LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp Khóa 19,2011-2013; đồng thời vận dụng những kiến thức được trang bị trong Nhà trường ápdụng vào thực tiễn công t
Trang 1LÊ ĐỨC THUẬN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI CHIM NƯỚC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI CHIM NƯỚC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS Đồng Thanh Hải
2 TS Trần Việt Hà
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp Khóa 19,2011-2013; đồng thời vận dụng những kiến thức được trang bị trong Nhà trường ápdụng vào thực tiễn công tác; được sự nhất trí của Trường Đại học Lâm nghiệp,Khoa Sau đại học, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài chim nước tại Vườn quốc gia bến En” Trong quá trình hoàn thành bản luận văn
này, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoahọc và các đồng nghiệp Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: BGHTrường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa Đào tạo SĐH, Khoa Lâm học, KhoaQLBVR, bạn bè và đồng nghiệp Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS ĐồngThanh Hải và TS Trần Việt Hà, những người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tậntình giúp đỡ, chỉ dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảmtốt đẹp cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian nghiên cứu vàhoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Cử đã giúp đỡ tôi trong quátrình xây dựng đề cương nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, công chức, viên chức VQGBến En đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát, điều tra và thu thập số liệu
Mặc dù đã hết sức nỗ lực, nhưng do bản thân còn nhiều hạn chế nên bản Luậnvăn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ýkiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng 3 năm 2013
TÁC GIẢ
Lê Đức Thuận
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ 9
ĐẶT VẤN ĐỀ 10
Chương 1 12
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam 12
1.2 Khái quát những công trình nghiên cứu chim ở Vườn quốc gia Bến En 19
1.3 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 20
1.4 Nghiên cứu bảo tồn các loài chim và chim nước 21
Chương 2 24
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 24
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 24
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 24
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Phạm vi nghiên cứu 24
2.3.1 Không gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3.2 Thời gian nghiên cứu 25
2.4 Nội dung nghiên cứu 25
2.5 Phương pháp nghiên cứu 25
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 25
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương 26
2.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 27
2.5.4 Phương pháp điều tra điểm 28
2.5.7 Phương pháp xác định đặc điểm làm tổ và sinh sản 29
3.5.8 Phương pháp xác định mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của chim nước 30
3.5.9 Tài liệu sử dụng trong phân loại và đánh giá 31
3.5.10 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3 32
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
3.1 Vị trí địa lý 32
3.2 Địa hình, đia chất, thổ nhưỡng 32
3.2.1 Địa hình: 32
3.2.2 Địa chất, thổ nhưỡng: 32
3.3 Khí hậu, thuỷ văn 33
3.3.1 Khí hậu: 33
3.3.2 Thuỷ văn: 34
3.4 Diện tích khu vực nghiên cứu và kiểu rừng 34
Trang 53.5 Đa dạng sinh học 35
3.5.1 Hệ sinh thái ngập nước: 35
3.5.2 Hệ thực vật 36
3.5.3 Hệ động vật 36
Chương 4 39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thành phần các loài chim nước tại VQG Bến En và các loài chim nước được phát hiện trong thời gian thực hiện đề tài 39
4.1.1 Thành phần loài chim nước tại Bến En 39
4.1.2 Thành phần và số lượng các loài chim nước quan sát được 40
4.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài chim nước nghiên cứu tại VQG Bến En 41
4.2.1 Loài Cò trắng Trung Quốc (Egretta garzetta) 41
4.2.1.1 Đặc điểm hình thái 41
4.2.1.2 Đặc điểm sinh thái 42
4.2.1.3 Đặc điểm sinh học 43
4.2.2 Loài Cò Bợ (Ardeola bacchus) 43
4.2.2.1 Đặc điểm hình thái 43
4.2.2.2 Đặc điểm sinh thái 44
4.2.2.3 Đặc điểm sinh học 44
4.2.3 Loài Diệc lửa: (Ardea purpurea) 48
4.2.3.1 Đặc điểm hình thái: 48
4.2.3.2.Đặc điểm sinh thái 49
4.2.3.4 Đặc điểm sinh học 49
4.2.4 Diệc Xám (Ardea cinerea) 49
4.2.4.1 Đặc điểm hình thái 49
4.2.4.2 Đặc điểm sinh thái 50
4.2.4.3 Đặc điểm sinh học 50
4.3 Đặc điểm các sinh cảnh quan trọng của các loài chim nước tại VQG Bến En 51
4.3.1 Tổ thành các loài cây tại các sinh cảnh kiếm ăn, cư trú và làm tổ của các loài chim nước 51
4.3.2 Xác định diện tích ngập nước theo mùa và ngập nước thường xuyên có ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của các loài chim nước 53
4.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng: Thức ăn, nơi kiếm ăn và tập tính kiếm ăn 54
4.3.4 Sự thay đổi thành phần loài, số lượng cá thể và sinh cảnh vùng cư trú của nhóm loài nghiên cứu 55
4.4 Các mối đe dọa đến các loài chim nước 56
4.4.1 Các tác động tiêu cực đối với các loài chim nước: 56
4.4.2 Kết quả đánh giá các mối đe doạ đối với các loài chim nước: 58
4.4.3 Hiện trạng tổ chức du lịch xem chim ở Vườn Quốc gia Bến En 60
4.5 Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển bền vững các loài chim nước 60
4.5.1 Giải pháp bảo vệ sinh cảnh 61
4.5.2 Giải pháp tuyên truyền 62
4.5.3 Giải pháp hành chính 62
Trang 64.5.4 Tổ chức hoạt động du lịch xem chim tại Vườn Quốc gia Bến En 63
Chương 5 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 67
PHỤ BIỂU 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Phụ lục 2.1 Biểu phỏng vấn người dân địa phương
Phụ lục 2.2 Biểu quan sát trên tuyến
Biểu 4.1 Danh lục các loài chim nước tại Vườn Quốc gia Bến EnBiểu 4.2 Thành phần và số lượng các loài chim nước được quan
sát trên tuyến điều tra
Biểu 4.3 Tổng hợp kết quả điều tra tại sinh cảnh làm tổ của Cò bợBiểu 4.4 Vị trí làm tổ trên cây của Cò bợ
Biểu 4.5 Tổ thành sinh thực vật cảnh kiếm ăn, cư trú và làm tổ
của các loài chim nướcBiểu 4.6 Sự thay đổi thành phần và số lượng cá thể nhóm loài
nghiên cứuBiểu 4.7 Các mối đe doạ đối với các loài chim nước tại VQG Bến
EnBiểu 4.8 Đánh giá các mối đe doạ đối với các loài chim nước
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí làm tổ của một số loài chim nước
Hình 4.1 Bản đồ phân bố các loài chim nước nghiên cứu
Đồ thị 4.1 Số đàn và cá thể cò trắng Trung Quốc được quan sát
Trang 10Vườn Quốc gia (VQG) Bến En nằm trong Khu hệ chim Bắc Trường Sơn
có nhiều sinh cảnh phù hợp cho sự cư trú và di cư đến của các loài chim, đặc biệt
là các loài chim nước Đến nay, VQG Bến En đã có một số nghiên cứu về khu hệchim ở khu vực Chẳng hạn như Lê Vũ Khôi (1996), Nguyễn Cử và NguyễnThái Tự Cường (1999) Các kết quả nghiên cứu trước đây ghi nhận chủ yếu làcác loài chim nước và chim nước di cư, làm tổ tập trung chủ yếu ở vùng hồ, cáckhu rừng tự nhiên và rừng trồng phân bố rải rác xung quanh vùng hồ sông Mực,trong phạm vi khá lớn.[1]
Những kiến tạo của địa hình cùng với biến đổi của các yếu tố tự nhiên nhưkhí hậu, thảm thực vật, thổ nhưỡng những sinh cảnh thiên nhiên đặc sắc, yếu tốnhân tạo, ngăn đập thuỷ lợi đã tạo cho Vườn Quốc gia Bến En có diện tích hồnước ngọt gần 3000 ha, và vùng phụ cận với những cánh đồng lúa chiêm trũngcủa huyện Nông Cống, là nơi kiếm ă ưa thích của các loài chim nước Hàng năm
có tới hàng nghìn cá thể chim nước cư trú, làm tổ và kiếm ăn trong khu vực
1 Chim nước là các loài chim có đời sống liên quan đến môi trường nước hay đất ngập nước.
Trang 11VQG Bến En Trong đó, có 4 loài chim nước thường gặp: Diệc Xám (Ardea
cinerea), Cò trắng (Egretta garzetta), Cò bợ (Ardeola bachus); Diệc lửa (Ardea purpurea Purple Heron) di cư theo mùa về Vườn Quốc gia Bến En cư trú và
sinh sản
Trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn Quốc gia Bến En có mật độ dân sốcao, trình độ canh tác lạc hậu, thu nhập thấp, cuộc sống của họ phụ thuộc nhiềuvào sử dụng tài nguyên rừng, cùng với nhận thức về công tác BTĐDSH, đặc biệt
là các loài chim nước còn rất hạn chế, trong khi lợi nhuận kinh tế từ việc săn bắtcác loài chim nước khá cao nên trong những năm qua người dân, đặc biệt là đốitượng thợ săn vẫn lén lút vào rừng giăng lưới và dùng súng săn để săn bắt tráiphép ở những sinh cảnh kiếm ăn, nơi cư trú, nơi làm tổ các loài chim nước làmcho số lượng ngày một giảm đáng kể Mặt khác việc sử dụng thuốc diệt cỏ vàthuốc BVTV nói chung đã làm cho nguồn thức ăn của chim nước ngày càng cạnkiệt; những nguyên nhân trên đã dẫn tới sự biến động lớn về cá thể, quần thể,loài, vùng phân bố và đặc điểm sinh thái của các loài chim nước; địa điểm cư trúcủa một số loài chim nước thay đổi Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có mộtnghiên cứu nào về đặc điểm sinh thái và đề xuất các giải pháp bảo tồn một sốloài chim nước tại VQG Bến En
Trước những yêu cầu mới trong công tác bảo tồn thiên nhiên, tôi đã thực
hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và đề xuất giải pháp bảo tồn một
số loài chim nước tại Vườn quốc gia bến En”, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ
là cơ sở để duy trì, bảo vệ nơi cư trú, sinh sản các quần thể chim nước và gópphần phát triển bền vững bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái tại VườnQuốc gia Bến En
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam
Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim giàu có nhất ở lục địaĐông Nam Á Tổng số loài chim được ghi nhận ở Việt Nam dao động từ 828 đến
888 loài Tuy nhiên việc đưa ra một con số chính xác là không thể, do một số
loài đã từng được ghi nhận trước đây nay đã tuyệt chủng, ví dụ Diệc (Sumatra
Ardea sumatrana) hay Cò quăm lớn (Thaumantibis gigantea), trong khi đó, một
số loài mới lại phát hiện bổ sung thêm cho danh sách các loài chim Việt Nam
Sự phong phú về các loài chim có thể do biên độ rộng về kinh độ và vĩ độ củaViệt nam đã dẫn đến hình thành nhiều dạng sinh cảnh trải rộng trên đất nước[11]
Nghiên cứu chim ở Việt Nam có thể chia thành bốn giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Có thể tính bắt đầu từ những năm 1870 đến 1920.
Trong giai đoạn quan trọng này, đã có bộ sưu tập quan trọng đầu tiên về các loàichim ở Việt Nam của Tirant, người đã thu thập hơn 1.000 tiêu bản ở vùng Nam
Bộ vào các năm từ 1875 đến 1878 Các bộ sưu tập quan trọng khác do Germainthu ở vùng Nam Bộ; Kuroda thu ở vùng Bắc Bộ và Kloss thu ở cao nguyên ĐàLạt Trong số các loài chim do Kloss phát hiện có Khướu đầu đen má xám
(Garralax yersini) và Khướu đầu đen (Garralax milleti) Ngoài ra, còn có một số
sưu tập nhỏ hơn của Boutan và Vassal, trong đó có phát hiện về loài Khướu đầu
xám (Garrulax vassali) Nghiên cứu học thuật quan trọng nhất về khu hệ chim
Việt Nam được thực hiện trong giai đoạn này là Les Oiseaux du Cambodge, duLaos, de l Annam et du Tonkin của Oustales [11]
Trang 13Giai đoạn thứ hai: Bắt đầu vào cuối năm 1920 đến Thế Chiến thứ II bùng
nổ, những đóng góp chủ yếu cho việc nghiên cứu điểu học ở Việt Nam do cáctác giả sau đây thực hiện: Delacour và các cộng sự của ông là Jabouille,Engelbach, David Beaulieu, Greenway và Lowe Giữa các năm 1923 và 1939,Delacour và các cộng sự của ông đã tiến hành sáu đợt thám hiểm điểu học ởĐông Dương, trong thời gian này họ đã thu thập 50.000 tiêu bản chim cùng các
số liệu về sinh thái và phân bố Những bộ sưu tập này cho đến ngay nay vẫn là
bộ sưu tập lớn nhất về các loài chim ở Đông Dương và là cơ sở của công trìnhmang tên Les Oiseaux de l Indochine Francaise Các bộ sưu tập quan trọng tronggiai đoạn khác này là của H Stevens thu ở Bắc Bộ, Kelley - Roosevelt cũng thu
được ở Bắc Bộ và Bjorkegen là người đã phát hiện ra loài Mi núi Bà (Crosias
langbianis)[11].
Giai đoạn thứ ba: Là từ sau Thế chiến thứ hai đến năm 1988 Phần đầu
của giai đoạn này là thời gian chiến tranh liên miên nên nghiên cứu điểu học bịhạn chế, chỉ có một số thông tin phần mà lớn là của những tay xem chim nghiệp
dư người nước ngoài định cư ở Việt Nam như: Brunel, Wildash và Fisher Tuynhiên sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ và thống nhất đất nước vào năm
1975, công tác nghiên cứu chim được tiếp tục trở lại do các nhà khoa học trong
và ngoài nước thực hiện Công trình nghiên cứu đáng chú ý ở trong giai đoạnnày là của Stepanyan và các đồng nghiệp Việt Nam thực hiện ở trong chươngtrình nghiên cứu Việt - Xô ở Tây Nguyên, kết quả đã công bố trong Xuất bảnCác loài chim Việt Nam, trên cơ sở được điều tra 1978 - 1990 Một công trìnhkhác cũng được xuất bản trong giai đoạn này là Chim Việt Nam của Võ Quý,đây là cuốn sách hướng dẫn các loài chim Việt Nam đầu tiên bằng tiếng Việt[11]
Trang 14Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn này bắt đầu từ tháng 4 - 1988 với ba đợt khảo
sát thực địa của tổ chức bảo tồn chim quốc tế - ICBP (Nay là BirdlifeInternational) tại nhiều vùng trên cả nước, các đợt khảo sát thực địa này là lầnkhảo sát chim đầu tiên kể từ trước thế chiến thứ II, các chuyến khảo sát này đãrất thành công trong việc phát hiện nhiều loài chim đặc hữu đã không có ghinhận nào sau hơn nửa thế kỉ Tiếp theo đó, Birdlife International đã thành lậpchương trình quốc gia cùng với đối tác Việt Nam đã tiến hành hàng loạt các đợtkhảo sát trên khắp lãnh thổ, kết quả đáng kể nhất của đợt khảo sát này là pháthiện của Eames và các đồng nghiệp về ba loài chim mới cho khoa học là Khướu
vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu Ngọc Linh (Garrulax
ngoclinhensis) và Khướu Kon Ka Kinh (Garrulax Konkakinhensis), điều đó cho
thấy mặc dù công tác nghiên cứu chim đã tiến hành một thế kỉ, nhưng vẫn còncác phát hiện mới về chim, khu hệ chim cần khám phá ở các vùng rừng ViệtNam Trong giai đoạn này ra đời cuốn sách Chim Việt Nam, đây là cuốn sáchhướng dẫn có hình vẽ minh hoạ về các loài chim Việt Nam do Nguyễn Cữ và LêTrọng Trãi viết được xuất bản bởi Birdlife International [11]
Sinh cảnh và các quần xã chim: Phần lớn các loài chim của Việt Nam và
đặc biệt các loài chim đặc hữu cho đến nay đã được tìm thấy đều là những loài chimrừng Cho nên nếu xét trên mức độ liên quan về thành phần các quần xã chim thìrừng Việt Nam có thể chia thành năm phân hạng chính: Rừng thường xanh, rừngnửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi và rừng lá kim Trong đó rừng
thường xanh chiếm tỉ lệ lớn nhất, khoảng 64% diện tích rừng Việt Nam [11].
Rừng thường xanh, phân bố ở các vùng có mưa quanh năm xen lẫn với
thời kì khô hạn ngắn, rừng ưu thế bởi các loài cây lá rộng có lá quanh năm Rừngthường xanh là kiểu thảm thực vật tự nhiên có ở nhiều vùng đất thấp ở phía Bắc
Trang 15và miền Trung Việt Nam và ở hầu hết các vùng núi Các đai độ cao thấp có kiểurừng thường xanh thấp hơn, thành phần các loài cây đa dạng và không có họ nào
ưu thế Các loài chim đặc trưng cho quần xã chim ở quần thể rừng thường xanh
đất thấp là: Nhược nâu (Anorrhinus tickelli), Phướn đất (Carprococcyx renauld), Khách đuôi cờ (Temnurus temnurus) và các loài chim đặc hữu trong bộ Gà Ở
đai cao khoảng 1.000m so với mặt nước biển, rừng thường xanh đất thấp trởthành dạng chuyển tiếp sang Rừng thường xanh trên núi Rừng thường xanh trênnúi có thể chia thành Rừng thường xanh núi thấp phân bố ở đai cao thấp hơn1.700m so với mặt nước biển, kiểu rừng này ưu thế bởi các loài trong họ Biển,
đặc trưng bởi sự có mặt của các loài Đỗ quyên (Rhododendron)
Quần xã của các loài chim ở kiểu rừng núi thấp và núi cao khá giống nhauvới sự đa dạng của các loài thuộc nhóm Sáo, Trèo cây, các loài Khướu, và cácloài Chim Chích, mặc dù rừng thường xanh núi cao thành phần chim khôngphong phú bằng rừng thường xanh đất thấp, nhưng có một số loài đặc trưng như
Khướu lùn đuôi hung (Minla strigula), Lách tác ngực vàng (Alcippe chryotis) và Khướu mào họng đốm (Yuhina gularis) Rừng thường xanh trên núi cũng là nơi
sống của các loài Khướu đặc hữu
Rừng bán thường xanh, đôi khi được coi là rừng hỗn giao với các loài cây
rụng lá, có tỉ lệ các loài cây rụng lá cao và các loài cây thường xanh và có ởnhững vùng có tính thay đổi theo mùa lớn hơn Rừng bán thường xanh phân bốhẹp ở Việt Nam, tập trung nhiều ở vùng Tây Nguyên và vùng đất thấp Việt Nam.Thành phần loài chim của rừng bán thường xanh tương tự với rừng thường xanhtrên đất thấp
Rừng rụng lá, đôi khi được gọi là rừng khộp, sinh trưởng chậm, rừng thưa,
thảm thực bì ưu thế là cỏ và tầng tán ưu thế bởi các loài cây rụng lá trong họ
Trang 16Dầu Rừng rụng lá phân bố tập trung trên diện tích lớn, mùa khô thể hiện rõ rệt.
Ở Việt Nam rừng khô cây họ Dầu tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và phân bốthành vạt nhỏ ở vùng ven biển Nam Trung Bộ Thành phần loài chim khôngphong phú bằng rừng thường xanh và rừng bán thường xanh do mang nặng tínhchất theo mùa và lớp thảm thực bì kém phát triển Quần xã chim đa dạng bởi các
loài Gõ kiến và Vẹt, và với sự có mặt của các loài Diều xám (Butartus liventer), Cắt nhỏ hông trắng (Polihierax insignis), Dẻ quạt mày trắng (Rhipidura
aureola), Phường chèo nhỏ (Pericrocotus cinamomeus) và Phường chèo nâu
mày trắng (Tephrodornis pondircerianus)
Rừng trên núi đá vôi, về cơ bản là Rừng thường xanh phát triển trên nền
thổ nhưỡng đá vôi Trong khi thành phần của quần xã thực vật Rừng trên núi đávôi không giống với Rừng thường xanh thì thành phần các loài chim ở đây lạitương tự như Rừng thường xanh Tuy nhiên, có một số loài chim chỉ phân bố
trong kiểu rừng trên núi đá vôi là Khướu đá hoa (Napothera crispifrons), Khướu
đá đuôi ngắn (N brevicaudata), Khướu đá mun (Stachyris herbeti) và một loài Chích chưa mô tả (Phylloscopus) Vùng phân bố toàn cầu của hai loài Khướu đá
mun và loài Chích mới ở vùng núi đá vôi thuộc miền Trung Việt Nam và Lào
Rừng lá kim ưu thế, là các loài cây hạt trần Có rất nhiều dạng rừng hỗn
giao giữa cây lá kim và cây lá rộng ở Việt Nam, nhưng quần xã chim của cáckiểu rừng này tương tự như nhau và cũng không có gì khác biệt lớn so với quần
xã chim của kiểu rừng thường xanh Ở Việt Nam rừng lá kim tự nhiên hầu nhưchỉ còn phân bố ở cao nguyên Đà Lạt Kiểu rừng này ưu thế bởi loài Thông ba lá
(Pinus kesiya) Ngoài ra còn có những diện tích thông trồng đáng kể ở khắp cả
nước, tuy vậy kiểu rừng này không có tầm quan trọng trong công tác bảo tồnchim Quần xã chim rừng lá kim không đa dạng so với các kiểu rừng tự nhiên
Trang 17khác do cấu trúc rừng đơn giản Tuy nhiên sinh cảnh rừng thông có một số loài
không có ở các kiểu rừng khác như Vàng anh mỏ nhỏ (Oriolus tenuirostris), Mỏ chéo (Loxia curvirostra), và loài đặc hữu của Việt Nam Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti).
Ngoài ra ở Việt Nam còn có những sinh cảnh khác như Trảng cỏ tự nhiên,Trảng cỏ và cây bụi thứ sinh, đất nông nghiệp và đất thổ cư Trong các sinh cảnhnày, Trảng cỏ tự nhiên có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các loài chim Sinhcảnh Trảng cỏ tự nhiên đã từng một thời phân bố rộng ở Việt Nam, dọc các consông xung quanh ranh giới của các vùng đất ngập nước theo mùa và ở nhữngkhoảng trống trong rừng Tuy vậy, phần lớn diện tích của kiểu sinh cảnh này đãchuyển đổi thành đất nông nghiệp và chỉ còn những diện tích nhỏ phân bố rảirác Một số loài chim sinh sống ở vùng đồng cỏ phải thích nghi dần với sinhcảnh thứ sinh, nhưng nhiều loài khác bị thu hẹp phân bố dần vào các sinh cảnh
Trảng cỏ tự nhiên còn sót lại, ví dụ loài Ô Tác (Houbaropsis bengalensis), Chích đuôi dài (Graminicola bengalensis) và Sẻ bụi lưng xanh (Saxicola jerdoni), tất
cả các loài trên đều đang bên bờ tuyệt chủng ở Việt Nam
Việt Nam có hàng loạt các kiểu sinh cảnh đất ngập nước Trong đất liền,
các dạng đất ngập nước ngọt bao gồm sông, hồ và trảm cỏ ngập nước theo mùa.Các sông, suối trong rừng có dòng chảy chậm là nơi có quần xã chim rất đặc sắc
với các loài Te cựa (Vanellus duvaucelli), Chân bơi (Heliopais personata) và Ngan cánh trắng (Cairina scutulata) Tuy vậy, khắp các vùng ở Việt Nam, các
con sông lớn thường là nơi tập trung dân cư sinh sống, dẫn đến làm mất nơi sốngcủa các loài chim và một loài có lẽ đã bị tuyệt chủng ở cấp Quốc gia là Nhàn mỏ
đen (Sterna acuticauda) Đầm hồ là nơi có tiềm năng sinh cảnh quan trọng Đối
với các loài chim nước di cư, nhất là các loài Vịt, các loài Cò Về mặt mất sinh
Trang 18cảnh, đầm hồ là một trong các loại sinh cảnh ít bị đe doạ ở Việt Nam mặc dù đã
có một số đầm hồ nhân tạo được hình thành sau các công trình xây dựng đập ởkhắp đất nước, trong một vài thập kỉ gần đây Các hồ, đầm có diện tích lớn, sinhcảnh phù hợp với các loài chim nước di cư, nhưng hiện thời, các đầm hồ chưathể hiện vai trò quan trọng đối với các loài chim này do hiện tượng săn bắn chưađược kiểm soát ở hầu hết các điểm Sinh cảnh Trảng cỏ ngập nước theo mùa rất
quan trọng đối với nhiều loài chim nước lớn như Sếu đầu đỏ (Grus antigone) và Giang sen (Mycteria teycieophala) Trảng cỏ ngập nước theo mùa đã từng một
phần phân bố khắp Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng đến nay diện tích đã bị thuhẹp thành các vùng nhỏ không liên tục, và thậm chí các diện tích ít ỏi còn lại nàycũng đang bị đe doạ chuyển đổi thành đất nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản
Đất ngập nước ven biển và trên biển bao gồm rừng ngập mặn, các bãingập triều và các đảo xa bờ Rừng ngập mặn là kiểu thảm thực vật tự nhiên củaphần lớn dải ven biển Việt Nam, nhất là Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng SôngCửu Long Do hậu quả của việc rải các chất độc làm rụng lá trong chiến tranh ởViệt Nam, khai thác gỗ củi không bền vững và mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷsản dẫn đến hầu hết diện tích rừng ngập mặn bị phá huỷ Mặc dù chỉ có rất ít vàĐồng bằng Sông Cửu Long, kiểu sinh cảnh này là nơi có nhiều sân chim quantrọng Các bãi lầy gian triều phân bố rải rác ở dọc bờ biển của Việt Nam, tậptrung ở các cửa sông lớn Đây là kiểu sinh cảnh quan trọng đối với loài chimnước di cư do là nơi kiếm ăn quan trọng của các loài chim ven biển, các loàiMòng biển và Nhàn, trong đó có một số loài bị đe doạ toàn cầu như Dẻ mỏ thìa
(Eurynorhychus pygmeus), Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer), Mòng biển mỏ ngắn (Larus saundersi) và Cò mỏ thìa (Platalea minor) Đáng tiếc là kiểu sinh
cảnh này đang bị tác động ở mức độ cao do các hoạt động khai thác nghêu sò và
Trang 19nhiều hoạt động khác của con người, trong đó có việc trồng rừng ngập mặn ởnhiều nơi Các đảo lớn ngoài khơi có rừng che phủ như Côn Sơn là nơi ở thíchhợp của hai loài chim rừng đặc trưng cho các đảo xa bờ là Gầm ghì trắng
(Ducula bicolor) và Bồ câu (Nicoba Caloenas nicobarica) Các đảo đá nhỏ hơn
cũng là nơi sinh sản quan trọng của nhiều loài chim biển như các loài Nhàn, cácloài chim điên Tuy vậy các nghiên cứu điểu học ở sinh cảnh này còn rất ít trong
những năm gần đây [11]
1.2 Khái quát những công trình nghiên cứu chim ở Vườn quốc gia Bến En
Khu rừng đặc dụng Bến En được thành lập ngày 22/03/1990 theo Quyết
định số 307/QĐ/TH đến năm 1992 nâng cấp thành Vườn Quốc gia theo Quyếtđịnh số 33/CT ngày 27/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng Vườn Quốc gia Bến
En là khu vực núi thấp mức độ đa dạng về số loài và cá thể rất phong phú
Năm 1999, Viện Điều tra quy hoạch rừng - Phân viện Bắc Trung Bộ đãtiến hành điều tra Khu hệ động vật Vườn Quốc gia Bến En Theo tài liệu này đãxác định được ở Vườn Quốc gia Bến En có 66 loài chim thuộc 16 bộ, 35 họ, baogồm: Bộ Chim lặn có 01 họ Chim lặn; Bộ Bồ Nông có 01 họ Cốc; Bộ Cò có 01
họ Cò; Bộ Ngỗng có 01 họ Vịt; Bộ Cắt có 02 họ là họ Ưng và họ Cắt; Bộ Gà có
01 họ Trĩ; Bộ Sếu có 02 họ là họ Cun Cút và họ Gà nước; Bộ Dẻ có 02 họ là họChoi Choi và họ Dẻ; Bộ Bồ Câu có 01 họ Bồ câu; Bộ Vẹt có 01 họ Vẹt; Bộ Cu
Cu có 01 họ Cu Cu; Bộ Cú Muỗi có 01 họ Cú Muỗi; Bộ Nuốc có 01 họ Nuốc;
Bộ Xả có 04 họ Bói cá, họ Đầu rìu, họ Hồng Hoàng, họ Xá Gừng; Bộ Gõ Kiến
có 01 họ Gõ Kiến; Bộ Sẻ có 14 họ là: Họ Đuôi cụt, họ Sơn Ca, Họ Nhạn, họChìa Vôi, họ Chào Mào, họ Chim Xanh, họ Bách Thanh, họ Chích choè, họKhướu, họ Chim Chích, họ Bạc Má, họ Sáo, họ Chèo Bẻo, họ Nhạn rừng [12]
Trang 20Từ đó đến nay chưa có nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các tổchức khoa học của địa phương và trung ương nghiên cứu về chim ở Vườn Quốcgia Bến En.
1.3 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái: Danh từ sinh thái học (Eoologia) được nhàsinh vật học người Đức sử dụng lần đầu tiên năm 1866 trong cuốn “Đại cương vềhình thái học cơ thể” theo ông thì sinh thái học là khoa học nghiên cứu về mối quan
hệ giữa sinh vật với ngoại cảnh vô cơ và hữu cơ Ngày nay sinh thái học được mởrộng và nó như một ngành khoa học nghiên cứu về sinh học của môi sinh
Sinh thái học động vật chủ yếu nghiên cứu:
- Những đặc điểm thích nghi của cơ thể động vật với điều kiện sống ngoạicảnh
- Quy luật hình thành và phát triển của các quần thể, quần xã, hệ sinh thái
và năng suất sinh học của chúng
Sinh thái học động vật được nghiên cứu ở ba mức độ:
Sinh thái học cá thể (Autoechlogia);
Sinh thái học quần thể (Population);
Sinh thái học quần xã (Biocenose);
Sinh thái học cá thể nghiên cứu về quan hệ của từng cá thể (của một loài)với các điều kiện ngoại cảnh Các giới hạn sinh thái, các tập tính sinh sống, chu
kỳ sống là những vấn đề cần được lưu ý trong sinh thái học cá thể
Sinh thái học quần thể nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc, sự thích ứng củamột nhóm cá thể cùng loài trong điều kiện sống cụ thể Trong sinh thái học quầnthể điều cần chú ý là các mối quan hệ nội bộ các cá thể và sự biến động sốlượng
Trang 21Sinh thái học quần xã nghiên cứu các nhóm loài sinh vật khác nhau ở mộtkhu vực tự nhiên Điều cần được chú ý ở đây là mối quan hệ khác loài, đặc điểmcấu trúc của quần xã và môi quan hệ giữa quần xã với ngoại cảnh
Mục đích quan trong của sinh thái học động vật nói chung và sinh tháí họcquần thể chim nói riêng là tìm hiểu các mối quan hệ giữa động vật với các điềukiện ngoại cảnh và các quy luật vận động của chúng Đây là những kiến thức cơbản và quan trọng để con người có thể điều khiển xu thế phát triển của quần thểtheo hướng có lợi nhất
Quần thể chim là một nhóm cá thể của cùng một loài sống trong mộtkhoảng không gian xác định Như vậy quần thể là hình thức tồn tại của loài trongđiều kiện cụ thể của cảnh quan địa lý Loài gồm có nhiều quần thể, và mỗi quầnthể có nhiều cá thể của loài họp lại Các quần thể của các loài khác nhau bỡinhững đặc điểm sinh thái, sinh lý, hình thái di truyền và địa lý phân bố
Nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của quần thể;
Nghiên cứu về mật độ và sự sinh trưởng của quần thể;
Thành phần tuổi của quần thể;
Sự phân bố của quần thể Phân bố các cá thể trong quần thể, phân bố theosinh cảnh
Các nhân tố sinh vật: Mối quan hệ trong quần thể, mối quan hệ ngoài quầnthể, quan hệ các quần thể chim thú rừng, quan hệ Con người với chim thú rừng,mối quan hệ thức ăn v.v
1.4 Nghiên cứu bảo tồn các loài chim và chim nước
Tổ chức BirdLife đặt Việt Nam và một trong những nước hàng đầu thếgiới về mức độ đa dạng sinh học và các loài chim bị đe doạ (tức là các loài bị đedoạ trong phân hạng của IUCN) Việt nam là nước có số lượng chim đặc hữu lớn
Trang 22nhất Đông Nam Á và cũng là quốc gia có tốc độ tăng dân số cao nhất thế giới,điều đó dẫn đến nhu cầu sử dụng quá mức đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên
ở các khu bảo vệ Tỷ lệ mất rừng tại Việt Nam tăng lên nhanh chóng, nếu tỷ lệnày vẫn tăng liên tục thì phần diện tích đất có rừng hiện còn lại của Việt Nam sẽhoàn toàn mất vào năm 2090 Nhiều loài chim chưa được bảo vệ một cách tươngxứng trong hệ thống các khu bảo tồn hiện tại Tổ chức BirdLife trợ giúp công tácbảo tồn đa dạng sinh học bao gồm:
- Xác định các ưu tiên bảo tồn - tiếp cận loài:
Sử dụng chim như một nhóm sinh vật chỉ thị, BirdLife tiến hành xác định,tìm cách giải quyết các ưu tiên toàn cầu về bảo tồn Sự tuyệt chủng của một loàinào đó đều là dấu hiệu xác đáng nhất báo hiệu sự tổn thất về đa dạng sinh học
Do vậy ngăn ngừa sự tuyệt chủng của các loài chim trong tự nhiên là nhiệm vụhàng đầu Tổ chức BirdLife, đã tổ chức và nghiên cứu và xây dựng sách đỏ cácloài chim, đây là một trong danh lục các loài chim có nguy cơ bị tuyệt chủng,ngoài ra còn phát hiện các loài mới và tái phát hiện các loài
- Xác định các ưu tiên bảo tồn - các vùng và các sinh cảnh quan trọng: Các loài chim phân bố phân tán và rất đa dạng ở tất cả các vùng trên thếgiới tại các sinh cảnh và các độ cao khác nhau Các nghiên cứu của BirdLifecũng đã chỉ ra rằng phần lớn những vùng được xác định là quan trọng dựa trên
cơ sở khu hệ chim thì cũng đồng thời rất quan trọng đối với các nhóm động vật,thực vật khác
- Bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng của các loài chim nước:Đây là sinh cảnh của nhiều loài chim nước Sự phá huỷ các vùng đất ngậpnước trong tự nhiên để canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản hiện đang đe
Trang 23doạ sự tồn tại của sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên, do vậy tầm quan trọng bậcnhất phải bảo tồn những sinh cảnh này
- Mở rộng hệ thống rừng đặc dụng cho Việt nam vào thế kỷ 21, xây dựngnăng lực cho cán bộ nghiên cứu về chim, đánh giá các khu bảo vệ là những ưutiên trong việc bảo tồn các loài chim nước [11]
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của một số loài chim nước tại Vườn Quốcgia bên En; nghiên cứu về thức ăn và cách tìm kiếm, sinh sản của chúng baogồm mùa sinh sản, làm tổ đẻ trứng và ấp và nuôi con non; hiện tương di cư củachim, chim và sinh cảnh, chim và con người, nhịp điệu hoạt động ngày đêm Từ
đó tìm ra các giải pháp bảo tồn chúng [4]
Trang 24
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các mối đe dọa đến các loài chim nước và sinh cảnh;
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các loài chimnước, đáp ứng hoạt động du lịch sinh thái
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Các loài chim nước đang sinh sống tại VQG Bến En và sinh cảnh sống củachúng Có 4 loài chim được lựa chọn trong đề tài này là:
Cò trắng Trung Quốc (Egretta garzetta Swinhoe, 1860)
Cò Bợ (Ardeola bacchus Bonaparte, 1855)
Diệc lửa (Ardea purpurea Meyen, 1834)
Diệc Xám (Ardea cinerea Gould, 1843)
2.3 Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Không gian và địa điểm nghiên cứu
Trang 25Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi khu vực vùng lõi Vườn Quốcgia bến En trên địa bàn huyện Như Thanh và Như Xuân.
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tháng 7/2012- 3/2013
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu thành phần các loài chim nước và các loài thường gặptại VQG Bến En
2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm các dạng sinh cảnh chính của các loài chimnước tại VQG;
2.4.3 Xác định diện tích ngập nước theo mùa và ngập nước thường xuyên
có ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của các loài chim nước;
2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm về hình thái, mùa sinh sản, nơi làm tổ của mộttrong số loài chim nước tại VQG Bến En;
2.4.5 Nghiên cứu các mối đe dọa đến loài, sinh cảnh của chim nước vàhiện trạng quản lý bảo tồn;
2.4.6 Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững các loài chimnước tại VQG Bến En
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Đề tài đã tiến hành thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiêncứu Sau đó tiến hành rà soát, đánh giá và kế thừa có chọn lọc các thông tin Cáctài liệu thu thập bao gồm:
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ Quy hoạch RĐD, bản đồ hành
chính
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập khu rừng đặc dụng
Trang 26- Các luận chứng điều chỉnh Quy hoạch
- Báo cáo về đa dạng sinh học
- Báo cáo về dân sinh- kinh tế - xã hội; An ninh – quốc phòng
- Các nghiên cứu, dự án thực hiện trong KBT
- Các báo cáo, bài báo khoa học liên quan đến đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản pháp lý và chính sách
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương
Mục đích của phương pháp này là nhằm thu thập các thông tin sơ bộ vềhiện trạng, phân bố cũng như các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của các loàichim nước
Đối tượng phỏng vấn là những người có kinh nghiệm đi rừng, thợ săn, vàcán bộ của KBT, có hiểu biết tốt về các loài chim được lựa chọn phỏng vấn đểxác định sơ bộ về sự có mặt của các loài cũng như những vùng phân bố quantrọng, tập tính, sinh cảnh ưa thích của chim trong KBT Để xác định loài cụ thể,hình ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài cũng được đưa cho các đốitượng phỏng vấn xem và nhận diện Ngoài ra, trong quá trình phỏng vấn các đốitượng phỏng vấn luôn được khuyến khích cho xem những mẫu vật còn giữ lạilàm kỷ niệm hoặc sử dụng cho một số mục đích khác trong nhà (Vật nuôi, mẫunhồi, lông, mỏ, chân…) Đây là những bằng chứng về sự có mặt của loài, tuynhiên nguồn gốc của mẫu vật cần được xác định rõ ràng Các thông tin thu thậpđược từ phỏng vấn được chúng tôi sử dụng làm cơ sở cho quá trình thiết kế điềutra thực địa Sự có mặt của loài chỉ được xác định khi quan sát trực tiếp ngoàithực địa
Trang 27Tổng số có 10 người được phỏng vấn Nội dung và tên người được phỏngvấn được ghi vào phụ lục 2.1.
Phụ lục 2.1 Biểu phỏng vấn người dân địa phương
GhichúĐịa phương Phổ thông
2.5.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Mục đích của phương pháp này là xác định sự có mặt và phân bố của các loài chim nước tại khu vực nghiên cứu
Tuyến được sử dụng để điều tra về sư có mặt và phân bố của các loài chimnước Tổng số có 04 tuyến điều tra được lập tại khu vực nghiên cứu Mỗi tuyến
có chiều dài từ 3-10 km Mỗi tuyến được quan sát lặp lại 4 lần Thời gian điềutra bắt đầu từ 6 giờ sáng và kết thúc lúc 18 giờ chiều Sự có mặt của các loàichim nước được quan sát trực tiếp bằng mắt thường và ống nhòm nhòm loạiBAIGISH 8x30m Ngoài ra, các thông tin khác được ghi nhận trên tuyến baogồm vị trí quan sát được loài, hoat động của loài (kiếm ăn, bơi lội ), số lượngcác thể, sinh cảnh, Nếu bắt gặp loài đang ăn, đề tài cũng xác định loại thức ănnếu có thể Chi tiết mẫu biểu ghi chép trên tuyến được trình bày tại phụ lục 2.2
Phụ lục 2.2 Biểu quan sát trên tuyến
Trang 28Người điều tra Ngày điều tra
Khu vực điều tra
2.5.4 Phương pháp điều tra điểm.
Mục đích của phương pháp này là nghiên cứu số lượng chim trong mùasinh sản, nơi cư trú thường xuyên của chúng Nguyên lý của việc đếm chimtrong mùa sinh sản, và nơi cư trú thường xuyên là thực hiện đếm lặp tại một sốđiểm nhất định trong khu vực nghiên cứu Điều này cho phép người điều trađánh giá được mức độ phong phú về số lượng cá thể trong loài, nghiên cứu đượctập tính làm tổ,sinh sản, cư trú, nhịp điệu hoat động ngày đêm của chim, kích cởcủa quần thể
Đề tài đã lập 5 ô cố định để quan sát nơi làm tổ, nơi cư trú thường xuyêncủa chim nước Trong đó, 2 ô quan sát nơi làm tổ của Cò Bợ, 3 ô quan sát nơi cưtrú thường xuyên của Cò trắng Diện tích mỗi ô 1000m2 có kích thước 20x50m
Đề tài tiến hành quan sát bằng mắt thường, ống nhòm, máy ảnh Số lượng cá thể
Cò trắng được đếm thông qua hình ảnh chụp được trước khi Cò trắng về cư trúthời điểm bắt đầu quan sát từ 16 giờ và kết thúc đến khi trời tối khoảng 19 giờ vàđược quan sát 5 ngày liên tục, bằng cách ra điểm cư trú trực sẳn trước thời gian
Cò trắng sau khi kiếm ăn bay về khu vực cư trú và dùng máy ảnh chụp chúng khichúng chưa nhập đàn chung, đếm số lượng qua hình ảnh đã chụp được Đối vớikhu vực làm tổ trên mỗi ô cố định chúng tôi tiến hành quan sát số tổ trên mỗi cây, để có thể biết được số lượng của loài qua đặc tính sinh học của chúng
2.5.7 Phương pháp xác định đặc điểm làm tổ và sinh sản
Trang 29Mục đích của phương pháp này xác định được đặc điểm làm tổ, vật liệulàm tổ, sinh sản của các loài chim nghiên cứu Tổ được quan sát bằng mắtthường hoặc ống nhòm.
Để mô tả đặc điểm vị trí nơi làm tổ, đề tài đã sử dụng thước đo và máy đokhoảng cách laser để xác định vị trí của các nơi làm tổ so với mặt đất ,Khoảngcách của tổ từ thân cây được đo từ trung tâm thân cây đến vị trí làm tổ, và chiềucao làm tổ đo từ mặt đất đến dưới của tổ (Hình 3.1) Các đặc điểm về vị trí làm
tổ của các loài khác nhau được thu thập riêng biệt Ngoài ra, đề tài cũng tiếnhành đếm số lượng các quả trứng trong mỗi tổ và tỷ lệ sống sót của con nontrong các tổ được lựa chọn, quan sát vật liệu làm tổ của chim, tập tính ấp trứngcủa chim bố, mẹ
3.5.8 Phương pháp xác định mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của chim nước
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí làm tổ của một số loài chim nước
Vị trí Tổ
Vị trí tổ
Mặt đất
Độ cao từ mặt đất đến vị trí làm Tổ Khoảng cách từ thân cây chính đến
vị trí làm Tổ
Trang 30Mục đích của phương pháp xác định được mối đe doạ trực tiếp và mối đedọa gián tiếp của loài chim nước, trên các tuyến điều tra, ở các ô định vị vàphỏng vấn người dân về các thông tin về mức độ tác động của con người đếnloài chim nước và sinh cảnh của chúng Các thông tin thu thập được ghi vào mẫubiểu.
Sau khi xác định và liệt kê các mối đe doạ của chim trong Vườn quốc giatiến hành đánh giá cho điểm theo thứ tự từ 1 đến n điểm, tương ứng với n mối đedọa tùy từng mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ và tránh cho hai mối đe dọa có sốđiểm bằng nhau dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa, cường
độ ảnh hưởng của mối đe dọa và tính cấp thiết của mối đe dọa Theo phươngpháp của (Margoluis and Salafsky, 2001)
Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa: Tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi mối
đe dọa trong khu vực nghiên cứu Ở đây chúng tôi xem xét mối đe dọa đó ảnhhưởng đến toàn bộ khu vực nghiên cứu hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất(n điểm) đối với mối đe dọa mà ảnh hưởng đến diện tích rộng nhất và cho điểmthấp nhất (1 điểm) cho những mối đe dọa ảnh hưởng đến diện tích nhỏ nhất
Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: Mức độ phá hủy của mối đe dọa đốivới sinh cảnh Ở đây chúng tôi xem xét liệu mối đe dọa đó phá hủy toàn bộ sinhcảnh trong khu vực đó hay chỉ ảnh hưởng một phần Cho điểm cao nhất đối vớimối đe dọa nào có mức độ tác động mạnh nhất và cho điểm giảm dần theo cường
độ ảnh hưởng của các mối đe
Tính cấp thiết của mối đe dọa: Mối đe dọa ảnh hưởng hiện tại hay nó sẽxảy ra trong tương lai Việc cho điểm tiêu chí này tương tự với tiêu chí trênnghĩa là mối đe dọa nào có tính nguy cấp nhất sẽ cho điểm cao nhất và giảm dầntheo tính nguy cấp
Trang 31Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa được nêu trong (biểu 2.4).Sau khi cho điểm và tính tổng điểm tiến hành xếp hạng các mối đe doạ, mối đedọa mạnh nhất thì cho điểm cao nhất.
3.5.9 Tài liệu sử dụng trong phân loại và đánh giá
Xác định các loài chim tại thực địa bằng sách hướng dẫn nhận biết chim
có hình vẽ màu của Robson (2000) và sách Chim Việt Nam của Nguyễn Cử, LêTrọng Trải, Karen Philipps (2000)
Tên phổ thông, tên khoa học và phân bố theo, Võ Quý và Nguyễn Cử(1995) Danh pháp và tên tiếng Anh được sử dụng theo: (1) Inskipp, T., Lindsey,
N., & Duckworth, W 1996 Annotated Checklist of the Birds of the Oriental
Region Oriental Bird Club, Sandy, Bedfordshire và tên tiếng Việt được sử dụng
dựa theo tài liệu (2) Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995 Danh lục các loài chim ViệtNam Những tài liệu tham khảo khác được trình bày trong mục tài liệu thamkhảo
3.5.10 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu của đề tài sẽ được xử lý bằng các phương pháp thống kê trên cơ sởứng dụng các phần mềm ứng dụng: Excel và SPSS ứng dụng trong Lâm nghiệp
Trang 32Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Bến En năm về phía tây nam của tỉnh Thanh Hoá, thuộccác xã Xuân Hoà, Xuân Quỳ, Hoá Quỳ, Bình Lương, Tân Bình của huyện NhưXuân; xã Hải Long, Hải Vân, Xuân phúc, Xuân Thái của huyện Như Thanh ; cótoạ độ địa lý:
Phía Nam: Từ đỉnh 64 theo dong về làng Quảng tới dốc Quảng
3.2 Địa hình, đia chất, thổ nhưỡng
3.2.1 Địa hình:
Vườn Quốc gia Bến En thuộc rừng núi thấp , rừng kín, mưa ẩm thườngxanh và nửa rụng lá, có đỉnh Bao Cù cao nhất 497m ,độ dốc trung bình 20- 25º ,xen lẫn núi đá vôi có các cụm hang động và đặc trưng của loài Trai lý - Thị rừng
3.2.2 Địa chất, thổ nhưỡng:
Trang 33Địa chất do các đá cổ và đá trẻ thời ký đệ tứ tạo thành, có nhiều loại đáMăcma, trầm tích và biến chất Các loại phiến thạch, sa thạch và đá vôi thuộc kỷ
đệ tam
Các loại đá mẹ:
- Đá vôi: Thuộc khu vực núi Đàm, núi Bao Khế, núi Đầu Lớn thuộc xã hảiVân huyện Như Thanh Đá có màu xám trắng đá có màu xám hay màu trắng, cónhiều cụm hang động, hang suối Tiên, hang Ngọc, hang Lò Cao kháng chiến
- Đá phiến thách sét: Chiểm chủ yếu diện tích Vườn kiến trúc phiến mỏng,màu sắc thay đổi dễ phong hoá
- Đá sa thạch: Tập trung một số đảo và đồi thuộc địa phận Xuân lý xã TânBình huyện Như Xuân, kiến trúc hạt thô do các hạt cát tạo thành, màu vàng nhạt,
đỏ hay vàng đỏ, phong hoá mạnh do đất có thành phần cơ giới nhẹ
- Đá phiến thạch Mica Phân bố ở khu vực Điện Ngọc xã Xuân TháiHuyện Như Thanh, là loại đá biến chất có cấu tạo phiến mỏng gồm nhiều vẩyánh đá phong hoá cho tầng đất dày
Các loại đất gồm: Đất đá vôi có diện tích 1077 ha, đất feralit phát triểntrên nhóm đá sét có diện tích 11.438 ha, đất feralit phát triển trên nhóm đá cátdiện tích 1240 ha và đất vàng,nâu biển đổi do trồng lúa nước 310 ha
3.3 Khí hậu, thuỷ văn.
3.3.1 Khí hậu:
Bến En thuộc tiểu khí hậu trung du bắc trung bộ Theo số liệu quan trắc
của trạm khí tượng Như Thanh cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23,3 0C
- Nhiệt độ cực tiểu: 3 0C (tháng 1
- Nhiệt độ cực đại: 410C (tháng 5
Trang 34- Tổng lượng mưa cả năm: 1.790 mm
- Độ ẩm trung bình hàng năm: 85%
- Tổng nhiệt cả năm: 8.500 0C
Khu vực Vườn Quốc gia Bến En có gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10 Đôi khi có các đợt gióLào khô nóng vào tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm
Lượng mưa trong vùng khá cao và phân làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từtháng 5 tới tháng 11 chiếm 90 % tổng lượng mưa trong năm thường gây nênnhững trận lũ lớn Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 10% tổnglượng mưa hàng năm nhưng thường có mưa phùn và bốc hơi từ hồ Bến En nêngiữ được độ ẩm cho cây cối trong vùng
3.3.2 Thuỷ văn:
Hồ Bến En có dung tích từ 250.000.000 đến 400.000.000 m3 nước, là thuỷvực của 4 suối lớn :
- Suối Hận dài 16 km bắt nguồn từ núi Bao Cù;
- Suối Thổ dài 20 km bắt nguồn từ nui Co qua làng Quảng;
- Suối Cốc dài 10,5 km bắt nguồn từ núi Voi qua làng Cốc;
- Suối Tây Tọng dài 12 km bắt nguồn từ dọc khoan qua Bình Lương
Hồ có nước quanh năm, các suối hẹp, sâu tốc độ dòng chảy mạnh về mùa
lũ, ở khu vực gần đập Mẩy diện tích mặt hồ rộng lớn có 5 nhánh chính có tácdung cung cấp nước thuỷ lợi cho 12.000 ha cho 3 huyện Như Thanh, NôngCống, Quảng Xương và nước sinh hoạt cho vùng hạ lưu của 3 huyện Nhà máythuỷ điện công suất 2 MWA, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Là sinh cảnh ưa
thích của nhiều loài chim nước
3.4 Diện tích khu vực nghiên cứu và kiểu rừng
Trang 35Tổng diện tích Vườn 16.634 ha; trong đó đất lâm nghiệp 13.755ha.
- Đất có rừng 8.544 ha;
- Rừng tự nhiên 8.403 ha;
- Rừng trồng 141 ha;
- Đất không có rừng 5.211 ha;
- Đất ngoài Lâm nghiệp
+ Đất nông nghiệp 310 ha;
+ Đất có Hồ ngập 2281 ha;
- Đất khác 288 ha
Các kiểu rừng: Rừng Vườn Quốc gia Bến En thuộc kiểu rừng lá rộngthường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (theo phân loại của Thái Văn Trừng)bao gồm các kiểu phụ như sau
- Rừng kín thương xanh ưu thế Lim xanh- Ngát;
- Rừng kín thường xanh Lim xanh - Săng lẻ;
- Rừng kín thường xanh ưu thế Lim xanh - Lát hoa- Gội nếp;
- Rừng kín ưu thế Trai lý - Thị rừng - Bản xe trên đá vôi
Kiểu phụ nhân tác:
- Rừng kín Lim xanh- Sau sau, sau khai thác
- Rừng kín Nứa- Giang sau nương rẩy
- Rừng Mỡ, Keo, Bạch đàn trồng
3.5 Đa dạng sinh học
3.5.1 Hệ sinh thái ngập nước:
Vườn Quốc gia Bến En có hồ sông Mực sâu hàng chục mét, là thủy vựccủa bốn con suối lớn trong vùng đây là hệ sinh thái quan trọng là nơi kiếm ăn, cưtrú của các loài chim nước Sau khi xây dựng đập Mẩy năm 1979, hồ bị chia cắt
Trang 36thành hồ Thượng rộng 2.281 ha và hồ Hạ rộng chừng 800ha Trên mặt hồ có 21hòn đảo lớn kết hợp với hệ thống hang động, là địa điểm để phát triển du lịchsinh thái của Vườn Tuy là hồ nhân tạo nhưng hồ sông Mực có khu hệ cá khá đadạng với sản lượng cá cao nên là sinh cảnh kiếm ăn của các loài chim nước.Trong các năm từ 1983 đến 1987, sản lượng cá đánh bắt tăng lên từ 14 đến 30tấn nhưng năm 1989 giảm xuống còn 7 tấn Năm 1993, đơn vị thuỷ sản ngừnghoạt động Người dân địa phương tiếp tục đánh cá ở trên hồ và các hệ thuỷ liênquan đến hồ, mặc dù các hoạt động này đã vi phạm tới các quy chế quản lý củaVườn Quốc gia (Tordoff et al 2000)
- Khu hệ thú:
Khu hệ thú hiện có 79 loài, thuộc 24 họ và 8 bộ khác nhau còn ghi nhậnđược ở đây Trong thời gian khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu, chúng tôicũng quan sát được sự xuất hiện với mức độ khá phong phú của một số loài
thuộc bộ gặm nhấm như Sóc bụng đỏ (Callosciurus etythracus); một số loài
thuộc bộ ăn thịt – họ cầy được ghi nhận qua dấu phân; các loài thú lớn nhưHoẵng, Hươu, Sơn dương, … được ghi nhận qua thông tin phỏng vấn người dân
Trang 37và kiểm lâm địa bàn, không quan sát được ngoài tự nhiên trong thời gian nghiêncứu.
- Khu hệ chim:
Khu hệ chim tại VQG Bến En hiện rất phong phú với nhiều chủng loạikhác nhau Tổng số có 261 loài chim, thuộc 56 họ, 18 bộ khác nhau Trong thờigian khảo sát tại khu vực nghiên cứu, phần lớn các loài chim đều được ghi nhậnbằng quan sát trực tiếp Đặc biệt, hiện tại quần thể Cò trắng xuất hiện ở đây với
số lượng rất lớn, số cá thể trong một đàn có thể lên tới hàng nghìn con Điều nàycàng khẳng định rõ tính đa dạng khu hệ chim ở VQG Bến En, không chỉ đa dạng
về số loài mà còn số lượng cá thể của mỗi loài
- Khu hệ bò sát, ếch nhái:
Kết quả khảo sát thực địa cộng với việc kế thừa số liệu từ báo cáo điều trakhu hệ động vật VQG Bến En năm 2000 của phân viện điều tra Bắc trung bộ đãthống kê được 84 loài bò sát - ếch nhái, thuộc 21 họ khác nhau Trong số này có
9 loài thuộc phụ lục IIB, gồm: Kỳ đà hoa (Varanus salvator), Trăn đất (Python
molurus) Rắn sọc dưa Elaphe radiata, Rắn ráo trâu (Ptyas mucosus), Rắn cạp
nong (Bugarus fasciatus), Rắn cạp nia Bắc (Bugarus multicinetus), Rắn hổ mang
(Naja naja), Rùa đầu to (Platysternum megacephalum), rùa núi vàng (Indotestudo elongata); 2 loài thuộc phụ lục IB, gồm: Rắn hổ chúa
(Ophiophagus hannah), Rùa hộp ba vạch (Coura trifasciata)/ nghị định 32/NĐ –
2006 Trong thời gian điều tra, khảo sát ngoài thực địa chúng tôi cũng ghi nhận
được 02 cá thể hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), 01 cá thể rắn ráo thường (Ahaetulla prasina) Ngoài ra, Ô rô vảy (Acanthosaura lepidogaster) cũng được
quan sát trên tuyến điều tra thực địa
- Khu hệ cá:
Trang 38Kết quả kháo sát đã thống kê được 68 loài cá, thuộc 7 bộ, 14 họ, 46giống Như vậy, bình quân mỗi bộ có 2 họ, 7 giống và 10 loài Mỗi họ bình quân
có hơn 3 giống, 5 loài Họ cá chép là họ có số loài và giống nhiều nhất, với 25giống và 37 loài, chiếm 54% Họ cá Chạch với 4 giống, 6 loài, chiếm 8,7% Họ
có số loài thấp nhất là họ Lươn và họ Cá sóc, mỗi họ chỉ có 1 loài duy nhất
- Côn trùng:
Thành phần loài côn trùng ở VQG Bến En nói chung chịu ảnh hưởngnhiều vào các yếu tố sinh học, các loài thực vật làm thức ăn và đặc biệt là cácloài thiên địch và ký sinh Các yếu tố khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng rất lớnđến thành phần côn trùng Theo kết quả điều tra, khảo sát đã ghi nhận Lớp côntrùng có 12 bộ, 78 họ và 499 loài Như vậy, trung bình mỗi bộ có gần 7 họ, 42loài, trung bình mỗi họ có hoảng 6 loài Hai bộ có số loài nhiều nhất là bộ cánhphấn (Lepidoptera) với 25 họ, 298 loài và bộ cánh cứng (Homoptera), với 18 họ,
102 loài Những bộ khác cũng có số loài tương đối phong phú, bao gồm: Bộcánh đều (Homoptera) 23 loài, bộ cánh màng (Hymeuoptera) 23 loài, bộ nửacánh (Hemiptera) 21 loài
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thành phần các loài chim nước tại VQG Bến En và các loài chim nước được phát hiện trong thời gian thực hiện đề tài
4.1.1 Thành phần loài chim nước tại Bến En
Kết quả điều tra từ các nguồn thông tin khác nhau cho thấy tại VQG Bến
En có tổng số 13 loài chim nước, thuộc 4 họ, 4 Bộ Kết quả được trình bày tạibiểu 4.1
Biểu 4.1 Danh lục các loài chim nước tại Vườn Quốc gia Bến En
Trang 40Egretta intermedia Egretta sacra Nyctiocrax nycticororax Dupetor flavicollis
Chú thích: QS: Quan sát; TL: Tài liệu; PV: Phỏng vấn.
Qua bảng 4.1 ta thấy trong các Bộ được ghi nhận tại VQG, Bộ cò có sốlượng loài nhiều nhất, trong khi đó 3 bộ còn lại mỗi bộ chỉ có 1 loài Trong tổng
số 13 loài ghi nhận tại VQG, chỉ có 08 loài quan sát trực tiếp trong đợt điều tranày, 01 loài thông qua tài liệu và 04 thông qua phỏng vấn
4.1.2 Thành phần và số lượng các loài chim nước quan sát được
Tổng số có 8 loài chim nước được quan sát trực tiếp trong đợt điều tranày, thuộc 03 họ và 03 bộ Kết quả được thể hiện tại bảng 4.2
Biểu 4.2 Thành phần và số lượng các loài chim nước được quan sát trên tuyến điều tra.