Tổ chức WHO hướng dẫn rằng những thành tố này có thể được diễn tả theo hai cách: - “chúng có thể được dùng để biểu thị vấn đề tức là khiếm khuyết, sự giới hạn về mặt hoạt động hoặc sự hạ
Trang 1TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN CHO CHẤN
Trang 2N i dung ộ
Nội dung 2
ICF 3
3
Phục hồi chức năng 4
Lượng giá vật lý trị liệu cho một khách hàng có tổn thương thần kinh 5
Đặt mục tiêu 8
Cách đặt tư thế và đặt tay để giúp di chuyển bệnh nhân trong trị liệu 9
Xử trí trương lực cơ bất thường 11
Trương lực cơ 11
Trương lực thấp (giảm trương lực) 12
Trương lực cao (tăng trương lực) 13
Những kiểu mẫu phản xạ co cứng điển hình 14
Các mẫu đồng vận co cứng 15
Phản ứng liên hợp (Associated Reactions – AR’s) 16
Bình thường hóa trương lực cơ (Những quy tắc chung) 16
Tạo thuận ( khi có trương lực thấp ) 18
Sự bình thường hóa trương lực cơ (khi có trương lực cao) 19
Những kỹ thuật điều trị cụ thể 21
Di động thân người 21
Di động vai 21
Di động bàn chân 22
Dáng đi 23
Các thiết bị hỗ trợ đi trong tổn thương thần kinh 23
24
Phụ lục 25
Trang 3Phục hồi chức năng có thể được tóm gọn lại bằng mô hình ICF (Sự phân loại Quốc tế
về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe – International Classification of Functioning, Disability and Health) do Tổ chức Y tế Thế giới WHO công bố vào năm 2001 Mô hình ICF đưa ra khái niệm rằng mức độ chức năng của một người là một mối tương tác động giữa tình trạng sức khỏe của người này, các yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân Đây là một mô hình sinh học-tâm lý-xã hội, dựa trên sự tích hợp những mô hình
xã hội và y tế về sự khuyết tật Tất cả thành tố của sự khuyết tật đều quan trọng và bất
kỳ thành tố nào đều có thể tương tác với những thành tố còn lại Các yếu tố môi trường cần được cân nhắc đến vì chúng ảnh hưởng đến mọi thứ và có thể cần được thay đổi
Chức năng được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2001) định nghĩa trong mô hình ICF như
là một thuật ngữ mang tính bao quát, trong đó bao gồm tất cả chức năng của cơ thể (ví dụ: nghe/thính giác), hoạt động (ví dụ: tắm rửa), và sự tham gia (ví dụ: vào đời sống cộng đồng) Tổ chức WHO hướng dẫn rằng những thành tố này có thể được diễn tả theo hai cách:
- “chúng có thể được dùng để biểu thị vấn đề (tức là khiếm khuyết, sự giới hạn về mặt hoạt động hoặc sự hạn chế trong việc tham gia và được tóm gọn lại bằng thuật ngữ mang tính bao quát là khuyết tật)”, và
- “chúng có thể biểu thị những khía cạnh không phải là vấn đề (tức là trung tính) của sức khỏe và các trạng thái liên quan đến sức khỏe (được tóm gọn lại bằng
Các yếu tố
cá nhân
Trang 4thuật ngữ mang tính bao quát là chức năng)” (WHO, 2001) Chức năng dựa trên
mô hình sinh học-tâm lý-xã hội, và mô hình này có tầm nhìn rộng và toàn diện hơn mô hình y tế đã được sử dụng trước đây Kiến thức về chức năng cho phép những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có được sự hiểu biết tường tận hơn về toàn bộ những gánh nặng mà một tình trạng sức khỏe gây ra và tác động của bệnh lý đến cuộc sống của một cá nhân.
Phục hồi chức năng
‘Sự độc lập không phải là khả năng thực hiện những công việc cần thiết mà là sự tự
do của một ai đó trong việc kiểm soát cuộc sống của riêng họ và quyết định hướng
đi trong cuộc đời họ’ (Williams & Wood,1988)
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011) mô tả phục hồi chức năng là “một bộ biện pháp nhằm hỗ trợ những cá nhân đang bị, hoặc có khả năng bị, khuyết tật [do hậu quả của khiếm khuyết, bất kể thời điểm xảy ra (bẩm sinh, khi còn nhỏ hay sau này)] để họ đạt được và duy trì chức năng tối ưu khi tương tác với môi trường của họ” “Các biện pháp phục hồi chức năng nhắm đến những chức năng và cấu trúc của cơ thể, những hoạt động và sự tham gia, các yếu tố môi trường, và các yếu tố cá nhân.” (WHO, 2011) Phục hồi chức năng có thể bao gồm những hoạt động khác nhau trong những lĩnh vực khác nhau Đối với lĩnh vực sức khỏe, phục hồi chức năng giải quyết những tình trạng
và khiếm khuyết mạn tính hoặc dài hạn, với mục tiêu đảo ngược hoặc hạn chế phạm vi tác động của những tình trạng và khiếm khuyết này Các dịch vụ có thể bao gồm âm ngữ trị liệu, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, việc cung cấp các thiết bị hỗ trợ, và các phẫu thuật đặc biệt để sửa chữa các dị hình và những loại khiếm khuyết khác.
Phục hồi chức năng chấn thương sọ não là một quá trình đa chiều và nó được thiết kế
để tạo điều kiện cho việc phục hồi, hoặc thích nghi với sự mất đi những chức năng sinh
lý hoặc tâm lý khi chưa hoàn thành được sự đảo ngược quy trình bệnh Phục hồi chức năng hướng đến việc tăng cường những hoạt động mang tính chức năng và sự tham gia vào xã hội và từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống.
Quá trình phục hồi chức năng có thể bị gián đoạn ở bất kỳ giai đoạn nào bởi khuyết tật
đã mắc phải trước đó, những bệnh lý kèm theo và biến chứng của chấn thương sọ não.
Những khía cạnh chủ chốt của việc chăm sóc phục hồi chức năng bao gồm:
- sự sàng lọc và lượng giá đa ngành
- xác định những khó khăn về mặt chức năng và mức độ của chúng
- lên kế hoạch điều trị thông qua việc đặt mục tiêu
- tiến hành can thiệp Can thiệp có thể mang lại sự thay đổi hoặc hỗ trợ một người kiểm soát và duy trì những thay đổi đã đạt được
- đánh giá mức độ hiệu quả của sự can thiệp
- báo cáo
Trang 5Lượng giá vật lý trị liệu cho một khách hàng có tổn thương thần kinh
Một bài lượng giá toàn diện cho một khách hàng người lớn có tổn thương thần kinh nên cân nhắc đến:
- những khả năng về chức năng hoạt động trước đây của họ
- khiếm khuyết về chức năng tâm lý (nhận thức, cảm xúc và giao tiếp)
- khiếm khuyết về những chức năng cơ thể, bao gồm các cơn đau, sự giới hạn
về mặt hoạt động và sự hạn chế trong việc tham gia
- những yếu tố môi trường (xã hội, thể chất và văn hóa)
Xác định những khả năng cử động/di chuyển hiện tại và những tiềm năng cử
động/di chuyển, cụ thể là lượng giá:
- ý thức về thị giác và không gian
- những hoạt động bù trừ không mong muốn
- sự thăng bằng
- khả năng cử động/di chuyển ví dụ: di chuyển từ nơi này sang nơi khác, đi
bộ, lên xuống cầu thang
Xem Phụ lục 1
Những lời khuyên khi lượng giá – Mục tiêu
Cái gì : bệnh nhân làm gì?
Như thế nào : bệnh nhân làm như thế nào?
Vì sao : vì sao bệnh nhân làm như vậy?
1 Trên xe lăn / ghế
- Tư thế, vị trí của các chi và đầu
- họ di chuyển về trước ở trên ghế như thế nào? Chân được đặt như thế nào?
Họ có giao tiếp mắt với bạn không? Có sự thờ ơ rõ rệt không?
2 Di chuyển từ nơi này sang nơi khác
Trang 6- như thế nào? Cách bước đi? Những thay đổi về trương lực? Các phản ứng
liên hợp ?
- ngồi xuống hay ngã xuống?
- chịu sức nặng như thế nào? Chỉ sử dụng một bên?
3 Ngồi trên giường
- sự cân đối của thân người, chịu sức nặng, trong khi gập và duỗi,
- thân người cảm thấy như thế nào khi cử động/di chuyển?
- họ có di chuyển ra khỏi điểm tựa hỗ trợ không?
- cánh tay có bị trật khớp nhẹ không ? Họ có đau không ? Họ có cầm cánh tay
của họ không ?
- vị trí của chân / bàn chân
4 Khả năng cử động trên giường
- trở người / ngồi dậy từ tư thế nằm và nằm xuống từ tư thế ngồi / làm cầu
5 Đứng lên từ tư thế ngồi
- chịu sức nặng như nhau không?
- có thăng bằng không ? Có phản ứng cứu thế ở chân không ?
- có thể cử động/di chuyển có chọn lọc không ?
- chịu sức nặng như nhau không ?
- có kiểm soát thân người không ?
- có thay đổi về trương lực / phản ứng liên hợp không ?
7 Phân tích dáng đi
Những ý tưởng lượng giá khác
1) Quan sát
- Bệnh nhân cử động/di chuyển như thế nào?
- Xem xét sự tương tác của những điểm chính ; trung tâm, gần và xa
Xem xét thân người trước rồi sau đó ra phía ngoài
Các điểm chính có thẳng trục không ?
Trang 7Nếu bất kỳ điểm chính nào bị lệch thì đó đều là lệch so với bình thường
- Bệnh nhân có khởi xướng cử động không và như thế nào?
- Cử động có bị cái gì ngăn lại không ? Có thờ ơ không? Có sự đề kháng
không? Có đau không?
- Họ có thể cử động có chọn lọc không, trái với kiểu di chuyển nguyên khối
ví dụ khi đang nằm ngửa và được yêu cầu gập hông và đầu gối bệnh nhân
có thể cử động theo kiểu xoay sang bên / mở và gập lưng, gập mu / xoay bàn chân vào trong
Họ có thể thăng bằng không ? Thăng bằng kém dẫn đến sợ hãi Một khi đã
có thăng bằng thì các chi có thể cử động một cách có chọn lọc
- Bệnh nhân có thể thay đổi từ tư thế này sang tư thế khác không? Hay bệnh
nhân bất động hoặc không thể cử động ?
Quan sát và cảm nhận những phản ứng tự động (dưới vỏ) có sử dụng hoặc
không sử dụng mệnh lệnh bằng lời Bạn có thể điều trị tốt mà không sử dụng bất kỳ mệnh lệnh bằng lời nào Đôi khi mệnh lệnh bằng lời có thể tăng trương lực của bệnh nhân vì họ có sự chuẩn bị cho một sự kiện Ngoài
ra mệnh lệnh bằng lời cũng có thể tạo ra một kiểu bù trừ, đặc biệt ở những bệnh nhân có cảm giác kém Vì vậy khó điều trị cho một nhóm trong cùng một lúc khi sử dụng khái niệm này!
3) Phân tích
- Bệnh nhân cử động như vậy có phải do bù trừ không hay do vấn đề chủ yếu hay kết hợp cả 2 ?
Vấn đề chủ yếu luôn luôn gây ra thay đổi về trương lực !
Đôi khi bạn thấy trương lực cao Vì sao ? Điều này có thể được học do
môi trường ( ví dụ khi được người khác đặt tay để giúp di chuyển ) hoặc do trị liệu Có thể có Phản ứng Liên hợp
4) Điều trị
a) Tôi có thể làm gì ?
Xem xét mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạnb) Bây giờ tôi có thể thay đổi những gì ? Mục tiêu ngắn hạn
Trang 8Cái gì có thể áp dụng/mang sang được và vì sao ? tức là tiên lượng c) Tôi có thể làm gì tiếp theo ? Mục tiêu dài hạn
LUÔN LUÔN TÁI LƯỢNG GIÁ
- có ý nghĩa và liên quan đến họ
- tập trung vào hoạt động và sự tham gia
- thử thách họ nhưng họ có thể đạt được
- bao gồm cả hai yếu tố ngắn hạn và dài hạn
- khách hàng tổn thương thần kinh và, những lúc nào thích hợp thì cả gia đình hoặc
người chăm sóc của họ, có tham gia vào buổi thảo luận
Giải thích cởi mở và trung thực về hệ thống, không nên bao giờ bảo với khách hàng
rằng chức năng của họ sẽ được khôi phục, thay vào đó hãy khuyên họ rằng mục đích là
Chuẩn bị Nấu ăn Ăn
Bình thường hóa Cử động chủ động Những cử động trương lực trong những kiểu mẫu mang tính chức năng Bù trừ cử động bình thường
Đạt được tầm vận động
BẠN PHẢI KẾT HỢP CẢ 3 CỘT TRÊN TRONG BUỔI ĐIỀU TRỊ CỦA BẠN !
Trang 9nhằm tối đa hóa hoặc tối ưu hóa những kỹ năng này, trong khi học những cách làm mới đểgiảm thiểu các vấn đề.
Các mục tiêu nên được thảo luận và thống nhất với khách hàng và lúc nào có thể thì với
cả người chăm sóc, các mục tiêu cần được viết ra và chúng phải THÔNG MINH
(SMART)
Những mục tiêu THÔNG MINH (SMART Goals)
S - specific (cụ thể), significant (quan trọng), stretching (bao quát)
M - measurable (có thể đo lường được), meaningful (có ý nghĩa), motivational
(tạo động lực/có sức thuyết phục)
A – agreed upon (được thống nhất), attainable (có thể đạt được), achievable
(có thể thực hiện được), acceptable (có thể chấp nhận được), action-oriented (hướng đến hành động)
R – realistic (thực tế), relevant (có liên quan), reasonable (hợp lý), rewarding
(đáng để làm), results-oriented (hướng đến kết quả)
T - time-based (dựa vào thời gian), time-bound (ràng buộc về thời gian),
timely (đúng lúc), tangible (xác thực), trackable (có thể theo dõi được)
Cũng có thể sử dụng Thang đo lường việc đạt mục tiêu (Goal attainment Scale – GAS)
Giao tiếp và hợp tác, Để bệnh nhân tham gia vào, Được chuẩn hóa
Dễ dàng đo lường thay đổi
Việc định kỳ tái lượng giá các mục tiêu là hết sức quan trọng
Mục tiêu của cách đặt tư thế trong trị liệu đối với bệnh nhân tổn thương thần kinh
là nhằm thúc đẩy sự hồi phục tối ưu bằng cách:
- điều chỉnh trương lực cơ
Trang 10- cung cấp thông tin phù hợp về cảm giác và gia tăng ý thức về không gian
- ngăn ngừa các biến chứng chẳng hạn như loét do tỳ đè, co cứng, đau và các
vấn đề về hô hấp
- hỗ trợ việc nuốt và ăn uống an toàn hơn
- tạo điều kiện cho việc giao tiếp
Việc thay đổi tư thế nên diễn ra mỗi 2 giờ đặc biệt nếu bệnh nhân tổn thương
thần kinh không hoạt động thể chất nhiều Điều này sẽ ngăn ngừa nguy cơ bị loét do tỳ đè
- ngồi dậy cao trên giường
- ngồi dậy cao trên ghế
Ở tư thế ngồi để tạo điều kiện phục hồi tối ưu:
• Thân người nên thẳng và ở đường giữa
• Chi trên của vùng vai bị ảnh hưởng nên được kéo dài ra với cánh tay đưa
ra phía trước, cổ tay ở vị trí hơi duỗi và các ngón tay duỗi ra (tốt nhất là đặt bằng phẳng trên một bề mặt ví dụ như một cái gối cứng chắc)
Vùng Hông và đầu gối ở vị trí vuông góc và chân được đặt bằng phẳng trên một bề mặt rắn chắc (ví dụ sàn nhà, bục gỗ)
Việc đặt tư thế cho bệnh nhân kém có thể khuyến khích phát triển trương lực cơ
bất thường và gây tổn hại đến mô mềm
Cách đặt tay để giúp di chuyển bệnh nhân
- Cầm nắm kiểu giun để có thể nắm chắc khách hàng mà vẫn cảm thấy thoải mái:
Trang 11- Được lượng giá bằng cách cử động chi hoặc thân người một cách thụ động qua phạm
vi cử động bình thường trong khi bệnh nhân ở trạng thái thư giãn
- Từ đó nhà trị liệu có thể nhận ra trương lực bình thường, tăng hay giảm Nếu chưa chắc thì có thể làm cử động nhanh hơn và trương lực cao thì sẽ trở nên xấu đi trong khi trương lực bình thường và giảm thì vẫn sẽ như cũ
- Cần thiết phải có trương lực cơ thì mới cử động/di chuyển được
- Bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm các cơn đau, sự sợ hãi, tâm trạng, nhiệt độ,
tư thế, cách đặt tay để giúp di chuyển bệnh nhân, sự hỗ trợ, sự khó chịu (ví dụ táo bón)
Trương lực tư thế bình thường
- sự đề kháng lại cử động khi bệnh nhân đang ở trạng thái thư giãn chủ động Đây
là trạng thái sẵn sàng của hệ cơ trong cơ thể để chuẩn bị duy trì một tư thế hoặc thực hiện một cử động
- cần thiết phải có trương lực bình thường để cử động bình thường
Trang 12- phụ thuộc vào vị trí và quy mô của tổn thương, trọng lực, tư thế, sự sợ hãi, các cơn đau, mức độ gắng sức, môi trường ( ví dụ cách đặt tay để giúp di chuyển bệnh nhân, tiếng ồn, nhiệt độ, tư thế )
- tự động thích nghi với những thay đổi về tư thế tức là có khả năng phân loại trương lực Trương lực phải đủ cao để chịu được trọng lực (để đứng, v.v.) nhưng đủthấp để cho phép cử động nếu không chúng ta sẽ ngã khi bị xô đẩy
Yếu tố này được tự động chuẩn bị cho ta mà ta không cần suy nghĩ về nó và vì vậy nó cho phép một cá nhân :
i) Có thể duy trì tư thế thẳng đứng chống lại sức mạnh của trọng lực
ii) Có thể thích nghi với sự thay đổi thường xuyên điểm tựa hỗ trợ và theo những cách khác nhau
tức là điểm tựa hỗ trợ lớn hơn và trung tâm trọng lực thấp hơn thì cần gắng
sức ít hơn để duy trì tư thế và trạng thái ổn định vì vậy trương lực tư thế khi nằm sẽ thấp hơn so với khi đứng
Lưu ý Nhiều bệnh nhân tổn thương thần kinh dành phần lớn thời gian nằm trên
giường bệnh nên việc hồi phục trương lực rất khó khăn Lúc này thì cách làm là, một khi đã có được sự ổn định về mặt y khoa, hãy cho những bệnh nhân này ngồi / đứng (tức là giảm điểm tựa hỗ trợ của họ và tăng trung tâm của trọng lực) càng sớm càng tốt nhưng với những tư thế / sự thẳng trụcđúng để trương lực có thể được khôi phục và bình thường hóa
iii) Cho phép cử động có chọn lọc để đạt được những kỹ năng mang tính chức năng
- mối đe dọa của :
Trương lực cao - co cứng, cử động bất thường ‘theo kiểu mẫu’, trật khớp
Trương lực thấp - trật khớp, chấn thương, sưng tấy, cử động bất thường
CÁCH TA ĐẶT TAY ĐỂ GIÚP DI CHUYỂN BỆNH NHÂN CẢ NGÀY
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRƯƠNG LỰC CƠ CỦA HỌ VÀ TỪ ĐÓ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CỬ ĐỘNG CỦA HỌ !
Trương lực thấp (giảm trương lực)
- chú ý tránh gây tổn hại đến những khớp không được bảo vệ đặc biệt là vai và đầu gối (có thể duỗi quá mức) Chú ý không kéo giãn quá mức
Trang 13- việc điều trị là nhằm hỗ trợ bình thường hóa trương lực bằng cách tạo thuận
Trương lực cao (tăng trương lực)
- thấy được sự cứng cơ kiểu ống chì và co cứng kiểu tháp
1) Cứng cơ kiểu ống chì
- trương lực tăng trong suốt toàn bộ tầm vận động của cử động thụ động với
cả hai nhóm cơ chủ vận và cơ đối vận đều bị ảnh hưởng cùng lúc
- có thể theo kiểu ‘ống chì’ (cảm nhận được sự đề kháng trong suốt toàn bộ cửđộng) hoặc theo kiểu ‘bánh xe răng cưa’ (sự đề kháng từng cơn trong suốt toàn bộ tầm vận động)
- phản xạ gân tăng cao ở phần lớn trường hợp
- Đây là một đặc điểm của hội chứng ngoại tháp và đi kèm với những tình trạng như bệnh Parkinson
2) Co cứng kiểu tháp
- được định nghĩa là sự đề kháng phụ thuộc vào tốc độ vận động thụ động khi kéo giãn cơ có tình trạng tăng quá mức phản xạ gân xương Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào tốc độ của cử động
Đa xơ cứng
- do kết hợp việc mất khả năng ức chế với việc tạo thuận/kích thích quá nhiều
- bệnh nhân đôi khi dùng sự co cứng kiểu tháp để giúp hỗ trợ họ ngồi và đứng nên hãy cẩn thận với việc này khi điều trị co cứng kiểu tháp Nhưng co cứng kiểu tháp
có thể hạn chế cử động dẫn đến co thắt, co giật và sự thích nghi của các mô mềm
Trang 14Có nhiều bằng chứng cho thấy các thông tin đầu vào hướng tâm (cảm giác) có thể ảnh hưởng đến vận động đầu ra do đó cách đặt tay để giúp di chuyển bệnh nhân đúng cách là rất quan trọng
- việc có tình trạng trương lực tăng kết hợp với liệt nhẹ / yếu cơ có thể ảnh hưởng đến sự co giật khớp và thay đổi về độ dài cơ Các bài tập kéo giãn chậm giúp duy trì hoặc ngăn ngừa việc mất đi tầm vận động
- Cơ bị co ngắn và bất động cho thấy :
Tâm cơ bị mất đi và mô liên kết gia tăng co cứng
- điều trị bằng cách duy trì độ dài của mô mềm, bình thường hóa trương lực và dạy lại cử động
Những kiểu mẫu phản xạ co cứng điển hình
Chúng tồn tại khi chi đang ở trạng thái nghỉ
Chi trên (kiểu mẫu cơ gập)
Đai vai : nâng lên / rút lại / xoay xuống dưới
Khớp vai : gập / xoay giữa / khép lại
Khuỷu tay : gập / lật sấp
Cổ tay / ngón tay : Nghiêng trụ / gập trụ
Chi dưới (kiểu mẫu cơ duỗi)
Đai chậu : nâng lên / nghiêng về phía trước (do giảm lực cơ bụng) Hông : gập / xoay giữa / khép lại
Đầu gối : duỗi (co cứng ở cơ tứ đầu )
Cổ chân / Ngón chân : gập bàn chân & xoay bàn chân vào trong / gập (quặp)
Trang 15Các mẫu đồng vận co cứng
Khi một người muốn cử động các chi một cách tự chủ, họ sẽ làm vậy theo một kiểu
rập khuôn, theo cử động đồng vận kiểu nguyên khối tức là chi không cử động một cách có chọn lọc mà các cử động ở từng khớp / cơ không thể tách rời nhau được Có
2 kiểu mẫu đồng vận ở từng chi
Chi dưới
Đồng vận cơ gập
Khung chậu – Nâng lên và rút lại
Hông – Mở ra / Gập / Xoay sang bên
Đầu gối – Gập
Bàn chân / ngón chân – Gập mu / Xoay bàn chân vào trong, Gập hoặc duỗi
Đồng vận cơ duỗi
Khung chậu – Rút lại
Hông – Duỗi / Khép lại / Xoay giữa
Đầu gối – Duỗi
Bàn chân / ngón chân – Gập bàn chân / Xoay bàn chân vào trong, Gập / Khép lại Chi trên
Đồng vận cơ gập
Đai vai – Nâng lên / Rút lại
Vai – Gập / Mở ra / Xoay giữa
Khuỷu tay – Gập / Lật sấp
Cổ tay / ngón tay – Gập / Khép lại / Đối ngón
Đồng vận cơ duỗi
Đai vai – Duỗi / Hạ xương vai
Vai – Duỗi / Khép lại / Xoay giữa
Khuỷu tay – Duỗi / Lật sấp
Cổ tay / ngón tay – Duỗi / Gập, Khép lại, Đối ngón
Trang 16
Phản ứng liên hợp (Associated Reactions – AR’s)
- những kiểu mẫu cử động rập khuôn bất thường mà sự gắng sức càng làm cho chúng tệ hơn
- những đặc điểm của sự co cứng mà ta có thể quan sát thấy được và xuất hiện trêntoàn bộ cơ thể nhưng phần lớn ở đầu xa ( cánh tay /bàn tay, chân/bàn chân )
Chúng không những chỉ khởi phát do hậu quả của việc cố gắng thực hiện một cử động, mà cả trong giai đoạn chuẩn bị cử động, ngoài ra cũng có thể khởi phát khi
cố gắng giao tiếp, nếu bị mất ngôn ngữ hoặc có vấn đề về nhận thức
- có thể là dấu hiệu cho thấy mức độ nghiêm trọng của co cứng Nếu để cho tiếp tục xuất hiện chúng có thể làm giảm mức độ chức năng Điều này có thể dẫn đến mất tầm vận động và co giật, co thắt
- Chúng ta có thể xem các phản ứng liên hợp như là một cách để hướng dẫn chúng ta biết việc điều trị đã có hiệu quả hay chưa
Bình thường hóa trương lực cơ (Những quy tắc chung)
- cử động và sự thẳng trục bình thường của các bộ phận cơ thể có thể ảnh hưởng trựctiếp đến trương lực cơ ở một vùng hoặc gián tiếp đến những bộ phận khác
ví dụ di động thân người và vai có thể giúp giảm trương lực ở cánh tay
- chúng ta phải di động những Điểm Chính (trung tâm, gần và xa)
- hệ thần kinh trung ương là một hệ thống linh hoạt (tính linh hoạt của thần kinh) và
có thể thay đổi để trở nên tốt hơn hoặc thay đổi để trở nên xấu đi
- Sử dụng các kỹ thuật thì có thể có ích, nhưng đánh giá đáp ứng tốt nhất của
bệnh nhân mới là cách giúp cho nhà trị liệu biết được phương pháp điều trị tốt nhất 1) Duy trì độ dài của mô mềm
- thay đổi về tầm vận động tạo ra sự mất cân bằng cơ và điều này có thể ảnh hưởng đến cử động
- Cần chú ý đến những cơ đi qua 2 khớp Ngoài ra chú ý để nó không quá mạnh vì
có thể gây ra canxi hóa bất thường (Heterotopic Ossification – HO) Cử động có thể ngăn ngừa được chứng bệnh này và vì vậy nên được khuyến khích nếu có canxi hóa bất thường (trong quá khứ những bệnh nhân này được cho nghỉ ngơi vì nghĩ rằng cử động sẽlàm cho canxi hóa bất thường (HO) trầm trọng thêm)