I.Mục lục: 1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự 2. Căn cứ và cở sở quyết định khởi tố vụ án hình sự 3. Căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự 4. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự 5. Thủ tục khởi tố vụ án hình sự 6. Quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự 7. Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự II. Nội dung 1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.” Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình
Trang 1BÀI TẬP NHÓM 5 MÔN TỐ TỤNG HÌNH SỰ
7 Bùi Thi Phương
8 Nguyễn Thị Thanh Phương
9 Vi Thị Giang
10 Đặng Thảo Linh
11 Hoàng Bích Phượng
Trang 2I.Mục lục:
1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
2 Căn cứ và cở sở quyết định khởi tố vụ án hình sự
3 Căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
4 Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Trang 3II Nội dung
1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
“Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi
tố vụ án.”
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sựKhởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng
mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự là những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình
sự – những văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này Tuy
nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước làtiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Quyết định khởi tố vụ án là
cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạtđộng điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tốtụng
2 Căn cứ và cơ sở quyết định khởi tố vụ án hình sự
2.1 Căn cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào đó mà ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Dođặc tính pháp lý của Quyết định khởi tố vụ án hình sự liên quan đến quyền tiến hành các hoạt động điều tra và ảnh hưởng đến
Trang 4quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nên cần thiết phải quy định hết sức chăt chẽ.
Theo điều 100 BLTTHS quy định thì “chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định được dấu hiệu tội phạm” Tội phạm là hiệntượng xã hội với bốn đặc điểm: (1) Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; (2) Tính có lỗi; (3) Tính trái pháp luật hình sự; (4) Tính phải chịu hình phạt Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự phải xác định được vụ việc xảy ra thỏa mãn các dấu hiệu tội phạm nêu trên mới có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào xác định được có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền cũng ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự mà đối với môt số tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm con người sẽ chỉ bị khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Điều 105 BLTTHS 2003
2.2 Cơ sở xác định dấu hiệu tội phạm
Căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là sự việc có dấu hiệu tội phạm và được xác định bằng nguồn thông tin chứa đựng dấu hiệu tội phạm Dựa vào những cơ sở, những nguồn thông tin đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh kiểm tra xem có dấu hiệu tội phạm hay không Những nguồn thông tin thu thập được không phải là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bởi vì những thông tin đó có thể chứa đựng những thông tin không đúng sự thật hoặc không phẩn ánh chính xác dấu hiệu tội phạm nên cần phải các minh Chính vì vậy, để xác định tội phạm phảidựa vào các cơ sở sau đây:
- Tố giác của công dân
Tin báo về tội phạm thông qua sự tố giác của công dân là nguồn thồn tin quan trọng về tội phạm cung cấp cho các cơ quan có thẩm
Trang 5quyền, Người cung cấp thông tin về tội phạm có thể là người bị hại, người thân thích của họ hoặc người khác biết được sự việc phạm tội và tố giác với cơ quan có thẩm quyền, Sự tố giác về tội phạm của công dân cần được cơ quan có thẩm quyền xác minh để khẳng định sự chính xác của nguồn thông tin làm cơ sở cho việc raquyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Tin báo của cơ quan tổ chức
Tin báo của cơ quan, tổ chức xã hội về tội phạm xảy ra tại địa bàn
và phạm vi quản lý của mình hoặc tài của những cơ quan thanh tra,kiểm tra, kiểm toán chuyển cho CQĐT, VKS phản ánh những thông tin về tội phạm Trên cơ sở những nguồn tài liệu này, các cơ quan có quyền khởi tố sẽ áp dụng các biện pháp do luật TTHS quy định để xác định sự việ mà các cơ quan, tổ chức cung cấp có hay không dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự
- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Những tin này có thể là kết quả của việc điều tra của phóng viên hoặc phản ánh thư của nhân dân phát hiện tội phạm Các phương tiện thông tin đại chúng gày càng phát huy tác dụng, được nhân dân tín nhiệm thì những tin trên các phương tiện thông tin đại chúng gày cang có vai trò quan trọng trong việc phat hiện và đấu tranh chống tội phạm Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xác định những thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
có hay không dấu hiệu tôị phạm làm cơ sở cho việc quyết định khởi tố vụ án hình sự
- CQĐT, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm trong lình vực mà mình
quản lý
Trang 6- Người phạm tội tự thú
Người phạm tội tự thú, đến khai báo với cơ quan có thẩm quyền vềhành vi phạm tội của mình Khi tiếp nhận khai báo về tội phạm củangười thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh tính xác thực của lời nhận tội đó, chỉ khi khẳng định lời khai báo của người tự thú có dấu hiệu tội phạm mới có thể ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự
2.3 Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
2.3.1Khái lược chung về khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại
Quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại thể hiện sự quan tâm của nhà nước tạo điều kiện cho người bị hại được cân nhắc tính toánxem việc khởi tố vụ án hình sự có gây bất lợi cho họ hay không
Các trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại Trong
BLTTHS 2003 quy định 11 tội chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại như sau :
Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc sức khỏe cho người khác
Điều 105 : Tội cô ý gây thương tích hoặc sức khỏe cho người khác trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Điều 106 : Tội cố ý gây thương tích và tổn hại sức khỏe cho người khác
do vượt quá giới hạn về phòng vệ chính đáng
Điều 108 : Tội vô ý gây thương tích hoặc sức khỏe cho người khác Điều 109 : Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho
người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Điều 111 : Tội hiếp dâm
Điều 113 : Tội cưỡng dâm
Điều 121 : Tội làm nhục người khác
Điều 122 : Tội vu khống
Điều 131 : Tội xâm phạm quyền tác giả (đã bị bãi bỏ theo Luật sửa đổi,
Trang 7bổ sung một số điều của BLHS năm 2009),
Điều 171 :Tôi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của BLHS
Thực tiễn cho thấy, có những hành vi thuộc một số loại tội lẽ ra nên trao cho người bị hại quyền yêu cầu khởi tố nhưng luật lại không quy định
Cụ thể như: Trong tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (giống như tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác nhưng chỉ khác chủ thể là người có chức vụ, quyềnhạn và phạm tội trong lúc thi hành công vụ), vì vậy, nên đưa hại tội nay vào trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại
Trong các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân có quy định tội bắt người, giữ hoặc giam người trái pháp luật, tội xâm phạm chỗ ở của công dân, tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật, các tội này xâm phạm tới quyền cơ bản của con người như quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền được laođộng Đối tượng bị xâm hại trực tiếp là các quyền của người bị hại, vì vậy, nên để cho người bị hại được tự do lựa chọn hình thức xử lý sao cho có lợi nhất đối với họ thông qua việc yêu cầu hoặc không yêu cầu khởi tố vụ án Trong các tội xâm phạm sở hữu có tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy họa hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, đối tượng bị xâm hại trong các trường hợp nàychỉ thuần túy về mặt tài sản Những trường hợp này thông thường người
bị hại chỉ cần thu hồi lại tài sản hoặc khắc phục hậu quả là đủ, vì vậy, nên đưa vào trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại để chuyểngiao quyền định đoạt việc xử lý người phạm tội cho người bị hại Từ những phân tích trên, em thấy BLTTHS cần phải nghiên cứu, sửa đổi phạm vi áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại, theo hướng bỏ trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại đối với tội hiếp dâm và quy định thêm một số trường hợp phải khởi tố theo yêu cầu của người bị hại như đe dọa giết người; gây thương tích
Trang 8hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; xâm phạm chỗ ở của công dân; buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
2.3.2 Về chủ thể yêu cầu khởi tố.
Tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003 quy định một số trường hợp chỉ được khởi tố khi có “yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm vềtâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố” Trong thực tế, khi áp dụng quy định này đã nảy sinh vướng mắc ở một số trường hợp Vd: Trường hợp A và B đánh nhau, người bị hại có tỷ lệ thương tật 15% thuộc khoản 1 Điều 104
BLHS, trong quá trình điều tra, người bị hại A (gần đủ 18 tuổi) không yêu cầu xử lý nhưng cha của A (đại diện hợp pháp của người bị hại) lại yêu cầu xử lý Về sự việc này có một số ý kiến khác nhau: Ý kiến thứ nhất, A chưa đủ 18 tuổi nhưng hoàn toàn có khả năng thể hiện được ý chí của mình nên phải chấp nhận theo yêu cầu của người bị hại, chỉ trong trường hợp người bị hại còn quá nhỏ hoặc bị bệnh không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để đưa ra yêu cầu của mình thì lúc
đó người đại diện hợp pháp của người bị hại mới có quyền yêu cầu Ý kiến thứ hai, trong mọi trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì quyền yêu cầu khởi tố phải thuộc về người đại diện hợp pháp của người bị hại, điều đó xuất phát từ những nghiên cứu tâm sinh lý của người chưa thành niên vàngười có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, do còn nhỏ tuổi hoặc cónhược điểm về tinh thần thể chất mà làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của những người này nên tinh thần của điều luật quy định đã thể hiện rõ không giao quyền yêu cầu khởi tố cho họ Theo em,
Trang 9trong sự việc trên, nhận thức như ý kiến thứ hai là không đúng tuy nhiên,xem xét kỹ ý kiến thức nhất cho thấy không phải là không có những hạt nhân hợp lý ở đó Vướng mắc ở đây không hoàn toàn do luật mà chủ yếu
do nhận thức của người đánh giá Vì vậy, theo chúng tôi, luật nên quy định cụ thể và rõ ràng hợp, theo hướng nếu người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì chỉ ngườiđại diện hợp pháp của người bị hại mới có quyền yêu cầu
2.3.3 Về hình thưc thể hiện của yêu cầu ,khởi tố
BLTTHS 2003 không quy định hình thức yêu cầu khởi tố là gì nhưng thông thường yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại được thể hiện trong đơn hoặc họ trực tiếp trình bày (sau đó được lập thành biên bản ghi ý kiến hoặc biên bản ghi lời khai) Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng thì cả 2
trường hợp trên yêu cầu đều được chấp nhận và có giá trị pháp lý như nhau Tuy nhiên, hện nay còn có sự nhận thức chưa thống nhất, cho rằnghình thức yêu cầu khởi tố do người bị hại trực tiếp trình bày có mặt hạn chế là dễ bị làm sai lệch hoặc bị người bị hại phủ nhận Trong thực tế các trường hợp trên không nhiều nhưng không phải không xảy ra Vì vậy, nên có quy định về hình thức yêu cầu khởi tố theo hướng người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại phải thể hiện yêu cầu khởi tố trong đơn yêu cầu, trừ trường hợp không biết chữ hoặc có lý do chính đáng mà họ không thể viết đơn được thì có thể trực tiếp trình bày
và nội dung yêu cầu đó phải được lập thành biên bản
2.3.4 Về trường hợp rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa
Tại khoản 2 Điều 105 BLTTHS 2003 quy định: “Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ”, trừ trường hợp “có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khơti tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do
bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng
Trang 10đối với vụ án” Như vậy, BLTTHS chỉ quy định về trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiển tòa sơ thẩm, còn trườnghợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu tại phiên tòa thì chưa có quy định xử lý như thế nào Do vậy, trong thực tế khi có trường hợp người bịhại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa đã gây ra sự lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng Xung quanh vấn đề này có các ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, gặp trường hợp này thì Hội đồng xét xử phải
hoãn phiên tòa , sau đó ra quyết định đình chỉ vụ án;
Ý kiến thứ 2 cho rằng, Hội đồng xét xử phải vẫn tiến hành xét xử và
tuyên án bình thường như trường hợp người bị hại không rút đơn yêu cầu khởi tố;
Ý kiến thứ 3 cho rằng, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục tiến hành xét xử và
kết luận bị cáo phạm tội nhưng cho họ được miễn hình phạt;
Ý kiến thứ 4 cho rằng, hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và kết luận
bị cáo phạm tội nhưng không áp dụng hình phạt tù đối với họ nếu có đủ những điều kiện khác (có thể phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ nếu tội đó có quy định loại hình phạt này, cũng có thể miễn hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ) Theo ý kiên
cá nhân thì nhận thức ý kiến thứ nhất, thứ hai, thứ ba là chưa hợp lý Ý kiến thứ nhất, đặt quá nặng yêu cầu của người bị hại (thiên về tư tố) mà coi nhẹ tính chất của công tố, yêu cầu của người bị hại không phải là quyết định đối với cơ quan tiến hành tố tụng; hơn nữa, luật chỉ quy định cho người bị hại quyền rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa; vì vậy, trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa không thể dẫn tới việc đình chỉ vụ án Ý kiến thức hại lại xem nhẹ yêu cầu của người bị hại, không tính đến yêu cầu của người bị hại, không tính đến yêu cầu của người bị hai, trong khi đó loại tội phạm này chỉ khởi tố theo yêu cầu chủa người bị hại Ý kiến thứ ba Có điểm chưa hợp lý ở chỗ điều kiện miễn trách nhiệm hình phạt là trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, đáng được khoan
Trang 11hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự; nhưvậy, nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố nhưng không có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cũng không thể miễn hình phạt được Chỉ có ý kiến thứ tư là phù hợp nhất không đặt năng hoặc xem nhẹ yêu cầu của ngừi bị hại mà có tính đến yêu cầu, nguyện vọng của họ khi quyết định hình phạt Vì vậy, nên có quy định về trường hợp ngươi bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa, theo hướng khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa thì hội đồng xét xử vẫn tiếp tục tiến hành xét xử
và kết luận bị cáo phạm tội nhưng có thể miễn hình phạt nếu có tình tiết giảm nhẹ; phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ nếu tội đó có quy định loại hình phạt này hoặc cho bị cáo hưởng án treo nếu có đủ điều kiện
2.3.5 Một số vướng mắc khác trong thực tiễn
Ngoài 4 nội dung cơ bản nêu trên, trong thực tiễn thường gặp phải một
số vướng mắc khác như: Trường hợp một người gây thương tích cho nhiều người và đều thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS nhưng chỉ có một số người có yêu cầu khởi tố Về sự việc này, có
ý kiến cho răng, đưa tất cả những người bị thương tích là người bị hại và
xử lý người gây thương tích về hành vi gây ra cho tất cả những người bị hại đó Ý kiến khác cho rằng, chỉ có một người bị hại là người có yêu cầu khởi tố, những người còn lại không phải là người bị hại và người gây thương tích không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây ra cho những người này Từ sự nhận thức còn khác nhau như trên, để nghị Liên ngành tư pháp Trung ương cần sớm hướng dẫn cụ thể để giúp cho các địa phương tháo gỡ vướng mắc Trong các tội xâm phạm sức khỏe, nhất là đối với tội cố ý gây thương tích, có trường hợp người bị hại bị chém rách mặt, thủng phổi, hay đứt gân tay… chưa cần giám định cũng biết thương tích của họ trên 11%, có thể khởi tố và áp dụng ngay biện pháp ngăn chặn đối với đối tượng gây án nhưng luật lại không đề cập đến điều đó, mà chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại, trong khi nhiều người bị hại từ chối giám định thương tích, không
Trang 12đề nghị khởi tố, vì họ đã bị đối tượng gây thương tích tác động, hay vì khoản tiền đền bù hậu hĩnh…nên cơ quan pháp luật không thể xử lý được, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc đấu tranh, xử lý tội phạm,nhất là các tội phạm hoạt động có tổ chức với tính chất côn đồ, sử dụng hung khí nguy hiển
3.Căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
Theo Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được khởi tố vụ
án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
3.1.Không có sự việc phạm tội:
Là sự việc mà cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xác định không thoả mãn các dấu hiệu tội phạm quy định trong BLHS và do đó không
có căn cứ để quyết định khởi tố vụ án hình sự.Trong trường hợp này, vớibất kỳ lý do nào cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cũng không được ra quyết định khởi tố vụ án
3.2 Hành vi không cấu thành tội phạm:
- Là hành vi không đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm theo quy định của Luật hình sự như: có hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng hành vi đó không được quy định trong BLHS; hoặc do hành vi nguy hiểm cho xã hội đó không có lỗi; hành vi nguy hiểm do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện( Điều 12 BLHS ); cũng như hành vi có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội: sự kiện bấtngờ (Điều 11 BLHS), phòng vệ chính đáng( Điều 15 BLHS), tình thế cấp thiết( Điều 16 BLHS),
3.3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
Trang 13Tuổi chịu trách nhiệm phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, chủ quan của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; điều kiện kinh
tế, xã hội, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia được quy định trong Luật hình sự Theo quy định của BLHS 1999 thì trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên
nhưng chưa đủ 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Trong những trường hợp này cơ quan có thẩm quyền khởi tố không được khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những ngườichưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự như quy định trên
3.4 Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật:
Quy định này thể hiện nguyên tắc chung của pháp luật: một hành vi viphạm không bị xử lý nhiều lần Do vậy, người mà hành vi phạm tội đã
có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì sẽ không được khởi tố vụ án hình sự
3.5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:
Điều 23 BLHS quy định hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thìngười phạm tội không còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội họ đã phạm Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm , nhưng tội phạm đó đã đủ những điều kiện được quy định trong Điều 23 BLHS về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này, không cần thiết phải truy cứu trách
nhiệm hình sự theo tội phạm mà người đó đã phạm, có nghĩa rằng, người
đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và do vậy không được khởi tố
vụ án hình sự để áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ
3.6 Tội phạm đã được đại xá:
Đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước, có tác dụng tha tội, thường là hoàn toàn và triệt để cho hàng loạt những người phạm tội nhất định nào đó thường chỉ được ban hành vào những dịp có sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị đất nước Việc đại xá do cơ
Trang 14quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ( Quốc hội ) quyết định đối với những tội phạm nhất định Văn bản đại xá chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản và đã xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá Đối với những tội phạm được đại xá xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi
tố vụ án
3.7 Người thực hiện hành vị nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp cần tái thẩm đối với người khác:
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì không cần
áp dụng hình phạt đối với họ Trong trường hợp này mục đích của hình phạt không đạt được Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội đã chết nhưng để tái thaamrt minh oan cho người khác thì vụ án vẫn được khởi tố
4 Thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố
vụ án hình sự
4.1 Thẩm quyền khởi tố của cơ quan điều tra
4.1.1 Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân:
Theo tại Khoản 1 Điều 104 và Khoản 1 Điều 110 thì cần hiểu rằng:
Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có thẩm quyền khởi tố (ra quyết định khởi tố vụ án hình sự) đối với tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân độinhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Xuất phát từ nguyên tắc chung CQĐT cấp nào thì sẽ khởi tố những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp đó, pháp luật BLTTHS hiện
Trang 15hành đã có sự phân định tương đối rõ ràng thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các CQĐT trong công an nhân dân Theo quy định tại Điều
11 PLTCĐTHS 2004, thẩm quyền của cơ quan cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân như sau:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân có thẩm
quyền khởi tố vụ án hình sự về các tội quy định tại các chương từ
Chương XII đến Chương XXII của BLHS, trừ các tội thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT thuộc VKSNDTC và cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân
Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân được tổ chức ở
ba cấp: Bộ công an, cấp tỉnh và cấp huyện
+ Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an khởi tố vụ án hình sự về các tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơquan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra
(Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Tội phạm phức tạp là tội phạm có nhiều tính tiết phải xác minh hoặc do nhân thân vị thế xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội có những điểm khác biệt so với trường hợp bình thường do vụ án có liên quan đến nhiều nghành, nhiều cấp địa phương.)
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh khởi tố vụ án hình sự về các tội khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh, hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện nhưng xét tấy cần trực tiếp điều tra
Trang 16+ Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện khởi tố vụ án hình sự về các tội khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, trừ các tội thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT thuộc
VKSNDTC và cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân
Đây là điểm mới trong quy định của BLTTHS 2003 và
PLTCĐTHS 2004 so với quy định trong các văn bản pháp luật trước đây Trước đây theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 PLTCĐTHS 1989, thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện, chỉ được điều tra, xét xử đối với tội phạm mà BLHS quy định hình phạt
từ 7 năm tù trở xuống Hiện nay, theo quy định tại Điều 170 của
BLTTHS 2003, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử đối với những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng có mức cao nhất khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống Do vậy, PLTCĐTHS 2004 quy định CQĐT cấp huyện có thẩm quyền khởi tố, điều tra tương ứng với thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện
- Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân có thẩm
quyền khởi tố vụ án hình sự về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và các tội phạm theo quy định tại các Điều: 180, 181, 221, 222,
223, 230, 231, 232, 236, 263, 264, 274 và 275 của BLHS
4.1.2 Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân
Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS về thẩm quyền khởi
tố của các CQĐT trong Quân đội nhân dân thì thấy rằng có một số điểm