Từ đối thoại trong đời sống đến đối thoại trong văn chương, Bakhtin và nhóm của ông đã quan tâm nghiên cứu và lý giải một cách tường tận để khẳng định tính đối thoại được thể hiện ở nhiề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ TUYẾT
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN
KHÁNH NHÌN TỪ LÝ THUYẾT ĐỐI THOẠI
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THÁI PHAN VÀNG ANH
Huế, năm 2014 Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Tuyết
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Huế, bằng
sự nổ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, gia đình và bạn
bè đã giúp tôi đã hoàn thành luận văn khoa học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Thái Phan Vàng Anh người hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo khoa Ngữ văn, Trường Đại học
Sư phạm Huế đã giúp đỡ và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Huế đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này
Huế, tháng 9 năm 2014 Tác giả luận văn
Lê Thị Tuyết
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 TỪ LÝ THUYẾT ĐỐI THOẠI ĐẾN TƯ DUY ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN KHÁNH 11
1.1 Từ đối thoại trong đời sống đến đối thoại trong văn chương 11
1.1.1 Đối thoại trong ngôn ngữ giao tiếp 11
1.1.2 Đối thoại trong văn học, nhìn từ lý thuyết của Mikhail Bakhtin 13
1.2 Tư duy đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh 15
1.2.1 Đối thoại để luận giải trong tiểu thuyết lịch sử 15
1.2.2 Đối thoại như một hình thức kiến tạo ngôn từ trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 19
CHƯƠNG 2 TÍNH ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN KHÁNH TỪ SỰ ĐAN CÀI CÁC LỚP DIỄN NGÔN 24
2.1 Đối thoại về lịch sử 25
2.1.1 Đối thoại - một cách thức nhìn nhận lại lịch sử 25
2.1.2 Sự thật và hư cấu qua hình thức diễn giải lịch sử 29
2.2 Đối thoại về văn hoá 32
2.2.1 Đối thoại - truy tìm cội nguồn bản sắc văn hoá dân tộc 32
2.2.2 Đối thoại - con đường nối kết văn hoá từ truyền thống đến hiện đại 35 2.3 Đối thoại về tư tưởng, quan niệm 38
2.3.1 Từ những đối thoại của nhân vật đến những tranh luận, xung đột tư tưởng 38
2.3.2 Đối thoại về quan niệm nhân sinh 43
2.4 Liên văn bản - hình thức đối thoại ngầm giữa các diễn ngôn 45
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 5CHƯƠNG 3 TÍNH ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ 50
3.1 Người kể chuyện và chiến lược trần thuật giàu tính đối thoại 50
3.1.1 Người kể chuyện với chức năng tạo dựng tình huống đối thoại 50
3.1.1.1 Người kể chuyện toàn tri 51
3.1.1.2 Người kể chuyện chủ quan 55
3.1.2 Điểm nhìn trong trần thuật đối thoại 58
3.1.2.1 Điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật trong sự phối hợp linh hoạt của chiến lược trần thuật đối thoại 59
3.1.2.2 Sự di động điểm nhìn trong trần thuật đối thoại 61
3.2 Nhân vật và các hình thức đối thoại 63
3.2.1 Độc thoại của nhân vật - một hình thức vi đối thoại và vấn đề tự nhận thức 64
3.2.2 Đối thoại qua hình thức trao đáp của nhân vật 71
3.3 Tính đối thoại từ ngôn ngữ, giọng điệu 75
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 75
3.3.2 Giọng điệu mang tính chất đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 78
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC P1
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Mục đích ý nghĩa đề tài
1.1 Cuộc sống là một dòng chảy không bao giờ ngưng đọng và hoàn kết khi con người vẫn từng ngày bồi đắp cho những cái “đỉnh” cao hơn; nhưng chẳng muốn dừng lại nhìn ngắm thoả mãn bất kì một cái đỉnh nào Trong tương quan đó, tiểu thuyết - một thể loại văn học “chưa đông cứng”, “chưa hoàn kết” của “thì hiện tại chưa hoàn thành” ra đời như là một tất yếu để phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát nhất và minh giải cuộc đời ở tầng sâu nhất với đúng nghĩa của nó Thế mạnh đó của tiểu thuyết, mà nhất là tiểu thuyết đương đại đã khẳng định được giá trị của thể loại nòng cốt và đầy hấp lực này
Với ưu thế vượt trội so với các thể loại khác, tiểu thuyết đương đại đã xông xáo khám phá mọi ngóc ngách, những vấn đề bức xúc, nóng hổi của đời sống hiện đại Trong xu hướng mở rộng biên độ và không giới hạn dung lượng, đề tài, tiểu thuyết không chỉ dừng lại ở những vấn đề hôm nay mà còn quan tâm đến những cái
đã qua Quá khứ hay lịch sử là tấm đệm để con người bước đến hiện tại và vươn tới tương lai Bỏ qua quá khứ đồng nghĩa với đánh mất chính mình Từ đây tiểu thuyết lịch sử đã ra đời và làm đúng vai trò của nó trong bức tranh đa dạng của tiểu thuyết
Xét trong diện mạo chung của văn học, không thể không ghi nhận đóng góp của tiểu thuyết lịch sử Đến những năm gần đây thể loại này đã thực sự gây được tiếng vang trên văn đàn với những cây bút tiêu biểu
1.2 Nguyễn Xuân Khánh xuất hiện trên văn đàn đương đại Việt Nam như một hiện tượng mới lạ nhưng nhanh chóng gây sức hút bằng tài năng và những cống
hiến nghệ thuật Với bộ ba tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội
gạo lên chùa giành được nhiều giải thưởng của Hội nhà văn trong nước, tiểu thuyết
lịch sử Nguyễn Xuân Khánh đã khẳng định được vị trí trong bức tranh đa sắc của văn học thời đổi mới Tác phẩm của ông có sức hấp dẫn lớn đối với công chúng bởi những trang viết không chỉ dung chứa một trữ lượng kiến thức lớn văn hoá, lịch sử
và văn học mà còn giàu tính nhân văn sâu sắc, phản ánh được những vấn đề vừa bức thiết vừa vĩnh hằng của bức thông điệp về sự canh tân đất nước và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc Với những gì đạt được nói trên, có thể thấy Nguyễn Xuân Khánh không chỉ đến với công chúng trong vai trò của một nhà văn, mà ông còn thể
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 7hiện vai trò của một trí thức tâm huyết với lịch sử và văn hoá truyền thống của Việt Nam Đánh giá tài năng Nguyễn Xuân Khánh, Đoàn Ánh Dương khẳng định:
“ Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công, không chỉ trong vai trò của một nhà văn, mà còn trong vai trò của một trí thức luôn quan tâm tới các vấn đề văn hoá - lịch sử, quốc gia, dân tộc”
1.3 Tính đối thoại là một đặc trưng của tiểu thuyết theo quan niệm của Bakhtin/ nhóm Bakhtin Đối thoại vốn là nguồn suối duy trì cuộc sống con người trong trường nghĩa “con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Không trở thành đối tượng tham gia giao tiếp, con người đánh mất đi một phần bản chất của mình Từ đối thoại trong đời sống đến đối thoại trong văn chương, Bakhtin và nhóm của ông đã quan tâm nghiên cứu và lý giải một cách tường tận để khẳng định tính đối thoại được thể hiện ở nhiều phương diện trong tiểu thuyết phức điệu Phát hiện này về sau đã được các nhà nghiên cứu mở rộng phạm vi thể hiện tính đối thoại của văn chương, đồng thời vận dụng lý thuyết đối thoại để cắt nghĩa các tác phẩm văn học nổi tiếng
Trên cơ sở nắm bắt một số vấn đề cơ bản của lý thuyết đối thoại, chúng tôi nhận ra tính đối thoại là một nét cách tân mới mẻ của tiểu thuyết lịch sử hiện đại Nói như vậy không có nghĩa là trước đó rất lâu, tiểu thuyết lịch sử của ta chưa thể hiện đặc tính này Tuy nhiên, từ sau thời kỳ Đổi mới (sau 1986), với tâm thế hoài nghi, nhận thức lại lịch sử, các tiểu thuyết gia đã không ngừng xới lật quá khứ và đưa tất cả vào lập trường đối thoại Sức hấp dẫn của tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam, có thể nói, chủ yếu nằm ở tính đối thoại Trong đó, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh đặc biệt gây sự chú ý của người đọc bởi hàm lượng văn hóa lịch sử, bởi cách nhìn nhận lịch sử đa chiều và bởi tính đối thoại được biểu hiện trên nhiều phương diện
Vận dụng lý thuyết đối thoại để khảo sát tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi nhận thấy phương thức đối thoại đã góp phần không nhỏ làm nên giá trị những tác phẩm của nhà văn trong trào lưu chung của tiểu thuyết lịch sử đương đại Qua nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sẽ góp phần chỉ ra những giá trị riêng, “những đối thoại lớn được mở ra” từ phương thức biểu hiện đến nội dung tư tưởng của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bối cảnh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau thời kì Đổi mới Đó là những lý do để chúng tôi chọn vấn đề này làm đề
tài nghiên cứu
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 82 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu vận dụng lý thuyết đối thoại
Mikhail Bakhtin và nhóm của ông (gồm Voloshinov, Medvedev) là những người quan tâm nghiên cứu triết thuyết đối thoại mà hiện nay đang được vận dụng
và phát huy hiệu quả tích cực ngày càng to lớn trong đời sống văn minh nhân loại Đặc biệt Bakhtin đã dành sự quan tâm lớn để nghiên cứu tính đối thoại trong văn
chương qua hai công trình tập trung sức nặng nhất của ông là Lý luận và thi pháp
tiểu thuyết và Những vấn đề thi pháp Dostoievsky Qua hai công trình, Bakhtin đã
khẳng định “tính đối thoại nội tại của ngôn từ” Đặc biệt, theo Bakhtin đối thoại được biểu hiện đầy đủ và tập trung nhất trong tiểu thuyết Và trong công trình
Những vấn đề thi pháp Dostoievsky, ông đã lấy tiểu thuyết “Tội ác và trừng phạt”
minh chứng cho điều đó, để đi đến khẳng định tính đối thoại thể hiện rõ ở nhiều phương diện tiểu thuyết phức điệu
Về sau, năm 1981, tại Paris, người đọc còn bắt gặp cuộc đối thoại đặc biệt
thoại Đó là một cuộc đối thoại mà Tzvetan Todorov tổ chức để tiếng nói của
Mikhail Bakhtin phải là “tiếng nói đầu tiên được nghe thấy trước khi cuộc đối thoại
có thể bắt đầu” (theo Đào Ngọc Chương) Trong công trình này, Tzvetan Todorov
đã giới thiệu một cách hệ thống nguyên lý đối thoại của Bakhtin mà ở Việt Nam ta đến nay được tiếp xúc qua bản dịch của Đào Ngọc Chương, Nxb Đại học Quốc gia,
TP Hồ Chí Minh, 2004
Từ quan điểm về tính đối thoại trong văn chương được Bakhtin khởi xướng, Tzvetan Todorov còn đề xuất phương pháp “phê bình đối thoại văn học” Bài viết của
Huy Liên “Từ đối thoại tiểu thuyết của Bakhtin đến phê bình đối thoại của Torodov”
trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 1, 2005 đã làm rõ điều đó Theo Todorov thì
“Phê bình đối thoại là sự gặp gỡ của nhiều tiếng nói, tiếng nói của tác giả và của nhà phê bình, và không ai là có lợi hơn ai cả” Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng phê
bình đối thoại có mục đích là tạo nên những cuộc tranh luận, thảo luận giữa nhà phê bình và nhà văn nhằm vươn tới chân lý nghệ thuật, cũng như chân lý cuộc sống Đến thời gian gần đây, nhìn chung vấn đề lý thuyết đã được nhiều nhà nghiên cứu trẻ quan
tâm Tác giả Nguyễn Văn Thuấn trong bài viết “Tính đối thoại/ tính liên văn bản
trong tư tưởng Mikhail Bakhtin”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn học, số 2, 2013
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 9đã có những phân tích và minh họa vấn đề lý thuyết một cách sinh động Trong đó,
tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa tính đối thoại và tính liên văn bản trong tư tưởng
Bakhtin với các nhà giải cấu trúc khác như J Kristeva, R Barthes đồng thời khẳng định sự khác biệt đó còn “tiếp tục khơi thêm những đối thoại”
Có thể nói những công trình nghiên cứu trên đã trở thành tiền đề cho những nghiên cứu bước đầu về tính đối thoại trong văn chương Việt Nam mà chúng tôi khảo sát thấy ở một số hiện tượng cụ thể như sau:
Phạm Thành Hưng với bài báo “Khả năng đối thoại của một thiên tiểu
thuyết”, Tạp chí Văn học, Số 10, năm 1996, đã khai thác đối thoại giữa tác giả,
nhân vật và người đọc ở tiểu thuyết Công dân Brych của nhà văn Séc I.Otrenasech
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Hoa Bằng với đề tài “Thi pháp truyện
ngắn Nam Cao” cũng là một công trình nghiên cứu theo hướng vận dụng lý thuyết
đối thoại Tác giả luận án chỉ ra rằng: “Nếu cần phải khái quát đặc trưng cơ bản của thi pháp truyện ngắn Nam Cao lại trong một vài từ ngắn gọn, thì đó là thi pháp đối thoại Tính đối thoại là nguyên tắc, là biện pháp, là tư tưởng nghệ thuật của Nam Cao Tính đối thoại là đặc trưng cấu trúc truyện ngắn Nam Cao ( ) Tất cả mọi yếu
tố cấu thành chỉnh thể tác phẩm truyện ngắn Nam Cao đều xoay quanh trục đối thoại: ngôn ngữ, nhân vật, môi trường, kết cấu, cốt truyện, loại thể”
Lê Huy Bắc trong cuốn “Truyện ngắn: Lý luận tác gia và tác phẩm” có bài
viết ở chương 9: “Đối thoại và tính đối thoại trong Vi hành” Tác giả bài viết đã
khái quát một số vấn đề lý luận về tính đối thoại, từ đó soi rọi vào truyện ngắn Vi
hành và làm rõ những biểu hiện của tính đối thoại có trong tác phẩm này
Ngoài ra, nhiều luận văn Thạc sĩ, nhiều tiểu luận, bài viết đã bắt đầu thâm
nhập lý thuyết đối thoại để vận dụng nghiên cứu như: luận văn “Đối thoại hoá
trong tiểu thuyết Anh em nhà Karamazov của F.Dostoievsky” của Thái Thị Thìn,
Trường Đại học Vinh, 2002; bài viết của Thái Phan Vàng Anh về “Tính đối thoại
trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” in trong công trình “Lịch sử và văn hoá - cái
nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh” do Nhà xuất bản Phụ nữ - Viện Văn học phát
Việt Nam” của Thạc sĩ Phùng Phương Nga đăng báo Văn nghệ Trẻ; bài viết “Liên văn bản thể loại và tính đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986” của
Nguyễn Văn Hùng đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ An ngày 07/12/2012
Demo Version - Select.Pdf SDK
Trang 102.2 Những công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh và tính đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử
Với bộ ba tiểu thuyết văn hoá - lịch sử lần lượt xuất hiện trên văn đàn, tên tuổi của Nguyễn Xuân Khánh đã trở thành một hiện tượng tiểu thuyết gia thu hút sự chú ý lớn của công chúng độc giả cũng như giới nghiên cứu phê bình văn học Tuy
xuất hiện muộn nhưng Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa đã gặt hái
được những thành công rực rỡ, được giới nghiên cứu phê bình quan tâm, khai thác
và khẳng định giá trị trên nhiều phương diện Ở đây, người viết chỉ nêu ra những công trình nghiên cứu có tính chất tổng hợp đặt bộ ba tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh trong cái nhìn chung
Theo dòng chảy thời gian gắn với sự ra đời của bộ ba tiểu thuyết này, có thể
kể đến những công trình nghiên cứu sau:
Trước hết phải kể đến tọa đàm văn học được Viện Văn học tổ chức vào ngày
15/10/2012 bàn về “Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của Nguyễn Xuân
Khánh”, trọng tâm là bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn
(2006), Đội gạo lên chùa (2011) - các tác phẩm đã tạo nên dấu ấn đặc sắc trong đời
sống tiểu thuyết đương đại Việt Nam Sau đó từ những tham luận tại toạ đàm, Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên) cùng Đoàn Ánh Dương, Đỗ Hải Ninh đã chọn lọc và
in thành sách với nhan đề: “Lịch sử và văn hoá - cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân
Khánh” do Nhà xuất bản Phụ nữ - Viện Văn học phát hành Cuốn sách, bao gồm
hai phần: phần I - Diễn ngôn lịch sử và tư duy nghệ thuật, phần II - Những chiến lược tự sự và các hướng tiếp cận; đã cho thấy những đánh giá khách quan của các nhà nghiên cứu phê bình về những thành công, hạn chế của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Tiểu luận “Về những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng
Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” của Lã Nguyên đăng trên
Tạp chí Phê bình văn học - 12/2012, là những phát hiện có ý nghĩa khẳng định được những cách tân nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh trong việc sáng tạo ngôn ngữ truyện kể Tiểu luận đã nghiên cứu một cách hệ thống, đặt ba tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh trong cái nhìn chung và khái quát thành những luận điểm đáng tin cậy
Demo Version - Select.Pdf SDK