnh

và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”.Như vậy, từ năm 2002 đến nay, quy định của pháp luật đã thay đổi theohướng Viện kiểm sát không thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luậtnói chung (kiểm sát chung) mà thay vào đó, nói đến kiểm sát việc tuân theopháp luật là chỉ kiểm sát các hoạt động tư pháp

Kiểm sát hoạt động tư pháp được hiểu là kiểm tra, giám sát, xem xét,theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thihành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết cáchành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm bảo đảm cho pháp luậtđược chấp hành nghiêm chỉnh và thố ng nhất6

Đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật :

Pháp luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình

sự, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiếnhành tố tụng, nhiệm vụ quyền hạn của những người tiến hành tố tụng, quyền

và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng Vì vậy, kiểm sát hoạt động củacác chủ thể trong tố tụng hình sự chính là việc kiểm sát việc các chủ thể cótuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giảiquyết vụ án hay không

Hoạt động của các chủ thể trong tố tụng hình sự bao gồm: Hoạt động củacác cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) vàtương ứng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, phóThủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, phó Viện trưởngViện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán,Hội thẩm, Thư ký Tòa án); Hoạt động của những người tham gia tố tụng như:

6 Theo Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và từ điển bách khoa, Tr.188

Trang 21

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người bào chữa, người làm chứng; của các cơ quan, tổ chức và công dântham gia vào tố tụng hình sự trong những trường hợp nhất định Tóm lại, việctuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào tố tụng hình sự là đối tượngcủa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật:

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thì hoạt động kiểm sát việctuân theo pháp luật của Viện kiểm sát được thực hiện liên tục trong toàn bộcác giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự (bắt đầu từ thời điểm khởi tố vụ ánhình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành xong) Mỗigiai đoạn tố tụng khác nhau thì chủ thể hoạt động kiểm sát việc tuân theopháp luật - các Viện kiểm sát - lại khác nhau (theo phân cấp), cụ thể: Hoạtđộng kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử

sơ thẩm vụ án do Viện kiểm sát cấp sơ thẩm thực hiện; Hoạt động kiểm sátviệc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử phúc thẩm do Viện kiểm sát cấpphúc thẩm thực hiện; Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạngiám đốc thẩm, tái thẩm thì do Viện kiểm sát cấp giám đốc thẩm, tái thẩmthực hiện…

Nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát:

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự và quy định của Luật Tổ chứcViện kiểm sát nhân dân, các quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát được phép

sử dụng để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các chủ thể thamgia vào tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêmchỉnh thống nhất, gồm các nhóm sau:

Các quyền năng nhằm phát hiện vi phạm pháp luật gồm các quyền kiểmtra, giám sát hoạt động khởi tố, điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động thi hànhán… Các quyền năng này nhằm bảo đảm cho Viện kiểm sát phát hiện đượccác vi phạm, xác định nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm Trên cơ sở

Trang 22

đó đưa ra các biện pháp để khắc phục vi phạm, bảo đảm sự tuân thủ triệt đểpháp luật.

Các quyền năng của Viện kiểm sát về yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạmđối với các chủ thể tham gia vào tố tụng hình sự, bao gồm: kiến nghị, yêu cầukhắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Thủ trưởng Cơquan điều tra xử lý Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong quá trình điềutra; kiến nghị, kháng nghị trong công tác kiểm sát xét xử

-Kiểm sát (việc tuân theo pháp luật trong) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sựchính là kiểm sát các thủ tục tố tụng trong các bước chuẩn bị xét xử, xét xử tạiphiên tòa và sau khi kết thúc phiên tòa Đồng thời cũng là hoạt động kiểm tra,giám sát đối với các cơ quan tư pháp như cơ quan điều tra, Tòa án và thậm chí

là những nhân viên và cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, giám định viên.Mục đích của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn này là nhằmbảo đảm sao cho mọi hoạt động tố tụng cũng như những người tham gia tốtụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, tôn trọng các quyền của bị cáo vàngười tham gia tố tụng khác, tạo điều kiện để Tòa án xét xử đúng người, đúngtội; mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp đều được phát hiện, xử lýkịp thời, nghiêm minh

Chủ thể kiểm sát chính là Viện kiểm sát nhân dân mà đại diện là Kiểmsát viên Khi tham gia phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện cho Việnkiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được pháp luật tốtụng hình sự quy định Đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án

Ngoài Kiểm sát viên, thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc sau khi kếtthúc phiên tòa sơ thẩm thì còn có sự tham gia của các chủ thể khác vào việckiểm sát phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên không làm mất đi vai trò của Kiểm sátviên đã được phân công Chẳng hạn như: Việc xem xét yêu cầu trả hồ sơ vụ

Trang 23

án, quyết định điều tra bổ sung hay trả lại cho Tòa án thì người quyết định làViện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhưng cũng có sự đề xuất củaKiểm sát viên; Hoặc việc kiểm tra bản án, quyết định để xem xét kháng nghị,

dự thảo kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm có thể do kiểm tra viên, chuyênviên thực hiện nhưng cũng đều có sự nhất trí của Kiểm sát viên trước khitrình lãnh đạo Viện kiểm sát quyết định

Đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩmchính là sự tuân theo pháp luật trong hoạt động của Tòa án cấp sơ thẩm vànhững người tham gia tố tụng trong giai đoạn này Khi tiến hành các hoạtđộng kiểm sát, Viện kiểm sát không chỉ dựa trên các quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự mà còn trên các căn cứ pháp lý khác là Hiến pháp, Luật Tổ chứcViện kiểm sát nhân dân, Bộ Luật hình sự và các văn bản khác có liên quan đểkiểm tra, giám sát sự tuân thủ chặt chẽ của các chủ thể là đối tượng của hoạtđộng kiểm sát cũng như để bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ chính hoạtđộng kiểm sát của Viện kiểm sát

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm còn là kiểm sátviệc chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử củaHội đồng xét xử, Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và hành vi theo tội danh màViện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử, không đượcxét xử người mà Viện kiểm sát không truy tố, không được xét xử bị cáo theonhững tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là hoạt động của Viện

kiểm sát nhằm kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án và những người tham gia tố tụng, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

1.1.3 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Khái niệm

Trang 24

Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Tòa án đượcgiao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Theo Luật tổ chứcTòa án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, thì Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở ViệtNam là Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân sự khu vực, Tòa ánquân sự cấp quân khu.

Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xácđịnh như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự,mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trongquá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa, nhữngngười tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khaicủa nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra của họkhông có điều kiện thực hiện Xét xử sơ thẩm được coi là đỉnh cao của quyền

tư pháp, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và ngườitham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âucủa bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác được giải tỏatại phiên tòa Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mongmuốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Tòa án sẽ phán quyếtnhư thế nào

- Nhiệm vụ

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyết định trung tâm của quá trình tốtụng hình sự Trong quá trình xét xử sơ thẩm, nội dung vụ án được điều traxem xét một cách toàn diện , từ đó hội đồng xét xử xác định bị cáo có tội haykhông Nếu bị cáo phạm tội, thì Tòa án quyết định áp dụng hình phạt đối vớingười phạm tội hoặc cho họ được miễn hình phạt Quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị buộc tội và người tham gia tố tụng khác nhau phụ thuộc vào kếtquả xét xử Kết quả đó thể hiện bằng bản án văn bản tố tụng quan trọng nhấttrong toàn bộ quá trình hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 25

Để giải quyết được vấn đề đó, việc xét xử phải được tiến hành một cáchnghiêm ngặt theo các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Tòa án, thẩm tra,xét xử khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ của vụ án đã được thu thậptrong quá trình điều tra, cũng như được đưa ra trong quá trình xét xử, kết hợpvới việc tranh tụng công khai và bình đẳng giữa những người tiến hành tốtụng và những người tham gia tố tụng Bản án chỉ được căn cứ vào nhữngchứng cứ được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử của Tòa án mang tínhchất quyết định để xác định tội phạm, người phạm tội và áp dụng các hìnhphạt tương ứng theo quy định của pháp luật Khi bản án của Tòa án có hiệulực pháp luật thì các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, mọicông dân và những người lien quan trực tiếp đến bản án phải nghiêm chỉnhchấp hành.

- Mục đích

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có mục đích là:

Bảo vệ chế độ chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của nhà nước, của tập thể và của công dân…

Nội dung cơ bản của hoạt động xét xử sơ thẩm là thực hiện tốt các nhiệm

vụ của bộ luật tố tụng hình sự đặt ra, đó là:

Phát hiện nhanh chóng và xác định tội phạm một cách khách quan, toàndiện, xử lý công minh không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Từ

đó áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với người phạm tội, đảm bảo tínhcưỡng chế, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta và tăng cường tínhgiáo dục trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm Trách nhiệm của Tòa án

là phải áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật đã quy định để làm sang tỏ cácyếu tố buộc tội cũng như g ỡ tội, các tình tiết tang nặng, các tình tiết giảm nhẹcủa bị cáo, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.Công tác phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải có những biện pháp tổng hợp về

Trang 26

mặt kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng và cả những tác dộng của pháp luật.Trong đó Tòa án giữ vai trò rất quan trọng nhờ quá trình giải quyết vụ án mộtcách đúng đắn và kịp thời.

1.2 Ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm s át việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

* Ý nghĩa chính trị

Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát (việc tuân theo phápluật trong) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát góp phần thựchiện quyền lực nhà nước, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời làmột trong những yếu tố bảo đảm nguyên tắc chế ước và kiểm sát quyền lựctrong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Quyền công tố là quyền lực công, xuất hiện và gắn liền với sự ra đờicủa nhà nước và pháp luật Nhà nước dùng pháp luật để điều chỉnh các quan

hệ xã hội theo tư tưởng của giai cấp thống trị, trừng trị những người đã thựchiện hành vi vi phạm pháp luật chống đối ý chí của giai cấp thống trị thôngqua việc buộc tội họ Vì vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của Việnkiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm thực hiện việcbuộc tội chính là hoạt động nhân danh nhà nước thực hiện sự buộc tội đó,góp phần bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước

- Trong hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát bằng việc sửdụng các quyền năng pháp lý để kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với

Trang 27

hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người thamgia tố tụng nhằm phát hiện và loại trừ những vi phạm pháp luật của các cơquan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xét xử sơ thẩm nói riêng và quá trìnhgiải quyết vụ án nói chung , qua đó góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủnghĩa.

* Ý nghĩa pháp lý

Hoạt động của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có ýnghĩa quan trọng đối với toàn bộ quá trình tố tụng Bởi lẽ, trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự, kết quả của giai đoạn này là mục tiêu của cả quá trình tốtụng Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng, sinh mạng pháp lý của một haynhiều cá nhân, tổ chức đều phụ thuộc vào kết luận cuối cùng của Tòa án Phánquyết cuối cùng của Tòa án có được chính xác, khách quan, đúng người đúngtội hay không phụ thuộc phần lớn vào quá trình thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử của Viện kiểm sát Nếu hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát không được thực hiện hiệu quả thì

sẽ dẫn đến tình trạng truy tố và xét xử thiếu sót, không chính xác, bỏ lọt tộiphạm…

Thông qua hoạt động kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát đúc kết kinhnghiệm, đưa ra các kiến nghị nhằm phòng ngừa, giúp cho các hoạt động tốtụng về sau được thuận lợi, tránh khỏi những sai lầm không đáng có

Ngoài ra, hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự còn góp phần bảo đảm cho pháp luật được tiến hành nghiêmchỉnh và thống nhất Trong phạm vi quyền hạn được pháp luật ghi nhận, Việnkiểm sát kiểm tra, giám sát trực tiếp hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử sơthẩm, đảm bảo hoạt động của những chủ thể này được thực hiện đúng theoquy định của pháp luật, đồng thời phát hiện kịp thời, khắc phục và xử lýnghiêm minh những vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử

* Ý nghĩa xã hội

Trang 28

Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm gópphần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Bằngcác quyền năng và biện pháp mà pháp luật trao cho Viện kiểm sát trong xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là chủ thể quyết định việc truy tốngười phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc bất cứ hành viphạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lýtrước pháp luật; vừa bảo đảm các hoạt động xét xử, các biện pháp tư pháp ápdụng đối với bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng được tuân thủ đúng quyđịnh của pháp luật, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liênquan, không để người nào bị bắt, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâmphạm tính mạng, sức khỏe, tự do, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách tráipháp luật Như vậy, sự tham gia của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội và người phạm tộiđều được phát hiện, xử lý theo đúng quy định của pháp luật, mọi hoạt độngxâm hại đến các quyền của con người không bị pháp luật tước bỏ đều phảiđược phát hiện và xử lý

Ngoài ra, thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự, người phạm tội sẽ bị xử lý nghiêm minh, đồng thờingười bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cũng sẽ được bồi thường thỏađáng theo quy định của pháp luật - đây cũng là biểu hiện của sự công bằng xãhội

1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát (việc tuân theo pháp luật) trong xét xử sơ thẩm

Có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh mối quan hệ giữa thực hànhquyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Thực hành quyền công tố chỉ là để kiểm sát việc tuân theo pháp luật.Đây là quan điểm phiến diện Bởi lẽ, nếu coi thực hành quyền công tố chỉ làmột nội dung để thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật có nghĩa rằng đã

Trang 29

coi trong hoạt động xét xử của Tòa án thì Viện kiểm sát chỉ có một chức năngduy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong khi đó, theo quy định củaBLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sát phải thực hiện việc buộc tội thông quamột loạt các hoạt động trong quá trình xét hỏi, luận tội và tranh luận nhằmbảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án khách quan, dân chủ, công bằng.Điều đó có nghĩa là Viện kiểm sát đã thực hiện việc tr uy tố và buộc tội đốivới những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội trên cơ sở các quy địnhcủa Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, tức là Viện kiểm sát đã thựchành quyền công tố.

Quan điểm thứ hai cho rằng:

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là một phần của việc thựchành quyền công tố Quan điểm này cũng chưa đầy đủ Bởi lẽ, trong quá trìnhxét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát không chỉ tiến hành chứng minh tội phạm, truy

tố và đề nghị Tòa án áp dụng điều khoản tương ứng của Bộ luật tố tụng hình

sự đối với người có hành vi phạm tội mà còn kiểm sát diễn biến phiên tòa,kiểm sát hoạt động của hội đồng xét xử cũng như những người tham gia tốtụng, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thốngnhất Như vậy, rõ ràng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét

xử của Tòa án của Viện kiểm sát đã được thể hiện rất rõ

Quan điểm thứ ba: Viện kiểm sát thực hiện cả kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án và thực hành quyền công tố

Theo quy định tại Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 và các Điều 206, 207, 217 BLTTHS năm 2003 thì trong xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự, nhất là trong phiên xét xử, Viện kiểm sát có nhiệm vụ:

Thứ nhất, cáo buộc công khai hành vi phạm tội của bị cáo bằng cách đọc

cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án.Hoạt động này là cơ sở để hội đồng xét xử tiến hành việc điều tra công khaitại phiên tòa Tiếp đến là thẩm vấn để làm rõ những vấn đề có liên quan đến

Trang 30

hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm chứng minh những tài liệu, chứng cứ trongviệc truy tố của Viện kiểm sát Sau đó Kiểm sát viên thực hiện việc luận tộithể hiện quan điểm đánh giá của Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội của

bị cáo và đánh giá tính chất nguy hiểm c ho xã hội mà hành vi phạm tội của bịcáo đã gây ra, đề nghị việc áp dụng hình phạt với từng bị cáo theo quy địnhcủa Bộ luật hình sự

Thứ hai, Viện kiểm sát kiểm sát toàn bộ hoạt động của Tòa án và những

người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Ví dụ như ở phần thủ tục bắt đầuphiên tòa, nếu thấy chủ tọa chưa phổ biến hết các quyền cho bị cáo và ngườitham gia tố tụng, chưa cho bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành

tố tụng, chưa hỏi xem có ai đề nghị đưa thêm đồ vật, tài liệu ra xem xét hoặc

đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hay không hay hội đồng xét xử cóhành vi hỏi dồn ép, truy bức bị cáo, không giải quyết các yêu cầu của ngườitham gia tố tụng… thì Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử khắc phục thựchiện đúng theo quy định của pháp luật

Như vậy, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong xét xử sơ thẩm là hai nhiệm vụ khác nhau và chúng có mối quan hệ chặtchẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và ở trong một phạm vi nhất định có sự thốngnhất và xâm nhập vào nhau Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật làyếu tố hỗ trợ, bảo đảm để việc thực hành quyền công tố thuận lợi, đạt hiệuquả Nếu hoạt động công tố tốt, nhưng hoạt động kiểm sát không kịp thời pháthiện những vi phạm về thủ tục hay hành vi của người tham gia tố tụng để yêucầu khắc phục ngay, dẫn đến bản án bị hủy thì việc thực hành quyền công tốcũng không đạt được hiệu quả thực sự Ngược lại, thực hành quyền công tố là

cơ sở phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơthẩm, nhưng chính hoạt động kiểm sát là yếu tố bảo đảm để thực hành quyềncông tố đạt được hiệu quả Hai hoạt động này cần được phối hợp nhịp nhàng

để bảo đảm được việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏlọt tội phạm và không xử oan người vô tội

Trang 31

1.4 Quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản liên quan; Điểm mới về vấn đề này trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trong bất kỳ lĩnh vực tố tụng nào, giai đoạn xét xử cũng được co i là giaiđoạn quan trọng nhất, bởi đây là giai đoạn công khai giải quyết các vấn đề vềnội dung vụ án, quyết định đến các quyền cơ bản của công dân Tính chấtquan trọng đó đã được pháp luật nước ta khẳng định bằng nguyên tắc: Không

ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 BLTTHS năm 2003) Để góp phần bảo đảmbản án của Tòa án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, pháp luật tốtụng Việt Nam đã quy định Viện kiểm sát có vị trí, nhiệm vụ quan trọng: vừa

là cơ quan thực hành quyền công tố (thực hiện việc buộc tội) vừa là cơ quankiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Tòa án

1.4.1 Quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản liên quan

Khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình

sự, Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, pháp luật hình sự,pháp luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân… Bằngnhững hoạt động nghiệp vụ của mình, Viện kiểm sát góp phần quan trọngcùng Tòa án làm sáng tỏ sự thật khách quan trong vụ án hình sự, xử lý đúngngười, đúng tội, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm Thông qua các hoạt độngcông tố trong xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị cá cơ quan, tổchức có biện pháp khắc phục, sửa chữa những sơ hở, thiếu sót trong công tácquản lý, các nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm Việc thực hànhquyền công tố trong xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát được th ực hiện bằngcác hoạt động như sau:

Trang 32

1.4.1.1 Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (chuẩn bị xét xử)

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì sau khi kết thúc điều tra,trong thời hạn hai ngày kể từ khi có kết luận điều tra, cơ quan điều tra phả igửi hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố đến Viện kiểm sát

để quyết định việc truy tố bị can (nếu vụ án không bị đình chỉ, tạm đình chỉđiều tra) Do thời hạn truy tố là rất ngắn và để bảo đảm việc giải quyết vụ ánđúng thời hạn luật định, sau khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kếtluận điều tra, đề nghị truy tố của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên được phâncông phải tiến hành việc kiểm tra, nghiên cứu… Viện kiểm sát nói chung vàKiểm sát viên nói riêng phải kiểm tra, nghiên cứu cẩn trọng, phải làm việcđầy đủ với tinh thần trách nhiệm của mình để có quyết định chính xác, có căn

cứ và đúng pháp luật vì quyết định truy tố hay không truy tố bị can ra trướcTòa của Viện kiểm sát có tác động rất lớn, không những đối với người bị truy

tố mà còn ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an xã hội

Nếu sau khi xem xét thấy có đầy đủ các yếu tố để truy tố bị can ra trướcTòa thì Viện kiểm sát phải làm cáo trạng truy tố bị can, sau đó chuyển hồ sơ

vụ án và bản cáo trạng cho Tòa án có thẩm quyền xét xử

Nếu thấy có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHSnăm 2003 hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can theo quyđịnh tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLTTHS năm 2003 thì Việnkiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đìnhchỉ vụ án (Điều 181) Viện kiểm sát có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyếtđịnh truy tố Khi rút toàn bộ quyết định truy tố, tức là rút tất cả những nộidung truy tố bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã đề nghị Tòa án đưa vụ án raxét xử thì trường hợp này Viện kiểm sát đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.Trường hợp chỉ rút một phần quyết định truy tố thì Viện kiểm sát đề nghị Tòa

án đình chỉ phần quyết định truy tố đã bị Viện kiểm sát rút và Hội đồng xét xửchỉ đưa ra xét xử phần không bị rút quyết định truy tố

Trang 33

Rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa là một biện pháp cần thiết,bảo đảm cho việc truy tố của Viện kiểm sát không bị oan, sai, khắc phụcnhững sai lầm của Viện kiểm sát sau khi đã có quyết định truy tố cũng nhưkhắc phục việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội hoặc khi có căn cứ mới

để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo

Trường hợp Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, Viện kiểm sát phảixem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định đó Nếu không thấyhợp pháp hoặc thiếu căn cứ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ cho Tòa án vàtiếp tục đề nghị truy tố, nếu ngược lại thì tiến hành điều tra bổ sung Trườnghợp những yêu cầu điều tra bổ sung không quá phức tạp và Viện kiểm sát cóthể tự tiến hành điều tra bổ sung được như hỏi cung bị can, lấy lời khai ngườilàm chứng hoặc trong trường hợp cần thiết mà pháp luật quy định bắt buộcViện kiểm sát tiến hành hỏi cung bị can (khoản 3 Điều 131, khoản 6 Điều 135BLTTHS năm 2003)… thì Viện kiểm sát tự mình tiến hành điều tra bổ sung.Nếu các yêu cầu điều tra bổ sung quá phức tạp thì Viện kiểm sát ra quyết địnhtrả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra bổ sung (Điều 168BLTTHS năm 2003)

Sau khi có kết quả điều tra bổ sung, Viện kiểm sát phải xem xét kỹ cáctài liệu này để đánh giá và đưa những quyết định đúng đắn Nếu tài liệu điềutra bổ sung không làm thay đổi nội dung của quyết định truy tố thì Viện kiểmsát chuyển lại hồ sơ vụ án cho Tòa án, giữ nguyên quyết định truy tố và đềnghị Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử Nếu tài liệu điều tra bổ sung làmthay đổi nội dung quyết định truy tố trước đây (như thay đổi tội danh hoặc xácđịnh thêm đồng phạm) thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyếtđịnh thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc quyết định bổ sung

… Nếu tài liệu điều tra bổ sung dẫn đến việc đình chỉ vụ án đối với một haymột số bị can trong vụ án thì phải tiếp tục lập cáo trạng truy tố các bị can cònlại

Trang 34

Như vậy có thể thấy, trước khi mở phiên tòa, Viện kiểm sát thực hànhquyền công tố thông qua việc rút quyết định truy tố và xử lí trường hợp Tòa

án trả hồ sơ để điều tra bổ sung Tuy nhiên, trong một số bài viết có đề cậpđến vấn đề Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung có được xem là trong giaiđoạn chuẩn bị xét xử hay không? Nếu không thuộc giai đoạn này thì đồngnghĩa hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạnchuẩn bị xét xử chỉ là xem xét tính có căn cứ trong quyết định truy tố củamình và giải quyết việc rút quyết định truy tố

Tác giả Nguyễn Hữu Khoa, trong Luận văn Thạc sỹ Luật học của mìnhcho rằng, vấn đề giải quyết việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa ánkhông thuộc phạm vi của giai đoạn chuẩn bị xét xử7 Tác giả chỉ ra rằng, khiTòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì phải xóa sổ thụ lí và việc trả hồ sơ củaTòa án phải theo quy định của Nghị quyết số 04-NQ/HĐTP, trong đó cần nêu

rõ thuộc trường hợp cụ thể nào quy định tại các điểm a, b, c Điều 179BLTTHS năm 2003 và những vấn đề cụ thể cần điều tra bổ sung Kết quảđiều tra bổ sung đa số làm thay đổi bản cáo trạng và quyết định truy tố hoặcđình chỉ vụ án Và khi hồ sơ vụ án đến cơ quan nào thì cơ quan đó thực hiệnnhiệm vụ quyền hạn của mình để giải quyết vụ án và có quyền quyết địnhviệc áp dụng, hủy bỏ, thay đổi biện pháp ngăn chặn Do đó, vấn đề điều tra bổsung không thuộc phạm vi của xét xử sơ thẩm (chuẩn bị xét xử)

Có ý kiến khác lại cho rằng, chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung chỉđúng với hoạt động của Viện kiểm sát, bởi thực chất quyền công tố là toàn bộhoạt động chứng minh rõ tội phạm Chỉ trên cơ sở hồ sơ vụ án, Viện kiểm sátmới đánh giá đúng, chính xác, toàn diện việc khởi tố đã đúng người, đúng tội,đúng pháp luật hay chưa? Chứng cứ thu thập đã đủ và có hợp pháp haykhông? Từ đó, mới quyết định việc truy tố Do vậy, trong thời gian nghiêncứu quyết định việc truy tố, nếu xét thấy hò sơ còn chưa đủ chứng cứ quantrọng, bị can còn phạm tội khác hay có đồng phạm khác, có vi phạm nghiêm

7 Luận văn thạc sĩ Luật học Nguyễn Hữu Khoa, Chức năng của Viện Kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hà Nội, 2010, tr23-24

Trang 35

trọng thủ tục tố tụng thì Viện kiểm sát phải trả hồ sơ lại cho cơ quan điều tra

để điều tra bổ sung là yêu cầu tất yếu Trái lại, hoạt động xét xử là giai đoạn

kế tiếp của quá trình tố tụng, không chi phối hoạt động công tố Do vậy quyđịnh Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại Điều 179 BLTTHS năm 2003 làkhông bảo đảm tính khách quan

Có thể thấy rằng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một biện pháp tố tụng

do Tòa án áp dụng nhằm khắc phục những thiếu sót về thủ tục tố tụng cũngnhư những chứng cứ quan trọng trong việc chứng minh tội phạm, bảo đảmviệc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội Với mục đích đó, việc Tòa án trả hồ

sơ để điều tra bổ sung không nằm ngoài phạm vi thực hành quyền công tố củaViện kiểm sát Viện kiểm sát thông qua hoạt động thực hành quyền công tốcủa mình xem lại nội dung và tính đúng đắn trong quyế t định truy tố của mìnhtrước đó, quyết định xem nên giữ nguyên, thay đổi quyết định truy tố hoặc lậpcáo trạng truy tố mới

1.4.1.2 Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:

Tại phiên tòa sơ thẩm, hoạt động thực hành quyền công tố của Việnkiểm sát được thực hiện thông qua Kiểm sát viên, thể hiện tập trung và rõ néttrong việc buộc tội thông qua bản cáo trạng đã truy tố, tham gia xét hỏi, luậntội và tranh luận

a) Đọc cáo trạng

Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu

có (Điều 206 BLTTHS năm 2003) Đọc bản cáo trạng là hoạt động của Kiểmsát viên tố cáo công khai tội lỗi của người phạm tội làm cơ sở cho Tòa án xét

xử vụ án Do đó, Kiểm sát viên phả i đọc nguyên văn cáo trạng rồi sau đó mớitrình bày những ý kiến bổ sung như: Giải thích về những chứng cứ đã thuthập được, đề nghị thay đổi tội danh nhẹ hơn tội danh đã truy tố, rút một phầntruy tố, đề nghị đình chỉ tố tụng đối với bị cáo đã chết…

Trang 36

Kiểm sát viên không được trình bày bổ sung về những vấn đề như truy tốthêm tội, thay đổi tội danh nặng hơn tội danh đã truy tố, không được bổ sungthêm bị cáo Viện kiểm sát chỉ có thể làm những việc này trước khi Tòa ánđưa vụ án ra xét xử bằng việc rút lại hồ sơ để truy tố thêm đối tượng, thêm tộihoặc đổi tội danh nặng hơn đối với bị cáo như nội dung đã trình bày ở phầntrên.

b) Xét hỏi

Tại phiên tòa, theo quy định tại Điều 207, 209, 210, 211, 215 BLTTHS

năm 2003, Kiểm sát viên có quyền xét hỏi đối với bị cáo và những người

tham gia tố tụng khác như người bị hại, người làm chứng, giám định viên,nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.Việc xét hỏi của Kiểm sát viên là nội dung hoạt động thực hành quyền công

tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án để bảo vệcáo trạng, khẳng định bị cáo có tội

Ngoài ra, việc xét hỏi của Kiểm sát viên còn có thể nhằm vào việc làmsáng tỏ các tình tiết khác mà trước đó chưa được cơ quan điều tra làm rõ , như

về hành vi phạm tội mới hoặc về đồng phạm khác của bị cáo

Chất lượng xét xử một vụ án hình sự cao hay thấp, phiên tòa có bảo đảmtính dân chủ, công bằng hay không, vai trò của Hội đồng xét xử nói chung vàKiểm sát viên nói riêng có được phát huy hay không phụ thuộc rất lớn vàophương pháp, nội dung và năng lực xét hỏi của các thành viên của Hội đồngxét xử, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng

Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS năm 2003 về trình tự xét hỏi, thìKiểm sát viên tham gia xét hỏi sau khi chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm nhândân đã hỏi xong Kiểm sát viên được quyền hỏi những người đã được hộiđồng xét xử hỏi trước đó, sau khi được phép của chủ tọa phiên tòa, ai trước, aisau theo chủ ý của mình Về nguyên tắc, Kiểm sát viên phải hỏi tất cả các tình

Trang 37

tiết mà cáo trạng đã truy tố, không bỏ sót bất cứ tình tiết nào, nhất là đối vớicác vụ án phức tạp, nhiều bị cáo, các bị cáo khai mâu thuẫn với nhau…

Việc quy định về trình tự xét hỏi theo BLTTHS năm 2003 có điểm bấtcập, đó là quy định Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân hỏi bị cáo xong thìKiểm sát viên mới được hỏi bị cáo Điều này có nghĩa là trong quá trình xéthỏi, Hội đồng xét xử đã tự mình làm sáng tỏ vấn đề, điều này không đúng vớichức năng cơ bản của Tòa án là chức năng xét xử chứ không p hải chứng minhtội phạm

Trên thực tế, có nhiều trường hợp bị cáo tại Cơ quan điều tra khai báo rấtđầy đủ về các tình tiết của vụ án, nhưng tại phiên tòa họ lại không khai, hoặckhai nhưng mâu thuẫn với lời khai của họ tại Cơ quan điều tra Đối với trườnghợp này và trường hợp người được xét hỏi vắng mặt tại phiên tòa, thì lời khaicủa họ tại Cơ quan điều tra cần được công bố tại phiên tòa Quy định này vôtình đã ép buộc người bị xét hỏi nhất thiết phải trả lời câu hỏi dẫn đến khôngbảo đảm được sự công minh, khách quan, vô tư tại phiên tòa

Đối với bị cáo bị cách ly, việc xét hỏi được thực hiện theo quy định củaBLTTHS năm 2003 Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung mà bị cáotrước đã khai báo, Hội đồng xét xử không cần thiết phải đọc lại nguyên vănlời khai của bị cáo trước tại phiên tòa và cho phép bị cáo bị cách ly có quyềnđặt câu hỏi đối với bị cáo đã khai trước

Đối với bị cáo bị cách ly, việc xét hỏi được thực hiện theo quy định tạiKhoản 1 Điều 209 BLTTHS năm 2003 Bị cáo bị cách ly được thông báo lạinội dung mà bị cáo trước đã khai báo, Hội đồng xét xử không cần thiết phảiđọc lại nguyên văn lời khai của bị cáo trước tại phiên tòa và cho phép bị cáo

bị cách ly có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đã khai trước

Khoản 2 Điều 209 BLTTHS năm 2003 quy định Hội đồng xét xử đặt câuhỏi yêu cầu “bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng” Nghĩa là sau khi Kiểmsát viên đọc bản cáo trạng, bị cáo được trình bày ý kiến của mình trong vụ án

Trang 38

Nội dung trình bày ý kiến có thể là đồng ý hoặc không đồng ý v ới nội dungbản cáo trạng về trách nhiệm của mình Bị cáo đồng ý hoặc không đồng ý vềnội dung nào cũng được trình bày rõ Bị cáo cũng có thể trình bày nhữngthêm những tình tiết khác của vụ án mà bị cáo thấy cần thiết.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 209, Kiểm sát viên hỏi về những tìnhtiết, chứng cứ liên quan đến việc buộc tội, chứng cứ vô tội của bị cáo Đâychính là nội dung xét hỏi, thể hiện trách nhiệm của Kiểm sát viên với vai trò

là người thực hành quyền công tố, không những bảo đảm việc truy tố đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật mà còn góp phần cùng hội đồng xét xử bảođảm việc xét xử công khai, dân chủ, công bằng Kiểm sát viên thực hànhquyền công tố không chỉ là người buộc tội mà còn là người gỡ tội cho bị c áo

Trường hợp bị cáo không trả lời, theo khoản 4 Điều 209 BLTTHS năm

2003 thì Kiểm sát viên “tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng,tài liệu có liên quan đến vụ án” Quy định như vậy là để bảo đảm thời gian xét

xử của Tòa án Tuy nhiên, Kiểm sát viên cũng cần lưu ý khi hỏi người khácxong thì quay lại tiếp tục hỏi bị cáo, lần này Kiểm sát viên cần dùng nhữngchứng cứ khác để đấu tranh với bị cáo

Một số tình huống thường xảy ra khi Kiểm sát viên xét hỏi bị cáo đó làtrường hợp bị cáo không nhận tội, phản cung, thay đổi lời khai, không khai…Trường hợp này Kiểm sát viên phải làm tốt công tác chuẩn bị các chứng cứ,

dự báo chính xác các tình huống xảy ra tại phiên tòa, bình tĩnh, nắm chắc nộidung, trình tự thủ tục xét hỏi một cách chủ động, khoa học nhằm làm rõ cáctình tiết của vụ án

c) Tranh luận tại phiên tòa

Theo Từ điển Luật học (Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển bách khoa) thì

“Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tốtụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có q uyền bình đẳng với nhau trong việcthu thập, đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình,

Trang 39

phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập, tranh tụng tại phiên tòa

là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa, xét xử b ởi hai bêntham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ýkiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa ánvới vai trò trung tâm trọng tài8

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Tranh luận là bàn cãi để tìm ra lẽ phải”9 Cótài liệu lại cho rằng: “Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vềhình sự là sự trả lời lại, sự bàn cãi giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bàochữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ sự thật khách quan

về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án,giúp cho Hội đồngxét xử ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.10

Như vậy, tranh luận là các bên (Kiểm sát viên và những người tham gia

tố tụng) đưa ra các quan điểm về giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tìnhtiết của vụ án Hay nói cách khác, tranh luận không chỉ là “được thua” mà cáiquan trọng là thông qua đó để làm rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án

Theo quy định tại Chương XXI BLTTHS năm 2003 thì tranh luận baogồm: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội (Điều 217 BLTTHS năm 2003); bịcáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về luậntội của Kiểm sát viên (khoản 2, 3 Điều 217 BLTTHS năm 2003); đối đáp giữaKiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa (Điều 218BLTTHS năm 2003); nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm về chứng

cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại phần xét hỏi, xét hỏi xongphải tiếp tục tranh luận (Điều 219 BLTTHS năm 2003)

* Luận tội

8 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, nxb Tư pháp 2006, tr.808

9 Từ điển tiếng Việt, nxb Đà Nẵng 1998, tr.327

10 Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Tài liệu tập huấn về kỹ năng đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên, tr.4

Trang 40

Luận tội có nghĩa là “xem xét, cân nhắc để định tội”.11Trình bày luận tội

là hoạt động của Kiểm sát viên để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáotại phiên tòa

Kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, theo quy định tại Điều 217 BLTTHSnăm 2003, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn

bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếuthấy không có căn cứ để kết tội, thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghịHội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội Sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên

có quyền rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tộidanh nhẹ hơn nhưng Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án Trong trườnghợp Hội đồng xét xử nhất trí với quyết định của Kiểm sát viên rút toàn bộquyết định truy tố thì ra bản án án tuyên bố bị cáo không phạm tội Việc rabản án trong trường hợp này có nghĩa là Tòa án đã xét xử và xác định bị cáokhông phạm tội Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107BLTTHS năm 2003 thì Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án

Trong trường hợp Hội đồng xét xử thấy việc rút truy tố của Kiểm sátviên là không có căn cứ, thì Hội đồng xét xử không có quyền kết tội bị cáo màquyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên NếuViện kiểm sát cấp trên đồng ý với Tòa án thì ra quyết định hủy bỏ quyết địnhrút truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới và Tòa án sẽ đưa vụ án ra tiếp tục xét

xử Nếu Viện kiểm sát cấp trên không đồng ý với kiến nghị của Tòa án thì raquyết định đình chỉ vụ án

BLTTHS năm 2003 quy định Kiểm sát viên trình bày lời luận tội chứkhông phải đọc bản luận tội như đối với bản cáo trạng Lời luận tội của Kiểmsát viên tại phiên tòa sơ thẩm là cơ sở để các bên tiến hành tranh luận Xét vềtiến trình tố tụng thì luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phi ên tòa làhành vi pháp lý của Kiểm sát viên mà pháp luật quy định để thực hiện chứcnăng buộc tội Xét về mục đích thì luận tội là luận cứ, quan điểm của Viện

11 Bộ Tư pháp, Dự thảo lần 7 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Ngày đăng: 05/04/2019, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2008)Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm , Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
Nhà XB: Nxb. Tưpháp
2. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thihành (2001), Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thihành
Tác giả: Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thihành
Nhà XB: Nxb Côngan nhân dân
Năm: 2001
4. Lê Cảm (2001), “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố”, Báo cáo tại Hội nghị khoa học: Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trong tình hình mới, do Ủy ban pháp luật của Quốc hội tổ chức (Tp. Hồ Chí Minh, ngày 2/4/2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố”,Báo cáo tại Hội nghị khoa học: "Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát trongtình hình mới
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
5. Lê Tiến Châu (2003) “ Một số vấn đề về chức năng buộc tội”, tạp chí Khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Một số vấn đề về chức năng buộc tội
6. Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2011
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/"2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/"2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02/06/"2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Nguyễn Minh Đức (2006), “Chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí kiểm sát (14), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sáttheo tinh thần cải cách tư pháp”,"Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Năm: 2006
11. Đỗ Văn Đương (2006) “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”,Nghiên cứu lập pháp số (7), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tưpháp ở nước ta hiện nay”,"Nghiên cứu lập pháp số
12. Phạm Hồng Hải (1999), “Bàn về quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, VKSNDTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoahọc cấp Bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiệnquyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
13. Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (10), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố”, "Tạp chí Nhà nướcvà pháp luật
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2001
14. Nguyễn Hữu Khoa (2010), Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng của Viện kiểm sát trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả: Nguyễn Hữu Khoa
Năm: 2010
15. Trương Đắc Linh (2008), “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức VKS trong chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí kiểm sát(16), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đắc Linh (2008), “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức VKS trongchiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2008
16. Nguyễn Đức Mai (1999), “Một số ý kiến về quyền công tố”. Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, VKSNDTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về quyền công tố”. Kỷ yếu đềtài khoa học cấp Bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chứcthực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 1999
17. Hồ Chí Minh (1986), Toàn tập, Tập 10, Nxb Sự thật, Hà Nội 18. Hồ Chí Minh (1986), Toàn tập, Tập 9, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập,"Tập 10, Nxb Sự thật, Hà Nội18. Hồ Chí Minh (1986),"Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh (1986), Toàn tập, Tập 10, Nxb Sự thật, Hà Nội 18. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
19. Khuất Duy Nga (2005), Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kì đổi mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vềcải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kìđổi mới
Tác giả: Khuất Duy Nga
Năm: 2005
20. Trần Đình Nhã (1999), “Bàn về khái niệm công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, VKSNDTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm công tố”, Kỷ yếu đề tài khoahọc cấp Bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiệnquyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Trần Đình Nhã
Năm: 1999
37. Sắc lệnh số 85/SL ngày 22 tháng 05 năm 1950, từ http://thuvienphapluat.vn/archive/Sac-lenh/Sac-lenh-85-SL-cai-cach-bo-may-Tu-phap-Luat-To-tung-vb36571t18.aspx. truy cập ngày 10/5/2016 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w