Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý, chưa thống nhất trong các quy định hiện hành của pháp luật về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự. 1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân
Trang 11 Khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật
1.1 Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp
1.1.1 Hiến pháp
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nguồn của các văn bản quy phạm pháp luật, cần phải được tôn trọng và bảo vệ nghiêm chỉnh Nội dung Hiến pháp quyđịnh những vấn đề quan trọng cơ bản như tổ chức quyền lực nhà nước , chế độ chính trị, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa, giáo dục…Nội dung những quy định của Hiến pháp xác định nềntảng pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước , đảm bảo quyền tự do, dân chủ và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đồng thời đây cũng là những cơ sở pháp lý cho việc đánh giá, xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành Hiến pháp có vai trò quan trọng như vậy, nên việc bảo vệ Hiến phápkhỏi những hành vi vi hiến là điều tất yếu phải làm Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong quá trình thực thi Hiến pháp luôn luôn xảy ra tình trạng vi phạm Hiến pháp
Tình trạng này không thể xảy ra trong nhà nước pháp quyền, bởi một trong những đòi hỏi cơ bản của nhà nước pháp quyền là tính tối cao và bấtkhả xâm phạm của Hiến pháp Muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì bảo vệ Hiến pháp là một nhu cầu hàng đầu cần phải được quan tâm
1.1.2 Vi phạm Hiến pháp
Là một dạng đặc biệt của vi phạm pháp luật, vi phạm Hiến pháp cũng được xem xét với đầy đủ các yếu tố cấu thành bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể Một hành vi được xem là vi phạmHiến pháp nếu hội tụ đủ các dấu hiệu như: năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể, tính trái Hiến pháp của hành vi, yếu tố lỗi Vi phạm Hiến pháp được thể hiện dưới hai dạng: hành động và không hành động Trên cơ sở đó, vi phạm Hiến pháp có thể tạm chia thành hai loại: vi phạm Hiến pháp một cách chủ động và vi phạm Hiến pháp một cách bị động
Trang 2Vi phạm một cách chủ động Đây là hình thức vi phạm khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thuộctrách nhiệm, quyền hạn của mình đã đặt ra những quy định trái với nhữngquy định của Hiến pháp hoặc là trái với tinh thần của Hiến pháp Dạng vi phạm này trong thời gian qua xảy ra khá phổ biến và chủ yếu tập trung ở các các văn bản dưới luật Nguyên nhân phát sinh ra những vi phạm này chủ yếu xuất phát từ hai lý do:thứ nhất, do các cơ quan (vi phạm) này hầu hết là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý, nên khi đưa ra các quy định để thực hiện việc quản lý thì luôn đưa ra những quy định tạo nhiều thuận lợi cho công việc của mình và vô hình trung, đẩy những bất lợi về phía người dân (đối tượng chịu sự quản lý) và vì thế mà đồng thời vi phạm các quyền của người dân được Hiến pháp quy định Thứ hai là, xuấtphát từ lý do thứ nhất, các cơ quan này không cho rằng những quy định của mình ban hành ra là vi phạm Hiến pháp và lập luận rằng, nó rất cần thiết cho việc thực hiện các chức năng, quyền hạn của mình Có thể dẫn chứng hàng loạt các việc thuộc dạng vi phạm này trong thời gian qua Ví
dụ như việc quản lý dân sự bằng hộ khẩu của các cơ quan nhà nước đã
Vi phạm các quyền hiến định của công dân, đặc biệt là quyền tự do cư trú.Mặc dù đến thời điểm hiện nay các vấn đề vướng mắc về quyền công dânliên quan đến hộ khẩu đã được cơ bản giải quyết bằng Luật cư trú, nhưng vấn đề chúng tôi muốn đặt ra ở đây là có những quy định của các cơ quan nhà nước đã trực tiếp hoặc là gián tiếp vi phạm các quyền hiến định của công dân Đã có việc các cơ quan nhà nước cứ làm mà không nghĩ đến Hiến pháp (như việc cấm đăng ký xe máy trước đây), việc nhiều bộ ngànhlàm sai luật, việc ban hành giấy phép, điều kiện kinh doanh, hạn chế
quyền kinh doanh của người dân… mà không bị một cơ quan nào phán xét cả
Vi phạm một cách thụ động Dạng vi phạm này thực chất là rất khó nhận thấy ở dạng vi phạm này thì các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ đã không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của Hiến pháp hoặc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định là phải ban hành
Trang 3Ví dụ, tại điều 70 Hiến pháp 1992 hay điều 25 Hiến pháp 2013 thì công dân có quyền tự do biểu tình theo quy định của pháp luật Phân tích điều luật này chúng ta sẽ thấy là công dân có quyền tự do biểu tình và muốn biểu tình thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và muốn người dân tuân thủ các quy định của pháp luật thì phải có pháp luật để người dân tuân theo nhưng thực tế, đến thời điểm hiện nay chúng ta chưa
có bất kỳ văn bản nào quy định chi tiết về việc tự do biểu tình của người dân Do đó, quyền biểu tình của người dân không thể thực hiện được trên thực tế như vậy, chúng ta thấy là khi các cơ quan nhà nước có trách
nhiệm đã không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cũng đồng nghĩa với việc vi phạm Hiến pháp
Hoặc, theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 hoặc điều 7 Hiến pháp 2013 thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệmcủa nhân dân nhưng nếu chỉ căn cứ vào quy định trên thì cử tri không thểthực hiện được quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử của mình, mà nhất thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách cụ thể
và chi tiết hơn Và đến thời điểm hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa ban hành bất kỳ văn bản nào quy định về vấn đề này
Ngoài ra, hình thức vi phạm này cũng có thể bắt gặp khi đối chiếu một quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 với thực tế Đó là quy định tại khoản 2 Điều 7: “Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực” cho đến khoản 2 điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2015 cũng quy định “Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn
bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để
có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết” nhưng trong thời gian qua, thực trạng luật chờ nghị định vẫn diễn ra một cách phổ biến trong công tác lập pháp của các cơ quan nhà nước ở nước ta như vậy, có thể thấy rằng, bất luận là hành động hay không hành động, thì vi phạm Hiến pháp cũng để lại
những hậu quả hết sức nghiêm trọng, khó mà khắc phục được
1.2 Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới
Trang 41.2.1 Bảo hiến
Hiện nay, xung quanh khái niệm bảo hiến có nhiều quan điểm khác nhau Có người cho rằng bảo hiến (bảo vệ Hiến pháp) là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp Bảo hiến ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, trong trường hợp này bảo hiến đã được đồng nhất với đảm bảo Hiến pháp Quan điểm khác lại cho rằng, bảo hiến là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản pháp luật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến Rõ ràng quan điểm thứ hai này có xu hướng thu hẹp nội hàm của khái niệm bảo hiến Trong khi đó, hoạt động bảo hiến không chỉ có mỗi việc xem xét và đánh giá tính hợp hiến hay vi hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Do đó, cần phải hiểu bảo hiến theo nghĩa rộng nhất Bởi lẽ, toàn bộ hoạt động của hệ thống nhà nước , của xã hội và các hành vi pháp lý tích cực của công dân, đặc biệt là hệ thống thanh tra, giám sát và xét xử, suy cho cùng đều có khả năng và mục tiêu bảo vệ Hiến pháp Lịch sử bảo hiến thế giới ghi nhận sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa hợp hiến phương Tây tự do, đối với sự hình thành nền tài phán Hiến pháp tại Châu Âu, Mỹ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn pháp lý đối vớiquyền lực nhà nước , nên thông qua đó, người ta có thể tìm được những biện pháp nhằm thực hiện sự giới hạn đối với quyền lực nhà nước
Lịch sử tài phán Hiến pháp thế giới có thể chia làm 4 giai đoạn, trong đó, giai đoạn I bắt đầu từ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai đoạn II tiếp nối từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước chiến tranh thế giới
II, giai đoạn thứ ba kéo dài từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, giai đoạn thứ tư- giai đoạn phát triển của nền tài phán Hiến pháp hiện đại trên toàn thế giới Có thể nói, mỗi giai đoạn đều có những đặc thù riêng về điều kiện chính trị, pháp lý và đều ghidấu ấn khác nhau đối với sự phát triển của nền tài phán Hiến pháp thế giới
như vậy, có thể thấy rằng: bảo vệ Hiến pháp là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể mà hiến pháp xác định thẩm quyền nhằm đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn hiến pháp, ngăn ngừa, chống lại và triệt tiêu
Trang 5hành vi vi hiến.
Nội hàm của khái niệm “bảo vệ Hiến pháp” ở đây chỉ bao hàm những hoạt động do những chủ thể mà Hiến pháp đã quy định thẩm quyền (hiến pháp xác định nhiệm vụ và quyền hạn nhất định liên quan trực tiếp đến việc đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, chống lại và triệt tiêu hành
vi vi hiến) tiến hành Bởi lẽ, Hiến pháp là văn bản chính trị – pháp lý do nhân dân thiết lập, thể hiện chủ quyền và ý chí của nhân dân; do đó, việc nhân dân giao cho ai chịu trách nhiệm bảo vệ hiến pháp cũng phải được thể hiện trong hiến pháp Chính nhân dân xác định nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể tiến hành hoạt động bảo vệ hiến pháp bằng các quy định của Hiến pháp Cách hiểu này sẽ loại trừ những chủ thể trong xã hội có tham gia thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ hiến pháp nhưng sự tham gia đó không xuất phát từ thẩm quyền hiến định mà chỉ là thẩm quyền mang tính phái sinh từ hiến pháp và được quy định bởi văn bản quy phạmpháp luật khác
1.2.2 Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Mỗi nhà nước xuất phát từ điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của mình mà xây dựng mô hình, hay cơ chế bảo vệ Hiến pháp phù hợp Ởbình diện chung nhất, có thể khái quát thành 3 mô hình cơ bản:
Thứ nhất là mô hình bảo hiến theo kiểu Mỹ (American Model), có đặc điểm là giao cho Toà án tư pháp xem xét tính hợp hiến của các đạo luật
Mô hình này thông qua việc giải quyết các vụ việc cụ thể, dựa vào các đơn kiện của đương sự, các sự kiện pháp lý cụ thể mà bảo vệ Hiến pháp
Mô hình này có ưu điểm là bảo hiến không trừu tượng vì nó liên quan trực tiếp đến những vụ việc cụ thể nên bảo vệ Hiến pháp một cách cụ thể
Mô hình này cũng có nhược điểm, giao quyền bảo hiến cho Toà án tư pháp thì thủ tục tố tụng rất dài dòng Hơn nữa, phán quyết chỉ có tính ràngbuộc đối với các bên tham gia tố tụng, tranh tụng vụ việc cụ thể đó, chỉ bảo vệ Hiến pháp từng vụ việc cụ thể Mô hình của Mỹ, sở dĩ giao cho Toà án tư pháp là xuất phát từ hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống Anh – Mỹ (Common Law), chủ yếu là án lệ Án lệ được xem là pháp luật để xét xử
Thứ hai là mô hình bảo vệ Hiến pháp của các nước châu Âu (European
Trang 6Model) Đây là kiểu thành lập cơ quan chuyên trách để thực hiện bảo vệ Hiến pháp Mô hình này có cái hay là kết hợp được việc giải quyết các vụ việc cụ thể, đồng thời giải quyết cả những việc có tác dụng chung cho cả
xã hội thông qua đề nghị của những người , cơ quan có thẩm quyền trong
bộ máy nhà nước Ví dụ như Tổng thống có thể đề nghị sửa đổi, bãi bỏ một văn bản nào đó của Nghị viện trái với Hiến pháp Nó giải quyết cả ở tầm vĩ mô và cả những vụ việc cụ thể liên quan đến quyền cơ bản của người dân được yêu cầu phán xét
Thứ ba là mô hình bảo hiến hỗn hợp kiểu Âu – Mỹ (The Mixed Model) Tức là kết hợp các yếu tố của cả 2 mô hình trên, gọi là mô hình bảo hiến của châu Âu và Mỹ, vừa trao cho cơ quan bảo hiến chuyên trách như Toà
án Hiến pháp, vừa trao quyền bảo hiến cho tất cả các toà án khi giải quyếtcác vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo luật được coi là không phù hợp với Hiến pháp Mô hình này được áp dụng ở Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, và một
số nước châu Mỹ Latin như Columbia, Venezuela, Peru, Braxin Ngoài ra cũng có mô hình giám sát thông qua các cơ quan như Nghị viện, Hội đồng nhà nước hoặc cơ quan đặc biệt nào đó của Nghị viện đảm đương luôn chức năng bảo vệ Hiến pháp
Ngoài các mô hình cơ chế bảo vệ Hiến pháp kể trên còn có mô hình giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật kiểu Pháp (The French Model) Theo mô hình này việc giám sát tính hợp hiến chỉ được tiến hành đối với các văn bản được phê chuẩn bởi Hạ viện nhưng chưa được ban hành bởi Tổng thống Mô hình kiểu Pháp cho phép việc giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành ngay trước khi văn bản được ban hành do đó hạn chế đáng kể số văn bản vi hiến, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật nhưng điểm yếu của
nó là tạo điều kiện cho cơ quan bảo hiến (Hội đồng Hiến pháp) can thiệp quá nhiều vào quá trình lập pháp của Nghị viện
Lý thuyết về bảo hiến thường chia các mô hình bảo hiến bằng cơ quan tư pháp thành hai mô hình cơ bản: mô hình bảo hiến phi tập trung hoá với đại diện tiêu biểu là Mỹ và mô hình bảo hiến tập trung hoá với đại diện tiêu biểu là Đức Mô hình bảo hiến kiểu Mỹ được thiết lập đầu tiên tại Mỹ
Trang 7(năm 1803) và được xem là mô hình bảo hiến phi tập trung bởi quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật thuộc về tất cả các toà án Hầu hết các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ đều áp dụng mô hình này Ngoài ra mô hình bảo hiến kiểu Mỹ còn được áp dụng ở một số nước theotruyền thống Luật La Mã ở châu Mỹ Latin và ở một số nước châu Âu như
Hy Lạp, Na Uy, Đan Mạch…
Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu được thiết lập đầu tiên ở Áo (năm 1920)
và được áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu và một số nước châu Mỹ Latin, châu Á, châu Phi… Mô hình này được gọi là mô hình bảo hiến tập trung hoá bởi chỉ có một cơ quan chuyên trách được giao quyền giám sát, bảo vệ Hiến pháp
Ở các nước Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba… nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan đảm nhiệm, mà trách nhiệm cao nhất thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát… (Điều 62 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thực hiện các chức năng, quyền hạn sau đây: (1) Sửa đổi Hiến pháp; (2) Giám sát thực thi Hiến pháp…”; Điều 67 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Ủy ban thường
vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “(1) Giải thích Hiến pháp, giám sát thực thi Hiến pháp…”)
Sở dĩ các nước trên thế giới sử dụng các mô hình bảo hiến khác nhau, vì theo học thuyết Mác-Lênin về các hình thái kinh tế – xã hội: mỗi hình tháikinh tế – xã hội tương ứng với chế độ kinh tế của nó, có một kiểu nhà nước , hiến pháp, pháp luật nhất định
2 Nhu cầu khách quan của cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật
2.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ hiến pháp
2.1.1 Khái niệm cơ chế bảo vệ hiến pháp
Theo nghĩa rộng, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là toàn bộ những yếu tố, phương tiện, phương cách và biện pháp nhằm đảm bảo cho hiến pháp
Trang 8được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra.
Với nghĩa hẹp, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một thiết chế được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật, để thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm có thể xảy ra
Có thể định nghĩa rằng, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một tổng thể các yếu
tố có quan hệ mật thiết, tượng tác lẫn nhau, hình thành một hệ thống và phương thức vận hành của hệ thống đó để tiến hành hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhằm đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, ngăn ngừa và chống lại mọi hành vi vi phạm hiến pháp.[14]
2.1.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ hiến pháp
Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bao gồm các yếu tố: thể chế, thiết chế và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp Thể chế bảo vệ hiến pháp: thể chế bảo vệ Hiến pháp là các nguyên tắc, quy phạm được sắp xếp một cách logic, hợp thành một hệ thống thống nhất, định hướng và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp
Thiết chế bảo vệ Hiến pháp: thiết chế bảo vệ Hiến pháp được hiểu là các
cơ quan nhà nước , cá nhân được Hiến pháp quy định nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành các hoạt động bảo vệ Hiến pháp Việc tổ chức các thiết chế bảo vệ hiến pháp phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm chế độ chính trị, điều kiện kinh tế – xã hội và truyền thống pháp lý của mỗi nước Thiết chế bảo vệ Hiến pháp là yếu tố trung tâm, là phần “động cơ” của toàn bộ cơ chế “Động cơ” đó bao gồm những bộ phận nào, quyền năng, sức mạnh hay “công năng” của mỗi bộ phận ra sao sẽ giữ vai trò quyết định hiệu quả của hoạt động bảo vệ Hiến pháp
Phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp: để thiết chế bảo vệ Hiến pháp hoạt động và thể chế bảo vệ Hiến pháp được thực thi, phải có phương thức vận hành phương thức vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp tồn tại song song với thiết chế và thể chế bảo vệ Hiến pháp Trong cơ chế bảo vệ Hiến pháp, thể chế và thiết chế là những yếu tố thuộc diện cấu
Trang 9trúc, còn nguyên tắc và phương thức hoạt động thể hiện mối quan hệ và quy trình vận hành như vậy, phương thức vận hành là phương pháp, hình thức, biện pháp thực hiện hoạt động bảo vệ hiến pháp của thiết chế được giao thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp.
Mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế bảo vệ Hiến pháp: thể chế bảo vệ Hiến pháp là yếu tố thiết lập nên toàn bộ cơ chế bảo vệ Hiến pháp, nó có
ý nghĩa như là việc “khai sinh” và “đặt tên” cho cơ chế, xác định mục đích, nhiệm vụ của cơ chế bảo vệ Hiến pháp, trao thẩm quyền cho thiết chế bảo vệ Hiến pháp Thiết chế bảo vệ Hiến pháp là “cỗ máy” hiện hữu của cơ chế
Thiết chế – với ý nghĩa là một yếu tố của cơ chế bảo vệ Hiến pháp tồn tại trong thực tế được cấu trúc bởi các bộ phận của nó Khi xem xét thiết chế bảo vệ Hiến pháp, người ta xem thiết chế bảo vệ Hiến pháp thuộc thể loạinào, bao gồm các bộ phận gì; tính chất của từng bộ phận; vị trí, chức năngcủa từng bộ phận có đảm bảo thực hiện được các thẩm quyền mà thể chế trao cho thiết chế bảo vệ hiến pháp hay không như vậy, thể chế bảo vệ Hiến pháp quyết định “hình hài”, “cấu trúc”, “quy mô” của thiết chế bảo
vệ Hiến pháp Ngước lại, việc các bộ phận của thiết chế bảo vệ Hiến pháphoạt động trong thực tế ra sao sẽ thể hiện tính đúng đắn, sự phù hợp, tính khả thi của thể chế bảo vệ Hiến pháp (nói cách khác là thể hiện hiệu lực của các nguyên tắc và quy phạm về bảo vệ Hiến pháp)
Nguyên tắc và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp là yếu
tố quan trọng, không thể thiếu của cơ chế bảo vệ Hiến pháp Việc các chủ thể thực hiện các nguyên tắc, phương pháp, hình thức theo những thủ tục, quy trình trong cơ chế bảo vệ Hiến pháp giúp cho “cỗ máy” thiết chế bảo
vệ Hiến pháp chuyển từ trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động” Chính thiết chế bảo vệ Hiến pháp là chủ thể vận hành, thực hiện các nguyên tắc, phương thức bảo vệ Hiến pháp trên cơ sở pháp
lý là thể chế bảo vệ hiến pháp Bằng các phương pháp, hình thức, quy trình, thủ tục mà các thiết chế tiến hành các hoạt động bảo vệ hiến pháp, nguyên tắc và phương thức vận hành tạo nên “trạng thái hoạt động” của
cơ chế bảo vệ Hiến pháp Nếu cơ sở pháp lý cho hoạt động của thiết chế
Trang 10bảo vệ hiến pháp cụ thể, rõ ràng, khoa học, đồng bộ và khả thi, cấu trúc của thiết chế bảo vệ Hiến pháp phù hợp, các bộ phận cấu thành của nó có
đủ năng lực, các nguyên tắc, hình thức, phương pháp, thủ tục hợp lý, côngkhai, rõ ràng, minh bạch thì sẽ đảm bảo tính liên thông, kịp thời và hiệu quả của toàn bộ cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Tóm lại, cơ chế bảo vệ Hiến pháp hoạt động dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố của cơ chế, sự ảnh hưởng và quy định lẫn nhau giữa các yếu tố của cơ chế bảo vệ Hiến pháp Thiếu bất cứ yếu tố nào thì cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng không thể hoạt động được Bất cứ khiếm khuyết nào của mỗi yếu tố hay sự không phù hợp, không tương thích giữa các yếu tố cấu thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp đều ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả và chất lƣợng của mục tiêu bảo vệ Hiến pháp
2.2 Cơ chế nhà nước, cơ chế xã hội và cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
2.2.1 Cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
Xét trên khía cạnh lịch sử, bản thân Hiến pháp cũng chứa trong nó nội dung về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước , bảo vệ quyền con người và quyền công dân Do vậy, Hiến pháp các nước thường xác lập luôn trong nội dung Hiến pháp về vị trí, vai trò, các chủ thể của Nhà nước
và cơ chế vận hành giữa các chủ thể ấy, hay còn gọi là cơ chế bảo vệ Hiếnpháp
Trong tổ chức bộ máy nhà nước có những cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp tạo thành hệ thống nhà nước bảo vệHiến pháp như vậy, ở một mức độ nào đó, Hiến pháp đã được bảo vệ ở cấp độ nhà nước , các tranh chấp, vi phạm Hiến pháp quan trọng và phổ biến mà các thiết chế bảo hiến chuyên trách các nước vẫn giải quyết như: luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác, quyền lập hội, quyền bầu cử… đều được giải quyết trong hệ thống này Hệ thống này được gọi là cơchế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Về mặt lý luận, trong cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, có thể nhận thấy hai mô hình sau:
Thứ nhất, Trong mô hình bảo hiến phi tập trung, thẩm quyền thẩm tra tínhhợp hiến không được trao cho một cơ quan nhà nước cụ thể, mà được trao
Trang 11cho tất cả các thẩm phán và tòa án (Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản…) Cơ chế bảo vệ hiến pháp của Hoa Kỳ là điển hình của mô hình bảo vệ hiến pháp phi tập trung Sự phân chia quyền lực trong Hiến pháp Hoa Kỳ được thiết lập trên cơ sở phân chia ba nhánh quyền lực nền tảng và chế độ đối trọng (check and balance) để thực hiện cơ chế kiểm soát giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp Học thuyết kiểm soát hiến pháp được hình thành ở Hoa Kỳ từ vụ án nổi tiếng Mabury Madison năm 1803 được xét xử bởi Chánh án John Marshall và theo ông thẩm quyền bảo vệ hiến pháp cần được thiết lập và trao cho các thẩm phán và tòa án.
Thứ hai, mô hình bảo vệ hiến pháp tập trung: Trong mô hình bảo hiến tập trung, thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến chỉ được trao cho một cơ quan nhà nước cụ thể Đó có thể là tòa án hiến pháp, hội đồng hiến pháp hoặc một thiết chế chuyên trách khác được quy định trong Hiến pháp Các nước Đức, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ,… thành lập Tòa
án Hiến pháp; các nước Pháp, An-giê-ri, Li-băng… thành lập Hội đồng Hiến pháp Cơ chế bảo vệ hiến pháp của Cộng hòa Pháp là điển hình của
mô hình bảo vệ hiến pháp tập trung Hội đồng Hiến pháp (Conseil
constitutionel) độc lập với nghị viện và đƣa ra các quyết định có tính ràngbuộc đối với các cơ quan và tòa án
2.2.2 Cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp
Song song tồn tại cùng cơ chế bảo hiến mang tính chất nhà nước trên là cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chất xã hội với chủ thể thực hiện
là các cơ quan, tổ chức Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội khác, công dân Tuy không mang tính quyền lực nhà nước khi tham gia vào hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhưng với tầm ảnh hưởng sâu rộng, các chủ thể này vẫn thực hiện khá tốt vai trò bảo hiến của mình Kết luận trên dựa trên cơ sở các hoạt động giải thích Hiến pháp, tham gia tổ chức thực hiện các quy định của Hiến pháp cũng như việc giáo dục ý thức các
thành viên tổ chức mình và quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng trong xã hội, đồng thời tích cực tham gia vào việc góp ý, xây dựng pháp luật, giám sát việc thực thi Hiến pháp do các chủ thể nêu trên thực hiện một cách đầy đủ và rộng rãi, khiến cho hoạt động bảo hiến thực sự được
Trang 12tuyên truyền đến người dân, cộng đồng và lan truyền ra toàn thể xã hội Với những kết quả hoạt động như vậy, có thể đánh giá khách quan rằng,
cơ chế bảo hiến mang tính chất xã hội đã ít nhiều chứng tỏ được tầm vóc
và sức ảnh hưởng to lớn của mình trong việc thực thi sứ mệnh “bảo vệ Hiến pháp” Trong khuôn khổ đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu hệthống pháp luật (nói chung) với tư cách là một cơ chế (cũng là một thành
tố bất biến của bất cứ cơ chế bảo hiến chính thức nào) bảo vệ Hiến pháp, trong đó bao gồm cả cơ chế xã hội bảo vệ Hiến pháp khi cơ chế này được Hiến pháp, luật ghi nhận
2.2.3 Cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
Về mặt lý luận, theo học thuyết Mác – Lênin, chính trị phản ánh mốiquan hệ giữa các nhóm xã hội nói chung; mà tập trung nhất là hình thái giai cấp trong xã hội về việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước – một loại quyền lực chính trị đặc biệt, giai cấp đó có nhiều thuận lợi để thực hiện các mục tiêu chínhtrị của mình Để cân bằng được mối quan hệ giữa chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước , Hiến pháp các nước phải quy định (ở những mức độ và hình thức không giống nhau) về chế độ chính trị, các quyền về chính trị của công dân, quy định về các đảng phái chính trị,… để làm sao vừa đảm bảo dân chủ, vừa giữ được trật tự chính trị và trật tự nhà nước , xã hội Đócũng là cách mà cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp
Xét trường hợp cơ chế chính trị bảo vệ Hiến pháp ở Mỹ: nước Mỹ có nhiều đảng phái chính trị (ĐPCT) khác nhau, trong đó có cả đảng cộng sản và một số đảng xã hội, nhưng từ trước đến nay, chỉ có hai đảng lớn là Dân chủ và Cộng hoà Hai đảng này luôn chiếm ƣu thế ở mọi cấp độ chính quyền và luôn khống chế nền chính trị Mỹ Hệ thống lƣỡng đảng
đã bắt rễ sâu trong nền chính trị Mỹ và cho dù có đảng thứ ba xuất hiện trong các cuộc bầu cử Tổng thống, thì đảng thứ ba cũng chưa bao giờ giành được chiến thắng Các đảng thiểu số đôi khi cũng giành được
một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò gì quan trọng trong nền chính trị Mỹ Cuộc ganh đua giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hoà là một trong những đặc điểm nổi bật và lâu đời nhấtcủa nền chính trị Mỹ kể từ những năm 1860, phản ánh những đặc trong về
Trang 13mặt cơ cấu của hệ thống chính trị Mỹ và sự khác biệt về mặt đảng phái của Mỹ so với các nước khác.
Cho dù ĐPCT ở Mỹ có vai trò hạn chế so với nhiều nước khác, nó vẫn là nhân tố quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ, từ động viên quần chúng tham gia các sinh hoạt chính trị đến chi phối phần nào đường lối chính sách của Nhà nước , từ bầu cử đến chi phối nhất định về mặt tổ chức, hoạtđộng của các cơ quan nhà nước , đặc biệt là cơ quan lập pháp
Trong lĩnh vực bầu cử, trước hết ĐPCT cung cấp ứng cử viên cho các cuộc bầu cử và giúp cho cử tri sự lựa chọn Các đảng tổ chức luân phiên các chương trình nhằm bầu ra ứng cử viên để giúp các cử tri không phải đối mặt với sự lựa chọn giữa rất nhiều cá nhân mà người nào cũng đảm bảo đưa ra một chương trình tốt nhất Đa số các cử tri Mỹ là những ngườikhông đặc biệt chú ý đến chính trị Chính vì vậy, các đảng đóng vai trò như những tổ chức trung gian trong quá trình bầu cử, bằng cách điều hànhđằng sau những vấn đề lớn và sàng lọc các ứng cử viên Bên cạnh đó, các
tổ chức đảng cũng khuyến khích người dân tham gia các chiến dịch vận động tranh cử, đóng góp tiền, hay thậm chí cả việc chạy đua vào các chức
vụ trong bộ máy nhà nước nhưng trên thực tế, rất ít ứng cử viên độc lập được bầu vào các chức vụ cao trong chính quyền, bởi hầu hết những người giành được vị trí của mình
– nhất là các chức vụ đứng đầu chính quyền – đều phải sử dụng bộ máy của đảng tranh cử Ngay cả Jimmy Carter – một người không đảng phái,
đã giành được sự chỉ định vào năm 1976 bằng cách đánh bại các lực
lượng có tổ chức bên trong đảng Dân chủ trong các cuộc bầu cử ứng viêncủa đảng – cũng chỉ giành được thắng lợi khi ông mang “nhãn mác” của đảng Dân chủ trong cuộc tổng tuyển cử Và trong một chừng mực nào đó,
có thể nói các ĐPCT ở Mỹ đóng vai trò như các tổ chức quản lý nhân sự, giới thiệu người của mình tham gia các cuộc hành cử và tiến cử người của mình vào các vị trí trong chính quyền Thông qua vận động tranh cử, các đảng này còn đóng vai trò xã hội hoá các vấn đề chính trị nữa
Trong bộ máy lập pháp, ở cả hai viện của Quốc hội, cơ cấu tổ chức, thủ tục thông qua các điều luật đều được thực hiện trên cơ sở phân chia về
Trang 14mặt đảng phái Bên cạnh đó, các đảng cũng tạo ra một sự liên kết quan trọng giữa bộ máy hành pháp và lập pháp khi các Tổng thống kêu gọi sự hợp tác của các nhà lãnh đạo đảng của họ tại Quốc hội Trong trường hợp
đó, các bộ phận của đảng đã tạo nên một chiếc cầu nối liền “tam quyền phân lập” với mục tiêu chung là giành lợi thế về chính trị, chẳng hạn như giành quyền kiểm soát Nhà Trắng hay Quốc hội Do đó, các đảng đối lập luôn cố gắng chứng minh rằng họ có đủ phẩm chất hơn Chính phủ đương nhiệm trong việc điều hành đất nước và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm ngay khi nào cử tri trao cho họ cơ hội và thường xuyên chỉ trích chính sách của đảng khác, nhằm nâng cao uy tín của đảng mình, nhất là trong các kỳ bầu cử như vậy, các đảng luôn đưa ra các sự lựa chọn khác nhau
và vô hình chung trở thành công cụ sắp xếp nên sự chuyển giao quyền lựcnhìn chung thường diễn ra một cách trật tự
Trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, các ĐPCT đóng vai trò quan trọng Tổ chức và chương trình hành động của các ủy ban trong Quốc hội chịu sự tác động không nhỏ của các ĐPCT Việc phân chia tỷ lệ thành viên trong các uỷ ban và tiểu ban của Quốc hội tượng ứng với số ghế của đảng đó trong Quốc hội đã hàm chứa tính đảng phái trong các hoạt động của uỷ ban và tiểu ban Đảng chiếm đa số trong Quốc hội được quyền chỉ định 2/3 số nhân viên trong các ủy ban và tiểu ban của Quốc hội Tỷ lệ này làm cho việc thông qua những dự luật phù hợp với chương trình hànhđộng của đảng đang nắm đa số tại Quốc hội sẽ dễ dàng hơn Trong những vấn đề mà hai đảng Cộng hoà và Dân chủ có bất đồng, việc bỏ phiếu theo đảng phái được thể hiện rất rõ Các nghị sỹ Cộng hoà và Dân chủ cũng thường bị phân liệt trong những vấn đề đang chia rẽ hai bên ở bên ngoài nghị trường Ví dụ trong nhiều năm, phần lớn các nghị sỹ thuộc đảng Dânchủ tại Hạ viện đã ủng hộ việc Chính phủ can thiệp vào các hoạt động củanền kinh tế và tăng phúc lợi xã hội, trong khi các nghị sỹ Cộng hoà lại phản đối
Qua khảo sát có thể thấy rằng, cơ chế chính trị bảo vệ hiến pháp không được quy định bằng pháp luật như cơ chế nhà nước , mà thường được biểu hiện ở dạng
văn hóa, truyền thống chính trị, ở đó diễn ra sự đấu tranh và thỏa hiệp
Trang 15chính trị (vận động bầu cử, vận động hành lang, thường lƣợng), điều này được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và cũng là cách để đảm bảo sựtrật tự trong đời sống chính trị, tổ chức quyền lực nhà nước , góp phần duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội Đó là biểu hiện và là tác dụng của cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng chính trị.
2.3 Những dạng thức vi phạm Hiến pháp ở nước ta thời gian qua
Theo số liệu được công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ tư pháp, từ năm 2003 đến hết tháng 3/2013, trên tổng số các văn bản đã tiếp nhận, các bộ, ngành (bao gồm cả Bộ tư pháp) và địa phương đã kiểm tra được 2.353.490 văn bản; trong đó, các bộ, ngành kiểm tra được 43.262 văn bản Qua công tác kiểm tra văn bản theo thẩm quyền do Bộ tư pháp tiến hành, toàn ngành đã phát hiện được 63.277 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản, chiếm 62,3% số văn bản đã kiểm tra Số văn bản vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản chiếm 20,8% tổng số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) đã kiểm tra, còn lại là các văn bản QPPL có dấu hiệu vi phạm về căn cứ pháplý; thẩm quyền ban hành; trình tự, thủ tục ban hành; thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Báo cáo của Bộ tư pháp cho thấy trong năm 2014, số lƣợng văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật vẫn gia tăng
Trong 10 tháng đầu năm 2014, các Bộ, cơ quan, địa phương đã kiểm tra
và phát hiện 9.017 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản (chiếm tỷ lệ 22%) Trong số đó có hơn 1.500 văn bản QPPL có dấu hiệu vi phạm về thẩm quyền ban hành, nội dung văn bản
Năm 2014, Bộ tư pháp cũng đã phát hiện 885 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp Tình trạng trên cho thấy
sự hạn chế về chất lƣợng trong xây dựng và ban hành văn bản QPPL của các cơ quan hành chính nhà nước thời gian qua và bên cạnh đó sự không chấp hành hoặc chấp hành chưa đúng hiến pháp, luật còn thể hiện ở tất cả các nhánh quyền lực ở các dạng khác nhau không chỉ dưới góc độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vi hiến hoặc không đúng quy định
Trang 16của luật Sự vi hiến còn ở những hành động không tuân thủ hiến pháp hoặc không hành động theo yêu cầu của Hiến pháp Vi hiến trong hoạt động lập pháp
Theo Hiến pháp 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69) Quốc hội có những nhiệm vụ và
quyền hạn:
– Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
– Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghịquyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước , Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
– Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước ;
– Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước , Phó Chủ tịch nước , Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ Tướng Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước , người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ Tướng Chính phủ, Bộ trường và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước , Chủ tịch Quốc hội, Thủ Tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ
Trang 17quốc, Nhân dân và Hiến pháp;
– Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
– Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước , Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ Tướng Chính phủ, toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
– Quyết định trong cầu ý dân (Điều 70)
Căn cứ Hiến pháp 2013, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003, Luật Hoạt động Quốc hội và hội đồng nhân dân 2015 đã quy định nội dung giám sát Hiến pháp của cơ quan lập pháp và dân cử là rất quan
trọng Trong đó, các văn bản luật đều yêu cầu cơ quan lập pháp, cơ quan dân cử có trách nhiệm giám sát Hiến pháp (giám sát việc thực hiện, thi hành Hiến pháp, luật) của các tổ chức cá nhân Cơ quan lập pháp có trách nhiệm làm luật, sửa đổi luật và ngăn chặn các văn bản vi hiến, trái luật Việc làm luật nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, tạo hành lang pháp lý cần thiết để các quy định của Hiến pháp đi vào thực tế, đặc biệt làhiện thực hóa các quyền tự do dân chủ của công dân, quyền con người (Điều 69, 70 Hiến pháp 2013, Điều 5 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015) nhưng thực tế, không phải lúc nào cơ quan lập pháp cũng thực hiện đầy đủ quyền và đồng thời là nghĩa vụ của mình Việc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ Hiến định bởi nó trực tiếp hạn chế các quyền tự do cơ bản của công dân, hạn chế sự phát triển các mặt của đất nước , ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các nhánh quyền lực khác Thời gian vừa qua, khi Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực, nhiều nội dung trong đó chưa được cụ thể hóa bằng luật và dẫn đến việc
áp dụng pháp luật tùy tiện để hạn chế các quyền tự do của nhân dân Ví
dụ Luật biểu tình – cụ thể hóa quyền dân sự biểu đạt ý kiến đúng pháp luật của công dân được nêu ra từ Hiến pháp 1946 nhưng vẫn bị trì hoãn trình Quốc hội Việc trì hoãn của Bộ công an, Bộ quốc phòng diễn ra trong nhiều năm nhưng Quốc hội cũng chỉ tác động có tính hình thức dướidạng yêu cầu mà chưa có biện pháp mạnh trong phạm vi quyền lực được giao như đƣa ra bỏ phiếu tín nhiệm người chịu trách nhiệm trình dự án
Trang 18luật Luật tổ chức tòa án nhân dân chậm thông qua đã tác động tiêu cực đến tổ chức và hoạt đông của toàn bộ ngành tòa án, các thẩm phán hết nhiệm kỳ chậm tái bổ nhiệm trong thời gián rất dài, tâm lý cán bộ tòa án xáo trộn đợi chờ quyết định chính thức việc lập các tòa án mới…) Việc Quốc hội không hành động, không thực hiện đúng và đầy đủ quyền làm luật của mình chính là sự vi hiến Thực tế, nhiều ngành lĩnh vực trong tổ chức và hoạt động có sự vi phạm các quy định của hiến pháp, luật nhưng Quốc hội không thực hiện đúng chức trách được giao khi thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ hiến pháp, luật Thiếu tính kiên quyết hoặc không giải thích Hiến pháp kịp thời dẫn đến sự lạm quyền trong thực hiệncông việc ở một số nhánh quyền lực Với các cá nhân là lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để xảy ra tình trạng vi hiến trong lĩnh vực ngành mình phụ trách cũng chưa một ai bị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm hoặc bãi miễn như một chế tài mà Hiến pháp trao quyền thực hiện Tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý dẫn đến tính giám sát tối cao của Quốc hội bịhạn chế Trong ban hành luật, Quốc hội cũng có sự vi hiến khi có những điều luật
Vi phạm các quyền cơ bản của công dân, ví dụ điều 292 Bộ luật hình sự
2015 Quy định tội Cung cấp trái phép dịch vụ mạng máy tính mạng viễn thông đã vi phạm điều 33 Hiến pháp 2013 về Quyền tự do kinh doanh và đây cũng chỉ là một lỗi trong số hơn 90 lỗi dẫn đến Bộ luật này phải chỉnhsửa, lùi thời hạn có hiệu lực Đây có thể nói là sự vi Hiến ở mức cao nhất của cơ quan lập pháp
Vi hiến trong hoạt động hành pháp
Hiến pháp 2013 có quy định quyền hành pháp thuộc về Chính phủ Hoạt động hành pháp là hoạt động của chính phủ và các thành viên chính phủ
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn hiến định và luật định của mình cũng như hoạt động của các cơ quan, cá nhân thuộc bộ máy hành chính nhà nước để thực hiện quyền hành pháp như vậy, theo Hiến pháp
2013 sự vi hiến của hành pháp xảy ra
khi tập thể cơ quan hành pháp hoặc thành viên chính phủ như Thủ Tướng,các Phó Thủ Tướng, các Bộ trường thực hiện nhiệm vụ quyền hạn được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ; của các cơ quan, cá
Trang 19nhân thuộc bộ máy hành chính nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Sự vi phạm Hiến pháp trong hoạt động hành pháp bao gồm:
– Soạn thảo các dự luật có quy định trái Hiến pháp, không đúng trình tự thủ tục Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có nội dung
và quy trình,thủ tục trái với các quy định của Hiến pháp; ban hành các văn bản dưới luật dễ gây lạm quyền khi thi hành công vụ Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2011 – 216 của Chính phủ cho thấy, mặc dù vẫn đề cao và tổng kết những kết quả đạt được trong việc thi hành Hiến pháp như hoạt động chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc tổ chức thi hành Hiến pháp hay tích cực triển khai kế hoạch thực hiện và đề xuất 82 dự án luật, pháp lệnh cần sửa đổi hoặc xây dựng mới để thi hành Hiến pháp 2013, v.v… nhưng thực tế phản ánh cho thấy kết quả đạt được chưa thực sự có hiệu quả Điều 5 LuậtBan hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật trong phải thể hiện khi xây dựng và ban hành (tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức trình tự, thủ tục xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Điều này đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và các luật khác phải phù hợp với Hiến pháp nhưng tính tối cao của Hiến pháp với các văn bản quy phạm pháp luật thực chất vẫn còn bị cơ quan hành pháp vi phạm các yêu cầu phù hợpvới Hiến pháp ngay từ khâu soạn thảo và khi đi vào cuộc sống Cụ thể là
sự thể hiện các văn bản nghị định, thông tư hạn chế, xâm phạm đến các quyền tự do hiến định của công dân Ví dụ: quyền sở hữu, quyền kinh doanh, hạn chế sở hữu xe theo thông tư 02/2003/TT-BCA dẫn đến nhiều
cá nhân phải bỏ thêm chi phí để được sở hữu xe máy hay Nghị định
60/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định các doanh nghiệp in không đượcphép hợp tác với các cơ sở in khác dẫn đến doanh nghiệp không thể hoàn thành hợp đồng vì họ chỉ có thể làm được một khâu trong công đoạn sản xuất hoặc ở mức độ Bộ luật cao hơn, điều 320 Bộ luật dân sự 2005 cho phép công dân dùng tài sản là bất động sản để đảm bảo nghĩa vụ quy địnhtại Điều 318 nhưng thực tế Luật Đất đai lại chỉ cho phép dưới hình thức thế chấp như vậy để tiện quản lý của mình, cơ quan hành pháp đã đẩy khó khăn cho người dân và không lường hết những phiền toái, khó khăn,thiệt mà người dân gặp phải; vi phạm trực tiếp các quyền hiến định của công dân Trong quá trình xây dựng pháp luật của các bộ ngành vẫn có
Trang 20tình trạng xây dựng văn bản với các điều khoản trái Hiến pháp và luật (Ví
dụ các bộ ngành vẫn xây dựng và ban hành các điều kiện đầu tư kinh doanh mới trái với sự kiểm soát của Luật Đầu tư với các điều kiện đầu tư kinh doanh)
– Ngăn cản hoặc hạn chế, xâm phạm các quyền tự do hợp pháp của con người , của công dân theo quy định của Hiến pháp Trong bản Hiến pháp
2013, quyền con người và quyền công dân được đề cao và đƣa lên
chương 2 nhằm thể hiện tầm quan trọng của nó Nhà nước có nghĩa vụ tôntrọng, bảo vệ, và đảm bảo quyền con người (điều 3,4 Hiến pháp 2013) đồng thời Điều 94 và 96 ấn định nhiệm vụ mới của Chính phủ là bảo vệ quyền con người và quyền công dân như vậy, đây là nhiệm vụ hiến định cho cơ quan hành pháp phải phát hiện đánh giá và xử lý những hành vi xâm phạm quyền con người , quyền công dân Tuy vậy, trong thực tiễn hoạt động hành pháp lại có trường hợp không tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo quyền con người , quyền công dân Chính trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, điều 19, khi cho phép Chính phủ ban hành nghịđịnh thay thế luật, pháp lệnh khi chưa có điều kiện xây dựng luật lại tạo lỗhổng để chính phủ dùng nghị định hạn chế các quyền Hiến định và luật định đối với quyền con người , quyền công dân Ví dụ: quyền biểu tình được các Hiến pháp 1992, 2013 ghi nhận nhưng đến nay vẫn chưa được
cô gái bị đƣa vào trại phục hồi nhân phẩm, nguyên cái tên nơi giữ họ đã xâm phạm tới danh dự nhân phẩm của họ Những trường hợp này đều bị cách ly giam giữ không hề có bản án, quyết định nào của cơ quan tư pháp phù hợp với quy định của pháp luật Có những văn bản luật có nội dung
Trang 21tác động trực tiếp đến quyền công dân dẫn đến lạm quyền Ví dụ: thông tư
số 10/2016/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế quản lý học sinh sinh viên, quy định một số điều cấm xâm phạm đến quyền tự do ngôn luận của sinh viên – công dân, hay thông tư số
01/2016/TT-BCA của Bộ
công an cho phép Cảnh sát giao thông trong dụng tài sản của công dân trái với quy định của Luật trong mua, trong dụng xâm phạm quyền sở hữucủa công dân được hiến định
– Ban hành các văn bản pháp luật trực tiếp hạn chế quyền con người , quyền công dân Chính phủ không được phép ban hành văn bản hạn chế quyền con người quyền công dân Việc hạn chế này chỉ được thực hiện bằng luật Ví dụ nghị định số 38/2005/NĐ-CP, Bộ Công an cấm tụ tập đông người Việc coi yếu tố “pháp luật quy định” không phải là rào cản các quyền con người mà không phải hiểu theo nghĩa là chỉ khi có luật thì quyền này mới được thực hiện
– người thừa hành công vụ có hành vi vi phạm hiến pháp cũng là những biểu hiện vi hiến có tính phổ biến bên cạnh việc vi hiến trong ban hành các văn bản quy phạm pháp luật người thi hành công vụ nhiều lúc đã có hành vi lạm quyền xâm phạm đến các quyền tự do dân chủ Hiến định của công dân Sự lạm quyền có thể do năng lực yếu kếm nhưng phần lớn là doyếu tố tư lợi cá nhân hay để thoả mãn “yếu tố cá nhân khác” Ví dụ: Theo báo điện tử PLO thành phố Hồ Chí Minh
đƣa tin ngày 11/4/2016 vào tháng 4/2016 vừa qua tại Hà nội, cảnh sát khuvực đã đòi vào kiểm tra nhà dân khi đêm khuya và có hành vi xúc phạm công dân Việc lợi dụng thông tư 35/2014/TT-BCA để công an vào kiểm tra nơi ở của công dân dưới hình thức kiểm tra nhân khẩu là hành vi trái với Điều 22 Hiến pháp 2013 và công an không được phép tiến hành trừ trường hợp ngoại lệ là khám xét thì phải tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Nếu cố ý tiến hành kiểm tra cư trú đó chính là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân Sự nhũng nhiễu, vòi vĩnh, vi phạm trắng trợn các quyền công dân xảy ra ở tất cả các ngànhlĩnh vực mà ở đó có yếu tố “xin – cho”, nơi mà người dân cần sự chấp
Trang 22thuận về mặt thủ tục hành chính và như vậy các quyền như tự do kinh doanh, tự do cư trú…mà Hiến pháp quy định đều có thể bị người có trách nhiệm thi hành công vụ vi phạm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
– Sự vi phạm Hiến pháp có thể diễn ra ở cả “hành động” và “không hành động” Tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật không được ban hành đúng tiến độ là rất phổ biến đã trực tiếp hạn chế các quyền công dân bởi
lý do Việt Nam không có tập quán áp dụng trực tiếp Hiến pháp Theo báo cáo của Chính phủ, đến cuối năm 2015, số văn bản chưa ban hành là 57/167 văn bản (nghị định, thông tư, thông tư liên tịch) để hướng dẫn các luật đã được ban hành; 16 ngành nghề trong 267 ngành nghề kinh doanh chưa được các Bộ Y tế, Công an, Giao thông vận tải, Thông tin và truyền thông ban hành điều kiện kinh doanh… vô hình chung việc mở
rộng tạo môi trường kinh doanh cho người dân trở nên vô nghĩa bởi nút thắt các văn bản dưới luật Theo nghĩa vụ Hiến định việc ban hành các văn bản hướng dẫn luật của cơ quan hành pháp đã bị vi phạm nghiêm trọng Đối với các dự án luật, pháp lệnh, Chính phủ chậm trễ đƣa ra trình Quốc hội xem xét thông qua là phổ biến và việc xin rút là không hiếm gặp, sự trì hoãn có thể kéo dài từ năm này sang năm khác đặc biệt là các
dự luật cụ thể hóa quyền con người , quyền công dân, ví dụ dự án Luật Biểu tình, Luật về hội Luật biểu tình đã được nêu ra trong nghị quyết số
48 của Bộ Chính trị từ năm 2005 nhưng đến nay vẫn bị xin lùi
Tóm lại sự vi hiến trong hành pháp thể hiện ở nhiều yếu tố như các dự luật trái hiến pháp, sự lạm quyền, vƣợt quá thẩm quyền hiến định, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ Hiến pháp quy định… dù thể hiện dưới hình thức nào thì sự vi phạm của hành pháp cũng tác động đến hiệu lực của hiến pháp, đến các quyền tự do dân chủ của công dân Vi hiến trong hoạt động tư pháp
Từ năm 1946, Hiến pháp đầu tiên đã xác định quyền tư pháp Đến năm Hiến pháp 2013 quyền này lại được xác định cụ thể và rành mạch: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt nam, thực hiện quyền tư pháp là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước,
Trang 23quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Việc xác định các dạng vihiến trong hoạt động tư pháp sẽ căn cứ vào nội hàm của khái niệm thực hiện quyền tư pháp Từ đó có thể nhận diện các dạng vi hiến trong hoạt động tư pháp bao gồm:
– Vi phạm hiến pháp trong hoạt động xét xử thường biểu hiện vi phạm nguyên tắc khi xét xử tòa án, thẩm phán độc lập chỉ tuân theo pháp luật Hiến pháp 2013 đã quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án khi thực hiện quyền tư pháp Trong xét xử, các nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm nhân dân độc lập chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc tranh tụng; nguyên tắc xét xử công khai….phải
được đảm bảo Các nghị quyết của đảng cũng định hướng cho việc nâng cao chất lƣợng công tác xét xử nhằm đảm bảo phán quyết của tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa…để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục (Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2002) Nghị quyết số 49/NQ-TW năm 2005 về cải cách
tư pháp đến năm 2020 cũng đề ra phương hướng nâng cao chất lƣợng tranh tụng, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng …coi đây là bước độtphá của hoạt động tư pháp Trong nội bộ ngành tòa án cũng đặt ra nguyên tắc không cho phép lợi dụng vị trí quản lí, việc trao đổi nghiệp vụ, chuyênmôn để hình thành cơ chế duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân trái nguyên tắc độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án (chỉ thị 01/2007/CT-CA của TANDTC triển khai nhiệm vụ trọng tâm côngtác ngành tòa án) Từ nội dung trong tâm nêu trên cho thấy vấn đề vi hiến trong công tác xét xử đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các cấp các ngành và toàn xã hội Sự vi phạm thể hiện dưới dạng “duyệt án”; báo cáo án, án bỏ túi hay họp ba ngành công an – tòa án – kiểm sát để “duyệt án” thể hiện sự thống nhất án hay chấp nhận sự can thiệp của các nhánh quyền lực khác của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng mà
bỏ qua một cách tùy tiện nguyên tắc Hiến định về độc lập tuân theo pháp luật làm thay đổi bản chất của vụ án Hậu quả của việc không tôn trọng Hiến pháp là án oan sai ngày càng bị phát hiện nhiều, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm nghiêm trọng; vị thế của luật sƣ trong tranh tụng mờ nhạt, uy tín ngành tư pháp bị tổn hại