Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống, trong đó tập trungchính vào các khía cạnh liên quan đến các thực hành si
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG CHÁO (TRƯỜNG HỢP THÔN NÀ LẦU, XÃ TÂN THANH,
HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN)
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hoàng Cầm
2 TS Đỗ Lan Phương
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu đã sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận trong luận án chưa
có công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài, tôi xin trân trọng cảm ơn:
- TS Hoàng Cầm và TS Đỗ Lan Phương là những người thầy đãhướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, cùng cácthầy cô trong Khoa Văn Hóa học của Học viện khoa học xã hội Việt Nam
- Gia đình, bạn bè, những người đồng nghiệp đã luôn sát cánh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm nghiên cứu
- Đặc biệt, những người dân, các cán bộ địa phương tại địa bàn tôinghiên cứu đã rất nhiệt tình trao đổi, cung cấp thông tin, tư liệu cho tôi đểhoàn thành đề tài này!
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Ủy ban
Ủy ban nhân dânVăn hóa thông tin
Trang 51.3 Thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 26
Chương 2: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG 40 CHÁO Ở NÀ LẦU TRONG XÃ HỘI CỔ TRUYỀN
2.1 Tập tục cộng đồng trong sở hữu và sử dụng tài nguyên 40 2.2 Sản xuất nông nghiệp với các dàn xếp văn hóa – xã hội và kỹ thuật 46
Chương 3: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG 71 CHÁO Ở NÀ LẦU HIỆN NAY
3.2 Quá trình chuyển đổi kinh tế nông – thương nghiệp 79 3.3 Phương thức mưu sinh mới với cơ sở của nền kinh tế trọng tình 88
Chương 4: VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG 110 CHÁO Ở NÀ LẦU: THAY ĐỔI VÀ THÍCH ỨNG
4.1 Yếu tố trọng tình trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu 110 4.2 Yếu tố duy lý trong thực hành sinh kế của người dân Nà Lầu 113 4.3 Văn hóa đảm bảo đời sống – những vấn đề liên quan trong bối cảnh 125 hiện nay
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 147
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những chuyến khảo sát thực tế để tìm đề tài cho luận án củamình về văn hóa ở vùng biên Lạng Sơn sau Đổi mới (1986), một chủ đề đãtừng được phản ánh trong một số công trình gần đây về những thay đổi vănhóa - xã hội và kinh tế nơi này trong sự thay đổi chung của Việt Nam Một sốngười cho rằng, những thay đổi kinh tế và văn hóa nơi đây theo chiến lượcphát triển vùng biên của nhà nước đã đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho ngườidân Thực tế diễn ra quá trình này đã thu hút tôi tới thôn Nà Lầu (Tân Thanh,Văn Lãng, Lạng Sơn)- nơi vừa trải qua những năm tháng quy hoạch mở rộngvùng thương mại cửa khẩu phía Bắc Việt Nam Tôi đã gặp gỡ và trò chuyệnvới những người Nùng Cháo ở đây, quan sát cuộc sống của họ trong nhữngdãy nhà tại các con phố ở khu buôn bán hay dọc theo tuyến đường giaothương ở Tân Thanh Rất khó có thể nhận ra họ đã từng là những người “chânlấm, tay bùn, một nắng hai sương” trên những thửa ruộng hay mảnh nươngsườn đồi, nay đã thành những “thị dân” Có lẽ, quá trình thay đổi này đãkhông đơn giản khi tôi được nghe tâm sự của bà Xéo, người phụ nữ hơn 60
tuổi có cửa hàng buôn bán ở khu chợ Tân Thanh, rằng: “Bây giờ thì đỡ hơn nhiều rồi nhưng cũng không phải như mọi người nghĩ là ngày ngày chỉ cần
mở cửa ra là đã có tiền, không còn lo làm ruộng không đủ ăn, bán hàng lo
lỗ vốn, đi vác hàng bị mệt, bị bắt ” Bà kể, kinh tế của gia đình trước kia chủ
yếu là từ làm ruộng, làm vườn, thu hoạch chỉ đủ ăn, không có dư thừa Saukhi chuyển đổi, bà và các con đã làm rất nhiều nghề: từ làm ruộng, buôn bánnhỏ cho đến làm “cửu vạn” (vác hàng) Trong quá trình mưu sinh đó, nhà bàluôn có sự tương trợ giúp đỡ của họ hàng, xóm giềng, song bản thân bà và giađình cũng có những toan tính để có một cuộc sống ổn định như hiện nay.Không chỉ có nhà bà mà hầu hết những người Nùng Cháo sống tại thôn Nà
Trang 7Lầu, sau khi đất nông nghiệp của họ bị chuyển đổi, đều phải trải qua nhữnggiai đoạn tìm kiếm các cách thức mưu sinh không dễ dàng như vậy.
Là một thôn nằm giáp với biên giới Việt - Trung của tỉnh Lạng Sơn vànằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, sinh kế cổ truyền của người NùngCháo ở Nà Lầu, về cơ bản là nền “kinh tế trọng tình” (moral economy), lốisống thiên về yếu tố tình cảm, sống dựa trên sự tương trợ, giúp đỡ nhau, tính
cố kết cộng đồng cao Trước những năm 1990, nền kinh tế của họ chủ yếu lànông nghiệp trồng lúa nước, làm nương rẫy kết hợp với chăn nuôi và buônbán nhỏ tại các chợ Na Sầm (huyện Văn Lãng), Đồng Đăng (huyện Cao Lộc),bên cạnh đó còn thực hiện buôn bán, trao đổi hàng hóa với người dân ở thôn
Pò Chài (Trung Quốc) Khi quan hệ hai nước Việt - Trung trở nên căng thẳng
do cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hoạt động buôn bán giữa người dân
Nà Lầu (Việt Nam) với người dân Pò Chài (Trung Quốc) bị nghiêm cấm Từnăm 1991 trở đi, quan hệ song phương Việt - Trung chuyển sang thời kỳ mới,chấm dứt cơ bản những căng thẳng, tạo ra sự bình ổn cho cuộc sống ngườidân Năm 1992, khu Kinh tế cửa khẩu Tân Thanh được xây dựng trên địa bànthôn Nà Lầu thì nơi đây đã trở thành nơi giao lưu, trao đổi và mua bán hànghóa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, nhiều hoạt động thương mạidiễn ra rất sôi động Tác động của việc xây mới và mở rộng vùng cửa khẩu đãdẫn đến việc toàn bộ người Nùng Cháo ở Nà Lầu mất đất canh tác nôngnghiệp vốn là nguồn tài nguyên chính đã gắn bó với kinh tế nông nghiệp lâuđời của họ Hiện nay, các hoạt động sinh kế truyền thống này đã có nhiều thayđổi so với trước kia, đó là sự đa dạng các phương thức mưu sinh Kinh tế củangười dân Nà Lầu không còn được xem là “thuần nông” trong tổng thể nhữngthay đổi về văn hóa bảo đảm đời sống ở đây Nếu như, trong quá khứ họ phảitương trợ lẫn nhau để sống, sinh kế của họ vận dụng theo các nguyên lý củamột nền kinh tế trọng tình, thì trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế của đất nướctuy tạo ra cho họ những cơ hội mới nhưng cũng nhiều gian nan, thử thách Họ
đã xoay sở để tìm kiếm những phương thức mưu sinh phù hợp, có những ứng
Trang 8xử để có thể đảm bảo được cuộc sống, song cũng không mất đi những cơ sởđạo lý mà trong quá khứ đã tạo dựng được, đồng thời phải thích ứng với hoạtđộng sinh kế trong bối cảnh mới Vậy, họ đã làm như thế nào để có thể kếthợp giữa các cơ sở của nền kinh tế trọng tình trước đây với các tính toán kinh
tế mang tính duy lý trong cơ chế thị trường hiện nay? Để nghiên cứu sâu hơn
vấn đề này, tôi chọn đề tài “Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo (trường hợp thôn Nà Lầu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” làm đề tài luận án Tiến sỹ Văn hóa học của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống, trong đó tập trungchính vào các khía cạnh liên quan đến các thực hành sinh kế, luận án hướngtới cung cấp một nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi trong mô hình sinh kế
và những ứng xử văn hóa đi cùng của người nông dân Việt Nam trong xã hộiđương đại, một chủ đề đã và đang nhận được sự quan tâm nghiên cứu của cácnhà khoa học xã hội ở Việt Nam và trên thế giới
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát tình hình nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống nóichung và văn hóa của tộc người Nùng Cháo ở xã Tân Thanh, huyện VănLãng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng
- Làm rõ các hoạt động sinh kế của người Nùng Cháo trong quá khứ đểnhận thấy vai trò cơ bản của canh tác nông nghiệp trên nền tảng trọng tình của
cư dân nơi đây trong suốt chiều dài lịch sử
- Làm rõ các hoạt động sinh kế và các ứng xử liên quan của ngườiNùng Cháo hiện nay để nhìn ra sự đa dạng, phong phú, các chiều cạnh chuyểnđổi văn hóa - xã hội và lựa chọn sinh kế trên cơ sở duy lý có sự đan xen vớitrọng tình của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế và dịch vụ tại khuvực cửa khẩu
Trang 9- Thảo luận về sự kết hợp trọng tình - duy lý trong tư duy và thực hànhsinh kế của người dân trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay Theo đó lànhững vấn đề liên quan đến biến đổi văn hóa - xã hội, nguồn lực lao động, việc làm, những thách thức trong thực hành sinh kế của người Nùng Cháo.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hoạt động sinh kế của người NùngCháo ở thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn) trongquá khứ và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay ở vùng biên giới Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa đảm bảo đời sống là khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ăn,mặc, ở, đi lại và hoạt động mưu sinh Trong khuân khổ của luận án này,Nghiên cứu sinh (NCS) chỉ lựa chọn nghiên cứu và phân tích một trong cácthành tố quan trọng nhất của văn hóa đảm bảo đời sống là các thực hành sinh
kế của người Nùng Cháo cùng những ứng xử văn hóa đi kèm tại thôn Nà Lầu(Tân Thanh, Văn Lãng, Lạng Sơn) từ trước năm 1986, và sau thời kỳ đổi mớiđược tính từ năm 1986 trở lại đây
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng phương phápnghiên cứu định tính (với phỏng vấn sâu, quan sát tham gia) để thu thập thôngtin, các dữ liệu, cứ liệu phục vụ đề tài Các câu hỏi phỏng vấn sâu được soạnthảo dưới hình thức các câu hỏi mở, đôi lúc là gợi ý để đối tượng được phỏngvấn tự kể chuyện Nhiều thông tin từ phỏng vấn sâu còn được kiểm tra bằngthao tác “điều tra chéo” Phương pháp nghiên cứu định tính cung cấp thôngtin về các tiến trình, động thái, các hành vi kinh tế và các mối quan hệ văn hóa
- xã hội liên quan của người Nùng Cháo ở Nà Lầu Nguồn tư liệu chính củaluận án là kết quả thu thập thông tin từ quá trình khảo sát điền dã được NCSthực hiện tại thôn Nà Lầu (Tân Thanh, Văn Lãng, Lạng Sơn) Cụ thể, từ tháng
1 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017 tác giả đã tiến hành nhiều chuyến điền dã
Trang 10tại địa bàn nghiên cứu, thực hiện được 30 cuộc phỏng vấn sâu và tiến hànhthảo luận nhóm với người dân ở độ tuổi lao động khác nhau, phỏng vấn một
số cán bộ lãnh đạo địa phương Chủ đề của các cuộc phỏng vấn, thảo luậnnhóm tập trung xoay quanh các vấn đề về chuyển đổi sinh kế và sự thích ứngtrong các loại sinh kế mới, các chính sách liên quan đến môi trường sinh kếcủa người dân, mạng lưới xã hội, tập quán và các sinh hoạt văn hóa, quan hệcộng đồng Các nhóm được phỏng vấn bao gồm:
Nhóm thứ nhất, những người già sống trong thôn được phỏng vấn để
tìm hiểu về phương thức mưu sinh mà người dân Nà Lầu đã sử dụng trongquá khứ, những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống tương trợ, chia
sẻ, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình chung sống
Nhóm thứ hai, những phụ nữ ở trong thôn được phỏng vấn để tìm hiểu
về công việc của họ hiện nay, so sánh và đối chiếu với công việc của họ trướckhi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh có những điểm khác biệt gì?
Nhóm thứ ba, đối tượng các thanh niên: tìm hiểu công việc hiện tại của
họ, có những chiến lược nào để đảm bảo cuộc sống của bản thân?
Nhóm thứ tư, các các bộ quản lý ở thôn - xã: tập trung tìm hiểu các
quan điểm cá nhân đối với việc chuyển đổi phương thức mưu sinh của ngườidân; Những thay đổi trong phong tục và tập quán văn hóa và sinh kế ở địaphương
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện chủ yếu bằng tiếng phổ thông,được ghi âm, ghi chép lại với sự đồng ý của những người cung cấp tin Toàn
bộ tư liệu từ phỏng vấn, ghi chép đều được phục vụ để phân tích, tên củathông tín viên được mã hóa để đảm bảo nguyên tắc ẩn danh
Bên cạnh phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nghiên cứu sinh cũng thamgia vào các hoạt động văn hóa của người dân, dự các đám tiệc, nghi lễ giađình và cộng đồng, tham dự các cuộc hội họp của thôn - bản hay khu kinhdoanh để tìm hiểu thêm các bối cảnh, khơi gợi các vấn đề cho những cuộcphỏng vấn sâu
Trang 11Kết hợp với nguồn tư liệu thực địa là tư liệu thứ cấp được tập hợp và hệthống, phân tích, từ các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoàinước đã công bố có liên quan tới đề tài Nghiên cứu sinh cũng tiến hành thuthập và phân tích các bài báo, tạp chí và các tài liệu có liên quan để có nhữngthông tin cơ bản về đặc điểm kinh tế, xã hội và bức tranh toàn cảnh về các loạihình sinh kế mới ở Nà Lầu nói riêng cũng như những thay đổi sinh kế vùngcửa khẩu Lạng Sơn nói chung Kèm theo đó là các văn bản, tài liệu, báo cáo,
số liệu thống kê của chính quyền và các ban ngành ở địa phương Những ýkiến trao đổi với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa
Hạn chế của nghiên cứu thực địa: Tuy thông tín viên trong mỗi cuộcphỏng vấn đều nhiệt tình, hưởng ứng trò chuyện và trả lời câu hỏi do nghiêncứu sinh đưa ra, nhưng một số thông tin về các dữ kiện xảy ra trong quá khứ
từ phỏng vấn hồi cố không thực sự chính xác Lý do là, những người già (trên
70 tuổi) hiện còn sống ở Nà Lầu chỉ còn hơn 10 người và không phải tất cảđều còn minh mẫn Thêm vào đó, hoạt động sinh kế của một thôn giáp biêngiới Trung Quốc như Nà Lầu là một vấn đề nhạy cảm, NCS đã gặp nhiều khókhăn khi tiếp cận và phỏng vấn những người chủ hàng, “đầu cửu”, “cửu vạn”.Việc quan sát và tìm hiểu các cách thức làm ăn, mối hàng, việc vác hàng quacác đường biên cũng không phải là chuyện dễ dàng, bởi tâm lý đề phòng, engại người lạ của người dân ở đây Vì vậy, những trình bày và phân tích trongluận án có thể chưa phản ánh được hết những khía cạnh liên quan đến vấn đềsinh kế và các ứng xử xoay quanh hoạt động sinh tồn của người Nùng Cháo ở
Nà Lầu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Là luận án đầu tiên nghiên cứu về văn hóa đảm bảo đời sống của mộttộc người thiểu số cụ thể, ở một địa bàn mang tính đặc thù là vùng giáp biêngiới Việt - Trung trước những biến đổi về kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiệnnay Kết quả nghiên cứu góp phần phản ánh và giải quyết vấn đề thực tiễn về
Trang 12biến đổi sinh kế - văn hóa nói chung và vùng giáp biên giới nói riêng, đây là một hướng nghiên cứu mới trong ngành văn hóa.
- Luận án cung cấp một nghiên cứu trường hợp cho bức tranh nghiêncứu về văn hóa đảm bảo đời sống của người nông dân trong xã hội đương đại
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa lý luận: Luận án góp thêm một nghiên cứu về văn hóa đảm
bảo đời sống qua chiến lược sinh kế của người nông dân trong bối cảnhchuyển đổi, so sánh với các ý kiến đã được thảo luận trong các các công trìnhnghiên cứu đi trước ở Việt Nam và Đông Nam Á; cung cấp dữ liệu cụ thể ởcấp vi mô nhằm bổ sung vào những lý thuyết về sự thích nghi, sự chủ động vềsinh kế của người nông dân ở vùng biên giới
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư liệu
quan trọng, cơ sở thực tiễn để các nhà hoạch định chính sách tham khảo, vậndụng vào thiết kế, xây dựng các chương trình và chính sách phát triển sinh kếbền vững ở vùng các tộc người thiểu số Lạng Sơn nói riêng và ở miền núiViệt Nam nói chung
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Khái quát những nghiên cứu về người Nùng
a Nguồn gốc, lịch sử
Người Nùng là một trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Nhữngnghiên cứu về nguồn gốc lịch sử của người Nùng cùng với những đặc trưngvăn hóa của họ đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khácnhau, trong đó có các công trình đi sâu nghiên cứu từng nhóm Nùng cụ thể
Về lịch sử của người Nùng các nhà nghiên cứu đề ra hai quan điểmkhác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng người Nùng mới di cư sang ViệtNam được mấy trăm năm Chẳng hạn, năm 2000, Nguyễn Chí Huyên và cáccộng sự tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc, lịch sử tộc ngườivùng biên giới phía Bắc Việt Nam đã đưa ra những căn cứ và lý giải về nguồngốc của người Nùng một cách chi tiết và cụ thể Các tác giả chỉ ra rằng: nguồngốc xa xưa của tộc danh Nùng có thể bắt nguồn từ dòng họ Nùng- một trongbốn dòng họ đông người cư trú ở vùng Tả Hữu Giang, tức miền biên giới CaoBằng (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc) Những nhóm Nùng hiện nayvẫn mang tộc danh Nùng mới chỉ di cư sang Việt Nam trong những thế kỷgần đây từ 9 - 10 đời, tức khoảng 200 - 300 năm nay Một trong những bằngchứng chứng tỏ người Nùng hiện thời cư trú trên lãnh thổ Việt Nam chưa lâu
là những đặc điểm phân bố của họ Họ ở trong các thung lũng nhỏ hẹp, không
đủ điều kiện làm ruộng nước, thường phải khai thác một phần thành nươngrẫy, còn gọi là thổ canh [38, tr.200] Trong nghiên cứu trên, các tác giả cònnhấn mạnh: đại bộ phận người Nùng di cư sang phía Bắc Việt Nam là từQuảng Tây (Trung Quốc) Họ đến đây theo từng nhóm và do nhiều nguyênnhân nhưng chủ yếu là do bị áp bức, bóc lột, bị chèn ép, bị đàn áp và
Trang 14bị tàn sát sau các cuộc khởi nghĩa không thành công Loạn lạc, cướp bóc cùngvới việc thiếu ruộng đất cũng được cho là nguyên nhân khiến họ thực hiệnnhững cuộc thiên di lớn sang Việt Nam để mong tìm được nơi sinh sống ổnđịnh hơn Quan điểm thứ 2 cho rằng: lịch sử của người Nùng gắn với nguồngốc bản địa Theo Hoàng Nam, tổ tiên của người Nùng chắc chắn đã tham giavào việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương Lịch sửcòn ghi tên tuổi của Nùng Chí Cao đã một thời là thủ lĩnh của người Tày,Nùng ở vùng biên giới Việt - Trung [48, tr 8].
Cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện
Dân tộc học đã đưa ra nhận định: “Người Nùng cùng với các nhóm nói tiếngTày - Thái nằm trong khối Bách Việt Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, ởlưu vực sông Cầu và sông Hồng, nước Âu Lạc với vị thủ lĩnh Thục Phán đã rađời mà người Nùng có thể là một thành phần của nó Một số các nhà nghiêncứu khác cho rằng: người Tày và người Nùng là những cư dân có chung mộtnguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt xưa kia” [99, tr.48] Trong nghiên cứu
về người Nùng Cháo ở Nà Lầu, NCS đồng ý với quan điểm nghiên cứu thứnhất cho rằng: người Nùng hiện nay là được di cư từ Trung Quốc sang, vớilịch sử định cư từ 200 đến 300 năm
Một vấn đề cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đó là tộc danhNùng mà trong các công trình của họ đã nêu các tên gọi khác nhau như: NùngInh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng An, Nùng Dín, Nùng Lòi, NùngTùng Slìn, Nùng Quý Rỉn Sự khác nhau này có liên quan tới các địa danh ởTrung Quốc trước khi họ di cư vào Việt Nam như: người Nùng Inh di cư từLong Anh đến, Nùng Phàn Slình di cư từ Vạn Thành đến, Nùng Cháo di cư từLong Châu, Nùng An đến từ An Kết, Nùng Quý Rỉn đi từ Quý Thuận, NùngLòi di cư từ Hạ Lôi, Nùng Tùng Slìn từ Tùng Thiện Ngoài ra, tên gọi củacác nhóm Nùng còn căn cứ trên đặc điểm về y phục và trang sức của phụ nữnhư: phụ nữ Nùng Phàn Slình Hua Lài thường đội khăn chàm có những chấm
Trang 15trắng; phụ nữ Phàn Slình Cúm Cọt thì mặc áo ngắn ngang mông, đội khănchàm có sọc trắng và quấn quanh đầu kiểu khăn xếp.
Liên quan tới người Nùng còn có người Choang đang sinh sống tạiQuảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) cũng tên gọi khá phức tạp, thể hiệnnhững ý thức khác nhau trong việc xác định tộc danh Theo các học giả TrungQuốc, họ được chia thành nhiều chi, hệ và có nhiều tên tự gọi cũng như têngọi khác nhau như: Pu Nong (Bố Nồng), Pù Nong (Bộc Nồng), Pù Lung (BộcLong), Long Rén (Long Nhân), Thu Rén (Thổ Nhân), Jin Dai Y (Cân TảiY) Pu hay Pù là hai cách ký tự của một từ gốc, có cách luyến láy khác nhau,
có nghĩa chỉ người hay tộc Rén là người trong tiếng Hán, còn Jin Dai Y là ý
âm của chữ Cần Tày trong tiếng Tày - Thái [4, tr.104] Sau năm 1949, tên gọi thống nhất được xác định ban đầu là Đồng tộc, đến năm 1965 đổi thành Tráng tộc (nghĩa là người mạnh khỏe) Ở Việt Nam, các nhà dân tộc học thường dịch theo âm Hán Việt là dân tộc Choang Trên thực tế, thành phần cơ
bản của dân tộc Choang ở Trung Quốc hiện nay gồm rất nhiều tộc người,trong đó có các nhóm Tày-Nùng Người Nùng và người Tày hiện nay vẫn gọinhau một cách thân mật là Cần Slửa Khao (người áo trắng- tức người Tày) vàCần Slửa Đăm (người áo đen - tức người Nùng)
b Sinh kế
Các nhà nghiên cứu trong nước, khi nghiên cứu về người nông dân ViệtNam và nhất là cộng đồng người thiểu số sống ở miền núi phía Bắc, đềukhẳng định kinh tế của họ dựa trên những cơ sở của nền kinh tế trọng tình.Nhận định này được thấy trong công trình của Hoàng Nam (1992), Bế ViếtĐẳng và các cộng sự (1993), Khổng Diễn (1995), Vương Xuân Tình (1993,
2004, 2007), Nguyễn Chí Huyên và các cộng sự (2000), Trần Bình (2005),Chu Thái Sơn (2006), Ma Ngọc Dung (2007), Bùi Xuân Đính (2009, 2013),Hoàng Cầm (2014) Các nghiên cứu về dân tộc học, nhân học cũng chỉ rarằng, suốt chiều dài lịch sử các tộc người thiểu số sinh sống ở miền núi phíaBắc Việt Nam cũng như nhiều dân tộc ở đồng bằng chủ yếu là canh tác lúa
Trang 16nước và làm nương rẫy Trong đó, những nghiên cứu về dân tộc Nùng chothấy, địa bàn cư trú trong tự nhiên là tiền đề quy định hoạt động sinh kế, vànơi sinh sống của họ là ở các vùng thung lũng Trong điều kiện như vậy, họphải vừa thích nghi với việc khai phá đất bằng để làm ruộng nước (Nà) - tạonên văn minh lúa nước, đồng thời vừa phải biết khai thác đất dốc, đất núi đểlàm nương (Lầy) và trồng cây khô cạn Ngoài ra, họ còn có các hoạt độngkinh tế mang tính chất phụ trợ khác như: làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủcông nghiệp, săn bắt, đánh cá Đặc điểm của canh tác lúa nước ở vùng các dântộc miền núi là thửa ruộng nhỏ, thường cách bản làng không xa và nằm ở venđồi núi, rìa thung lũng hay ngay trong lòng thung lũng Họ có kỹ thuật làm đấtkhá phát triển cũng như việc dùng phân bón khá thành thạo, có nhiều giốnglúa cổ truyền đều cho ra gạo rất ngon, thơm Phân công lao động chủ yếu theogiới tính: nam cày bừa, nữ gieo cấy Trong canh tác nông nghiệp - ngành kinh
tế chủ đạo, cộng đồng nông dân thường có tập quán tương trợ và giúp đỡ nhauvới các hình thức như vần công - đổi công Họ thường lập ra các nhóm tương
hỗ mà thành viên không chỉ có quan hệ huyết thống mà còn có quan hệ lánggiềng, sự tham gia của mọi người vào các nhóm đều được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện Nền kinh tế nông nghiệp với các thực hành văn hóa, xã hội và kỹthuật trong các mối quan hệ mang tính trọng tình đã giúp cho cư dân miền núithích ứng với môi trường có độ dốc cao, đem lại hiệu quả kinh tế, giúp duy trì,bảo vệ khá tốt đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Cũng trong công trình nghiên cứu về các dân dân tộc ít người ở ViệtNam năm 1978, khi giới thiệu thông tin khái quát về văn hóa vật chất củangười Nùng, các nhà dân tộc học mô tả các hoạt động sinh kế của họ một cáchđơn thuần Ví dụ: “Người Nùng là cư dân nông nghiệp, họ canh tác ruộngnước một cách thành thạo, tương tự như người Kinh, người Tày Thế nhưng,hoàn cảnh cư trú khiến cho người Nùng không thể chỉ sinh sống bằng nôngnghiệp ruộng nước Nương và rẫy đối với họ có một vai trò quan trọng” [99,tr.201] Các nhà nghiên cứu còn cho rằng, kỹ thuật làm rẫy của họ lạc
Trang 17hậu, thô sơ, hoạt động săn bắt, hái lượm tuy giữ một vai trò quan trọng trongđời sống nhưng chỉ là để bảo vệ mùa màng và cải thiện bữa ăn.
Nghiên cứu của Hoàng Nam (1992) là một trong những tài liệu nghiêncứu chi tiết đầu tiên về người Nùng Tác giả đã khái quát toàn bộ những đặcđiểm cơ bản đời sống vật chất, sinh hoạt tinh thần, các phong tục tập quán Vềđặc điểm kinh tế, tác giả viết: người Nùng “là cư dân sống ở miền núi, córừng, có sông, có thung lũng lòng chảo nguồn sống kinh tế chủ yếu là trồngtrọt các loại cây nhiệt đới; ngoài ra đồng bào còn chăn nuôi gia súc, gia cầm
và phát triển một số ngành nghề thủ công” [48, tr.58] Tuy nhiên, tác giả cũng
mô tả khá chi tiết các hoạt động canh tác nông nghiệp của người Nùng vớitrồng trọt trên ruộng nước và ruộng cạn, các kỹ thuật canh tác, chế tác công cụsản xuất, sử dụng đa dạng các giống lúa, các loại hoa màu: đậu xanh, đậutương, đậu đũa, lạc, vừng, khoai lang, sắn các loại cây ăn quả: quýt, hồng,đào cây công nghiệp: hồi, trẩu, sở, thuốc lá Và với người Nùng, trồng trọt
đi cùng chăn nuôi có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống kinh tế của họ cũng như
họ có thêm kinh tế hái lượm, sắn bắt Ngoài ra, họ còn có đa dạng các nghềthủ công như: dệt, mộc, đan lát, gốm sứ
Nghiên cứu về người Nùng của Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn(2006) đã nêu khái quát toàn bộ các vấn đề liên quan đến người Nùng nhưlịch sử tộc người, hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, các ứng xử cộng đồngtrong làng bản, dòng họ, gia đình, hôn nhân, các tập tục trong cưới xin, sinh
và nuôi dạy con, lễ mừng sinh nhật, tập tục ma chay; các hoạt động trong đờisống tinh thần: tín ngưỡng - tôn giáo, văn học nghệ thuật dân gian, các lễ hộitruyền thống Về sinh kế của người Nùng, các tác giả cũng chứng minh rằng:
“Dân tộc Nùng là cư dân trồng trọt, cây lương thực chính là cây lúa, sau đếnngô Làm ruộng là loại hình kinh tế chủ yếu (nương thổ canh và du canh) ởnhiều vùng vẫn giữ vị trí đáng kể Ngoài ra, các hoạt động kinh tế khác như:làm vườn, trồng cây đặc sản, tiểu thủ công nghiệp, hái lượm, săn bắt, đánhcá là những nghề mang tính chất phụ trợ” [64, tr.24] Các kỹ thuật canh tác
Trang 18của người Nùng: cày, bừa tương tự như người Tày Trong quá trình canh tác
họ là những cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch,biết dựa vào sự thay đổi thời tiết thông qua những biến đổi tự nhiên để điềuchỉnh hoạt động gieo, cấy cho phù hợp Các tác giả còn có các mô tả về hoạtđộng chăn nuôi, giới thiệu các nghề thủ công gia đình như mây tre đan, dệtvải, rèn, làm ngói Giống với nghiên cứu của Hoàng Nam (1992), trongnghiên cứu này, các tác giả cho rằng việc khai thác các sản phẩm có sẵn trong
tự nhiên và hoạt động trao đổi mua bán mang ý nghĩa rất quan trọng trong đờisống của người Nùng
Trong một nghiên cứu về tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ởvùng Đông Bắc Việt Nam, Trần Bình (2014) cũng đã chỉ ra những đặc điểmchung của các dân tộc thiểu số với các mô tả dân tộc học theo các hệ ngônngữ Sinh kế của người Nùng thuộc nhóm Tày - Thái đều lấy trồng trọt câylương thực (trong đó cơ bản là lúa) làm nguồn sống chính Tác giả khẳngđịnh: “Với cơ chế vận hành của một nền kinh tế tự cấp, tự túc, được tổ chứctheo quy mô gia đình, cơ cấu các hoạt động mưu sinh của các tộc người nhómngôn ngữ Tày - Thái gồm: trồng trọt cây lương thực, chăn thả gia súc, giacầm; thủ công gia đình; khai thác chiếm đoạt tự nhiên” [5,tr.115] Tác giảcũng nêu lên việc trao đổi buôn bán được diễn ra trong cộng đồng làng bản vàđịa phương, giữa các tộc người với nhau, sản phẩm mang ra trao đổi thường làcác sản phẩm dư thừa
Tương tự như các nghiên cứu trên khi bàn về sinh kế của người Nùng,Vương Xuân Tình (2014) nghiên cứu về văn hóa với phát triển vùng biên giới
ở Việt Nam, trong đó tập trung vào nhóm người Nùng ở huyện Cao Lộc(Lạng Sơn) đã chỉ ra: sinh kế của người Nùng chủ yếu là canh tác ruộng nước,nương rẫy, làm vườn và trồng rừng Chăn nuôi chủ yếu là lợn, gà, vịt vớinguồn thức ăn được cung cấp từ sản phẩm trồng trọt (ngô, khoai, sắn) Trồngrừng mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, với các loại như thông, bạch
Trang 19đàn, sa mộc, chám Ngoài ra, vào những lúc nông nhàn người dân còn đi làmthuê: chặt mía, phát bạch đàn, phát rừng bên Trung Quốc [79].
Tóm lại, trong những công trình nghiên cứu về sinh kế của người Nùngtrước đây đều đưa ra những nhận định chung: sản xuất nông nghiệp với trồnglúa nước, nương rẫy là chính, còn chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và trồngrừng là phụ Sinh kế mang tính chất tự cấp tự túc Bên cạnh những mô tả vềcác dạng thức canh tác, việc sử dụng các loại cây, giống, cũng như chỉ ratính chất trọng tình của nền kinh tế tự cấp tự túc với các quan hệ tương trợ,giúp đỡ nhau trong sản xuất nhưng chưa quan tâm đến những động thái trongphương thức mưu sinh khi điều kiện sống thay đổi
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử, sinh kế,những nghiên cứu khác về người Nùng cũng được đề cập đến dưới các khíacạnh khác nhau: hôn nhân, gia đình, dòng họ, xã hội, phong tục tập quán,nghệ thuật của các tác giả như Lã Văn Lô-Đặng Nghiêm Vạn (1968), HoàngQuyết (1972), Lê Văn Bé (2001), Hoàng Thị Quỳnh Nha (2003), Nông ThịNhình (2004), Hoàng Thị Nhuận, Nguyễn Thị Yên (2005), Đàm Thị Uyên(2011), Triệu Thị Mai (2007, 2011), Nguyễn Thị Thúy (2012), Hà ĐìnhThành (2010), Lê Minh Anh (2014), Nguyễn Thu Minh (2014) Nhữngnghiên cứu này góp phần cung cấp thêm thông tin hữu ích về những vẫn đềliên quan đến đề tài trong quá trình nghiên cứu và viết luận án
1.1.2 Nghiên cứu về sinh kế của người nông dân trong các bối cảnh
chuyển đổi
Văn hoá đảm bảo đời sống, đặc biệt là hoạt động sinh kế cổ truyền củangười nông dân, nông thôn châu Á là chủ đề nghiên cứu được quan tâm nhiềutrong ngành nhân học, dân tộc học và nghiên cứu văn hoá
McElwee (2007) trong công trình nghiên cứu về sinh kế của người nông
dân ở vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, Việt Nam- “From the Moral Economy to the
World Economy: Revisiting Vietnamese Peasants in the Globalizing Era”(Từ nền kinh tế đạo đức đến nền kinh tế thế giới: Xem xét lại người nông
Trang 20dân trong bối cảnh toàn cầu hóa) phát hiện ra rằng: mặc dù có những thay đổi
xuyên suốt thế kỷ XX trong cơ cấu lao động làng xã, trong tự nhiên, sở hữuđất đai, tổ chức kinh tế - chính trị, người nông dân Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tục duytrì nhiều khía cạnh của một nền kinh tế trọng tình Tác giả chỉ ra, sau nhữngtàn phá kinh tế trong chiến tranh từ những năm 1950-1970, những người nôngdân ở Nghệ Tĩnh chỉ thực hành một nền kinh tế khép kín, các quan hệ có đi cólại (vần công, đổi công) vẫn đặc biệt quan trọng đối với những nông dân sởhữu ít đất đai, duy trì cuộc sống với mô hình gia đình nhỏ Việc mở cửachuyển dịch nền kinh tế thị trường theo xu thế toàn cầu hóa dẫn đến việc mọihàng hóa nông nghiệp đều có thể sản xuất và đáp ứng các nhu cầu của toàncầu Song, người dân ở đây không thay đổi hoàn toàn hoạt động sinh kế vàtriết lý mưu sinh theo định hướng từ các chính sách chuyển dịch kinh tế đượcđưa vào từ bên ngoài Họ không dựa trên giá trị lợi nhuận của các loại cây màchỉ trồng những gì họ thích ăn và dựa vào tập quán trồng cây đã tồn tại lâu dàitrong lịch sử canh tác của họ [113, tr.58] Đa số nông dân quyết định khôngchuyển từ trồng lúa có năng suất thấp sang trồng ngô lai vốn hứa hẹn một thunhập cao hơn Theo tính toán của nông dân ở Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), “lúa làloại cây họ biết rõ nhất phải canh tác ra sao, luôn có thị trường do nhà nướcđảm bảo, và là thứ mọi người thích ăn nhất” [113, tr.78], điều này thể hiệnviệc họ muốn giữ nguyên những cơ sở đạo lý của nền kinh tế trọng tình.McElwee chứng minh: “tương hỗ là hành động xã hội”, “tái phân phối thunhập là nghĩa vụ xã hội”, “tránh rủi ro là chiến lược xã hội”, “phụ thuộc vàođất công là quyền xã hội” là những đặc trưng của cộng đồng nông dân HàTĩnh trong truyền thống và trong bối cảnh chuyển đổi hiện nay Tác giả kếtluận, mặc dù sinh kế của người dân thay đổi, nhất là người nông dân hiện đại
và nền kinh tế trọng tình, song các quan hệ được duy trì để đảm bảo đời sốngkhi sản xuất nông nghiệp truyền thống theo triết lý “an toàn là trên hết” vẫncòn được thực hành một cách phổ biến, đặc biệt là các dàn xếp kỹ thuật và xãhội để tương trợ nhau giữa các nhóm xã hội theo hướng “có đi có lại” Nó
Trang 21không chỉ là hoạt động của lòng nhân ái giữa những người bạn hay là mộtnghĩa vụ một cách miễn cưỡng giữa những người họ hàng, mà “có đi có lại”
là một sự trao đổi phức tạp dựa vào các mối quan hệ xã hội Phân phối và thunhập như một nghĩa vụ mà những người nông dân thực hiện để mang lại sựgắn kết hơn trong làng [113, tr.71]
Jenifer Sowerwine (2006) trong công trình “Changing State and Market
Rules: agrarian transformations and the emergence of a moral-market economy
in the highlands of Ba Vi, Viet Nam” (Việc thay đổi nhà nước và các quy tắc thị trường: chuyển đổi ruộng đất và sự xuất hiện nền kinh tế đạo đức- thị trường ở vùng núi Ba Vì, Việt Nam) đã phác thảo việc tái định cư của người Dao ở vùng
núi Ba Vì, mô tả các mô hình và quá trình sử dụng đất trong các chính sách mớicủa chính phủ, các nguồn lực kinh tế thị trường xuất hiện cũng như các quan hệ
xã hội chi phối các kết quả của họ Trong đó là những phân tích về các mô hìnhthu nhập, sự chi tiêu cũng như tiếp cận với các chương trình tín dụng để chứngminh cho chiến lược sinh kế trong bối cảnh căng thẳng của việc chiếm hữu đấtđai còn nhiều bất ổn Tác giả đã dựa trên khuôn khổ của nền “kinh tế đạo đức -thị trường” để phân tích các quá trình biến đổi đất nông nghiệp và đặc biệt là cácnguồn lực sản xuất trong chiến lược sinh kế của người Dao Không còn sống ducanh, du cư, sinh kế của họ chủ yếu dựa vào vườn, diện tích trồng lúa nướckhông đáng kể song vẫn chiếm một vị trí quan trọng ở đây Các chính sách giaođất, chương trình trồng rừng của nhà nước với mục đích xóa đói, giảm nghèo đãphản ánh một nỗ lực của nhà nước nhằm kiểm soát con người và các nguồn lực ởvùng cao Từ việc nghiên cứu sự tham gia vào các chương trình trồng rừng, tácgiả chỉ ra sự không tương xứng đối với người dân, vẫn còn sự phân biệt xã hội,
sự quan liêu, tất cả đã ảnh hưởng đến cuộc sống người dân Nhưng, người dân đãthành công trong việc phát hiện ra ranh giới để có thể đáp ứng cơ hội thị trườngmới và sự tích lũy của cải Họ biết chủ động dựa vào các mối quan hệ với lãnhđạo thôn để được tiếp cận nguồn lực sản
Trang 22xuất, góp phần đảm bảo sinh kế, có sự tích lũy nhất định thông qua việc trồngsắn, trồng lúa và làm vườn [116].
Khi nghiên cứu về “Quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa: Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội”, Nguyễn
Giáo (2016) đã dựa trên quan điểm về tính duy lý trong kinh tế và chứngminh: người nông dân trong bối cảnh chuyển đổi về kinh tế đã biết tận dụngcác mối quan hệ xã hội để làm ăn Trong nghiên cứu này, những người nôngdân sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống khi gặp khó khăn Tuy nhiên, khi
bị thua lỗ trong làm ăn họ lại không nhờ vào sự giúp đỡ của các mối quan hệ
họ hàng mà đi vay lãi qua các mối quan hệ bên ngoài để tránh các nguy cơảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ thân thiết trong gia đình, họ hàng Tácgiả cũng phân tích rõ các phương thức để họ tạo dựng, duy trì và phát triểncác mối quan hệ xã hội, người nông dân luôn có những tính toán để gia tăng
tư lợi [28]
Trong bối cảnh về những người nông dân bị thu hồi đất cho các dự ánphát triển đô thị, xây dựng các khu công nghiệp ở ven đô Hà Nội, NguyễnVăn Sửu (2014) đã chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với sinh kế của họtrong quá trình chuyển đổi này Tác giả tìm hiểu về các quá trình, các tácđộng từ bên trong và bên ngoài, kết hợp với việc phân tích bối cảnh, hệ quảcủa sự chuyển đổi, lý giải việc tiếp cận, sử dụng, phân phối các nguồn vốn,những cách thức mà cá thể và hộ gia đình đã sử dụng để tận dụng các điềukiện có thể để ứng phó với những chuyển đổi diễn ra Tác giả đồng thời nhấnmạnh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nổi bật là việc thu hồi quyền sửdụng đất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân để xây dựng các khu đôthị, khu công nghiệp hay cơ sở hạ tầng đô thị đã làm chuyển đổi mạnh mẽcuộc sống và chiến lược sinh kế của nhiều hộ nông dân Các quá trình nàymang lại cho người nông dân những cơ hội sinh kế mới, họ đã thích ứng, chủđộng với việc chuyển sang các loại hình sinh kế mới, chuyển đổi từ nông
Trang 23nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, giúp cải thiện, tăng thêm nguồn thu nhập,tăng thêm mức sống cho các hộ dân [66].
Nghiên cứu về những nỗ lực kinh tế để nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa người dân ở cộng đồng Thái - Lào tại vùng Đông Bắc Thái Lan, Keyes(1983) trong công trình nghiên cứu “Economic action and Buddhist Morality
in Thai Village”(Hành vi kinh tế và đạo lý Phật giáo ở một làng người Thái)
đã chứng minh: sinh kế của người nông dân được đặt trong mối liên hệ vớivăn hóa Phật giáo và kinh tế chính trị Trong khi đời sống kinh tế của ngườidân ở đây chịu nhiều thiệt thòi so với các khu vực khác ở Thái Lan, họ cònphải đối phó với các quan chức “hách dịch” đã khiến cho việc tiếp cận cáchoạt động kinh tế một cách khó khăn hơn khi muốn cải thiện cuộc sống Đểthay đổi, họ đã dựa vào một nền kinh tế trọng tình với thế giới quan Phật giáo.Các hành vi kinh tế của người nông dân diễn ra chủ yếu trong mối liên hệ vớinhững hộ gia đình mà họ có các mối quan hệ chính yếu Họ luôn tìm cách giatăng tư lợi, lợi ích của gia đình, không chỉ liên quan đến những điều kiện kinh
tế - chính trị ràng buộc cuộc sống mà còn liên quan nhiều đến những đòi hỏicủa xã hội, đó là việc sống trong một cộng đồng có luân lý và đạo đức Để giatăng mức sinh tồn, những người dân ở Ban Nông Tun đã sử dụng các chiếnlược sinh kế khác nhau như: sử dụng các giống lúa mới, kết hợp bón phân hóahọc, trồng trọt, chăn nuôi, phát triển các nghề thủ công, sản xuất than củi,chứng tỏ một thực tế rằng: người dân ở đây cũng đã chủ động có những tínhtoán để thích ứng với những động cơ thúc đẩy kinh tế mới [111] Nghiên cứucủa Keyes đã cho thấy, trong chiến lược sinh kế của người dân vùng ĐôngBắc Thái Lan có sự đồng nhất giữa yếu tố trọng tình và duy lý
Nghiên cứu về quá trình chuyển đổi phương thức mưu sinh của ngườidân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ với nhiều mô hình chuyển dịch, trong đó nổilên là chuyển dịch từ trồng lúa năng suất thấp sang nuôi tôm thương mại,
công trình nghiên cứu “Từ lúa sang tôm - hành vi giảm thiểu rủi ro và khai
Trang 24thác vốn xã hội của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Ngô Thị
Phương Lan (2014) đã dựng lại một bức tranh sản xuất thương mại ở đây đểtìm hiểu bản chất hành vi kinh tế của người nông dân Người nông dân ở vùngđồng bằng sông Cửu Long đã nhanh nhạy trong việc thích ứng với việc sảnxuất thị trường Theo hướng tiếp cận về rủi ro và vốn xã hội, tác giả đã miêu
tả chi tiết và phân tích phương thức mưu sinh nổi bật mới xuất hiện, đặt trongcác khía cạnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Trường hợp ngườinông dân trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm đã thể hiện
rõ lối tư duy duy lý theo hướng tiếp cận của Popkin (1979), song chiến lượcgiảm thiểu rủi ro, chẳng hạn như chuyển đổi dần các mảnh ruộng của gia đìnhlàm đầm nuôi tôm, đầu tư vào các mạng lưới xã hội để phát triển kinh tế vàgiảm thiểu rủi ro khi mất mùa, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố trọng tình vàduy lý trong kinh tế để phù hợp với bối cảnh mới [40]
Nghiên cứu về người H’Mông ở làng Lao Chải (Sapa), trong tiểu luận
“Tourism development and changing labor relations in Sa Pa, Northwestern
Viet Nam” (Phát triển du lịch và sự thay đổi quan hệ lao động ở Sa Pa, Tây Bắc Việt Nam) của Dương Bích Hạnh (2006) cho thấy rõ sự thích ứng nhanh
nhạy với loại hình sinh kế mới của người H’Mông Trong bối cảnh khi mới di
cư đến Việt Nam, cuộc sống của người H’Mông rất tốt vì có nhiều đất rừngcho họ khai phá trồng ngũ cốc, trồng thuốc phiện, trồng bông và buôn bán nhỏvới người dân bên Trung Quốc Nhưng sau đó, cuộc sống của họ gặp khókhăn hơn khi đất canh tác ngày càng ít, dân số ngày một tăng lên Từ nhữngnăm 1990, du lịch ở Sapa phát triển dẫn đến tình hình xã hội ở Lao Chải có sựthay đổi đột ngột, trong đó có thay đổi về sinh kế của người H’Mông theohướng thích ứng với thị trường du lịch Người H’Mông đã mang bán những
đồ cũ định vứt đi (áo, khăn cũ) nhưng lại phát hiện ra khách nước ngoài rấtthích, do vậy họ đã mang đi bán để kiếm tiền Một phương thức mưu sinh mớixuất hiện, đó là, họ trở thành người bán hàng rong và phục vụ chỗ nghỉ chokhách du lịch Các cô gái H’Mông tham gia vào các hoạt động du lịch đã
Trang 25đóng góp thêm vào thu nhập ngân sách cho gia đình, song họ lại không cóthời gian để thêu các đồ thêu cho mình vào các dịp lễ tết nên đã thuê nhữngngười phụ nữ lớn tuổi H’Mông làm thay, dẫn đến xuất hiện mối quan hệ laođộng làm thuê [93] Nghiên cứu này cũng chứng minh, bên cạnh những tínhtoán để gia tăng tư lợi thì những người H’Mông vẫn có sự tương trợ lẫn nhautrong hoạt động kinh tế.
Với công trình “Imaginative and adaptive economic strategies for
Hmong livelihoods in Lao Cai Province, Northern Viet Nam (Các chiến lược kinh tế mang tính thích ứng và tưởng tượng của người H’Mông ở Lào Cai, phía Bắc Việt Nam), Jean Michaud và Sarah Turner (2008) đã nghiên cứu
theo hướng tiếp cận sinh kế nhưng không nhằm vào điều tra các lợi ích tàichính hay sản lượng lương thực Các tác giả tập trung vào các khía cạnh xãhội, văn hóa, chính trị ở vùng cao tác động như thế nào tới người H’Mông để
họ có được chiến lược sinh kế và có thể duy trì quyền tự chủ, quyền quyếtđịnh lựa chọn hình thức kinh tế - xã hội cũng như sáng tạo văn hóa Nhà nước
hỗ trợ chính sách cho những người H’Mông sử dụng giống lúa lai mới đểnhằm hiện đại hóa vùng cao, tăng năng suất lúa, đảm bảo an ninh lương thực,
từ đó dẫn đến những biến đổi sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Tuynhiên, do điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt nên trồng lúa chỉ đủ để ănbởi mỗi năm họ chỉ thu hoạch được một vụ Để bổ sung cho nguồn thu nhậpcủa gia đình, họ đã chủ động tham gia vào thương mại quy mô nhỏ thông quaviệc bán sản phẩm dệt may, vật nuôi, gạo và rượu ngô [119]
Trong một nghiên cứu khác của Sarah Turner và Christine Bonnin
(2011): “At what price rice? Food security, livelihood vulnerability and state interventions in upland Northern Viet Nam” (Thời điểm giá gạo nào? An ninh lương thực, tổn thương sinh kế và sự can thiệp của nhà nước ở miền núi phía Bắc Việt Nam), các tác giả đã đề cập đến chiến lược sinh kế thích ứng của người H’Mông ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu dựa trên sự kết hợp hoạt động tự
cung tự cấp và các hoạt động thương mại, ngoài ra còn có săn bắt, hái lượm.Sinh
Trang 26kế hộ gia đình cũng rất đa dạng do việc buôn bán lâm sản, sản phẩm phụ củanông nghiệp như thảo quả, rượu ngô Nghiên cứu của hai tác giả còn tập trungphân tích mạng lưới thương mại và sinh kế của một số phụ nữ H’Mông tại Sa
Pa, chú trọng đến việc tìm hiểu các nguồn vốn, mạng lưới xã hội của họ Từviệc buôn bán quần áo, hàng dệt may, người phụ nữ H’Mông đã đan xen kếthợp việc bán các loại quần áo cũ song song với việc may quần áo mới để tăng
sự đa dạng nguồn tài chính Họ đã có những tính toán để đa dạng hóa sinh kếvới các lý do bao gồm cả sự hưởng thụ của xã hội trên thị trường Ngoài ra,nghiên cứu cũng cho thấy sự tham gia của những phụ nữ trong các hoạt độnglao động tiền lương, khi nào bị bế tắc hoặc rủi ro thì họ lại quay về làm cáccông việc gia đình [106] Các quá trình đan xen của đa dạng sinh kế có chọnlọc của những người phụ nữ H’Mông diễn ra trong các mối quan hệ xã hộikhác nhau Mỗi chuỗi hàng hóa họ tham gia cho thấy một phân đoạn của xãhội, song kinh tế của họ chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp mặc dù có các cơhội kinh doanh mới đang được hình thành Như vậy, đa dạng sinh kế để tăngthêm nguồn thu nhập cho gia đình cũng là một phương thức được nhiều ngườinông dân sử dụng trong quá trình mưu sinh của họ
Tóm lại, thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước vềngười Nùng và sinh kế của người nông dân nói chung, có thể thấy các nghiêncứu trước đây đã khái quát khá đầy đủ, chi tiết về đời sống kinh tế cũng nhưtruyền thống văn hóa của người dân một cách có hệ thống Trong đó, lịch sửđịnh cư, đời sống xã hội, ứng xử văn hóa, quan hệ hôn nhân và dòng họ, thônbản được mô tả khá cụ thể Sinh kế của người nông dân trong các bối cảnhkhác nhau cũng được chỉ ra theo từng trường hợp, từng hoàn cảnh cụ thể Tuynhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc mô tả các hoạt động sinh kế truyền thống hoặcdiễn tả sự thay đổi sinh kế mà chưa đi sâu phân tích cơ sở văn hóa - xã hộibên trong hoạt động đó thì chưa thể hiểu được rõ lý do của những thay đổibên trong nó, nhất là khi nền kinh tế chịu nhiều sự tác động từ bên ngoài dẫnđến các hoạt động sinh kế truyền thống bị thay đổi Với tính chất là một luận
Trang 27án thuộc chuyên ngành Văn hóa học, NCS sẽ tiếp thu, kế thừa những luậnđiểm của các công trình đã nêu, đồng thời tiếp tục làm rõ những vấn đề chưađược nghiên cứu, hoặc đã được đề cập nhưng còn ở mức độ tổng quát: cácthực hành sinh kế của người nông dân, các ứng xử văn hóa kèm theo sẽ đượcđưa vào nội dung luận án.
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm liên quan
Trước khi đi sâu tìm hiểu về văn hóa đảm bảo đời sống của người NùngCháo ở Nà Lầu cùng các vấn đề liên quan, trước hết luận án sẽ khái quát vềmặt khái niệm: văn hóa, văn hóa đảm bảo đời sống để từ đó có cơ sở nghiêncứu và bàn luận thực tiễn
Với khái niệm văn hóa, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng văn hóa lànhững vấn đề liên quan tới con người, nó xuyên suốt mọi thời đại, chính vì vậycho tới nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa của các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước Theo Eduard Burnett Tylor: “Văn hóa, hiểu theo nghĩarộng nhất của nó là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục và những tập quán khác mà con người có được với
tư cách là một thành viên của xã hội” [35, tr.7] Học giả A.A Belik đưa ra địnhnghĩa về văn hóa: “Văn hóa là phương thức hoạt động sống đặc biệt của conngười, làm xuất hiện nhiều phong cách sống, các dạng thức vật chất để biến đổithiên nhiên và sáng tạo các giá trị tinh thần” [35, tr.8]
Theo Bách khoa toàn thư Pháp: ‘‘Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục,
tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuậtcũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường của con người, những công cụ, nhàở và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiếtnhững quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinhthái của nó’’ [35, tr.9]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội cũng đưa ra các địnhnghĩa khác nhau về văn hóa Định nghĩa về văn hóa của Giáo sư Hà Văn Tấn
Trang 28như sau: “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hộitrong hoạt động sinh tồn của mình Nói khác đi văn hóa là sản phẩm của conngười trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không
gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định” [35,tr10] Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Giáo sư Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra vàtích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [72, tr.12]
Như vậy, các định nghĩa được trình bày ở trên đã đem đến những hiểubiết và nhận thức phong phú về văn hóa, đều đi đến quan điểm thống nhấtrằng: văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần, là kết quả củacác hoạt động của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Vănhóa còn gắn với một cộng đồng người nhất định, được sáng tạo và tích lũy,tạo thành bản sắc riêng của cộng đồng đó Theo các nhà nghiên cứu, văn hóađảm bảo đời sống là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều thành tố bên trongnhư: ăn, mặc, ở, sinh kế, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo góp phần đảm bảocuộc sống cho con người Trong những yếu tố để đảm bảo đời sống đó thìsinh kế được coi là yếu tố quan trong nhất, bởi khi sinh kế được ổn định thìcác vấn đề kéo theo như ăn, mặc, ở mới được đảm bảo
Theo Bách khoa thư mở điện tử (Wikipedia), sinh kế (livelihood) là
hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực(con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…) trong một môi trường dễ bịtổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách Khi hoạt độngsinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bịtổn thương, đồng thời bảo đảm việc duy trì và phát triển được các nguồn lựctrong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững
Trong Từ điển tiếng Việt (1999): sinh kế được hiểu theo cách thông
thường nhất là việc làm, kế sinh nhai hay cách mưu sinh, kiếm sống Với nhànghiên cứu Bùi Đình Toái (2004), sinh kế được hiểu là một tập hợp các nguồn
Trang 29lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạnghơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng cònđược gọi là kế sinh nhai hộ gia đình hay cộng đồng đó
Các nhà nghiên cứu Robert Chambers và Gordon Conway (1991) chorằng: sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội),
và những hoạt động đáp ứng cho việc sống [108]
Như vậy, sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cáchthức con người tác động vào tự nhiên, môi trường để tạo ra của cải vật chấtnhằm đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn của mình Sinh kế có quan hệ mật thiếtvới văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa nhận thức cũng như có mốiquan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có sự giao lưu
và trao đổi với các cộng đồng khác Nghiên cứu về sinh kế sẽ tìm hiểu đượcnhiều dữ kiện quan trọng liên quan đến việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình tộcngười, quá trình thiên di, ảnh hưởng và giao lưu văn hóa, đặc biệt là hiểuđược về hệ thống các tri thức, kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp đãđược tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ, với mỗi tộc người lại có nhữngphương thức, cách thức ứng xử khác nhau trong việc tồn tại và phát triển đểtạo nên sự đa dạng về sinh kế, góp phần hiểu được sắc thái văn hóa riêng biệtcủa từng tộc người
Ngoài ra, bên trong luận án, nghiên cứu sinh cũng sử dụng một số khái
niệm như: kinh tế trọng tình, là các hoạt động kinh tế dựa trên những quan hệ
tình cảm với sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau ngoài những tính toán lợi ích vật
chất, đề cao tính cộng đồng; kinh tế duy lý, là các hoạt động kinh tế được dựa
trên những tính toán để đạt được mục đích vật chất, đề cao tính cá nhân, tưlợi, chấp nhận rủi ro để gia tăng mức sinh tồn
1.2.2 Cơ sở lý luận
Ở mỗi một cộng đồng dân cư khi sinh kế của họ bị tác động bởi mộthay nhiều nguyên nhân nào đó, có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ
Trang 30quan, đều dẫn đến họ buộc phải chuyển đổi cách thức mưu sinh vốn đã quenthuộc hàng ngày sang hình thức mưu sinh mới, diễn ra với nhiều sự thích ứngkhác nhau, nhưng trong đó đều thể hiện rõ sự tính toán và chủ động của ngườidân trong quá trình chuyển đổi sinh kế Để nghiên cứu vấn đề văn hóa bảođảm đời sống của người Nùng Cháo ở Nà Lầu trong bối cảnh chuyển đổi mànội dung chính là các thực hành sinh kế, NCS tiến hành tìm hiểu những côngtrình đi trước có hướng tiếp cận liên quan Việc tập hợp tài liệu, phân tích và
hệ thống lại các kết quả nghiên cứu đi trước được trình bày theo các vấn đề,làm rõ các hướng tiếp cận để từ đó xác lập cơ sở lý luận, xây dựng khungphân tích của đề tài
Trong các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề liên quan đến sinh
kế, các chiến lược thích ứng với sự đa dạng sinh kế của người nông dân ởnhững vùng nông thôn trong các bối cảnh khác nhau đã cho thấy, ở mỗi hoàncảnh, người dân luôn tìm cách để đảm bảo an ninh sinh tồn, thích ứng để phùhợp với hoàn cảnh mới Có hai xu hướng nghiên cứu chính nổi lên:
Hướng thứ nhất cho rằng: người nông dân luôn sống dựa trên những cơ
sở của nền kinh tế trọng tình Một trong những học giả có ảnh hưởng đến lĩnhvực nghiên cứu này là nhà nhân học, chính trị học Jame Scott Trong côngtrình nghiên cứu được coi là kinh điển “The moral economy of the Peasant:
Rebellion and Subsistence in Southeast Asia” (Kinh tế trọng tình của nông dân: nổi loạn và tự cấp tự túc ở Đông Nam Á) đã chỉ ra đặc trưng của nền
kinh tế cổ truyền của người nông dân Đông Nam Á: sinh kế truyền thống của
họ, dù ở đồng bằng hay miền núi, canh tác nương rẫy hay ruộng nước, đềuchia sẻ một nền kinh tế trọng tình và bị chi phối bởi cái mà Jame Scott gọi là
“đạo lý tự cấp tự túc” (subsistant ethic) theo nguyên tắc “an toàn là trên hết”.Người nông dân có xu hướng tránh thực hành các hành vi có thể tạo ra rủi ro,đặc biệt là làm cho đời sống kinh tế của gia đình rơi xuống dưới ngưỡng sinhtồn, nên luôn thực hiện nguyên tắc trên “Sống cận ngưỡng sinh tồn, phụthuộc vào sự thất thường của thời tiết và sự đòi hỏi của người bên ngoài, hộ
Trang 31nông dân không có cơ hội cho việc tính toán tối đa hóa lợi ích theo truyềnthống của kinh tế học tân cổ điển” [115, tr.4] “Sống dưới mức sinh tồn khôngchỉ là vấn đề có nguy cơ thiếu nguồn lương thực, thực phẩm cần thiết mà vềmặt vấn đề văn hóa và xã hội nó là sự chịu đựng một mất mát sâu sắc về vị trítrong cộng đồng và có thể mãi mãi sống trong tình trạng phụ thuộc” [115,tr.9] Vì sống ở cận ngưỡng sinh tồn nên nỗi sợ thiếu lương thực là nguồn gốctồn tại của đạo đức sinh tồn Theo đó, họ muốn sống trong hoàn cảnh dù cóthu nhập thấp nhưng an toàn hơn là thu nhập cao nhưng có thể gặp nhiều rủi
ro, có nguy cơ rơi xuống dưới ngưỡng sinh tồn Tuy nhiên, cũng theo JameScott, nguyên tắc “an toàn là trên hết” không có nghĩa là người nông dânkhông bao giờ chấp nhận rủi ro Khi nào những cải tiến về mùa màng, hạtgiống, kỹ thuật canh tác hay sản xuất tạo ra thị trường có khả năng đem lại íchlợi hơn, ít hoặc không gây rủi ro cho an ninh sinh tồn thì họ sẽ sẵn sàng thamgia Đối với những người nông dân sống ở cận ngưỡng sinh tồn theo hướngtiếp cận kinh tế trọng tình này thì nhu cầu sinh tồn mới là mối quan tâm lớnnhất cuả họ Nhu cầu này cũng chính là nền tảng chi phối hành vi của nôngdân, khiến cho họ không chấp nhận rủi ro
Hướng nghiên cứu thứ hai cho rằng: người nông dân luôn duy lý trongsinh kế, với nghiên cứu của Samuel Popkin (1979) có quan điểm đối lập vớiJame Scott (1976) được trình bày ở trên Trong công trình nghiên cứu “The
Rational Peasant” (Người nông dân duy lý), với cách tiếp cận “political
economy” (kinh tế chính trị), nông dân Việt Nam được xem là những ngườiluôn sẵn sàng nắm bắt cơ hội, chấp nhận rủi ro để gia tăng mức sinh tồn Tácgiả cho rằng, người nông dân thường sẵn sàng đánh cuộc vào các cải tiến khi
vị trí của họ được đảm bảo không bị thất bại [114, tr.21] Họ tham gia vào cáchoạt động của thị trường không phải đó là giải pháp cuối cùng mà coi đó làmột cách để đáp ứng với những cơ hội mới, vì thị trường và có sự can thiệpcủa chính quyền trong một số tình huống có thể gia tăng phúc lợi của nôngdân ở tầng lớp thấp [114, tr.33] Cũng theo Popkin, khái niệm tư lợi được mở
Trang 32rộng hơn so với kinh tế học tân cổ điển ở chỗ người nông dân không chỉ đơnthuần quan tâm đến hàng hóa vật chất hay thu nhập tiền bạc Tính duy lý củangười nông dân được thể hiện trong việc họ sẽ lựa chọn quyết định nào mà họtin là sẽ tối đa hóa lợi ích mong đợi của họ một cách tư lợi, mà mối quan tâm
là sự thịnh vượng và an toàn của bản thân và gia đình [114, tr.31]
Ngoài những nghiên cứu về người nông dân theo hướng trọng tình, duy
lý thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra không chỉ đơn thuần xem xét về ngườinông dân trên hai yếu tố này, mà còn có một khía cạnh khác, đó là sự kết hợpđan xen của cả yếu tố trọng tình và duy lý, như nghiên cứu của Keyes (1983)
về người nông dân Đông Bắc Thái Lan, hay nghiên cứu của Ngô Thị PhươngLan (2014) về người nông dân nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long đã đượctrình bày phía trên,
Do vậy, cơ sở lý luận để nghiên cứu cho mỗi một trường hợp có nhữngnét tương đồng song cũng có những sự khác biệt Với trường hợp nghiên cứu
về “Văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo (trường hợp thôn Nà Lầu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” ở phạm vi một luận
án Tiến sỹ, NCS xác định cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các luận điểm vàcác cách tiếp cận khác nhau về sinh kế đã được thảo luận, xung quanh quanđiểm về kinh tế trọng tình, duy lý hay là sự kết hợp của cả hai yếu tố khinghiên cứu về người nông dân trước bối cảnh chuyển đổi Theo đó, nội dungluận án là những phân tích, bàn luận về sinh kế của người Nùng Cháo ở NàLầu trong bối cảnh chuyển đổi, sự chủ động, thích ứng của họ trong cácphương thức mưu sinh mới Đồng thời, tìm hiểu và phân tích bối cảnh đã tácđộng trực tiếp dẫn đến sự chuyển đổi sinh kế của người dân, cùng với các cơ
sở sinh kế trong xã hội cổ truyền cũng được mô tả và phân tích Các phươngthức được người dân sử dụng để đảm bảo cuộc sống, các cách ứng phó màtrong đó có sử dụng nguồn vốn văn hóa (từ truyền thống văn hóa tộc người)
để thích ứng, thể hiện sự chủ động của người dân Xem xét những cơ sở củacác thực hành sinh kế trong xã hội cổ truyền liệu có còn tồn tại và được sử
Trang 33dụng hay không? Sự phân tích và giải đáp các các vấn đề nêu trên cũng sẽ làcăn cứ để tìm hiểu về văn hóa đảm bảo đời sống của người Nùng Cháo ở NàLầu hiện nay.
1.3 Thôn Nà Lầu (xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)
1.3.1 Quá trình hình thành và vài nét về dân cư, kinh tế - xã hội
Quá trình hình thành
Theo thống kê dân số Việt Nam năm 2009, người Nùng có 968.800người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63tỉnh, thành phố, trong đó Lạng Sơn là nơi có số lượng người Nùng sinh sốngnhiều nhất và tập trung nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các dân tộc củatỉnh Căn cứ vào gia phả và chuyện kể của các dòng họ Nùng cho thấy LạngSơn là một trong những địa bàn người Nùng di cư đến sớm nhất, sau đó họmới tiếp tục đến định cư ở Bắc Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai, HàGiang và các tỉnh khác [87] Tại Lạng Sơn, có ba nhóm Nùng sinh sống:Nùng Inh, Nùng Phàn Slình có mặt ở hầu như ở khắp các huyện trong tỉnh,riêng nhóm Nùng Cháo tập trung chủ yếu ở huyện Văn Lãng và Tràng Định.Điểm giống nhau giữa ba nhóm Nùng này là đều sử dụng một ngôn ngữ.Điểm khác biệt rõ nhất được thể hiện ở bộ trang phục của phụ nữ mỗi nhóm,
đó là: trong trang phục thường ngày, áo năm thân của phụ nữ Nùng Inh vàNùng Cháo có độ dài dài hơn so với phụ nữ Nùng Phàn Slình nhưng áo củaphụ nữ Nùng Phàn Slình được thêu nhiều hoa văn hơn; Về cách đội khăn: phụ
nữ Nùng Inh và Nùng Cháo đội khăn vuông nhuộm chàm đen, choàng quamái tóc đã được vấn quanh đầu Còn phụ nữ Nùng Phàn Slình khi đội khănthường gấp dọc khăn lại rồi quấn một vòng từ trước chán ra cài sau gáy, trênkhăn có thêu chỉ sọc màu xanh hoặc trắng Ở huyện Văn Lãng, xã Tân Thanh
là một trong những nơi tập trung đông người Nùng Cháo, họ sinh sống trongcác thôn Nà Tồng, Nà Han, Nà Ngườm và Nà Lầu
Thôn Nà Lầu tiếp giáp với thôn Nà Han ở phía Bắc, và thôn Bản Thẩu
ở phía Nam, cách trung tâm xã Tân Thanh 0,5km, cách trung tâm huyện Văn
Trang 34Lãng 15km và cách trung tâm thành phố Lạng Sơn 30km (A1 - PL1) Đây làthôn thuộc khu vực vùng biên, có đường tiếp giáp với biên giới Trung Quốcgần 4km Vị trí của thôn nằm dựa ngay dưới chân núi, phía trước là các bãinương, ruộng để trồng trọt.
Khí hậu ở đây theo khí hậu của Lạng Sơn nói chung, mang tính chấtcận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình năm là 17 - 220C Mùa hè mưa nhiều từtháng 4 đến tháng 10, mùa đông lạnh và hanh khô kéo dài từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau Trong thôn không có sông hay suối chảy qua mà chỉ nguồnnước được dẫn về từ các mạch ngầm trong các khe núi đá để phục vụ cho nhucầu sinh hoạt của người dân Chính vì vậy nên sản xuất nông nghiệp ở Nà Lầugặp nhiều khó khăn do khí hậu, địa hình trũng và thiếu nguồn nước
Nà Lầu là thôn định canh, định cư của nhóm Nùng Cháo Theo giảithích của những người già trong thôn thì tên gọi Nà Lầu có nghĩa là “ruộng cỏlau” Khi xưa tổ tiên họ đến định cư ở đây, vùng đất này mọc rất nhiều cỏ lau,
họ phải khai phá để làm nương, làm ruộng và định cư, tên gọi đã được đặttheo cảnh quan thiên nhiên đó
Theo những người già nhất hiện nay còn sống ở trong thôn kể lại, tổtiên của họ có nguồn gốc bên Trung Quốc, do hạn hán và thiên tai thườngxuyên xảy ra, dẫn đến đói kém, không có cái ăn, buộc họ phải di cư sang ViệtNam Như vậy, những nghiên cứu về lịch sử cư trú và tộc người đã được cácnhà nghiên cứu đi trước chỉ ra theo quan điểm thứ nhất trong phần tổng quantài liệu về người Nùng đã được nêu ở nội dung trước là hoàn toàn trùng khớpvới nhóm Nùng ở Nà Lầu về thời gian đến định cư tại Việt Nam, tương đương
200 đến 300 năm trở lại đây Trong quá khứ, những người dân sống trongthôn ít nhiều cũng đã từng có các mối quan hệ xuyên biên giới Việt - Trungtrong hôn nhân đồng tộc cũng như giao lưu xã hội Tuy nhiên, do hoàn cảnhchính trị giữa hai nước những năm 1970, việc phân định đường biên quốc giatrở nên rõ ràng hơn nên các mối quan hệ họ hàng, bạn bè đến nay đã không
Trang 35còn nữa Tính đến thời điểm hiện nay, những dòng họ định cư trong thônđược lâu nhất là được 7 đời.
Vài nét về dân cư, kinh tế - xã hội
Trước đây, trong thôn có hơn 30 gia đình cùng chung sống, thuộc sáudòng họ khác nhau: Hoàng, Ngô, Lê, Trần, Lô, Hà Trưởng thôn do dân thônsuy tôn từ người của một dòng họ lớn nhất, có uy thế nhất và thường là trưởngcủa dòng họ đó Tại Nà Lầu, dòng họ Hoàng là dòng họ có uy thế, giàu có vàđông nhất trong thôn Hiện nay, số lượng các gia đình ở trong thôn đã tăng lênhơn 80 hộ, do các gia đình lớn đã tách cho các con trai, con gái ra
ở riêng, ngoài ra còn có sự cư trú xen kẽ với các dân tộc khác cùng đến Tân Thanh làm ăn đã tạm trú tại đây
Khi xảy ra cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, toàn bộ người dân trongthôn đã phải đi sơ tán để đảm bảo an toàn, thôn Nà Lầu bị bỏ hoang, mười năm
sau người dân toàn thôn mới quay trở lại sinh sống (năm 1989) Năm 1992,khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh được xây dựng và mở rộng, thôn Nà Lầuđược chia ra để hình thành nên các khu phố I và II, dọc theo trục đường chínhthuộc xã Tân Thanh, cửa khẩu Tân thanh nằm ngay trên địa bàn của thôn
Tổng diện tích đất tự nhiên của thôn khoảng 20 ha, trong đó diện tíchrừng và đất rừng chiếm 5 ha Sinh kế chủ yếu của người Nùng ở Nà Lầu trong
xã hội cổ truyền là sản xuất nông nghiệp Cây lương thực chính là cây lúa, họ
đã có truyền thống canh tác trồng lúa nước từ rất lâu đời và tích lũy đượcnhiều kinh nghiệm trong sản xuất, được thể hiện ở việc xác định thời vụ, chọnđất, chọn giống lúa, hệ thống công cụ sản xuất, phương tiện tưới tiêu Ngoàilúa, người Nà Lầu trồng ngô, sắn, đỗ tương và một số loại cây khác Ở đây,
ruộng có hai loại là ruộng nước và ruộng chờ mưa Ruộng nước (nà nặm) là
ruộng sẵn có nước mạch ngay tại chỗ hay thông qua hệ thống phai, đập,mương máng dẫn từ các dòng sông, suối hay các mạch nước ngầm trong núi
đưa về tưới cho cây trồng Ruộng chờ mưa (nà lẹng) thường là những ruộng
cao, khô nước không trồng cấy được bằng biện pháp thủy lợi, chỉ có cách duy
Trang 36nhất là nhờ ở nguồn nước mưa, thường cấy được một vụ Ngoài ra, họ cũngtiến hành các hoạt động khai thác các sản phẩm sẵn có trong tự nhiên như cácloại rau rừng (rau ngót, rau dớn, nấm hương, mộc nhĩ), các loại cây có củ (củmài, củ từ, cây báng ) thường được hái lượm về.
Việc trao đổi hàng hóa và buôn bán ở các chợ huyện đã được hìnhthành từ lâu đóng góp một phần quan trọng trong sinh kế của họ Chợ họpmang tính chất địa phương, thường diễn ra ở các đường cái lớn, được hìnhthành và cách nhau khoảng 5 - 10 km Người dân trong thôn thường mangnông sản do chính họ sản xuất đem ra chợ bán Thông thường, đó là các loạilương thực và hoa màu: gạo, ngô, khoai, sắn, đỗ tương; các loại gia cầm như
gà, vịt, ngan Trong bối cảnh chuyển đổi, sinh kế của người Nùng Cháo tại NàLầu đã có nhiều chuyển biến về sinh kế Đây cũng là điểm khác biệt về so vớicác thôn người Nùng của xã Tân Thanh, trong khi đa phần các thôn khác vẫncoi trọng sản xuất nông nghiệp, thì người Nùng ở Nà Lầu đã tiến hành đadạng sinh kế, cùng với sự năng động của người dân, quá trình này sẽ đượctrình bày ở các chương tiếp theo
Gia đình của người Nùng Cháo ở Nà Lầu là hình thức gia đình nhỏ mởrộng Gia đình nhỏ có bố mẹ và các con chưa có gia đình cùng chung sống,trong đó vai trò của những người đàn ông luôn được đề cao Người đứng đầu
là ông bố và mọi việc trong nhà chỉ được tiến hành khi được ông chấp nhận,sau đó là sự quyết định của người con trai trưởng Thông thường, người phụ
nữ trong gia đình không quyết định được việc gì, có thể nói tính “gia trưởng”
ở người đàn ông Nùng được thấy rất rõ: “Trong nhà đàn ông mới nắm mọi việc còn đàn bà chỉ có biết đẻ con và đi làm thôi, có việc gì thì mấy anh em trai cùng bàn trước rồi mới làm”- ông Kha nói.
Việc phân công lao động trong gia đình của người Nùng Cháo trướcđây ở trong thôn Nà Lầu có sự phân biệt rõ rệt về giới tính, như bà Nhì kể:
“Đàn ông thì chủ yếu làm những công việc nặng như: cày, bừa, làm nhà, làm mộc, đi săn bắn Còn đàn bà thì cấy lúa, trồng cây, hái củi, dệt vải, may vá.
Trang 37Tới mùa thu hoạch lúa, ngô thì tất cả lại cùng nhau làm, không ai được ngồi chơi đâu, cùng làm thì mới có mà ăn chứ Còn người già thường ở nhà giúp việc trông nom con, cháu, ai nấu được cơm hộ thì nấu, rồi thì hộ chăn gà, vịt” Vấn đề sở hữu tài sản của gia đình rất được coi trọng, tất cả đều là sở
hữu chung của mọi thành viên, mọi người cùng lao động và cùng hưởng thụnhư nhau Tuy nhiên, khi có con lớn đến tuổi xây dựng gia đình riêng thì họđược ưu tiên trong việc mua sắm quần áo hơn so với các em nhỏ trong nhà.Việc phân chia về quyền thừa kế tài sản trong gia đình người Nùng Cháo cũngrất rõ ràng, quyền thừa kế tài sản chủ yếu thuộc về con trai Những tài sản nhưruộng, rừng, nương, nhà ở chỉ có con trai mới được hưởng thừa kế và cũngtheo thứ tự ưu tiên giữa các anh em trong nhà, người con lớn được phần nhiều
và tốt hơn người con nhỏ Con gái đi lấy chồng có thể được một ít của hồimôn, khi ra ở riêng sẽ được chia gia súc như trâu, bò Việc chia tài sản chocon gái trong nhà phụ thuộc vào kinh tế của mỗi gia đình, con gái nhà giàuđược chia nhiều của hơn con gái nhà nghèo
Bên cạnh gia đình hạt nhân, trong thôn còn có hình thức gia đình mởrộng, song chỉ mang tính chất tạm thời khi đang chuẩn bị cho việc tách ra ởriêng của một gia đình nhỏ khác Loại gia đình mở rộng thứ nhất là các emtrai (gái) hoặc các con thứ đã có vợ (có chồng) nhưng chưa tách ra ở riêngđược vì chưa được tuổi xây nhà, hoặc chưa đủ điều kiện về kinh tế để ra ởriêng Con gái đã lấy chồng, nhưng chưa sinh con, vẫn đi lại và có thể về ởnhà bố mẹ đẻ và cũng là một thành viên của gia đình mở rộng (chỉ khi sinhcon họ mới về nhà chồng) Khi có đủ điều kiện về kinh tế, gia đình mở rộngnày được tách ra thành các gia đình nhỏ/hạt nhân
Loại gia đình mở rộng thứ hai là con cháu sống cùng ông, bà NgườiNùng Cháo thường có nhiều con nên khi về già, trở thành ông bà, họ có thể ởvới con này hoặc con khác, thông thường là với con trai út Vì theo họ, con útthường có các cháu nhỏ, nên phải ở với con út để giúp trông cháu, trông nhà
Họ còn quan niệm, khi chết thì ở nhà con trai cả, vì con cả thường ở ngôi nhà
Trang 38cũ của tổ tiên để lại và cũng theo tục lệ anh ta phải có trách nhiệm lớn hơn cácanh em khác trong gia đình trong chăm sóc bố mẹ-ông bà và lo liệu tang lễcho những người già ấy Nhờ còn tồn tại các hình thức gia đình mở rộng nhưvậy mà quan hệ anh em trong gia đình cũng như với họ hàng ở người Nùng tại
Nà Lầu còn phát huy được sự gắn kết, tương trợ trong các thực hành sinh kếkhi môi sinh thay đổi
Trong thôn Nà Lầu, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc cơ bản trong quan
hệ hôn nhân nhưng các quan hệ thân tộc thật chằng chịt Hầu hết các thanhniên nam nữ đến tuổi lập gia đình đều lấy vợ, lấy chồng ở các thôn lân cậnnhư: thôn Nà Tồng, Nà Ngườm, Na Sầm Những người được gọi là “lượt lài”,
“đúc lượt” (máu mủ) với nhau, nghĩa là thành viên của tổ chức xã hội dựa trên
cơ sở mối quan hệ thân thuộc tính theo huyết thống phía cha-họ nội thì khôngđược lấy nhau, trừ những người họ xa, khác chi Các hộ gia đình trong mộtdòng họ thường có quan hệ gắn bó mật thiết và giúp đỡ lẫn nhau trong những
sự kiện đặc biệt
Tóm lại, quan hệ họ hàng đóng của người Nùng Cháo tại Nà Lầu mộtvai trò rất lớn trong xã hội truyền thống cũng như trong xã hội hiện nay Nóluôn chi phối mọi mặt đời sống của từng gia đình, từng thành viên cũng nhưliên quan đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của cả thôn Các thành viên ởtrong cùng một dòng họ luôn có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau vềmọi phương diện cuộc sống
1.3.2 Một số đặc điểm văn hóa
Nhà cửa
Trước đây, nhà cửa của người Nùng ở Nà Lầu là dạng nhà sàn, tầngdưới được làm theo kiểu trình tường rất chắc chắn, phía trên được xây bằnggạch chiên, là một loại gạch được làm từ đất sét (xem A3, A4, A5-PL2,3,) Đểlàm được loại gạch này, người Nùng phải sử dụng từ 3 đến 5 con trâu quầncho đất nhão, sau đó cho rơm vào rồi đóng vào các khuôn gỗ, đợi 7 ngày chothật khô sau đó đảo lại cắt bằng mặt còn lại Khi đem xây họ cũng dùng đất
Trang 39sét làm chất kết dính các viên gạch với nhau Cho tới thời điểm nghiên cứu,một số ngôi nhà cũ đã bị sụp, đổ chỉ còn lại phần móng (A6,PL4) Hiện nayngôi nhà của họ đã có nhiều thay đổi so với kiểu nhà truyền thống trước kia
về kiến trúc cũng như nguyên vật liệu xây dựng Thôn Nà Lầu đã mang dángdấp của một phố thị, có nhiều dãy phố được hình thành với những ngôi nhàtầng bê tông, mái bằng giống như ngôi nhà của người Kinh trong vùng, quanhkhu cửa khẩu Tân Thanh (A7-PL4) Nhìn qua khó nhận ra được đó là nhà củangười Nùng nếu trước cửa nhà không có con chó đá “canh giữ” (được đặt khiđất nhà bị xem là xấu hoặc không hợp mệnh chủ nhà) (A8-PL5), hoặc khôngthấy những lá bùa giấy màu đỏ, hình chữ nhật trên có chữ Hán dán trên tráncửa ra vào của nhà khi đầu năm mới đến hoặc khi khánh thành nhà mà nhiềunăm chúng không bị bong mất (A9-PL5) Tuy nhiên, ở khu vực cư trú cũtrong thôn trước khi quy hoạch xây dựng khu chợ Tân Thanh, dân làng vẫncòn giữ một số ngôi nhà truyền thống vừa để giữ đất, vừa làm nơi nghỉ tạmkhi về làm vườn (trồng rau) hay trông coi việc nuôi thả gà, chăm lợn, nhưnghoạt động kinh tế phụ mang tính “hồi cố” này đang dần mất đi vì nạn trộmcắp bởi ở Nà Lầu có thêm nhiều nhóm cư dân từ nhiều nơi đến thuê nhà ở đểtham gia buôn bán tại Tân Thanh Một số gia đình Nà Lầu đã sửa lại nhữngngôi nhà cũ hoặc dựng những căn nhà tạm một tầng nhỏ với mái tôn dùng chothuê Chính nhu cầu sinh kế mới đã làm thay đổi lớn diện mạo cảnh quan làngbản cũng như nhà cửa, kiến trúc nơi cư trú của họ Xen trong các câu trả lờiphỏng vấn là những câu chuyện của một số người lớn tuổi Nà Lầu tỏ rõ vẫnluyến tiếc ngôi nhà truyền thống xưa Họ còn cho rằng, với kiểu nhà cũ, họ cóthể dễ dàng sửa chữa, có thể lợp lại mái, hàn/vá lại những lỗ tường đất bịthủng, lắp lại thanh chấn song cửa sổ bằng gỗ bị hỏng Còn với nhà bê tôngmái bằng, do điều kiện kinh tế eo hẹp cũng như không am hiểu về cách xâydựng kiểu nhà mới, do quy hoạch phố thị của tỉnh với các chuỗi nhà mái bằngcạnh nhau, nhiều gia đình ở Nà Lầu đã phải ở trong những ngôi nhà tầng bêtông có chất lượng xây dựng không tốt do không có nhiều tiền đền bù làm nhà
Trang 40mới, được vài năm nhà đã “dột”- mái bằng bị thấm, nứt Một số nhà không cótiền sửa phải bỏ tầng hai, cả nhà dồn hết xuống ở tầng một Tình cảnh đó cùngvới những khó khăn trong hoạt động sinh kế càng làm cho những gia đình
nghèo ở Nà Lầu cảm thấy cuộc sống của họ thêm bấp bênh - rằng “không biết mấy năm nữa sẽ thế nào, được lúc nào thì được ” như lời than vãn của một
phụ nữ có ngôi nhà dột trên đường vành đai của Tân Thanh Bà cũng biết và
nói câu thành ngữ “an cư lạc nghiệp” của người Kinh để ước “không biết đến bao giờ chúng tôi mới ổn ” Về nhà cửa của người dân ở Nà Lầu hiện nay so
với nhà của người Nùng ở các thôn khác trong xã Tân Thanh (Nà Han, NàTồng, Nà Ngườm), khang trang, to đẹp hơn Ở các thôn đó, nhà chủ yếu vẫn
là kiểu nhà cấp 4, được lợp bằng ngói âm dương, hoặc mái tôn
Trang phục
Theo truyền thống, quần áo của người Nà Lầu là do tự sản xuất từ dệtvải đến tạo hình trang phục, nguyên liệu chính là vải sợi bông được nhuộmmàu chàm Họ thường mặc những bộ quần áo có ống tay và ống quần rộng màtheo họ là để phù hợp với việc lao động trên đồng ruộng, lên núi, vào rừnghay phải leo cây để hái hồi, hái nhãn
Trang phục truyền thống của phụ nữ ngày thường ít có hoa văn trangtrí, là loại áo năm thân, bốn thân dài và một thân ngắn nằm lót phía bên ngựcphải, phần thân và tay áo rộng, đủ để cử động thoải mái trong mọi tư thế vànhất là tiện lợi khi đi làm ruộng, làm nương, tay áo được tạo thành bởi sựchắp nối các mảnh vải cùng màu lại với nhau Quần phụ nữ được may theokiểu “chân què, cạp lá tọa” và cũng được làm bằng vải chàm đen Cạp quầnđược nối với loại vải mỏng hơn, khi mặc thì gấp cạp lại rồi dùng dây thắt lưngbuộc ngang hông để giữ cho chặt Phụ nữ thường đội khăn vuông, nhuộmchàm đen Áo nam giới là chiếc áo tứ thân, có chiều dài ngang mông, tay áorộng dài đến cổ tay Cổ áo được khoét hình tròn, vải khâu đáp phía trong chân
cổ, xẻ ngực thẳng từ trên xuống dưới và đính bảy chiếc cúc để cài, áo có bốntúi, hai túi ngực và hai túi phía dưới Quần nam giới cũng được cắt theo kiểu