Mục tiêu tổng quát Góp phần bổ sung thêm, đầy đủ hơn về đặc điểm sinh học, đặc điểm sinh thái,nhân giống và thành phần hóa học tinh dầu của loài Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu DTSQmiền Tây Ngh
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP BẢO TỒN LOÀI PƠ MU
(Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry & H H Thomas),
SA MU DẦU (Cunninghamia konishii Hayata)
Ở KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN MIỀN TÂY NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP BẢO TỒN LOÀI PƠ MU
(Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry & H H Thomas),
SA MU DẦU (Cunninghamia konishii Hayata)
Ở KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN MIỀN TÂY NGHỆ AN
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9.42.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS NGUYỄN ANH DŨNG
2 PGS.TS TRẦN HUY THÁI
NGHỆ AN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nghệ An, tháng 01 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình chu đáo của TS Nguyễn Anh Dũng, Viện Sư phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh và PGS TS Trần Huy Thái, Viện Sinh thái và Tài nguyên thực vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận án Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các quý thầy, cô giáo thuộcViện Sư phạm Tự nhiên, Khoa Sau đại học và Trung tâm Thực hành-Thí nghiệm, Trường Đại học Vinh; Phòng thí nghiệm thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng,Bộ
KH và CN Việt Nam; Phòng Hệ thống học Phân tử và Di truyền bảo tồn, Viện Sinh thái và Tài nguyên thực vật.
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn Ban quản lí và các trạm bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Ban Quản lí rừng phòng hộ huyện Tương Dương và Ban Quản lí rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn; các Đồn, trạm Biên phòng ở các xã giáp biên giới Việt - Lào
ở miền Tây Nghệ An đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong nghiên cứu
ở thực địa.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và các đồng nghiệp Trường THPT Cẩm Bình đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 01 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Nga
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4 Những đóng góp mới của luận án 3
5 Bố cục của luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tổng quan về ngành Thông (Pinophyta) 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Một số nghiên cứu về loài Pơ mu và Sa mu dầu 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Ở Việt Nam 12
1.2.3 Nghiên cứu ở Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 22
1.3 Đặc điểm Điều kiện tự nhiên - Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu 25
1.3.1 Vị trí địa lý 25
1.3.2 Địa hình 25
1.3.3 Đặc điểm khí hậu 26
1.3.4 Thuỷ văn 27
1.3.5 Đất đai 28
1.3.6 Đặc điểm kinh tế, xã hội 28
Trang 62.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 32
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 32
2.3.3 Phương pháp điều tra thực địa 32
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Đặc điểm hình thái và giải phẫu 48
3.1.1 Đặc điểm hình thái và giải phẫu loài Pơ mu 48
3.1.2 Đặc điểm hình thái và giải phẫu loài Sa mu dầu 53
3.2 Đặc điểm phát triển theo mùa 58
3.2.1 Đặc điểm phát triển theo mùa của loài Pơ mu 58
3.2.2 Đặc điểm phát triển theo mùa của loài Sa mu dầu 59
3.3 Một số đặc điểm sinh thái 60
3.3.1 Đặc điểm phân bố loài Pơ mu và Sa mu dầu 60
3.3.2 Mật độ, diện tích và trữ lượng 64
3.3.3 Một số đặc điểm quần xã thực vật rừng nơi có loài Pơ mu và Sa mu dầu phân bố 70
3.3.4 Đặc điểm địa hình, hướng phơi 78
3.3.5 Đặc điểm đất đai 81
3.3.6 Đặc điểm khí hậu 84
3.4 Đặc điểm tái sinh và kỹ thuật nhân giống 85
3.4.1 Đặc điểm tái sinh và ảnh hưởng của độ tàn che đến khả năng tái sinh 85
3.4.2 Thử nghiệm kỹ thuật nhân giống bằng hạt và cành hom loài Pơ mu và Sa mu dầu 89
Trang 73.5 Thành phần hóa học tinh dầu các bộ phận loài Pơ mu và Sa mu dầu 97
3.5.1 Thành phần hóa học tinh dầu loài Pơ mu 97
3.5.2 Thành phần hóa học tinh dầu loài Sa mu dầu 101
3.6 Một số thông số di truyền dạng gỗ trắng và đỏ 110
3.6.1 Một số thông số di truyền dạng gỗ trắng và đỏ loài Pơ mu 110
3.6.2 Một số thông số di truyền dạng gỗ trắng và đỏ loài Sa mu dầu 114
3.7 Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài Pơ mu, Sa mu dầu tại Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 116
3.7.1 Đánh giá thực trạng bảo tồn loài Pơ mu và Sa mu dầu hiện nay 116
3.7.2 Các nguyên nhân chính gây suy giảm loài Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 120
3.7.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 128
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136
1 Kết luận 136
2 Kiến nghị 137
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN LUẬN ÁN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤLỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
IBA Indole-3-butyric acid
8
9 IIIA1 Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo
10 IIIA2 Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình
11 IIIA3 Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh giàu
ISSR Inter simple sequence sepeat
20 TTG Transparent tetsta glabra
21 UPGMA Unweighted Pair Group Method with Arithmatic Mean
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các tuyến điều tra thực địa ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 33
Bảng 2.2 Danh sách và mã số các loài lấy trên genbank dùng để so sánh 47
Bảng 3.1 Đặc điểm phát triển theo mùa của loài Pơ mu 58
Bảng 3.2 Đặc điểm phát triển theo mùa của loài Sa mu dầu 59
Bảng 3.3 Phân bố Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 61
Bảng 3.4 Mật độ loài Pơ mu và Sa mu dầu trong các OTC 64
Bảng 3.5 Diện tích và trữ lượng của Pơ mu, Sa mu dầu ở các xã tại Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 66 Bảng 3.6 So sánh diện tích và trữ lượng phân bố loài Pơ mu và Sa mu dầu theo các vùng chính ở khu vực nghiên cứu 68 Bảng 3.7 So sánh diện tích phân bố và trữ lượng Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An với Khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hóa 69 Bảng 3.8 Mức độ xuất hiện của loài cây mọc cùng với các loài cây nghiên cứu 76
Bảng 3.9 Độ cao, độ dốc Pơ mu và Sa mu dầu phân bố ở các xã thuộc Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 79 Bảng 3.10 Các loại đất loài nơi Pơ mu và Sa mu dầu phân bố 81
Bảng 3.11 Đặc điểm tính chất lý hóa một số loại đất nơi loài Pơ mu và Sa mu dầu phân bố 82 Bảng 3.12 Mật độ cây tái sinh theo chiều cao 86
Bảng 3.13 Số cây tái sinh theo độ tàn che 87
Bảng 3.14 Tỉ lệ nảy mầm và chiều cao cây con của hạt giống Pơ mu 90
Bảng 3.15 Tỉ lệ nảy mầm và chiều cao cây con của hạt giống Sa mu dầu 92
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỉ lệ sống và sự hình
thành rễ của hom Pơ mu trên giá thể cát 94
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỉ lệ sống và sự hình
thành rễ của hom Sa mu dầu trên giá thể cát 96
Bảng 3.18 Thành phần hóa học của tinh dầu các bộ phận cây Pơ mu ( F hodginsii )
ở Khu DTSQ Tây Nghệ An98
Trang 10Bảng 3.19 So sánh các thành phần tinh dầu lá Pơ mu ở Nghệ An (Việt Nam) với
Phúc Kiến (Trung Quốc) 101Bảng 3.20 Thành phần hóa học của tinh dầu các bộ phận cây Sa mu dầu ( C konishi )
ở Khu DTSQ Tây Nghệ An103Bảng 3.21 So sánh thành phần tinh dầu chính trong lá Sa mu dầu ở Nghệ An
(Việt Nam) và (Đài Loan) Trung Quốc 108Bảng 3.22 Thành phần hóa học chính tinh dầu gỗ C konishii các vùng phân bố
ở Việt Nam và Trung Quốc 109Bảng 3.23 Bảng khoảng cách di truyền giữa các mẫu F hodginsii so sánh với 3
loài trong họ Hoàng đàn trên genbank 112Bảng 3.24 Kết quả so sánh các Nucleic sai khác trên vùng gen rbcL giữa các
mẫu F hodginsii thu ở Quế Phong với F hodginsii trên genbank 113Bảng 3.25 Kết quả so sánh các Nucleic sai khác trên vùng gen 18S-rDNA giữa
các mẫu C lanceolata var konishii ở Nghệ An với C lanceolata var.
konishii trên genbank 115
Bảng 3.26 Kết quả so sánh các Nucleic sai khác trên vùng gen 18S-rDNA giữa
các mẫu C lanceolata var konishii thu ở Nghệ An với C lanceolata
var konishii trên genbank 116
Bảng 3.27 Các xã thuộc Khu DTSQ có thể gây trồng rừng Pơ mu và Sa mu dầu 132
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Bản đồ Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 25
Hình 2.1 Bản đồ các tuyến điều tra thực địa ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 36
Hình 3.1 Cấu tạo giải phẫu rễ Pơ mu 48
Hình 3.2 Hình thái thân Pơ mu 49
Hình 3.3 Cấu tạo giải phẫu thân Pơ mu 50
Hình 3.4 Hình thái lá Pơ mu 51
Hình 3.5 Cấu tạo giải phẫu lá Pơ mu 52
Hình 3.6 Hình thái nón, hạt Pơ mu 53
Hình 3.7 Cấu tạo giải phẫu rễ Sa mu dầu 54
Hình 3.8 Hình thái thân Sa mu dầu 54
Hình 3.9 Cấu tạo giải phẫu cành non Sa mu dầu 55
Hình 3.10 Hình thái lá Sa mu dầu 56
Hình 3.11 Cấu tạo giải phẫu lá Sa mu dầu 57
Hình 3.12 Hình thái nón, hạt 58
Hình 3.13 Bản đồ các vùng phân bố loài Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An 63 Hình 3.14 Biều đồ tỉ lệ % diện tích cư trú và trữ lượng loài Pơ mu 68
Hình 3.15 Biểu đồ tỉ lệ % diện tích cư trú và trữ lượng loài Sa mu dầu 68
Hình 3.16 Biểu đồ so sánh diện tích phân bố và trữ lượng Pơ mu ở Khu BTTN Pù Hoạt so với Khu BTTN Xuân Liên 69 Hình 3.17 Biểu đồ so sánh diện tích phân bố và trữ lượng Sa mu dầu ở Khu BTTN Pù Hoạt so với Khu BTTN Xuân Liên 69 Hình 3.18 Phẫu diện đồ 1 - Khu vực có Pơ mu phân bố 72
Hình 3.19 Phẫu diện đồ 2 - Khu vực có Sa mu phân bố 73
Hình 3.20 Phẫu diện đồ 3 - Khu vực có cả Sa mu và Pơ mu phân bố 74
Hình 3.21 Một số loại đất nơi loài Pơ mu và Sa mu dầu phân bố 82
Hình 3.22 Một số hình ảnh cây tái sinh của loài Pơ mu 88
Trang 12Hình 3.23 Một số hình ảnh cây tái sinh của loài Sa mu dầu 89
Hình 3.24 Một số hình ảnh về nhân giống Pơ mu bằng gieo hạt 91
Hình 3.25 Một số hình ảnh về nhân giống Sa mu dầu bằng gieo hạt 93
Hình 3.26 Một số hình ảnh về nhân giống Pơ mu bằng giâm hom 95
Hình 3.27 Một số hình ảnh về nhân giống Sa mu dầu bằng giâm hom 97
Hình 3.28 Mối quan hệ di truyền của 2 mẫu Pơ mu nghiên cứu với một số loài trong họ Hoàng đàn trên genbank (phương pháp Neighbor Joining) 111
Hình 3.29 Mối quan hệ di truyền của mẫu Pơ mu đỏ và Pơ mu trắng nghiên cứu với một số loài trong họ Hoàng đàn trên genbank (phương pháp Neighbor Joining) 111
Hình 3.30 Mối quan hệ di truyền của 6 mẫu Pơ mu nghiên cứu với một số loài trong họ Hoàng đàn trên genbank (phương pháp Neighbor Joining) 113
Hình 3.31 Mối quan hệ di truyền của mẫu Sa mu đỏ và Sa mu trắng nghiên cứu với một số loài trong họ Hoàng đàn trên genbank (phương pháp Neighbor Joining) 114
Hình 3.32 Mối quan hệ di truyền của mẫu Sa mu đỏ và Sa mu trắng nghiên cứu với một số loài trong họ Hoàng đàn trên genbank (phương pháp Neighbor Joining) 115
Hình 3.33 Một số hình ảnh cây Sa mu dầu chết tự nhiên 119
Hình 3.34 Một số hình ảnh cây Pơ mu và Sa mu dầu đã bị khai thác 121
Hình 3.35 Lợp mái nhà bằng gỗ Sa mu dầu ở xã Tam Hợp (Tương Dương) 121
Hình 3.36 Gốc gỗ Sa mu dầu ở xã Tây Sơn (huyện Kỳ Sơn) 122
Hình 3.37 Chặt hạ Sa mu dầu mở đường tuần tra ở xã Na Ngoi (huyện Kỳ Sơn) 123
Hình 3.38 Trồng xen lẫn C konishii và C lanceolata ở xã Tây Sơn, Kỳ Sơn 128
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghệ An là một tỉnh nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ có diện tích rừng tự nhiênlớn nhất trong cả nước (762.785,8 ha) [57] Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) miền TâyNghệ An (tỉnh Nghệ An) là khu DTSQ lớn nhất Đông Nam Á với diện tích 1.299.795ha,là hành lang xanh kết nối 3 vùng lõi: Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát, Khu Bảo tồnthiên nhiên (BTTN) Pù Huống và Khu BTTN Pù Hoạt Khu DTSQ miền Tây Nghệ Anđược đánh giá có giá trị lớn về đa dạng sinh học với hệ thực vật hơn 2.500 loài thực vậtbậc cao, hệ động vật gồm 130 loài động vật lớn nhỏ, 295 loài chim, 54 loài lưỡng cư và bòsát, 83 loài cá và 39 loài dơi, được xem như là ‘‘một phòng thí nghiệm sống lớn nhấtĐông Nam Á” Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học của khu DTSQ với sự có mặt của hơn 70loài thực vật và 88 loài động vật được liệt kê trong danh lục Sách Đỏ Việt Nam [49]
Khu DTSQ miền Tây Nghệ An có địa hình núi cao và núi thấp với kiểu rừng á
ẩm nhiệt đới chiếm tỉ lệ khá lớnlà điều kiện thuận lợi cho các loài ngànhThông(Pinophyta) phát triển Theo kết quả nghiên cứu của Phan kế Lộc và cs (2013), ởNghệ An có 12 loài Thông [32] và xếp thứ 3 trong vùng phân bố và sinh thái Thông ở
Việt Nam sau vùng Đông Bắc và Tây Nguyên [35] Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn)
A Henry et H H Thomas) và Sa mu dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là hai trong
số những loài Thông đã được ghi nhận có mặt ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An
Thông Việt Nam nói chung và 2 loài Pơ mu và Sa mu dầu nói riêng có ý nghĩaquan trọng về sinh thái, kinh tế và văn hóa [93] Pơ mu và Sa mu dầu thường chỉ sống
ở độ cao từ 800 m trở lên, nơi rừng thường có sương mù bao phủ nên có vai trò đặcbiệt quan trọng trong việc giữ hệ sinh thái rừng đầu nguồn Pơ muvà Sa mu dầu cónhiều giá trị đối với con người như cho gỗ sử dụng để làm vật liệu xây dựng, làm nhàcửa, đồ mỹ nghệ; tinh dầu và các hợp chất tinh dầu sử dụng để làm dược liệu, mỹphẩm và trong y học [18], [62], [65], [73], [76], [101], [109], Từ nhựa Sa mu dầu sửdụng làm thuốc chữa một số bệnh ngoài da, đặc biệttinh dầu của loài này được ngườixưa sử dụng để ướp xác do tính chất kháng khuẩn cực kỳ cao Ngoài những giá trị
Trang 14trên, hai loài Thông này còn có ý nghĩa về mặt khoa học lịch sử, dựa trên nghiên cứunhững vòng thân Pơ mu hàng trăm tuổi cung cấp bằng chứng về lịch sử biến đổi điềukiện khí hậu của vùng tự nhiên mà nó tồn tại [119].
Pơ mu và Sa mu dầu là 2 loài có trong danh lục IUCN, Sách Đỏ Việt Nam vàxếp nhóm IIA Nghị Định 32/ NĐ - CP của Chính phủ [11].Theo Sách Đỏ Việt Nam(2007), Pơ mu là được xếp hạng ở mức Nguy cấp_EN A1a,c,d) [5], còn theo IUCN(2015) được xếp trong tình trạng Sẽ nguy cấp_VU A2acd; B2ab (ii,iii,iv,v) [130] Loài
Sa mu dầu theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), được xếp hạng ở mức Sẽ nguy cấp_VUA1a,d,c1 [5], còn theo IUCN (2015) được xếp trong tình trạng Nguy cấp_EN A2cd;B2ab(ii,iii,v) [130]
Từ trước đến nay, đã có một số nghiên cứu công bố về một số điểm phân bốcũng như một số đặc điểm sinh học, sinh thái và tái sinh tự nhiên của loài Pơ mu [32],[42] và Sa mu dầu [3], [17], [32], [42], [44] ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An, nhưngchưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ các cơ sở khoa học cần thiết đểbảo tồn hai loài Thông nàycho toàn bộ khu DTSQ
Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số
đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp bảo tồn loài Pơ mu (Fokienia hodginsii(Dunn) A Henry & H H Thomas), Sa mu dầu (Cunninghamia konishii
Hayata) ở Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” nhằm góp phần bảo tồn, phát
triển hai loài quý hiếm trên ở Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần bổ sung thêm, đầy đủ hơn về đặc điểm sinh học, đặc điểm sinh thái,nhân giống và thành phần hóa học tinh dầu của loài Pơ mu và Sa mu dầu ở Khu DTSQmiền Tây Nghệ An, làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát triểnhai loài này tại khu vực nghiên cứu
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả được đặc điểm hình thái, giải phẫu, đặc điểm phát triển theo mùa, một
số đặc điểm sinh thái (phân bố, mật độ, diện tích, trữ lượng, một số đặc điểm quần xã
và điều kiện khí hậu, đất đai) của loài Pơ mu và Sa mu dầu
Trang 15- Hiểu được đặc điểm tái sinh tự nhiên và đánh giá khả năng nhân giống bằng hạt, bằng hom của loài Pơ mu và Sa mu dầu.
- Xác định được thành phần hóa học tinh dầu các bộ phận của cây Pơ mu và
- Đánh giá hiện trạng loài Pơ mu và Sa mu dầu từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hai loài này
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần bổ sung đầy đủ hơn các dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái, nhângiống và thành phần hóa học tinh dầu của loài Pơ mu và Sa mu dầu, hai loài Thông cóvai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng cũng như đời sống của con người
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp dữ liệu khoa học về loài Pơ mu và Sa mu dầu của toàn bộ KhuDTSQ miền Tây Nghệ An, từ đó định hướng cho công tác bảo tồn và phát triển hai loàinày tại tỉnh Nghệ An cũng như cho một số khu vực khác ở Việt Nam
- Luận án là tài liệu tham khảo,tài liệu nghiên cứu và giảng dạy cho các nhàkhoa học, các cán bộ kỹ thuật, sinh viên, về các đặc điểm sinh học, sinh thái, thànhphần hóa học tinh dầu và nhân giống của loài Pơ mu và Sa mu dầu
4 Những đóng góp mới của luận án
- Bổ sung một số dẫn liệu mới về cấu trúc giải phẫu loài Pơ mu và Sa mu dầu
- Bổ sung một số dẫn liệu mới về các điểm phân bố, diện tích và trữ lượng loài
Pơ mu và Sa mu dầu cho toàn bộ Khu DTSQ miền Tây Nghệ An
- Bổ sung một số dẫn liệu mới về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong nhân giống bằng hom loài Sa mu dầu ở Việt Nam
- Bổ sung một số dẫn liệu mới về thành phần hóa học tinh dầu lá loài Pơ mu ởViệt Nam, tinh dầu nón loài Pơ mu và tinhdầu nón, rễ, nhựa của loài Sa mu dầu cho khoa học
- Bổ sung một số dẫn liệu mới về mới về dạng gỗ đỏ và dạng gỗ trắng của Pơ
mu và Sa mu dầu bằng một số thông số di truyền
Trang 16Luận án gồm có 137 trang Bố cục như sau:
Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 17 trang
Danh mục các công trình khoa học có liên quan luận án
Tài liệu tham khảo
Ngoài ra luận án còn có 07 phụ lục:
Phụ lục 1 Các tuyến điều tra ở Khu DTSQ miền Tây Nghệ An có loài Pơ mu
và Sa mu dầu phân bố
Phụ lục 2 Sinh cảnh sống của loài Pơ mu và Sa mu dầu
Phụ lục 3 Danh lục các loài mọc cùng loài Pơ mu và Sa mu dầu
Phụ lục 4 Một số hình ảnh về các loài mọc cùng loài Pơ mu và Sa mu dầu Phụ lục 5 Kết quả phân tích tính chất lí, hóa của đất
Phụ lục 6 Sắc kí phổ phân tích thành phần hóa học tinh dầu loài Pơ mu và Sa
mu dầu
Phụ lục 7 Kết quả so sánh trình tự DNA (18S, rbcL, matK) giữa các mẫu của
loài Pơ mu và Sa mu dầu nghiên cứu với các loài trên genbank
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về ngành Thông (Pinophyta)
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, số loài ngành Thông (Pinophyta) hiện tồn tại trong thảm thực vậttrên bề mặt trái đất không nhiều Cây lá kim phân bố rộng khắp ở tất cả các châu lục,trừ Nam Cực nơi mà không có bất cứ loại cây thân gỗ sống Cây lá kim sống ở tất cảcác cảnh quan, từ Bắc Cực đến xích đạo, từ thảo nguyên đến vùng đất thấp gần biển,đến những ngọn núi cao nhất quanh năm bao phủ tuyết và từ các khu rừng rậm củaAlaska đến trung tâm của sa mạc Sahara [84]
Theo Aljos Farjon (2010), cây lá kim có 615 loài thuộc trong 70 chi, 8 họ: họThông (Pinaceae), họ Thông tre (Podocarpaceae), họ Bách tán (Araucariaceae), họĐỉnh tùng (Cephalotaxaceae), họ Hoàng đàn (Cupressaceae),họ Thông đỏ (Taxaceae)
và 2 họ chưa có đại diện ở Việt Nam: Phyllocladaceae và Sciadopityaceae Những họ
có số loài nhiều nhất gồm họ Thông (Pinaceae), họ Kim giao (Podocarpaceae) và họHoàng đàn (Cupressaceae) Họ Thông (Pinaceae) chỉ phân bố phía Bắc bán cầu có 11
chi với 231 loài, chi nhiều loài nhất là Pinus với 113 loài Họ Kim giao
(Podocarpaceae) phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và ở vùng núi Nam bán cầu có18
chi với 174 loài, chi nhiều loài nhất là Podocarpus với 98 loài Họ Hoàng đàn
(Cupressaceae) phân bố ở nhiều châu lục, có 30 chi với 135 loài [84] Số lượng loàicây lá kim không đáng kể trong nhóm thực vật bậc cao có mạch nhưng lại có vai tròquan trọng trong hệ sinh thái rừng và hầu hết chúng đều có giá trị trong đời sống kinh
tế và xã hội ở nhiều nước trên thế giới
Đến nay có rất nhiều loài của ngành Thông đã bị tuyệt chủng và có nhiều loàinguy cơ tuyệt chủng rất cao Đặc biệt đối với nhiều loài nguy cơ tuyệt chủng tăng lên
do các quần thể thường nhỏ và có phân bố hạn chế Theo Danh Lục Sách Đỏ củaIUCN (2013), liệt kê 211 loài ngành Thông (chiếm 34%) được đánh giá bị đe dọa tuyệtchủng ở mức quốc tế [122]
Trang 18Số loài cây lá kim ở vùng nhiệt đới khoảng 200 loài [85] và theo kết quả phântích nguy cơ tuyệt chủng các loài thực vật trên toàn cầu, do vườn thực vật RoyalBotanic Gardens, Viện bảo tàng Lịch sử tự nhiên (Anh) và Liên minh quốc tế về Bảotồn thiên nhiên thực hiện năm 2010 đã đưa ra kết luận: “1/5 loài thực vật trên thế giớiđang bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó nhóm thực vật Thông là nhóm bị đe dọa cao nhất
và môi trường sống bị đe dọa nhất là những rừng mưa nhiệt đới Lý do phổ biến nhấtkhiến thực vật ở đây bị đe dọa là những hoạt động của con người đã gây tổn thất môitrường sống của chúng” [139] Do vậy, điểm nóng của công tác bảo tồn ngành Thônghiện nay nằm ở những vùng nhiệt đới
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có 33 loài Thông (Pinophyta) bản địa thuộc 5 họ 19 chi: họ Thông(Pinaceae) với 5 chi 13 loài, họ Hoàng đàn (Cupressaceae) với 7 chi 7 loài, họ Thông(Podocarpaceae) với 4 chi 7 loài, họ Thông đỏ (Taxaceae) với 2 chi 5 loài và họ Đỉnhtùng (Cephalotaxaceae) với 1chi 1 loài [33].Có 7 loài đặc hữu thuộc 4 họ bao gồm:
Cupressaceae có 2 loài (Cupressus torulosa và Calocedrus rupes-tris), Pinaceae có 2 loài (Pinus dalatensis và P krempfii), Taxaceae có 2 loài (Amentotaxus hatuyenensis
và A poilanei) và Taxodiaceae có 1 loài (Xanthocyparis vietnamensis) [114] Tất cả
các loài ngành Thông ở Việt Nam đều có ý nghĩa lớn như cung cấp gỗ, nhựa, tinh dầu,dược liệu, làm cảnh, cây trồng rừng,
Dựa trên Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), 33 taxon bậc loàiđược công bố ở Việt Nam thì trong đó có 26 loài (chiếm gần 80%) bị đe dọa tuyệtchủng (CR, EN và VU) với Rất nguy cấp (CR) là 3 loài, Nguy cấp (EN) là 8 loài, Sẽnguy cấp (VU) là 15 loài Trong đó loài Pơ mu xếp phân hạng là VU, loài Sa mu dầu là
EN Việt Nam là một trong 10 điểm nóng về Thông trên thế giới [33]
Trướcthực trạng chung của các loài Thông cũng như loài Pơ mu và Sa mu dầu ởViệt Nam, đã đặt thách thức không nhỏ với vấn đề bảo tồn các loài này trên cả nước
Do đó, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, sinh thái Pơ mu và
Sa mu dầu làm cơ sở khoa học phục vụ cho vấn đề bảo tồn hai loài cây này cho từngvùng và trên cả nước
Trang 191.2 Một số nghiên cứu về loài Pơ mu và Sa mu dầu
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Vị trí phân loại
Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et H H Thomas (Syn: Cupressus hodginsii Dunn 1908; Fokiena kawaii Hayata 1917, Fokiena maclurei Merrill 1922, Fokiena hodginsii var kawaii (Hayata) Silba 2000, Fokiena hodginsii subsp kawaii (Hayata) Silba 2006)là đại diện duy nhất còn sống của chi Pơ mu (Fokienia) thuộc họ
Hoàng đàn (Cupressaceae), bộ Thông (Pinales) E N Hodgins thu mẫu loài nàyđầutiên vào năm 1908 ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc và mô tả về mặt phân loại hình tháithực vật lần đầu tiên vào năm 1911 trong cuốn The Gardeners' Chronicle [92]
Cunninghamia konishii Hayata (Syn: Cunninghamialanceolata var konishii (Hayata) Fujita) thuộc chi Cunninghamia, họ Hoàng đàn (Cupressaceae), bộ Thông (Pinales) ChiSa mộc (Cunninghamia) được Brown thành lập năm 1826, chỉ gồm một loài chuẩn Cunninghamialanceolata (Lamb.) Hook (Syn: Cunninghamialanceolata var lanceolata) mọc ở Trung và Nam Trung Quốc Năm 1908, Bunzô Hayata đã mô tả
và công bố thêm C konishii mọc tự nhiên ở Đài Loan với một số sai khác nhỏ với C.lanceolata, chủ yếu kích thước lá và độ dày đặc của các dải lỗ khí ở hai mặt lá [89] Các nhà thực vật phân loại xem xét C konishii Hayata và C lanceolata (Lamb.) Hook.
là 2 loài hay chỉ là dạng thứ thuộc chiCunninghamia Lu và cs (1999) khi phân tích RFLP của đoạn trnD-trnT lục lạp của cả 2 loài này đã đi đến kết luận C konishii chỉ là tên đồng nghĩa của C lanceolata [112] Tuy nhiên, cho đến nay nhiều nhà khoa học vẫn xem chi Cunninghamia có 2 loài làCunninghamia konishii Hayata và Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook [121].
1.2.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, giải phẫu
Trên thế giới đã có những nghiên cứu mô tả về hình thái, cơ quan sinh sản, sựphát triển của noãn, sự thụ tinh và phát triển phôi của loài Pơ mu [78], [79], [80], [84],[99], [135]
Đối với loài Sa mu dầu mới chỉ có nghiên cứu mô tả về hình thái bên ngoài
[84],[89] Trong chi Cunninghamia, C lanceolata gần gũi với C konisshii đã được mô
Trang 20tả chi tiết về hình thái, giải phẫu, phát triển nón đực, sự hình thành hạt phấn và phát
triển nón cái nhưng chưa có mô tả nào cho C konishii [63], [98], [100].
1.2.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái
Pơ mu phân bố hẹp trên thế giới, chỉ có ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam [85],[94] Ở Trung Quốc, loài phân bố ở phía Nam và Đông Nam (Chiết Giang, Phúc Kiến,Giang Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Quảng Tây, Trùng Khánh, Quý Châu, Vân Nam và
Tứ Xuyên) [theo 128], Lào (Hủa phăn, Khăm Muộn, Xiêng Khoảng) [64] và rộngkhắp nhiều tỉnh từ phía Bắc kéo dài đến phía Nam Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu,Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An, HàTĩnh, Thừa Thiên - Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận vàKhánh Hoà) [33] Diện tích phân bố của loài Pơ mu trên toàn thế giới còn khoảng166.600 ha, sô cá thể ở Trung Quốc ước tính là 654.789 cá thể [theo 130]
Loài Pơ mu phân bố trên dông núi hoặc sườn núi dốc ở độ cao từ 350 m - 2.100
m ở Trung Quốc [84], 1.000 m - 2.400 m ở Lào [64], 1.300 m- 2.700 m ở Đài Loan[104] Khả năng chịu lạnh của loài có thể -6,70C đến -12,10C [66] Pơ mu mọc trên cácloại đất khác nhau, đất có tính axit (pH = 5 - 6); đất vàng hoặc đất nâu cát pha sét trên
đá sa thạch, đá phiến sét, đá granit hoặc đá riolit và có khả năng thoát nước tốt ỞTrung Quốc, loài này nhiệt độ trung bình hàng năm là 11,7 -150C và lượng mưa trungbình hàng năm là 1.600 -2.000 mm [95] Pơ mu mọc cùng với các loài thuộc các chi
Castanopsis,Quercus, Lithocarpus thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Thù du (Cornaceae), họ Chè (Theaceae), và với các loài cây lá kim như Cephalotaxus fortunei, Nothotsuga longibracteata, Cunninghamia lanceolata, Pinus massoniana và Pinus densata [theo
130]
Sa mu dầuphân bố hẹp ở Trung Quốc (Đài Loan và Phúc Kiến) [85] và Lào(Hủa Phăn và Xiêng Khoảng) [64] và Việt Nam (Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa vàNghệ An) [33]
Đặc điểm sinh thái của Sa mu dầu là cây ưa đất thoát nước tốt, nhiều mùnhoặcđất cát pha sét; khí hậu lạnh, nhiều sương mù, rất ẩm [84] Ở Đài Loan, loài phân
bố ở độ cao từ 1.300 m - 2.800m [theo 107], 1.300 m - 2.000 m ở Trung Quốc [134],
Trang 21900 m - 2.200 m ở Lào [64], 960 m - 2.000 m ở Việt Nam [93] Khả năng chịu đựng lạnh của loài có thể -1,10C đến -6,60C [66].
Ở Đài Loan, Sa mu dầu hỗn giao với cây lá kim hoặc hỗn giao cây lá rộng - lá kim
á ẩm nhiệt đới, mọc kèm với các loài cây lá kim như Chamaecyparis formosensi, Chamaecyparis obtusa var formosana, Calocedrus formosana, Taiwaniacryptomerioides và các loài cây lá rộng như Acer morrisonense, Abies kawakamii, Schima superba, Photinia davidiana, Rhododendron formosanum, Pasania sp., và cây họ hòa thảo như Yushania niitakayamensis [104].
Loài Pơ mu ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc một năm ra nón hai lần: lần đầu vàomùa xuân từ tháng 4 đến tháng 5 và chín vào tháng 9 cùng năm, các hạt giống đượctạo ra không có khả năng phát triển; lần 2 vào mùa thu từ tháng 9 đến tháng 10, chínvào tháng 10 năm sau và các hạt giống được tạo ra có khả năng phát triển [96] Ở Lào:
Pơ mu thụ phấn tháng 3 - 4, nón chín tháng 10 - 11 Loài Sa mu dầu ở Lào, thụ phấntháng 1 - 3, nón chín tháng 8 - 11 [64]
1.2.1.4 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và nhân giống
Ở Lào, khả năng tái sinh tự nhiên của loài Pơ mu là thưa thớt và không ổn định
do cây trưởng thành trở nên khan hiếm Khả năng tái sinh tự nhiên của loài Sa mu dầutốt dọc theo biên giới Việt Lào ở những nơi đất bị sạt lở [64]
Đã có một số thử nghiệm về nhân giống bằng hom loài Pơ mu ở tỉnh Phúc Kiến,Trung Quốc Kết quả thực nghiệm giâm hom năm 2007, cho thấy đối với loài Pơ munên tiến hành cắt tỉa từ cây mẹ tốt nhất là từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 3, cây sẽ nảychồi vào tháng 6 và giai đoạn này thích hợp cho cắt hom, nên cắt hom vào tháng 6, 10.Cắt hom tốt ở cây mẹ 2 - 4 tuổi, hom ra rễ tốt nhất là IBA (Indole-3-butyric acid) vớinồng độ (100 mg/L), thời gian ngâm hom (0,5 h), giá thể giâm hom nên trên nền cát[137] Kết quả thử nghiệm giâm hom loài này năm 2012 cho thấy: mùa thu là mùa tốtnhất trong việc cắt hom Pơ mu Sử dụng ABT (Transplantone)dạng bột, nồng độ 200
mg, ngâm hom trong 0,5 h, tỷ lệ hom ra rễ ở một số cây mẹ là 100% [72]
Kết quả nghiên cứu về nhân giống bằng hom đối với loài C konishii trên thế
giới rất ít Liang Wen-ying (2010) tiến hành thử nghiệm giâm hom ở hai điểm: Lâm
Trang 22trường Lai Châu và Lâm trường Mân Thanh Mĩ Cô, Phúc Kiến, Trung Quốc Thu háicành homvào tháng 3 năm 2013, cành giâm có 2, 3 chồi, kích thước dài 8 - 10 cm, sửdụng chất kích thích ABT và NAA (Napthalen - acetic acid), ngâm hom trong chấtkích thích 2 h Sử dụng nồng độ ABT và NAA ở các nồng độ 40, 80, 120 mg Kết quảthực nghiệm cho thấy tỉ lệ hom sống chênh lệch giữa các nồng độ là không lớn, ở nồng
độ ABT và NAA 80 mg cho kết quả tỉ lệ hom ra rễ cao nhất, với tỉ lệ hom sống tươngứng ở hai điểm nghiên cứu: ABT (90,27%; 96,35%) và NAA (85,67%; 90,27%) [107]
1.2.1.5 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu
Trên thế giới, nghiên cứu về thành phần hóa họctinh dầu Pơ mu tập trung nhiềuvào thành phần hợp chất và tìm kiếm các hợp chất mới từ lá, cành nhánh; thử nghiệmhoạt tính của một số hợp chất [115], [133], [138]
Thành phần tinh dầu lá Pơ mu ở Trung Quốc, trong hai công trình công bố chothấy sự tích lũy hợp chất chính là khác biệt Theo Pan J G và cs (1991), đã xác định
có 33 hợp chất trong tinh dầu lá ở tỉnh Phúc Kiến, các thành phần chính của tinh dầu làα-pinene (24,89%), limonene (8,46%), caryophyllene oxide (4,01%), rimuene (3,22%)[115] Zhang Yan-ping và cs (2008), cũng đã xác định thành phần tinh dầu lá ở tỉnhPhúc Kiến, có 14 hợp chất bao gồm: β-cubebene (22,51%), τ-cadinol (19,88%) vàcaryophyllene (10,13%) [138]
Các hợp chất trong tinh dầu Pơ mu có nhiều công dụng khác nhau như sử dụnglàm dược liệu, mỹ phẩm [65] và trong y học có hoạt động kháng khuẩn đối với Tụ cầu
vàng (Staphylococcus aureus) và Nấm men (Rhodotorula glutinis), hoạt động kháng u
chống lại dòng tế bào ung thư phổi NCI-H460, dòng tế bào ung thư máu HL-60, dòng
tế bào ung thư gan SMMC-7721, tế bàoung thư phổi A-549, tế bào ung thư vú MCF-7
và tế bào ung thư đại tràng SW480 [132], [133], [138]
Trên thế giới nghiên đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu của Sa
mu dầu, chủ yếu tập trung nghiên cứu thành phần tinh dầu lá, gỗ thân và gỗ rễ, tìm kiếmcác hợp chất mới và công dụng của các hợp chất [70], [77], [90], [105], [124], [125]
Tiến hành phân tích thành phần hợp chất trong tinh dầu từng bộ phận cây Sa mudầu cho thấy có sự khác nhau về tích lũy các hợp chất chủ yếu Từ tinh dầu lá ở Đài
Trang 23Loan gồm α-pinene (36,4%), α-thujene (11,4%), α-eudesmol (8,1%), elemol (5,8%), elemene (3,5%), γ-eudesmol (2,8%) và γ-himachalene (2,7%) [124] Tinh dầu từ vỏgồm 11 hợp chất chính đã được phân lập và xác định là α-cedrene (15%), β-cedrene(10%), caryophyllene (35%), β-selinene (2%), caryophyllene oxide (5%), α-terpineol(10%), 4-tecpineol (0,2%), cedrol (3%), α-terpinyl acetate (1%), 1-methyl-4- (α hydroxyisopropyl) benzen (0,2%), và α- cadinol (2%) [77] Từ tinh dầu gỗ lõi ở ĐàiLoan là cedrol (58,3%), α-cedrene (11,8%), α-terpineol (4,2%) và β-cedrene (3,5%);
β-thành phần hợp chất gỗ lõi C konishii bao gồm thuộc các nhóm: Monoterpene
hydrocarbons: 0,9%, Oxygenated monoterpenes: 10,5%, Sesquiterpene hydrocarbons:19,5%, Oxygenated sesquiterpenes: 67,6 %, Diterpenes: 1,6% [125]
Thành phần của tinh dầu và các hợp chất phân lập từ tinh dầu, đặc biệt hợp chất
cedrol của C konishii đã được thử nghiệm cho thấy có nhiều công dụng như có khả năng kháng nấm (Rhizoctonia solani, Fusarium solani, Pestalotiopsis funereal và Ganoderma austral), kiểm soát được mối (Trametes versicolor, Lenzites betulina, Laetiporus sulphureus,Gloeophyllum trabeum, Laetiporussulphureus, và Coptotermes formosanus), tiêu diệt các ấu trùng muỗi (Aedes aegypti, Aedes albopictus, Anopheles gambiae), hoạt tính kháng viêm điều trị các đại thực bào RAW264.7, [73], [74], [75],
[76], [81], [109] Đây là kết quả nổ lực của các nhà khoa học để tìm kiếm sản phẩm tựnhiên có thể sử dụng được trong kiểm soát mối ngầm, chống lại muỗi sốt xuất huyết vàhướng tới cho sự phát triển của các loại thuốc chống viêm
1.2.1.6 Nghiên cứu về đặc điểm di truyền
Nghiên cứu di truyền loài F hodginsii chủ yếu tập trung nghiên cứu số lượng,
kích thước nhiễm sắc thể (NST) và khối lượng bộ gen nhân của loài Bộ nhiễm sắc thểlưỡng bội của loài 2n = 22, có sự sai khác về hình thái NST giữa các quần thể khácnhau có thể liên quan đến hình thái bên ngoài cũng như khả năng sinh sản của từng cây[105] Kích thước nhiễm sắc thể trong khoảng 18,21 μm đến 10,7 μm [71].Khối lượng
bộ gen nhân của Pơ mu là 22,2 pg [136]
Đối với C konishii trên thế giới, chủ yếu tập trung vào đánh giá đa dạng di truyền ở cấp độ quần thể và mối quan hệ di truyền với C lanceolata [82], [97], [108],
Trang 24[113], [120] Bộ NST lưỡng bội của loài C konishii là 2n = 22 [120] Phân tích phương sai phân tử cho thấy sự biến đổi di truyền giữa các quần thể C konishii ở các
huyện khác nhau ở Đài Loan tương đối cao (24,60%) Dựa vào chỉ thị phân tử AFLP(Amplified Fragment Length Polymorphisms), phân nhóm theo phương pháp UPGMA(Unweighted Pair Group Method with Arithmatic Mean) cho thấy sáu dòng tiến hóa
của C konishii được bắt nguồn từ C lanceolata [82].
Các công trình nghiên cứu Pơ mu trên thế giới nghiên cứu tập trung về: phânloại; hình thái bên ngoài; giải phẫu và phát triển của cơ quan sinh sản, sự thụ tinh; một
số đặc điểm sinh thái; thử nghiệm về nhân giống bằng giâm hom; phân tích thành phầnhóa học tinh dầu lá; đặc điểm di truyền về bộ NST lưỡng bội của loài
Đối với loài Sa mu dầu mới nghiên cứu về phân loại, phân bố, mô tả hình thái
và một số đặc điểm sinh thái, phân tích về thành phần hóa học tinh dầu chủ yếu tập
trung gỗ thân và lá, nhân giống loài chỉ mới giâm hom, còn thứ C lanceolata gần gũi với C konishii được nghiên cứu kĩ hơn về cơ quan sinh sản, bộ NST lưỡng bội của
loài
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Fokienia hodginsii được công bố đầu tiên trong cuốn “Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ năm 1970 Pơ mu (Fokienia hodginsii
(Dunn) A Henry & H H Thomas), có tên gọi khác là: Mạy vạc, Hòng, Mạy long lanh
Ở Việt Nam, chi Cunninghamia có 2 loài: Cunninghamia lanceolata (Lamk.) Hook (Cunninghamia lanceolata (Lamb)Hook.var lanceota) - Sa mộc trồng được
nhập từ Trung Quốc đưa vào trồng từ vài chục năm nay làm cảnh như ở Sa Pa, Tam
Đảo, trồng thành rừng như Quản Bạ, Lạng Sơn và Cunninghamia konishii Hayata (Cunninghamia lanceolata var konishii (Hayata) Fujita) là taxon mọc tự nhiên ở Việt
Nam [33], tên thường gọi là Sa mộc dầu, tên gọi khác như: Mạy lâng lênh (Thái), Mạylung linh, Ngọc am, Sa mộc quế phong, Sa mu dầu [5]
C konishii mọc tự nhiên ở nước ta, phát hiện lần đầu tiên vào năm 1960 ở núi
Pha Ca Tủn, huyện Quỳ Châu thuộc Khu BTTN Pù Huống [83] Đến năm 1964 loàinày được giới thiệu trong Danh lục thực vật sông Hiếu (1964) Năm 1991, Phạm
Trang 25Hoàng Hộ đã giới thiệu loài C konishii có ở miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam, tập 1” trên cơ sở phân tích các mẫu vật có ở Bảo tàng thiên nhiên Paris
(Pháp) và sau đó Vũ Văn Dũng và cs (1996), đã khẳng định sự có mặt của loài này ở
Pù Huống, tỉnh Nghệ An [86] Đến năm 1999, loài mới được định danh chính thức bởiPhan Kế Lộc và Nguyễn Tiến Hiệp khi đã kiểm tra các mẫu sưu tập ở xã Hạch Dịch,huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An [31]
1.2.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, giải phẫu
Ở nước ta, đặc điểm hình thái loài Pơ mu và Sa mu dầu đã có nhiều bản mô tả
về hình thái các cơ quan dinh dưỡng, cơ quan sinh sản nhưng chưa có mô tả nào vềcấu trúc giải phẫu lá, thân, rễ của 2 loài này [21], [25], [33], [38], [93]
1.2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái
a Đặc điểm sinh thái loài Pơ mu
Ở Việt Nam, F hodginsii phân bố hầu hết ở các tỉnh vùng Bắc và Đông Bắc,
sang Tây Bắc, dọc dãy Trường Sơn, Tây Nguyên và điểm cực Nam ở Ninh Thuận[33] Tuy nhiên, tiến hành điều tra trữ lượng loài này trên cả nước còn rất ít Theocông bố của Nguyễn Duy Chuyên và Lý Thọ (1995), diện tích phân bố Pơ mu ở 10 địaphương (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, LâmĐồng, Gia Lai, Ninh Thuận) là 52.526 ha, tổng trữ lượng gỗ: 1.826.797 m3, bình quânmỗi ha có 34,77 m3/ha [theo 14] Kết quả điều tra năm 2011, trữ lượng Pơ mu ở KhuBTTN Xuân Liên, Thanh Hóa là 6.369,722 m3 [13] Những năm gần đây có nhữngphát hiện mới bổ sung thêm một số dẫn liệu khoa học mới về loài này ở Việt Nam.Năm 2016, phát hiện quần thể Pơ mu ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam với diệntích 240 ha với 1.366 cá thể, trong đó khảo sát có 725 cá thể có đường kính 1,5 m trởlên được công nhận Cây di sản Việt Nam, đây là quần thể Pơ mu lớn nhất biết đến hiệnnay ở Việt Nam [34] Tháng 5/2018, ở VQG Vũ Quang, Hà Tĩnh đã phát hiện quần thể
Pơ mu có cây có kích thước rất lớn (đường kính đoạn gốc lên đến 2,2 m, chiều cao gần30m),có niên đại khoảng 800 - 1.000 năm [59]
TheoViện Điều tra và Quy hoạch rừng (1996), Pơ mu là loài không chịu đượcbóng râm và cần có khí hậu mát mẻ, nhiều mưa [86] Pơ mu gặp thành các khu rừng
Trang 26gần như thuần loài trên các dông núi đá vôi hoặc núi đất, có khi mọc từng cá thể hoặcthành các đám nhỏ rải rác trên các sườn núi và thung lũng trong rừng nguyên sinh rậmthường xanh cây lá rộng nhiệt đới gió mùa núi thấp và núi trung bình (nhiệt độ trungbình năm 13 - 200C, lượng mưa trên 1.800 mm) với các loài ưu thế thuộc họ Dẻ(Fagaceae), Long não (Lauraceae) và Ngọc lan (Magnoliaceae) Trên các vùng núi đávôi miền Bắc Việt Nam (Hà Giang, Bắc Kạn và Hoà Bình) loài này đôi khi hình thànhcác khu rừng thuần loài trên dông núi đá vôi ở độ cao 900 - 1.400 m trên mặt biển.
Các loài mọc cùng Pơ mu tùy vùng phân bố, ở các tỉnh phía Nam loài này mọc
cùng Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông đà lạt (Pinus dalatensis) và Thông lá dẹt (Pinus krempfii), ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung loài này gặp cùng với Sa mu dầu (Cunninghamia konishii), Bách đài loan (Taiwania cryptomerioides) và Thông pà
cò (Pinus kwangtungensis), [93].
Những năm gần đây, ở nước ta đã có một số nghiên cứu bổ sung dẫn liệu đặcđiểm sinh thái loài Pơ mu ở một số vùng Mai Văn Chuyên và cs (2011), nghiên cứu
Pơ mu ở Khu BTTN Xuân Liên (tỉnh Thanh Hoá) cho thấy loài phân bố độ cao từ 903
m trở lên nhưng phổ biến ởđộ cao trên 1.000 m, tập trung ở sườn núi hoặc đỉnh núi;mọc trên loaịđất Feralit mùn có tầng thảm mục rất dày, loài này chiếm tầng vượt táncủa lâm phần, mọc hỗn giao với nhiều loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họLong não (Lauraceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ
Thầu dầu (Euphorbiaceae); các loài luôn đi kèm với Pơ mu là Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Dẻ cau (Quercus fleuhy), Sồi (Lithocarpus dussandi), Sao mặt quỷ (Hopea mollissima), Côm tầng (Elaeocarpus dubius), [13] Theo Nguyễn Thị Phương Trang (2012), khi nghiên cứu F hodginsii ở một số tỉnh phía Bắc (Lào Cai,
Sơn La, Hà Giang, Hoà Bình) và một số tỉnh ở miền Trung (Thanh Hoá, Nghệ An) chothấy: Pơ mu phân bố chủ yếu trên các sườn núi ở độ cao từ 1.200 m - 3.000 m, độ ẩm
80 - 85%, nhiệt độ trung bình 15 - 200C, kích thước quần thể trung bình 60 cá thể/quầnthể, độ cao là yếu tố quyết định đến sự phân bố của Pơ mu Pơ mu thường mọc chung
với các loài như Sâng (Pometia pinata), Dẻ đá (Lithocarpus cornea), các loài thuộc
họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Re (Lauraceae) và các loài cây lá kim gồm Thông nàng
Trang 27(Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn (Cupressus tonkinensis), Kim giao bắc
b Đặc điểm sinh thái loài Sa mu dầu
Loài Sa mu dầu ở nước ta phân bố hẹp ở các tỉnh phía Bắc (Hà Giang, Sơn La)miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An), phân bố nhiều nhất là ở Nghệ An trên các dãy núibiên giới với Lào [33] Số liệu về diện tích và trữ lượng loài này chỉ mới có ở KhuBTTN Xuân Liên, Thanh Hóa với diện tích vùng phân bố 553,46 ha chiếm 2,1% tổngdiện tích toàn khu bảo tồn; trữ lượng 4.191,08 m3; cá thể lớn nhất đạt trữ lượng 77,892
m3 gỗ, cá thể nhỏ nhất là 0,760 m3 và trung bình một cá thểSa mu dầu trong khu vựcnghiên cứu đạt tới trên 20 m3 [13]
Sa mu dầu ở Việt Nam mọc rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinhrậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc núi trung bình (nhiệt độtrung bình năm 13 - 190C lượng mưa trên 1.500 mm) trên đất phong hoá từ granít hoặccác đá mẹ silicát khác ở độ cao 960 - 2.000 m trên mặt biển Các loài Thông mọc kèm
gồm Pơ mu (F hodginsii), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) và Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), [93].
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu bổ sung dẫn liệu đặc điểm sinh thái loài
Sa mu dầu ở một số vùng Mai Văn Chuyên và cs (2011), nghiên cứu Sa mu dầu ởKhu BTTN Xuân Liên (tỉnh Thanh Hoá) cho thấy loài phân bố ở rừng kín thường xanhchủ yếu cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp, mọc ở độ cao trên 1.000 m, hỗn giao với Pơ
mu và nhiều loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họDầu (Dipterocarpaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), loại đất Feralit mùn có tầng thảm mục rất dày, loài này chiếm tầng vượt tán của lâmphần Tính canḥ tranh của loài khác đối với loài Sa mu dầu cũng giống như Pơ mu,
Trang 28loài Dẻ (Quercus sp.) là loài cạnh tranh mạnh nhất đối với Sa mu dầu (CI = 1,185, CI
là chỉ số cạnh tranh), tiếp đến là loài Pơ mu (CI = 0,712) và giảm dần đến loài Sồiphảng (CI = 0,401), Trâm (CI = 0,302), Cà ổi (CI = 0,258), riêng các loài như: Máu
chó (Knema sp.), Cà phê rừng (Coffea liberica), Bứa (Garcinia oblongifolia), Chòi mòi (Antidesma ghasembilla), Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia) cạnh tranh không
đáng kể [13]
Nguyễn Thị Phương Trang (2012) nghiên cứu các quần thể Sa mu dầu tự nhiên
ở cả tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An cho thấy, loài này chủ yếu trên các sườn núi đá vôi
và đất granit phong hoá, nhiệt độ trung bình 22 - 240C, lượng mưa trung bình 1.700 2.000 mm, độ cao trên 1.200 m, địa hình biến đổi phức tạp, chia cắt, kích thước quầnthể nhỏ (trung bình 50 cá thể/quần thể), thường có trong rừng kín thường xanh hỗngiao cây lá rộng - lá kim á ẩm nhiệt đới, mọc chung với các loài thuộc họ Dẻ(Fagaceae), Tô hạp (Altingiaceae), Côm (Elaeocarpaceae), họ Long não (Lauraceae),
-họ Dầu (Dipterocarpaceae) [52]
Sa mu dầu ở Việt Nam chỉ phân bố ở một số tỉnh, tuy nhiên các công trình công
bố còn chưa thống nhất về thời gian ra nón và nón chín Theo Nguyễn Đức Tố Lưu vàPhilip Ian Thomas (2004): loài này nón chín tháng 11 - 12 tuy nhiên thường khó thuhái do chỉ mọc ở phần trên của những cây trưởng thành rất lớn [35]; Theo Sách ĐỏViệt Nam (2007), nón xuất hiện tháng 9, hạt trưởng thành vào tháng 3 - 5 năm sau [5];Phan Kế Lộc và cộng sự (2013): thụ phấn tháng: 1 - 3, hạt chín tháng 1 - 4 [33]
1.2.2.3 Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và nhân giống
a Nghiên cứu đặc điểm tái sinh và nhân giống loài Pơ mu
Có nhiều nhận định về khả năng tái sinh của loài Pơ mu Theo Nguyễn HoàngNghĩa (2004), Pơ mu mọc với mật độ thưa, tái sinh tự nhiên kém, thiếu hẳn thế hệtrung gian để có thể thay thế những cây già cỗi [38] Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự(2004), khả năng tái sinh tự nhiên của Pơ mu là nhiều nhưng sinh trưởng cây con kém,cây con không chịu bóng và cần có khu trống cho tái sinh, không thấy Pơ mu tái sinhchồi [93] Mai Văn Chuyên và cộng sự (2011), nghiên cứu Pơ mu ở Khu Bảo tồn XuânLiên, Thanh Hóa nhận định loài này tái sinh tương đối tốt nhưng triển vọng tái sinh
Trang 29kém, được tái sinh hoàn toàn bằng hạt [13] Nguyễn Thị Phương Trang (2012), khinghiên cứu ở miền Bắc và Trung Việt Nam cho thấy loài Pơ mu tỷ lệ cây tái sinh tựnhiên thấp (5%) [52] Các kết quả đã công bố cho thấy đối với loài Pơ mu chỉ tái sinhbằng hạt, không có hiện tượng tái sinh bằng chồi và tái sinh tự nhiên của loài kém.
Với mục đích bảo tồn loài Pơ mu, ở nước ta đã có một số kết quả nghiên cứu vềnhân giống bằng gieo hạt, giâm hom và nhân giống in vitro loài này Thân Văn Cảnh(2001) đã giới thiệu kỹ thuật trồng Pơ mu bằng gieo hạt, thời vụ thu háihạt giống Pơ
mu vào tháng 11 đầu tháng 12 Sau khi thu hái hạt xong tốt nhất là nên gieo hạt ngay
tỷ lệ nảy mầm cao (50%) Thời vụ gieo ươm cây Pơ mu tốt nhất là vào cuối tháng 3đến đầu tháng 4, thời gian này độ ẩm cao nhiệt độ đã ấm hạt dễ nảy mầm [7] Kết quảthử nghiệm nhân giống bằng hạt loài Pơ mu gần đây của Nguyễn Đức Quang và csộng
sự (2015), cho thấy thời gian bảo quản hạt giống ảnh hưởng đến tỉ lệ và thời gian nảymầm của hạt Hạt bảo quản trong 2 năm đem gieo thì tỷ lệ nảy mầm thấp hơn và thờigian nảy mầm của hạt kéo dài hơn so với hạt được bảo quản trong 1 năm Khi so sánhthời gian nảy mầm giữa hạt không xử lý và xử lý ở nước 500C, 600C, 700C thì thờigian nảy mầm của hạt rút ngắn nhất là ở 600C [117]
Lê Đình Khả và cộng sự (1996), đã thử nghiệm giâm hom Pơ mu ở Ba Vì, homđược cắt vào mùa thu từ cây mẹ 2 năm tuổi Thử nghiệm các chất kích thích ra rễ làTTG1 (Transparent tetsta glabra), TTG2, NAA và ABT1, mỗi công thức xử lí 10 hom.Kết quả thí nghiệm cho thấy sau khi giâm hom 60 - 70 ngày thì hom bắt đầu ra rễ, đốivới hom không xử lý chất kích thích có tỷ lệ ra rễ 70% Trong các chất được dùng để
xử lý thì dạng bột TTG1 nồng độ 1,0 1,5% là có hiệu quả cao nhất (có tỷ lệ ra rễ 90 100%), tiếp đó là TTG2 nồng độ 1,5% hoặc ABT1 nồng độ 1,0% NAA là chất hoàntoàn không thích hợp cho việc xử lý ra rễ của loài Pơ mu [29] Nguyễn Hoàng Nghĩa
-và Trần Văn Tiến (1996 - 1997) thử nghiệm nhân giống vô tính bằng hom loài Pơ mutại Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng Kết quảnghiên cứu này, cho thấy Pơ mu thích hợp với nhân giống bằng hom, cành hom lấy từcây non 1 tuổi Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng IAA (Indole-3-acetic acid), IBA,ABT, NAA với các nồng độ khác nhau (0,5 %; 1,0%; 1,5%), sử dụng giá thể bằng cát
Trang 30Trong thí nghiệm này NAA cho tỉ lệ ra rễ cao nhất 80% - 90% (ở nồng độ 0,5% đạt80%; ở nồng độ NAA 1,0% và 1,5% đạt 90%) [39] Nguyễn Thị Phương Trang (2012)
đã thử nghiệm giâm hom Pơ mu ở 3 địa điểm nghiên cứu là: xã Thái An (huyện Quảng
Bạ, tỉnh Hà Giang), Cao Bồ (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) và xã Liêm Phú (huyệnVăn Bàn, tỉnh Lào Cai) Sử dụng chất kích thích ra rễ IBA 400 ppm, tỉ lệ thành công là75%, loại chất điều hòa sinh trưởng IBA là phù hợp cho giâm hom Pơ mu [52]
Phạm Thế Anh và cộng sự (2007) đã nhân giống in vitro thành công trên Pơ mu.Vật liệu là chồi đỉnh, được lấy từ cây 1 - 1,5 tuổi Môi trường WPM (Wooden plantmedium) là khoáng cơ bản thích hợp nhất cho nuôi cấy chồi đỉnh Môi trường WPM
có bổ sung BA (Benzyl adenin) (0,1 mg/l) có khả năng phát sinh chồi cao nhất Kếthợp BA (0,1 mg/l) và IBA (0,3 mg/l) bổ sung vào môi trường nuôi cấy WPM cho khảnăng nhân chồi cao nhất Chồi Pơ mu trong nuôi cấy in vitro ra rễ nhiều và dài nhấttrên môi trường WPM + IBA (5 mg/l), sau 45 ngày nuôi cấy [1]
b Nghiên cứu đặc điểm tái sinh và nhân giống loài Sa mu dầu
Các kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của loài Sa mu dầu chủ yếu tậptrung ở một số vùng của tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự (2004), nhận định Sa mudầukhông thấy tái sinh tự nhiên ở Khu BTTN Pù Huống hoặc ở núi Pù Mát của KỳSơn, Nghệ An Ở những nơi khác sự tái sinh thường gặp ở những nơi đất bị sạt lở hoặccác khu mới bị cháy vì vậy cần có khoảng rừng trống thì cây mới tái sinh [93] TheoSách Đỏ Việt Nam (2007), đặc điểm tái sinh Sa mu dầu thì tái sinh bằng hạt bìnhthường với nhiều cây có tuổi rất khác nhau, kể từ cây mạ trở lên [5] Nguyễn Văn Sinh(2009), khi nghiên cứu Sa mu dầu ở VQG Pù Mát (Nghệ An) nhận định khả năng táisinh của loài rất kém Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyểnsang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp [44]; Mai VănChuyên và cộng sự (2011),không thấy có Sa mu dầu tái sinh tự nhiên tại tất cả cácđiểm phân bố ở Khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hoá [13] Nguyễn Thị Phương Trang(2012), khi nghiên cứu tái sinh Sa mu dầu ở tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa không thấy
có tái sinh tự nhiên [52]
Trang 31Kết quả công bố theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), chưa thấy đồng nhất với cáckết quả nghiên cứu của các tác giả sau này Nhận định chung theo nghiên cứu của cáctác giả trên thì khả năng tái sinh của loài Sa mu dầu rất kém và một số vùng nghiêncứu không thấy có hiện tượng tái sinh.
Ở Việt Nam tiến hành thử nghiệm nhân giống loài Sa mu dầu còn rất ít NguyễnThị Phương Trang (2012) tiến hành thử nghiệm gieo hạt Sa mu dầu Hạt giống trướckhi gieo được ngâm trong thuốc tím (KMnO4), nồng độ 0,05% trong 10 phút, sau đóvớt ra rửa sạch và ngâm hạt trong nước thường 1 - 2 giờ, gieo hạt trên giá thể cát vàngpha ít đất Kết quả thử nghiệm gieo hạt Sa mu dầu, sau 20 - 30 ngày các hạt bắt đầunảy mầm, với tỷ lệ thành công là 43% Tuy nhiên sau khoảng 40 ngày, một số hạt mặc
dù đã nảy mầm nhưng dần bị thối và chết rễ Sau 50 ngày số hạt nảy mầm và thành câycon đạt 23% Trong nghiên cứu này, tỷ lệ hạt nảy mầm đạt 23% [52] Hồ Ngọc Sơn vàTrần Thị Hương Giang (2017) nghiên cứu kỹ thuật chế biến, bảo quản hạt Sa mu dầucho thấy so với thu hái quả già thì thu hái quả chín Sa mu dầu có thời gian bắt đầu nảymầm nhanh hơn, thế nảy mầm trung bình cao hơn đạt 19,6% so với 15,8%, tỷ lệ nảymầm cao hơn đạt 42,7% so với 35,7% Với loại hạt Sa mu dầu không nên bảo quảnlâu, sau 1 tháng bảo quản sức sống của hạt từ 43% giảm 1% còn 41,33%; sau 2 thánggiảm còn 39%, sau 3 tháng giảm còn 35,33%, sau 12 tháng bảo quản sức sống của hạtgiảm còn 1,33% [45]
1.2.2.4 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu Pơ mu chủ yếuphân tích thành phần tinh dầu gỗ thân, rễ ở một số vùng nhằm xác định thành phần cáchợp chất và kiểm tra hoạt tính của một số hợp chất có trong tinh dầu [19], [20], [28],[88], [111], [131]
Weyerstahl P và cộng sự (1999) đã xác định được thành phần chính trong tinhdầu gỗ thân Pơ mu ở tỉnh Yên Bái là (E)-nerolidol (34,8%) và fokienol (25,7%) [131]
Lê Tự Hải và cs (2007) đã xác định thành phần và cấu trúc của các hợp chất trong tinhdầu gỗ thân và rễ Pơ mu ở tỉnh Quảng Nam Kết quả nghiên cứu này cho thấy thànhphần chính là (E)-nerolidol (trong thân 14,91%, trong rễ 11,03%), elemol (trong
Trang 32thân,13,56%, trong rễ 31,29%), -eudesmol (trong thân 13,09%, trong rễ 31,43%) và-eudesmol (trong thân 5,34%, trong rễ 12,03%) [19].
Kết quả của Nguyễn Quang Hưng và cộng sự (2010) cho thấy tinh dầu đượctách từ gỗ Pơ mu ở Hà Giang với hiệu suất 0,2% so với khối lượng tươi, có 10 cấu tử
đã được xác định, chiếm 100% khối lượng của tinh dầu Các thành phần chính của tinhdầu là α-cadinol (37,9%), nerolidol (17,8%), -eudesmol (7,8%), -cadinen (7,1%) [28]
Tinh dầu từ gỗ rễ Pơ mu ở tỉnh Hà Tĩnh đã xác định được bốn mươi hợp chấthydrocarbon và 19 hợp chất oxy hóa, chủ yếu là sesquiterpene Các thành phần chínhtrong gỗ rễ là (E)-nerolidol (35,5%) và fokienol (26,4%) [111] Các kết quả nghiên cứucho thấy hợp chất đặc trưng trong tinh dầu gỗ Pơ mu ở Việt Nam là nerolidol
Ở Việt Nam, bước đầu đã có thử nghiệm hoạt các hợp chất trong thành phầntinh dầu Pơ mu trong y học, kết quả nghiên cứu cho thấy trans-nerolidol, fokineol và
α-cadinol đều có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn Bacillus subtilis, Sarcina lutea, Bacillus cereus, Staphylococcus aureus và vi nấm Candida albicans Ngoài ra trans- nerolidol và fokienol còn có hoạt tính ức chế vi khuẩn Bacillus pumilus [18].
Ở nước ta, việc nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu Sa mu dầu đều tậ ptrung vào phân tích thành phần các hợp chất trong tinh dầu gỗ thân ở một số địaphương Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho thấy sự tích lũy thành phần chính củatinh dầu ở các khu vực khác nhau có sự sai khác, thành phần chính tinh dầu gỗ Sa mudầu ở VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An) là α-cedrol (30,0%), β-fenchy alcohol (16,1%),cedren (15,3%), camphor (4,97%), borneol (4,21%), ở Xuân Nha (tỉnh Sơn La) là α-cedrol (37,0%), β-fenchy alcohol (27,5%), borneol (8,33%), cedren (4,46%), camphor(3,27%) [46] và ở Tây Côn Lĩnh (tỉnh Hà Giang) là α-terpineol (36,6%), α-cedrol(29,8%), cis-α-dehydro terpineol (5,6%), borneol (4,6%), camphor (4,4%) và α-cedren(3,4%) [15], ở Khu BTTN Xuân Liên (tỉnh Thanh Hóa) là α-cedrene (18,4%), cedrol(11,2%) và γ-eudesmol (8,8%), α-terpineol (9,6%) [129] Đặc trưng trong các mẫu tinhdầu Sa mu dầu đều có hợp chính là α-cedrol nhưng tỉ lệ khác nhau từ 11,2 - 37,0%
Trang 331.2.2.5 Nghiên cứu về di truyền
Có rất ít công trình nghiên cứu di truyền về loài Pơ mu ở Việt Nam NguyễnMinh Tâm và cộng sự (2011) đã nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể loài Pơ mu ởcấp độ quần thể và loài Sự biến đổi di truyền của Pơ mu ở Việt Nam đã được điều tratrên cơ sở sử dụng chỉ thị phân tử ISSR (Inter simple sequence repeat) Ba trăm haimươi hai cây được lấy mẫu từ 8 quần thể ở sáu tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Sơn La, HòaBình, Thanh Hóa, Nghệ An, đã được sử dụng làm nguyên liệu cho nghiên cứu Cácquần thể Pơ mu được nghiên cứu có hệ số đa dạng di truyền thấp trong khi hệ số khácbiệt di truyền giữa các quần thể này lại khá cao chứng tỏ các quần thể đang có xuhướng cách biệt di truyền [127] Nguyễn Đức Quang và cộng sự (2012), khi nghiêncứu các biến đổi nucleotit tại locus methionine synthase trong 12 quần thể Pơ mu đượclấy từ nhiều địa điểm ở Việt Nam cho thấy chỉ số sai khác di truyền giữa 12 quần thểthấp, sự khác biệt di truyền đáng là không đáng kể [118]
Nguyễn Thị Phương Trang (2012) xác định mối quan hệ của loài Pơ mu trong
họ Hoàng đàn (Cupressaceae) thông qua phân tích trình tự gen 18s-Ribosome Kết quả
phân tích cho thấy, Pơ mu cùng nhánh với Bách xanh núi đá (Calocerdus rupestris), cùng nhánh tiến hóa với chi Calocerdus [52].
Đối với Sa mu dầu ở Việt Nam chỉ mới có công bố của Nguyễn Minh Tâm và
cs (2013), các tác giả đã nghiên cứu sự biến đổi di truyền của loài trên cơ sở sử dụngchỉ thị phân tử ISSR
Một trăm tám hai cây được lấy mẫu từ bốn quần thể ở 2 tỉnh (Thanh Hóa vàNghệ An) đã được sử dụng làm nguyên liệu Các dữ liệu cho thấy ISSR biến đổi ditruyền thấp ở mức quần thể và mức độ loài Các quần thể Sa mu dầu được nghiên cứu
có hệ số đa dạng di truyền thấp trong khi hệ số khác biệt di truyền giữa các quần thểnày lại khá cao chứng tỏ các quần thể đang có xu hướng cách biệt di truyền [126]
Kết quả phân tích mối quan hệ của loài Sa mu dầu (Cunninghamia lanceolata var konishii) trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) của Nguyễn Thị Phương Trang (2012) cho thấy Cunninghamia lanceolata var konishii có quan hệ di truyền gần gũi với Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook Chi Sa mộc (Cunninghamia) có quan hệ
Trang 34gần gũi với các chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) và nên xem như một chi trong
họ này [52]
Ở trong nước, cho đến nay các công trình nghiên cứu về Pơ mu còn ít, chủ yếu
là mô tả hình thái, phân bố, đặc tính sinh thái chung, đặc điểm di truyền một số quầnthể ở một số tỉnh, phân tích thành phần hóa học tinh dầu chỉ mới ở gỗ thân và rễ; thửnghiệm nhân giống bằng gieo hạt từ nguồn giống ở một số tỉnh thành và đã có một vàicông trình thử nghiệm bằng giâm hom Pơ mu cho kết quả khá cao
Sa mu dầu ở Việt Nam phân bố hẹp ở hai tỉnh phía Bắc (Hà Giang, Sơn La) vàhai tỉnh miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An) Các kết quả nghiên cứu về loài này trongnước còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung mô tả hình thái bên ngoài, một số đặc điểmsinh thái chung, đặc điểm di truyền một số quần thể, nhân giống từ gieo hạt
1.2.3 Nghiên cứu ở Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An
Tỉnh Nghệ An nằm trong vùng phân bố và sinh thái Thông đứng hàng thứ 3 ởViệt Nam sau vùng Đông Bắc và Nam Trường Sơn, có 12 loài Thông chiếm 36,7%tổng số taxon trong cả nước [32], [35] Pơ mu và Sa mu dầu là hai loài thuộc ngànhThông (Pinophyta) đã được ghi nhận có mặt ở Nghệ An Các nghiên cứu về Pơ mu ởKhu DTSQ miền Tây Nghệ An còn ít và chủ yếu mới dừng lại phát hiện một số xã cóloài phân bố, mô tả đặc điểm sinh học và sinh thái chung Đối với loài Sa mu dầu cũngchỉ mới xác định một số tuyến và một vài tiểu khu ở một số xã có loài phân bố, mô tảđặc điểm sinh học, sinh thái chung và phân tích một số thành phần hợp chất trong tinhdầu lá và gỗ thân
Phan Kế Lộc và cộng sự (2007), trong nghiên cứu chung về Thông ở Nghệ An
đã đưa ra nhận định phân bố của loài Pơ mu ở tỉnh Nghệ An: Pơ mu gặp khá phổ biến,mọc trên núi đất chưa thấy trên núi đá vôi, trên dải núi rừng rậm thường xanh từ VQG
Pù Mát đến vùng Pù Xai Lai Leng và vùng núi Pù Hoạt [32] Các nghiên cứu đã công
bố của Phan Kế Lộc và cộng sự (2007) [32], Nguyễn Thị Phương Trang (2012) [52],Hoàng Văn Sâm và Trần Đức Dũng (2013) [42] chỉ ra khu vực phân bố của Pơ mu ở
6 xã, 5 huyện của Nghệ An bao gồm: xã Quang Phong (huyện Quế Phong) và xã Nga
My (huyện Quỳ Châu) [42]; xã Tam Hợp (bản Pà Lõm) và xã Tam Đình (Pu Lon)
Trang 35thuộc huyện Tương Dương; xã Hạch Dịch (huyện Quế Phong) [32] và xã Tây Sơn(huyện Kỳ Sơn) [52].
Sa mu dầu ở Nghệ An có ở trên tất cả các khu vực: Khu BTTN Pù Hoạt, Khu
BTTN Pù Huống, VQG Pù Mát và huyện Kỳ Sơn [93] Sa mu dầu thường mọc thành
đám nhỏ vài ba cây, ít khi tới 5 - 7 cây hay hơn nữa, tạo thành rừng tầng nhô của cácđám rừng nhỏ hẹp, rậm nguyên sinh thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây lá rộng, từkhoảng 1.000 - 1.400 m (đai núi trung bình), trên sản phẩm phong hóa của đá phiếnsét, từ ven suối lên gần đỉnh [32]
Trong các công trình đã công bố của Trần Văn Dương (2001) [82], Phan KếLộc và cộng sự (2007) [32], Nguyễn Văn Sinh (2009) [44], Nguyễn Thị Phương Trang(2012) [52], Bùi Thế Đồi và Nguyễn Phi Hùng (2013) [17], Hoàng Văn Sâm và TrầnĐức Dũng (2013) [42], Phạm Hồng Ban (2015) [3] chỉ ra Sa mu dầu có ở 12 xã, 5huyện thuộc tỉnh Nghệ An bao gồm: Huyện Quế Phong: xã Hạch Dịch [3], [32], xã Tri
Lễ, xã Nậm Giải [3] và xã Quang Phong (tiểu khu 150) [42]; huyện Quỳ Châu: xãChâu Hoàn (núi Pha Ca Tủn) [83], tiểu khu 568 [42]) và xã Diên Lãm (dãy núi PhùHuống, núi Phu Lon) [32]; huyện Kỳ Sơn: xã Nga My (tiểu khu 228 [42]), xã Na Ngoi[3] và xã Tây Sơn (núi Pù Lon) [32], [52]; huyện Tương Dương: xã Tam Hợp (bản PàLõm) [32], [52]; huyện Con Cuông: xã Châu Khê (tiểu khu 787, 794, 795, 798, 813)[17], [32], [44] và xã Môn Sơn (tiểu khu 835) [17], [32], [44]
Nguyễn Duy Chuyên và Lý Thọ (1995) đã thống kê diện tích Pơ mu ở Nghệ
An đứng thứ 6 (khoảng 3.853 m2) trong 9 tỉnh (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Gia Lai, Ninh Thuận) nhưng trữ lượng gỗlại lớn thứ 2 trong các tỉnh đã điều tra (288.027 m3) [theo 14] Hoàng Văn Sâm vàTrần Đức Dũng (2013), điều tra số lượng cá thể Pơ mu trên 2 tuyến ở xã Quang Phong(huyện Quế Phong) và xã Nga My (huyện Quỳ Châu) có 57 cây, đường kính trungbình D1,3 (44,42 - 46,42 c m), Hvn (20,77 - 21,96 m), diện tích là 10,45 ha [42]
Đối với loài Sa mu dầu, theo nhận định của Phan Kế Lộc và cộng sự (2007), ở
xã Châu Khê và Tam Hợp với diện tích phân bố ít nhất là 15 km2 và nơi cư trú ít nhất
10 ha [32] Nguyễn Văn Sinh (2009), khi nghiên cứu đưa ra số liệu cụ thể hơn trên một
Trang 36số tuyến ở xã Châu Khê (huyện Con Cuông) và xã Môn Sơn (huyện Con Cuông) vớidiện tích khoảng 7,167 ha [44] Hoàng Văn Sâm và Trần Đức Dũng (2013) nhận địnhloài Sa mu dầu ở xã Quang Phong (huyện Quế Phong), xã Nga My (huyện TươngDương) và xã Châu Hoàn huyện Quỳ Châu với diện tích phân bố khoảng 990 ha [42].Đặc biệt cây Sa mu dầu cao khoảng 70 m, đường kính thân hơn 5,5 m ở VQG Pù Mát[22] và 56 cây Sa mu dầu có đường kính hơn 2 m, chiều cao bình quân hơn 50 m ởKhu BTTN Pù Hoạt đã được công nhận Cây Di sản Việt Nam [23].
Phan Kế Lộc và cộng sự (2007), trên một số tuyến điều tra loài Pơ mu ở Nghệ
An hầu như không gặp cây tái sinh [32] Ở Khu BTTN Pù Huống khảo sát ở xã QuangPhong (huyện Quế Phong) và xã Nga My (huyện Quỳ Châu) tình hình tái sinh của Pơ
mu rất ít, khả năng phát triển của cây con là kém, cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giaiđoạn cây mạ (nhỏ hơn 50 cm), nhưng khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp,
tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp [42]
Sa mu dầu: Mùa ra nón: khoảng tháng 12 - 1, mùa nón hạt chín xuống: có lẽvào khoảng tháng 7 - 10 Hầu như không bắt gặp cây mạ nào dưới tán rừng [32] Khảnăng tái sinh của Sa mu dầu ở VQG Pù Mát rất kém, cây tái sinh dưới tán rừng rất ít vàchủ yếu ở giai đoạn cây mạ Cây tái sinh ở giai đoạn cây con hầu như không bắt gặp[44] Ở Khu BTTN Pù Huống, Sa mu dầu không thấy loài tái sinh [42]
Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu chỉ mới phân tích lá và gỗ thân Ở KhuBTTN Pù Hoạt, thành phần chính của tinh dầu lá là α-cedrol (30,6%), β-eudesmol(25,4%), -eudesmol (10,9%), (E)-nerolidol (5,4%); thành phần tinh dầu gỗ đặc trưng bởiα-cedrol (23,5%), (E)-nerolidol (12,5%), -eudesmol (11,2%), β-caryophyllen (9,5%) [27]
Ở VQG Pù Mát, thành phần chính của tinh dầu gỗ thân là α-cedrol (30,0%), β-fenchyalcohol (16,1%), cedren (15,3%), camphor (4,97%), borneol (4,21%) [46]
Qua những công trình nghiên cứu trên cho thấy chưa có một công trình nàonghiên cứu hai loài này một cách toàn diện và có hệ thống, đặc biệt trên một phạm vilớn như toàn bộ Khu DTSQ Tây Nghệ An Do đó, đề tài này được tiến hành nhằm bổsung thêm cơ sở khoa học cần thiết để bảo tồn và phát triển loài Pơ mu và Sa mu dầucho toàn bộ Khu DTSQ miền Tây Nghệ An
Trang 371.3 Đặc điểm Điều kiện tự nhiên - Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
Hình 1.1 Bản đồ Khu DTSQ miền Tây Nghệ An
(Nguồn: Ban quản lý Khu DSTQ miền Tây Nghệ An, 2017)
Khu DTSQ Tây Nghệ An thuộc dãy phía Bắc Trường Sơn, Việt Nam có tọa độ địalý: Kinh độ: 103087’43,45’’- 105050’01,52’’; vĩ độ: 18057’91,79’’ - 19072’75,94’’ Tổngdiện tích toàn khu DTSQ là 1.299.795 ha, trong đó diện tích vùng lõi 168.301 ha, vùngđệm 608.547ha và vùng chuyển tiếp 522.947 ha thuộc địa bàn 9 huyện: Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương và TânKỳ; có 440,8 km đường biên giới hữu nghị với nước CHDC Nhân dân Lào Khu DTSQ làhành lang xanh kết nối 3 vùng lõi (VQG Pù Mát, Khu BTTN Pù Huống và Khu BTTN PùHoạt) tạo nên sự liên tục về môi trường và sinh cảnh (hình 1.1)
1.3.2 Địa hình
Khu DTSQ Tây Nghệ An thuộc dãy Trường Sơn Bắc, có địa hình dốc và nhiềunúi non Đặc điểm cấu trúc địa chất kiến tạo trong lịch sử hình thành và phát triển tự
Trang 38nhiên khiến cho khu DTSQ có những dông núi kéo dài và độ cao địa hình nhìn chungthấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Bậc địa hình cao nhất phân bố dọc theo biêngiới Việt Lào thành một dải dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam tạo thành các đỉnhnhư đỉnh Pù Hoạt (2.457 m), Pa Khăm (2.007 m), Pu Xai Lai Leng (2.711 m), PuSoong (2.365 m), Pu Tông (2.345 m), Pu Long (2.176 m), Thấp nhất là các bề mặtđáy thung lũng với độ cao từ 0 - 10 m phân bố dọc theo sông Cả và các sông suối trongkhu vực Địa hình khu DTSQ phân bậc khá rõ rệt:
- Địa hình có bậc độ cao trên 1.500 m: Nằm chủ yếu ở vùng biên giới Việt Làobao gồm các nhánh cuối của dãy Pù Đen (Pù Hoạt, Pù Xai Leng) và phần lớn của cánhcung Pù Hoạt (Pù Hoạt, Pù Lon)
- Địa hình có bậc độ cao 900 m đến 1.500 m: Nằm chủ yếu ở các hướng dôngchính từ vùng thấp của Pù Hoạt đến tam giác giữa 3 huyện Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ
- Địa hình có bậc độ cao 300 m đến 900 m: Gồm các đồi đất đỏ bazan ở cáchuyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Con Cuông, Tương Dương và các đầu bậcphân thùy thấp tỏa hai bên dông chính Phía Tây Nam có các huyện như Con Cuông,Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương
- Địa hình có bậc độ cao dưới 300 m: Bao gồm chủ yếu lưu vực sông suối nhỏ ởhai bên Sông Cả và Sông Hiếu xen kẽ các đồi núi thấp
1.3.3 Đặc điểm khí hậu
Khu DTSQ miền Tây Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịuảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Khí hậu đặc trưng chung ở 3vùng lõi của khu DTSQ thường phân thành 2 mùa rõ rệt, tuy nhiên do địa hình của dãyTrường Sơn ảnh hưởng mạnh đến hoàn lưu khí quyển đã tạo nên sự khác biệt lớn trongphân hoá khí hậu khu vực
Đối với Khu BTTN Pù Hoạt và Khu BTTN Pù Huống có khí hậu khá tươngđồng Hai khu vực này mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa
rõ rệt, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh, khô hanh Nhiệt độ bình quân năm23,1 - 23,60C, tối cao tuyệt đối từ 40,8 - 42,70C Nằm trong vùng ảnh hưởng mạnh của
Trang 39gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, xuất hiện từ tháng 4 - 6, mùa đông có gió mùa ĐôngBắc lạnh, kèm theo mưa phùn, sương muối thường xuất hiện Độ ẩm không khí bìnhquân 84% Lượng mưa trung bình năm từ 1.600 mm đến 1.750 mm, tập trung chủ yếu
từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm Ngoài ra trên địa bàn còn phải kể đến tác hại củasương muối, mưa đá và giông tố với cường độ mạnh thường cuốn bay nhà cửa, hoamàu, súc vật,…
Khu vực VQG Pù Mát có nhiệt độ trung bình 23,50C Mùa Đông từ tháng 12đến tháng 2 năm sau do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trungbình trong các tháng này xuống dưới 200C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhấtxuống dưới 180C (tháng giêng) Ngược lại trong mùa hè, đây là vùng chịu ảnh hưởng
có gió Tây khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bìnhmùa hè lên trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 290C Trongnhững ngày này nhiệt tối cao có thể vượt quá 400C như ở Con Cuông và TươngDương Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90% Nhưng giátrị cực thấp về độ ẩm có thể xuống dưới 30% do thời kỳ nóng kéo dài Lượng mưatrung bình hàng năm ở đây là 1.800 mm
1.3.4 Thuỷ văn
Khu DTSQ miền Tây Nghệ An nằm trải dài ở hai mái dông chính của đứt gãysông Cả Mái dông thứ nhất chạy từ đỉnh Pù Hoạt đến vùng đất đỏ bazan Phủ Quỳ vớichiều dài 93 km, từ dông chính có các đường phân thùy đổ về các mái tạo nên cácdòng chảy dốc và hiểm trở Mái dông chảy về hướng Đông Bắc có các dòng chảy NậmQuang, Nậm Gương, Huồi Bô, Huồi Phạt, Huồi Phùng Căm, Huồi Lắc, Huồi Khoỏng,Huồi Mục Pán , cách nhau từ 10 - 25 km Dòng chảy mạnh, thường xuyên có nước cảmùa khô, mật độ suối nhánh từ 2 - 4 km/suối Do địa hình chia cắt sâu, đôi chỗ do đứtgẫy mạnh đã hình thành nên nhiều thác nước mà thác lớn nhất có giá trị cảnh quan dulịch là thác Sao Va (Khu BTTN Pù Hoạt), tạo nên lưu vực và đổ nước về sông Hiếu,sông Chu Mái dông phía Đông Nam có các dòng chảy Nậm Líp, Nậm Cheo, Huồi Kít,Nậm Ngàn, Nậm Chon, Huồi Ôn tạo nên các dòng chảy đổ về khe Bố sau đổ vàosông Cả
Trang 40Mái dông thứ hai bao gồm toàn bộ VQG Pù Mát và khu vực phía Tây thuộchuyện Kỳ Sơn là lưu vực sông chính phía Tây Nam của sông Cả gồm các khe lớn nhưkhe Choang, khe Thơi, khe Khặng Dưới góc độ giao thông thuỷ thì cả ba con sôngtrên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng Khe Choang, KheKhặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu Nhìn chung khu DTSQ có
mạng lưới sông suối khá dày đặc (Nguồn: Ban quản lý Khu DSTQ miền Tây Nghệ An, 2017).
1.3.5 Đất đai
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, ảnh hưởng củakhí hậu, thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho khu DTSQ đa dạng vềđất đai với sự xuất hiện các nhóm đất chính sau:
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Phân bố trên một phạm vi rộng
khắp các huyện, tập trung nhiều ở Tương Dương, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh Sơn,Thanh Chương, Quỳ Hợp;
- Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết: Phân bố rải rác theo dải hẹp
xen giữa các dải đất phiến thạch kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam của tỉnh quanhiều huyện miền núi và trung du như Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ, TươngDương, Kỳ Sơn;
- Đất vàng đỏ phát triển trên các đá axit: Phân bố rải rác ở các huyện Anh Sơn,
Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu,…
- Đất đỏ nâu trên đá vôi: Phân bố rải rác ở các huyện: Tân Kỳ, Quỳ Hợp,…
- Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao: Đất Feralit vùng đồi: Tập
trung ở Thanh Chương và Anh Sơn, phần lớn là đồi trọc, hoặc có cây bụi do rừng bịtàn phá; Đất phù sa: Phân bố rải rác ở các sông như: sông Cả, sông Giăng, sông Con.Đất hàng năm bị ngập do lụt, lượng phù sa lớn, độ phì cao [12]
1.3.6 Đặc điểm kinh tế, xã hội
1.3.6.1 Dân số và phân bố
Khu DTSQ miền Tây Nghệ An là khu vực miền núi giáp nước bạn Lào có nhiềudân tộc sinh sống như Thái (Man Thanh, Hàng Tổng, Tày Mười), Thổ (Cuối,