Giao kết hợp đồng dân sự (HĐDS) là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự. Vậy, giao kết HĐDS được pháp luật quy định như thế nào? Trình tự giao kết HĐDS phải thực hiện như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành? Vì muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về giao kết HĐDS nên em đã lựa chọn đề tài: “Quy định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện.” để nghiên cứu làm bài báo cáo của mình
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Giao kết hợp đồng dân sự (HĐDS) là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự Vậy, giao kết HĐDS được pháp luật quy định như thế nào? Trình tự giao kết HĐDS phải thực hiện như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành? Vì muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về giao kết HĐDS nên em đã lựa
chọn đề tài: “Quy định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện.” để nghiên cứu làm bài báo cáo của mình
CHƯƠNG I GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1 Khái quát chung về giao kết HĐDS:
1.1 Khái niệm hợp đồng:
Hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự Điều 388 BLDS năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Tuy nhiên, quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm… Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của BLDS hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với tất
cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại…
Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” So với BLDS cũ thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng” Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh
Sự thỏa thuận của các bên là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng, và hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thỏa thuận, bàn bạc của các bên để đi đến sự thống nhất ý chí chung của các bên một cách hợp pháp mà không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp hợp đồng không có sự bàn bạc giữa các bên mà chỉ có một bên đơn phương ấn định các điều khoản cơ bản của hợp đồng còn bên kia chỉ chấp nhận hay không chấp nhận (các hợp đồng mẫu như hợp đồng bảo hiểm của các công ty bảo hiểm, công ty điện nước ) và việc một bên còn lại chấp nhận không có nghĩa là bên còn lại ép buộc, đe dọa, cưỡng bức mà vấn đề vẫn là sự tự nguyện chấp thuận với những điều khoản trong hợp đồng mẫu
Ngoài sự thỏa thuận của các bên thì hợp đồng cần phải đáp ứng điều kiện về việc làm phát sinh hậu quả pháp lý (xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên)
1.2 Khái niệm giao kết HĐDS:
Giao kết HĐDS có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau
Trang 21.3 Bản chất của giao kết HĐDS:
Bản chất của HĐDS là sự thỏa thuận, trong đó các bên thể hiện sự bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định Việc giao kết HĐDS cũng được xác lập trên cơ sở của sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên Quá trình giao kết HĐDS diễn ra với hai yếu tố: sự bày tỏ ý chí (đề nghi giao kết) và sự chấp nhận ý chí (chấp nhận
đề nghị giao kết HĐDS), nhưng thực tế không phải là HĐDS nào cũng xác định được rõ ràng hai yếu tố này Quá tình này có thể diễn ra nhanh chóng hay kéo dài, đơn giản hay phức tạp, diễn ra đồng thời hay tiến triển ở nhiều giai đoạn khác nhau… (phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: ý chí các bên, vào nội dung, hình thức biểu hiện của hợp đồng…) Các bên có thể sử dụng phương thức giao kết trực tiếp (gặp nhau trao đổi, đàm phán, thương lượng, kí kết…) hoặc phương thức giao kết gián tiếp (thông qua công văn, đơn chào hàng, các phương tiện điện tử…) để thỏa thuận, thống nhất ý chí với toàn bộ nội dung của hợp đồng
Hợp đồng dân sự có nhiều loại nhưng kết quả cuối cùng của quá trình giao kết HĐDS nói chung đều là thể hiện sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự trong quan hệ hợp đồng đó (hình thành HĐDS) Do đó, bản chất của giao kết HĐDS là quá tình bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng nhằm thỏa thuận, thống nhất toàn bộ nội dung, hình thức HĐDS theo quy định của pháp luật
1.4 Nguyên tắc giao kết hợp đồng:
Việc giao kết hợp đồng vẫn được thực hiện trên nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 3 BLDS 2015 Qua đó chúng ta có thể hiểu nguyên tắc giao kết hợp đồng cụ thể gồm hai nguyên tắc là nguyên tắc tự do và nguyên tắc trung thực ngay thẳng
Nói về nguyên tắc tự do của các bên ký kết hợp đồng, đây là nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng, và bao gồm các nội dung như sau: được quyền tự do định đoạt việc tham gia hay không tham gia ký kết hợp đồng, tự do lựa chọn đối tác tham gia ký kết hợp đồng, tự do lựa chọn bất kỳ loại hợp đồng nào mình sẽ ký kết và tự do thỏa thuận nội dung của hợp đồng Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc tự do của các bên cũng bị giới hạn và đòi hỏi ý chí của các bên phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, việc thỏa thuận đó phải không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội thì mới có hiệu lực pháp lý
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc trung thực, ngay thẳng trong quá trình giao kết hợp đồng và được thể hiện qua việc đòi hỏi các bên phải cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, chính xác, nếu việc cố ý cung cấp thông tin không chính xác gây ra thiệt hại cho bên kia khi thực hiện hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường hiệt hại hay phạt
vi phạm hợp đồng (nếu như trong điều khoản của hợp đồng có thỏa thuận), cụ thể theo như quy định tại khoản 2 Điều 408 LDS 2015 "Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng
có đối tượng không thể thực hiện được"
2 Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:
2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng:
Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 386 như sau:
Trang 3“1 Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
2 Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.”
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên thể hiện rõ ý định về việc giao kết hợp đồng đối với bên kia Có rất nhiều cách để thể hiện ý định giao kết hợp đồng, nhưng không phải cách thể hiện nào cũng được coi là đề nghị giao kết hợp đồng Dựa theo quy định này, lời đề nghị giao kết hợp đồng phải có các dấu hiệu sau:
- Một là, bên đề nghị phải thể hiện rõ mong muốn giao kết hợp đồng;
- Hai là, nội dung lời đề nghị phải chứa đựng nội dung cơ bản của hợp đồng;
- Ba là, lời đề nghị phải hướng tới chủ thể xác định hoặc công chúng.
Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015quy định hai loại chủ thể được đề nghị gồm: chủ thể được xác định cụ thể hoặc là công chúng Đây là căn cứ để xác định lời đề nghị giao kết hợp đồng của cá nhân, doanh nghiệp quảng cáo bằng tờ rơi, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên điện thoại di động hoặc trong địa chỉ Email của cá nhân nếu nội dung quảng cáo đó chứa đựng các dấu hiệu của lời đề nghị thì tổ chức, cá nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về nội dung cam kết đó
Bên đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc về nội dung đã đề nghị đối với bên được đề nghị Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới
Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu
có thiệt hại phát sinh
2.2 Thông tin trong giao kết hợp đồng:
Thông tin trong giao kết hợp đồng được quy định tại điều 387 Bộ luật Dân sự 2015
Đây là nội dung mới nhằm quản lý chặt chẽ hơn về giao kết hợp đồng, là cơ sở để giải quyết khi có phát sinh tranh chấp Theo đó:
- Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết
- Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác
- Bên vi phạm quy định nêu trên mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
2.3 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Tại điều 393 bộ Luật dân sự 2015 bổ sung thêm quy định về vấn đề chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó: Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen
đã được xác lập giữa các bên
Sau khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, bên được đề nghị có thể trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nếu như đồng ý toàn bộ nội dung, trong trường hợp bên được đề nghị không đồng ý một trong số điều khoản của hợp đồng mà bên đề nghị đưa ra thì có thể yêu cầu chỉnh sửa lại và gửi về bên đề nghị, lúc này bên đề nghị ban đầu đã trở
Trang 4thành bên được đề nghị mới, bên được đề nghị trở thành bên đề nghị và nội dung chỉnh sửa được xem là đề ghị giao kết hợp đồng mới Ngoài ra theo quy định tại Điều 394 BLDS 2015 thì khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ
có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời, tuy nhiên trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý
do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
Trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị Hoặc trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị, nội dung này đã được BLDS
2015 thừa nhận theo quy định tại Điều 395, 396 BLDS 2015
3 Hình thức và nội dung của hợp đồng
3.1 Hình thức hợp đồng:
Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, chuyển tải nội dung của hợp đồng, bao gồm các điều khoản mà các bên đã cùng nhau thống nhất cam kết Hình thức hợp đồng thường rất đa dạng và theo quy định tại Khoản 1 Điều 119 BLDS
2015 thì hình thức hợp đồng có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể
Hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản là việc các bên giao kết hợp đồng thống nhất về quyền và nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản Các bên thỏa thuận với nhau về những nội dung chính mà mình đã cam kết và người đại diện của các bên phải ký vào hợp đồng, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp việc giao kết hợp đồng bằng văn bản phải được công chứng chứng thực hoặc đăng ký sở hữu theo như quy định thì mới có giá trị theo như quy định tại khoản 2 Điều 119 BLSD "Trường hợp luật quy định giao dịch dân
sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó", chính vì vậy hình thức này thường mang tính xác thực cao hơn so với hình thức giao kết hợp đồng bằng lời nói Tuy nhiên cần lưu ý đối với việc một số hợp đồng được quy định phải áp dụng hình thức giao kết bằng văn bản phải có công chứng chứng thực hoặc đăng ký bảo đảm thì phải áp dụng đúng hình thức, nếu vi phạm về hình thức thì hợp đồng được xem là vô hiệu, theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015 "Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu" Hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản thường được áp dụng trong các trường hợp như là hợp đồng có giá trị lớn, những hợp đồng mà việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên có
Trang 5thể diễn ra trong một khoản thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết, hoặc là khi các bên chưa đạt được độ tin cậy nhất định
Hình thức giao kết hợp đồng thứ ba là việc giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể,
là việc hai bên không có thỏa thuận bằng văn bản cũng như thỏa thuận bằng miệng Việc giao kết hợp đồng được minh chứng bằng các hành vi như bên bán tiến hành giao hàng hoặc bên mua tiến hành trả tiền Đây cũng là hình thức hợp đồng mang lại nhiều rủi ro,
do đó trên thực tế các thương nhân ít sử dụng Ngoài ra có thể hiểu việc giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua hành vi cụ thể của bên được đề nghị giao kết hợp đồng khi hành vi đó được thực hiện theo đúng quy ước định trước của bên đề nghị giao kết mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên, cũng không cần dùng đến lời nói hoặc kí văn bản, cũng không có sự phân định rõ ràng giữa đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết trong giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể Cũng khó xác định cụ thể đối tượng được đề nghị giao kết trong trường hợp này (Ví dụ: Việc trưng bày sản phẩm và niêm yết giá tại siêu thị có thể coi là sự chào hàng hay đề nghị giao kết hợp đồng với bất kì bên nào có khả năng) Các bên trong giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể không có sự trực tiếp trao đổi, thỏa thuận thậm chí là không biết bên giao kết hợp đồng với mình là chủ thể nào Gần như thời điểm giao kết hợp đồng cũng là thời điểm hợp đồng được thực hiện (Ví dụ như người tiêu dùng sẽ đưa tiền vào máy bán hàng tự động, sau đó nhận hàng)
3.2 Nội dung của hợp đồng:
Nội dung của hợp đồng là sự tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng,
- Ngoài các nội dung hợp đồng đã được quy định tại BLDS 2005, BLDS 2015 bổ sung về nội dung hợp đồng là “phương thức giải quyết tranh chấp”
Bên đề nghị giao kết HĐDS phải đưa ra nội dung đề nghị giao kết với những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng để bên kia có thể hình dung ra được HĐDS sẽ được giao kết với nội dung như thế nào, có thể tham gia giao kết HĐDS đó được hay không ?
BLDS 2015 chưa có quy định cụ thể nội dung của đề nghị giao kết HĐDS và Luật Thương mại năm 2005 cũng không quy định nội dung của “chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa” Thực tế cho thấy, đề nghị giao kết hợp đồng và một số hành vi như: lời mời làm chào hàng, báo giá, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ… rất khó phân biệt mà hậu quả pháp lý của đề nghị giao kết HĐDS có
ý nghĩa rất quan trọng đối với bên đề nghị giao kết nên rất cần phải xác định nội dung của
đề nghị giao kết HĐDS Thứ nhất, đề nghị giao kết HĐDS phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết HĐDS Ví dụ: Bên đề nghị giao kết phải thể hiện
rõ nội dung mình muốn bán nhà ở (giao kết hợp đồng mua bán nhà nở) hoặc muốn cho thuê nhà ở (hợp đồng thuê nhà ở) với chủ thể khác…
Đề nghị giao kết hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu của loại HĐ DS mà các bên muốn xác lập: Đề nghị giao kết HĐDS do bên đề nghị chủ động đưa ra nội dung (chưa phải là HĐDS), nhưng họ phải thể hiện rõ những nội dung chủ yếu của HĐDS mà bên đề nghị dự kiến sẽ giao kết để các chủ thể khác biết được và tham gia giao kết hợp đồng (đề nghị giao kết hợp đồng chứa các nội dung của hợp đồng tương lai) Yêu cầu này
Trang 6có nghĩa là đề nghị giao kết HĐDS phải có đầy đủ nội dung chủ yếu của loại HĐDS để cho phép bên nhận được đề nghị biết được rằng, để giao kết hợp đồng chỉ cần họ thể hiện
sự đồng ý của mình với đề nghị giao kết thì HĐDS được giao kết
Nội dung chủ yếu của HĐDS là những điều khoản mà không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng; Nếu không thỏa thuận được những điều khoản đó thì HĐDS không thể giao kết được Tuy nhiên, BLDS 2015 hiện nay không quy định về nội dung
“chủ yếu” của HĐDS mà chỉ quy định tại khoản 2 điều 398: Hợp đồng có thể có nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp Quy định này chỉ mang tính chất liệt kê các nội dung thường gặp trong hợp đồng chứ không phải quy định
về nội dung chủ yếu của hợp đồng (Nội dung chủ yếu là những nội dung mà thiếu nó hợp đồng không thể được coi là giao kết) Ví dụ: Các quy định về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện … nếu không có thỏa thuận thì cũng đã có quy định của pháp luật Như vậy, việc xác định nội dung chủ yếu của HĐDS cũng như nội dung của đề nghị giao kết HĐDS trên thực tế cũng rất khó khăn và phức tạp
Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng là điều khoản cơ bản của mọi hợp đồng Đây là điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng dân sự, đồng thời các bên phải thỏa thuận cụ thể về điều khoản này Nếu các bên không thỏa thuận về đối tượng của hợp đồng thì hợp đồng không thể được hình thành Trong các loại hợp đồng dân sự thông dụng mà BLDS quy định, nếu dựa vào đối tượng thì được phân chia thành hai nhóm: một là, các hợp đồng có đối tượng là tài sản; hai là, các hợp đồng có đối tượng là công việc
Thứ hai, số lượng và chất lượng là các yếu tố thuộc về đối tượng của hợp đồng Trên thực tế, chỉ có số lượng mới là điều khoản cơ bản của hợp đồng, bởi nếu các
bên giao kết hợp đồng không thỏa thuận về số lượng của đối tượng thì không thể xác định chính xác về đối tượng của hợp đồng, còn về chất lượng của đối tượng thì trong nhiều trường hợp, nó không được coi là điều khoản cơ bản vì có thể xác định được theo chất lượng trung bình của đối tượng cùng loại trên thị trường tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng
Thứ ba, giá cả không phải là điều khoản bắt buộc đối với mọi trường hợp Bởi vì, trên thực tế, khi các bên không thỏa thuận về giá của đối tượng thì giá của đối tượng vẫn
có thể được xác định dựa vào giá thị trường của đối tượng cùng loại Quy định về giá chỉ bắt buộc trong những trường hợp đặc biệt liên quan đến các loại sản phẩm, hàng hóa, các loại dịch vụ phải niêm yết giá để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ví dụ cụ thể như trường hợp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thì giá chuyển nhượng được xem là điều khoản bắt buộc
Thứ tư, phương thức thanh toán cũng không phải là điều khoản bắt buộc của mọi
hợp đồng Các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận để đưa ra phương thức thanh toán cho phù
hợp với nhu cầu và khả năng của mỗi bên Trong trường hợp các bên không thỏa thuận
về phương thức thanh toán thì áp dụng quy định riêng đối với từng loại hợp đồng hoặc áp dụng quy định chung về phương thức thực hiện của từng loại nghĩa vụ dân sự trong BLDS
Trang 7Thứ năm, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng cũng không phải là điều khoản bắt buộc các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng Nếu các bên không thỏa thuận về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng thì thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng được xác định theo quy định riêng đối với từng loại hợp đồng hoặc quy định chung về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện nghĩa vụ dân sự trong BLDS
Thứ sáu, về quyền và nghĩa vụ của các bên thì thông thường, đối với mỗi loại hợp đồng thì pháp luật đều quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên hoặc áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của các bên thì các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong loại hợp đồng tương ứng vẫn được coi là mặc nhiên
có giá trị
Thứ bảy là về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các bên giao kết hợp đồng có thể
thỏa thuận về việc xác định trách nhiệm dân sự khi có vi phạm hợp đồng Sự thỏa thuận này có thể là về vấn đề phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc một loại trách nhiệm khác Tuy nhiên, nếu các bên không có thỏa thuận thì các quy định của pháp luật về trách nhiệm do vi phạm từng loại hợp đồng nói riêng và các quy định về trách nhiệm dân sự do
vi phạm nghĩa vụ nói chung vẫn mặc nhiên được áp dụng
Cuối cùng là về phương thức giải quyết tranh chấp thì xét về bản chất, quan hệ pháp luật về hợp đồng được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên tham gia giao kết nên khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên được quyền tự định đoạt tất cả các vấn đề liên quan đến hình thức, nội dung, thậm chí là cả phương thức giải quyết tranh chấp Phương thức giải quyết tranh chấp được ưu tiên hàng đầu luôn là thương lượng và hòa giải giữa các bên Tòa án chỉ có quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng khi các bên có yêu cầu và chỉ được giải quyết trong phạm vi yêu cầu Đây là điểm mới so với BLDS 2005
3.3 Địa điểm giao kết hợp đồng:
Theo quy định tại Điều 399 bộ luật dân sự 2015 về Địa điểm giao kết hợp đồng:
“Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra
đề nghị giao kết hợp đồng.“
Căn cứ vào quy định trên ta thấy Bộ luật Dân sự 2015 tôn trọng quyền tự do ý chí
của các bên trong việc xác định địa điểm giao kết hợp đồng Các bên có thể thỏa thuận về địa điểm giao kết hợp đồng là bất kỳ nơi nào Nếu các bên không có thỏa thuận thì địa điểm, giao kết hợp đồng được xác định theo nơi cư trú hoặc trụ sở chính của bên đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 8Nơi cư trú được xác định theo quy định tại Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 sửa đổi
năm 2013: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú“.
Trụ sở chính là địa điểm liên lạc, giao dịch trong quyết định thành lập, đăng ký hoạt động của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
Các bên tham gia hợp đồng nếu không có thỏa thuận về địa điểm giao kết thì có thể xác định địa điểm căn cứ vào quy định về nơi cư trú và cách xác định trụ sở chính như trên Mặc dù địa điểm giao kết hợp đồng không phải là yếu tố bắt buộc phải được thể hiện trong hợp đồng Tuy nhiên, việc xác định địa điểm giao kết hợp đồng lại có những ý nghĩa quan trọng như: là căn cứ để xác định giá của tài sản trong hợp đồng mua bán khi các bên không có thỏa thuận, xác định giá của dịch vụ trong trường hợp các bên không thỏa thuận về giá của dịch vụ, …
3.4 Thời điểm giao kết hợp đồng:
Tại Khoản 1 điều 388 trong BLDS 2015 có quy định: Thời điểm đề nghị giao kết
hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: Do bên đề nghị ấn định Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Ở đây, BLDS năm 2015
đã bổ sung thêm chế định loại trừ “Trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”, phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta Và quy định như vậy là để tránh mâu thuẫn giữa các đạo luật khác, đồng thời ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành
Chế định chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng: Theo Điều 391 trong BLDS 2015, thì việc đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây: Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng; Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận; Hết thời hạn trả lời chấp nhận; Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời Như vậy, ở chế định này đã bổ bổ sung thêm trường hợp: Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng Và việc bổ sung quy định này vừa đúng về mặt lý luận và phù hợp với thực tiễn áp dụng
Im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng: Theo quy định tại Điều 393 của BLDS
2015, sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên Đây là quy định làm rõ hơn trường hợp nào thì im lặng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và trường hợp im lặng nào thi không Với việc bổ sung nội dung này
đã hạn chế những tranh chấp phát sinh từ sự im lặng
Về chế định nội dung hợp đồng: Theo Điều 398 của BLDS 2015 thì các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp Như vậy, trong BLDS mới đã bổ sung thêm quy định: “Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng” Đây được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết tranh chấp
Thời điểm giao kết hợp đồng: Theo Điều 400 trong BLDS 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì
Trang 9thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản Quy định này đã bổ sung thời điểm giao kết hợp đồng bằng hình thức chấp nhận khác Và quy định như vậy sẽ rõ ràng, dễ vận dụng
và hạn chế xảy ra tranh chấp từ chế định “sự im lặng” khi giao kết Đồng thời, phù hợp thực tiễn áp dụng với việc bổ sung thêm quy định những hình thức khác được thể hiện trên văn bản
3.5 Hiệu lực của hợp đồng:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 401 BLDS 2015 có quy định "Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác"
Tuy nhiên cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 401 BLDS 2015 thì vẫn có một số trường hợp ngoại lệ là hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm khác sau thời điểm giao kết hợp đồng nhưng không thể có trước hợp đồng, và hiệu lực của hợp đồng có thể được tính theo sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định khác của luật có liên quan
Việc hợp đồng có hiệu lực theo thỏa thuận của các bên được thực hiện theo nguyên tắc tự do của các bên và xuất phát từ việc pháp luật tôn trọng sự tự do thỏa thuận
đó Các bên có quyền tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng nên cũng có quyền thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một thời điểm khác so với thời điểm giao kết, tuy nhiên việc thỏa thuận này cũng phải phù hợp với quy định pháp luật và không trái với bản chất của hợp đồng Ví dụ như đối với hợp đồng thuê tài sản các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm khác sau khi các bên ký hợp đồng và thời điểm đó có thể là thời điểm các bên tiến hành thuê tài sản của nhau
Trong một số trường hợp nhất định pháp luật có quy định riêng về thời điểm phát
sinh hiệu lực Cụ thể như theo quy định tại Khoản 3 Điều 188 luật đất đai 2013 quy định
" Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp
quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính" và theo quy định tại Khoản 2 Điều 458 BLDS 2015 cũng quy định " Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”
Như vậy, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Và quy định này là nhẳm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên, đồng thời rõ ràng hơn trong việc thay đổi nội dung hợp đồng (tức là phải có sự thỏa thuận giữa các bên)
CHƯƠNG II BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Pháp luật của Việt Nam, đặc biệt là BLDS 2015 đã có quy định về giao kết HĐDS, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế các chủ thể, nhất là các hợp đồng được cá nhân giao kết với nhau bằng lời nói thì thường thực hiện
Trang 10theo thói quen mà ít quan tâm đến quy định của pháp luật, chỉ khi nào việc thực hiện hợp đồng gặp khó khăn, trở ngại mới tìm hiểu xem pháp luật quy định vấn đề đó như thế nào?
1.Những bất cập:
Theo Báo cáo tổng kểt hàng năm của Ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát có nêu số liệu về các vụ việc dân sự (bao gồm : các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) được thụ lý, giải quyết, nhưng không có
số liệu đánh giá riêng về giải quyết tranh chấp HĐDS cũng như giao kết HĐDS Qua tìm hiểu thực tế giải quyết các vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án và Viện kiểm sát cho thấy các bên chủ yếu tranh chấp về các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng; Còn tranh chấp trong quá trình giao kêt hợp đồng rất
ít và nếu có thì các bên chủ yếu tranh chấp về khoản tiền đặt cọc để đảm bảo giao kết HĐ DS
1.1 Về giao kết HĐDS trong trường hợp một người có nhiều tư cách chủ thể:
Giao kết HĐDS là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên với nhau để xác lập HĐ DS Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp một người lại mang nhiều tư cách chủ thế khác nhau, khi ấy họ có được giao kết HĐDS với chính họ hay không
Để trả lời cho câu hỏi trên, xem xét ví dụ sau :
Tháng 10/2017, ông Nguyễn Gia Hoàng, sinh năm 1980 và vợ là Trịnh Ngọc Yến, sinh năm 1984, thường trú tại phường 1, thành phố X đến phòng công chứng làm thủ tục tặng cho con trai là Nguyễn Văn Hà, sinh năm 2013 (hiện đang ở cùng với bố mẹ) toàn
bộ quyền sử dụng đất 35,6 mét vuông đất ở và tài sản gắn liền với đất là nhà ba tầng cùng vật kiến trúc khác tại phường 1 Thành phố X (có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là tài sản chung của vợ chồng) Trong trường hợp này chủ thể giao kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất sẽ như thế nào?
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không theo yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho mà không yêu cầu đền
bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận (Điều 457 BLDS 2015) Cháu Nguyễn Văn Hà mới hơn 4 tuổi (chưa đủ 6 tuổi) không có năng lực hành vi dân sự nên trong hợp đồng tặng cho phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện (khoản 2 Điêu 21 BLDS 2015) Như vậy, ông Nguyễn Gia Hoàng và vợ là Trịnh Ngọc Yến sẽ cùng đứng tên ở cả hai bên của hợp đồng với hai tư cách khác nhau để giao kết hợp đồng (là bên tặng cho tài sản và đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn Hà là bên được tặng cho tài sản)
Quan điểm thứ hai cho rằng : Ông Nguyễn Gia Hoàng và vợ là Trịnh Ngọc Yến không thể cùng đứng tên ở cả hai bên của hợp đồng với hai tư cách khác nhau để giao kết hợp đồng (là bên tặng cho tài sản và đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn Hà là bên được tặng cho tài sản) vì như vậy là họ đã giao kết với chính họ thì không thể xác lập HĐDS được Như vậy, cần phải có người đại diện khác, hoặc người giám hộ khác để giao kết hợp đồng này
Quan điểm thứ ba cho rằng : Riêng đối với hợp đồng mà chỉ mang lại lợi ích cho bên được đề nghị (như hợp đồng tặng cho tài sản) thì người không đủ năng lực hành vi dân sự vẫn có thể tham gia giao kết với bên được tặng cho Bởi lẽ theo hợp đồng này bên được tặng cho chỉ được hưởng tài sản chứ không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào
Bản thân tôi đồng ý với quan điểm thứ ba, bở lẽ trên thực tế, khi bố mẹ tặng cho con mình (dưới 6 tuổi) những tài sản là đồ dùng sinh hoạt hằng ngày cũng không cần phải có người đại diện khác, hoặc giám hộ khác Tuy nhiên, pháp luật cũng cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể việc giao kết hợp đồng dân sự trong trường hợp mà một người