Quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo các yêu cầu về an toàn lao động trong thi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGÔ TUẤN NGHĨA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI DỰ ÁN HOME CITY – HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG NHÀ CAO TẦNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGÔ TUẤN NGHĨA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI DỰ ÁN HOME CITY – HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG NHÀ CAO TẦNG
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã số: 60580302
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS Vũ Thanh Te
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin được cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Chữ ký
Ngô Tuấn Nghĩa
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu thực hiện, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên
ngành quản lý xây dựng với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng quản lý an toàn lao động tại dự án Home City – Hà Nội và đề xuất một số giải pháp quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy giáo GS.TS Vũ Thanh Te đã tận tình hướng dẫn, góp ý để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học, khoa Công trình cùng các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy và tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian tác giả học tập chương trình Cao học tại trường Đại học Thủy lợi, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này
Trong khuôn khổ luận văn, do còn hạn chế về trình độ chuyên môn, cũng như thời gian có hạn nên trong quá trình thực hiện, tác giả không tránh khỏi sai sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 4
1.1 An toàn lao động trong xây dựng công trình 4
1.2 Công tác an toàn và quản lý an toàn lao động trong xây dựng 6
1.3 Ảnh hưởng của công tác quản lý an toàn lao động đến năng suất và chất lượng công trình 8
1.4 Công tác an toàn, quản lý an toàn trong thi công xây dựng ở Việt Nam hiện nay 10
1.4.1 Quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động 10
1.4.2 Thực trạng công tác an toàn, quản lý an toàn trong thi công xây dựng công trình 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 20
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 21
2.1 Cơ sở pháp lý về công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng 21
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp quy về an toàn lao động trong xây dựng công trình 22 2.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình 30
2.2 Cơ sở khoa học về công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng 33 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng 39
2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý an toàn lao động 39
2.3.2 Xác định mức ảnh hưởng của các nhân tố 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 51
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI DỰ ÁN HOME CITY, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG KHI THI CÔNG NHÀ CAO TẦNG 52
3.1 Giới thiệu về dự án HOME CITY 52
Trang 63.1.1 Thông tin chung 52
3.1.2 Quy mô dự án 52
3.1.3 Các mốc thời gian của dự án 53
3.2 Đánh giá công tác quản lý an toàn lao động tại dự án HOME CITY 53
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại dự án Home City qua phân tích với những nhân tố ảnh hưởng 53
3.2.2 Đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm 61
3.3 Đề xuất giải pháp quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình nhà cao tầng 63
3.3.1 Biện pháp tổ chức 63
3.3.2 Triển khai thực hiện 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC I 82
PHỤ LỤC II 87
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sơ đồ quản lý an toàn lao động 13
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức của nhà thầu cơ điện Sigma [8] 15
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức công trường của Công ty cổ phần đầu tư Viễn Tin 15
Hình 1.4 Công nhân làm việc trên cao không trang bị bảo hộ 18
Hình 2.1 An toàn khi làm việc trên giàn dáo 35
Hình 2.2 An toàn khi làm việc tại vị trí dễ có vật rơi từ trên cao 38
Hình 2.3 Các nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quản lý an toàn lao động 46
Hình 3.1 Mặt bằng tổng thể dự án Home City 52
Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức quản lý an toàn lao động tại dự án Home City 54
Hình 3.3 Đề xuất sơ đồ tổ chức quản lý an toàn lao động trong công trường xây dựng 64
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1 So sánh hệ quả khi thực hiện công tác an toàn, quản lý an toàn tốt và chưa tốt 9Bảng 1-2 Tỉ lệ tai nạn lao động trong ngành xây dựng ba năm 2014, 2015, 2016 [9] 16Bảng 2-1 Kết quả tính toán mức ảnh hưởng của các nhân tố tới quản lý ATLĐ 49Bảng 3-1 Phân tích nhân tố Trình độ tổ chức thực hiện ATLĐ của người quản lý 55Bảng 3-2 Phân tích nhân tố năng lực giám sát điều kiện an toàn trên công trường của người quản lý 57
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATLĐ: An toàn lao động
ATVSLĐ: An toàn vệ sinh lao động
Trang 10MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước tiến vượt bậc,
sự tăng trưởng nhanh chóng của kinh tế có sự đóng góp to lớn của ngành Xây dựng Với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, số lượng các dự án, công trình xây dựng với quy
mô lớn, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ hiện đại cũng được triển khai ngày càng nhiều Các công nghệ, thiết bị tiên tiến được cập nhật và ứng dụng rộng rãi đem lại năng suất, hiệu quả và chất lượng cao hơn là minh chứng cho sự tiếp thu và hội nhập mạnh mẽ của ngành Xây dựng với khu vực và thế giới
Với vai trò và sự phát triển nhanh chóng của ngành, hoạt động quản lý xây dựng cũng được đẩy mạnh và được các cấp quản lý quan tâm chú trọng nhằm đưa dự án xây dựng tới các mục tiêu: Đảm bảo chất lượng công trình, tiết kiệm chi phí, đúng tiến độ, an toàn lao động và đảm bảo vệ sinh môi trường
Tuy nhiên trong những mục tiêu trên thì an toàn lao động vẫn còn là một trong những vấn đề nan giải và chưa được giải quyết triệt để Với đặc thù của mình, ngành Xây dựng là một ngành nghề có điều kiện lao động khó khăn, tỷ lệ tai nạn lao động cao hơn
so với những ngành nghề khác Số lượng thống kê năm 2015 cho thấy, ngành Xây dựng xảy ra nhiều tai nạn lao động nhất trên cả nước chiếm khoảng 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và chiếm khoảng 37,9% tổng số người chết [1] Tai nạn trong xây dựng gây nên nhiều tổn hại cho cá nhân, tập thể, giảm động cơ làm việc của công nhân, gián đoạn tiến trình thực hiện dự án, chậm tiến độ, giảm danh tiếng của nhà quản
lý xây dựng
Có nhiều nguyên nhân lý giải cho tình trạng mất an toàn lao động: đặc điểm làm việc của dự án, công tác quản lý an toàn lao động trên công trường của các ban ngành liên quan còn yếu kém, việc thực hiện an toàn lao động không nghiêm túc của nhà thầu thi công, tổ đội thi công và người công nhân…Trước tình hình đó, nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý an toàn lao động ngoài việc thực hiện theo các quy định, tiêu
Trang 11chuẩn của các văn bản pháp quy thì việc nghiên cứu, phân tích về công tác quản lý cũng như thực hiện an toàn lao động là rất cần thiết Những hạn chế, sự cố về an toàn lao động ở các công trình, dự án trước có thể là một điều đáng quên nhưng chúng cũng chắc chắn sẽ là bài học kinh nghiệm sâu sắc cho người quản lý ở những công trình dự
án tương lai về đảm bảo an toàn lao động
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý an toàn lao động tại dự án HOME CITY – Hà Nội, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp cụ thể về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình nhà cao tầng
2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu công tác quản lý an toàn lao động của dự án HOME CITY
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp kế thừa: Dựa trên các giáo trình, các quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến công tác quản lý an toàn lao động, các chuyên đề nghiên cứu đã được công nhận Phương pháp điều tra, thu thập, phân tích các tài liệu liên quan đến công tác quản lý an toàn lao động
Phương pháp thống kê, phân tích đánh giá số liệu: Dựa trên số liệu thực tế thu thập được, lập biểu đồ phân tích số liệu và đưa ra đánh giá nhận xét
Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn, các chuyên gia có kinh nghiệm nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất
V KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trang 12Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý an toàn lao động tại các công trình xây dựng nhà cao tầng, công trình dân dụng xây dựng hiện nay
Đánh giá công tác quản lý thực hiện an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình tại dự án Hà Nội Home City
Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiểu quả công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng, công trình dân dụng
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG
1.1 An toàn lao động trong xây dựng công trình
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, quá trình lao động sẽ tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân của mỗi người lao động Trong quá trình ấy, con người luôn làm việc trong những môi trường mang tính đặc thù của công việc, tiếp xúc với máy móc, thiết bị phục vụ lao động đó là một quá trình hoạt động phong phú, đa dạng và rất phức tạp; những mối nguy hiểm, rủi ro luôn rình rập thường trực sẵn sàng làm người lao động gặp tai nạn và những vấn đề sức khoe do bệnh nghề nghiệp
An toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), trước còn gọi là Bảo hộ lao động, tiếng Anh: Occupational safety and health (OSH) hay Occupational health and safety (OHS) hoặc Workplace health and safety (WHS) được hình thành như một lĩnh vực liên quan đến
an toàn, sức khỏe và phúc lợi người tham gia vào công việc hoặc việc làm Tổng hợp tất cả các hoạt động trên các mặt luật pháp, tổ chức, hành chính, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu là thúc đẩy một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh như cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người lao động [2]
Có nhiều định nghĩa giải thích về an toàn lao động, nhưng nội dung đều khẳng định an toàn lao động là tình trạng điều kiện lao động không gây nguy hiểm trong sản xuất [3] Một số định nghĩa:
- An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yêu tố nguy hiểm nhằm đảm bảo không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [4]
- An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là giải pháp phòng, chống tác
Trang 14khỏe, thương tật, tử vong đối với con người, ngăn ngừa sự cố gây mất an toàn lao động trong quá trình thi công xây dựng công trình [5]
- Bảo hộ lao động là hệ thống bao gồm các văn bản pháp luật và các biện pháp tương ứng về tổ chức, kỹ thuật, vệ sinh và kinh tế xã hội nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và khả năng lao động của con người trong quá trình lao động (tiêu chuẩn TCVN 3153:79) Bảo hộ lao động là một môn khoa học về an toàn và vệ sinh lao động, an toàn phòng chống cháy nổ (tức các mặt về an toàn vệ sinh môi trường lao động) Cu thể, bảo hộ lao động nghiên cứu các nguyên nhân và tìm các giải pháp phòng ngừa tai nạn lao động, sự cố cháy nổ trong sản xuất; đồng thời tìm giải pháp đảm bảo sức khỏe
và an toàn tính mạng cho người lao động
- Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội, kỹ thuật, tổ chức thực hiện quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động con người trong quá trình sản xuất Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động Đối với quá trình công nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn đến người lao động Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức khỏe người lao động
- Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động
- Yếu tố nguy hiểm có hại là: trong một điều kiện cụ thể bao giờ cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động cụ thể là các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại, bụi… các yếu tố hóa học như hóa chất độc hại, các loại hơi, khí, các chất phóng xạ…Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng…Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do
Trang 15không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh… Các yếu tố tâm lý không thuận lợi…
- Tai nạn lao động là tai nạn gây ra cho bất cứ bộ phận, chức năng nào trong cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạn lao động Tai nạn lao động được phân ra: chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp Chấn thương là tai nạn mà kết quả gây nên những chấn thương hay hủy hoại một phần cơ thể người lao động, làm tổn thương tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong Chấn thương có tác dụng đột ngột
- Bệnh nghề nghiêp: là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại, bất lợi (tiếng ồn, rung…) đối với người lao động Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu dần sức khỏe hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động một cách dần dần và lâu dài Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự hủy hoại sức khỏe do tác dụng của các chất độc xâm nhập vào cơ thể người lao động trong điều kiện sản xuất Đây là hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp
1.2 Công tác an toàn và quản lý an toàn lao động trong xây dựng
Trong thi công xây dựng công trình, để đảm bảo yêu cầu về an toàn lao động, công tác
an toàn lao động là hoạt động sử dụng các hệ thống biện pháp kỹ thuật về an toàn trong quá trình thi công xây dựng
Hiện nay nhận thức của xã hội về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình ngày càng được nâng cao Trong thi công xây dựng, theo quy định, các chủ thể tham gia vào quá trình thi công như chủ đầu tư, nhà thầu thi công bắt buộc phải xây dựng giải pháp, biện pháp kỹ thuật cụ thể, phương án phòng chống giảm thiểu tai nạn trong quá trình thi công Bên cạnh đó, trong quá trình thi công xây dựng công trình, điều quan trọng nhất để đảm bảo an toàn lao động chính là lực lượng trực tiếp tham gia thi công trên công trường xây dựng: lực lượng công nhân, người lao động, đội ngũ cán bộ
kỹ thuật, giám sát nắm được các biện pháp đảm bảo an toàn lao động và thực hiện những biện pháp ấy một cách nghiêm túc
Trang 16Quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo các yêu cầu về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình [5]
Nội dung của công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình bao gồm [6]:
Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người lao động, thiết
bị, phương tiện thi công và công trình trước khi thi công xây dựng Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận
Các biện pháp an toàn và nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường phải được bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn
Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường Khi xảy ra sự cố mất
an toàn phải tạm dừng hoặc đình chỉ thi công đến khi khắc phục xong mới được tiếp tục thi công, người để xảy ra vi phạm về an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn, phổ biến, tập huấn các quy định về an toàn lao động Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động phải có giấy chứng nhận huấn luyện an toàn lao động theo quy định của pháp luật về an toàn lao động Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được huấn luyện và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động
Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các trang thiết bị bảo
vệ cá nhân, an toàn lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường
Nhà thầu thi công có trách nhiệm bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm làm công tác an toàn, vệ sinh lao động như sau:
- Đối với công trường của nhà thầu có tổng số lao động trực tiếp đến dưới 50 (năm mươi) người thì cán bộ kỹ thuật thi công có thể kiêm nhiệm làm công tác an toàn, vệ sinh lao động;
Trang 17- Đối với công trường của nhà thầu có tổng số lao động trực tiếp từ 50 (năm mươi) người trở lên thì phải bố trí ít nhất 1 (một) cán bộ chuyên trách làm công tác an toàn,
vệ sinh lao động;
- Đối với công trường của nhà thầu có tổng số lao động trực tiếp từ 1.000 (một nghìn) người trở lên thì phải thành lập phòng hoặc ban an toàn, vệ sinh lao động hoặc bố trí tối thiểu 2 (hai) cán bộ chuyên trách làm công tác an toàn, vệ sinh lao động;
- Người làm công tác chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động phải có chứng chỉ hành nghề
Số lượng cán bộ chuyên trách làm công tác an toàn cần được bố trí phù hợp với quy
mô công trường, mức độ rủi ro xảy ra tai nạn lao động của công trường cụ thể
Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng theo phân cấp quản lý có trách nhiệm kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất công tác quản lý an toàn lao động trên công trường của chủ đầu tư và các nhà thầu Trường hợp công trình xây dựng thuộc đối tượng cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra công tác nghiệm thu thì công tác kiểm tra an toàn lao động được phối hợp kiểm tra đồng thời
Bộ Xây dựng quy định về công tác an toàn lao động trong thi công xây dựng
1.3 Ảnh hưởng của công tác quản lý an toàn lao động đến năng suất và chất lượng công trình
Trong quá trình lao động sản xuất nói chung và trong quá trình thi công xây dựng công trình nói riêng, người lao động tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm là lực lượng chủ chốt, lực lượng này chính là nhân tố chính quyết định chất lượng sản phẩm chất lượng công trình
Vì vậy, yêu cầu đặt ra về đảm bảo môi trường thuận lợi nhất, triệt tiêu triệt để những nguy cơ nguy hiểm với người lao động khi tham gia thi công xây dựng công trình là yêu cầu cấp thiết và cần được quan tâm Vai trò của công tác an toàn lao động, quản lý
an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình có ý nghĩa rất quan trọng Công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng có những vai trò sau:
Tạo môi trường làm việc an toàn, tạo ý thức về an toàn trong lao động sản xuất
Trang 18 Ngăn ngừa các nguy cơ dẫn đến tai nạn và nguy cơ mất an toàn trong thi công xây dựng
Hạn chế và giảm thiểu tối đa tai nạn lao động trong xây dựng
Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động
Ngoài những giải pháp, biện pháp kỹ thuật khi triển khai thi công xây dựng công trình, ảnh hưởng của công tác quản lý an toàn tới năng suất và chất lượng công trình là rất lớn Công tác an toàn, quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình nếu được thực hiện một cách đầy đủ, triệt để với sự tham gia đồng loạt của các chủ thể tham gia vào quá trình thi công sẽ tạo ra những hệ quả rất tích cực Trái lại, nếu công tác an toàn lao động, quản lý an toàn lao động thực hiện thiết hiệu quả hoặc không được thực hiện sẽ dẫn tới những hệ quả xấu
Ta có bảng so sánh những hệ quả qua hai trường hợp trên
Bảng 1-1 So sánh hệ quả khi thực hiện công tác an toàn, quản lý an toàn tốt và chưa tốt
Quản lý ATLĐ hiệu quả Quản lý ATLĐ không hiệu quả
- Quản lý ATLĐ không tốt khiến thường xuyên xảy ra tai nạn lao động Người lao động làm việc trong trạng thái hoang mang, lo lắng => chất lượng sản phẩm lao động không tốt, năng suất giảm
- Nắm được các quyền lợi chính đáng
- Không được biết các quyền lợi của bản thân khi tham gia lao động sản xuất
Trang 19Quản lý ATLĐ hiệu quả Quản lý ATLĐ không hiệu quả
- Sức khỏe được đảm bảo, tạo ra của cải vật chất phục
vụ bản thân, gia đình, xã hội
- Nguy cơ tai nạn trong lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội
Tai nạn trong xây dựng gây nên nhiều tổn thất: sức khỏe, tính mạng người lao động; tổn thất chi phí cho xử lý tai nạn, thương tật; làm giảm động cơ làm việc của công nhân; làm giảm tiến trình thực hiện dự án, chậm tiến độ, giảm năng suất, chất lượng công trình, làm giảm danh tiếng của nhà quản lý xây dựng Vì vậy, công tác quản lý an toàn lao động khi thi công xây dựng công trình ngoài mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc trong việc bảo vệ an toàn tính mạng của người lao động còn có sự ảnh hưởng rất lớn tới năng suất, chất lượng của công trình xây dựng
1.4 Công tác an toàn, quản lý an toàn trong thi công xây dựng ở Việt Nam hiện nay
1.4.1 Quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động
Chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - thương binh và Xã hội, Bộ Y tế phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Căn cứ vào chương trình này, hàng năm Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính lập kinh phí đầu tư cho chương trình để đưa vào
kế hoạch ngân sách của Nhà nước
Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong phạm vi cả nước Hội đồng quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động
do Thủ tướng thành lập có nhiệm vụ tư vấn cho thủ tướng Chính phủ và tổ chức phối hợp hoạt động của các ngành, các cấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Theo Nghị định 14/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ, tại Khoản
11 Điều 2 đã quy định rất rõ nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Bộ có trách nhiệm xây dựng, trình
Trang 20ban hành hoặc ban hành văn bản pháp luật, các chính sách chế độ về bảo hộ lao động,
an toàn lao động, vệ sinh lao động; xây dựng, ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm nhà nước về an toàn lao động; ban hành tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động; hướng dẫn chỉ đạo thực hiện thanh tra về an toàn lao động, vệ sinh lao động; huấn luyện về an toàn lao động; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn lao động Về cơ cấu tổ chức, Cục an toàn lao động là đơn vị trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật [7]
Bộ Y tế có trách nhiệm xây dựng, ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm
vệ sinh lao động, tiêu chuẩn sức khỏe đối với các nghề, các công việc; thanh tra về vệ sinh lao động; tổ chức khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vệ sinh lao động
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm quản lý thống nhất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật về an toàn lao động, vệ sinh lao động; ban hành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, quy cách các phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo việc đưa nội dung an toàn lao động, vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy trong các trường đại học, các trường kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý và dạy nghề;
Các Bộ, ngành có trách nhiệm xây dựng ban hành hệ thống tiêu chuẩn quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động cấp ngành sau khi có thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế Trong ngành Xây Dựng, Bộ Xây dựng có trách nhiệm ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao động trong việc lập biện pháp kỹ thuật và tổ chức thi công xây dựng công trình; an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sử dụng trong thi công xây dựng
Việc quản lý Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy,
Trang 21đường bộ, đường hàng không và các đơn vị lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý ngành đó chịu trách nhiệm có sự phối hợp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Bộ Y tế;
Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý Nhà nước
về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong phạm vi địa phương mình; xây dựng các mục tiêu bảo đảm an toàn, vệ sinh và cải thiện điều kiện lao động đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của địa phương
Trong suốt quá trình phát triển của đất nước từ khi giành độc lập đến nay, công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho công tác này những bước tiến quan trọng, từ việc thiết lập, củng cố bộ máy cán bộ làm công tác này từ Trung ương đến địa phương, hàng loạt các chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn Quốc gia
về an toàn lao động, vệ sinh lao động được ban hành làm cơ sở để xây dựng các quy trình làm việc bảo đảm an toàn Để thúc đẩy công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong phạm vi cả nước, từ năm 2006 đến nay, Chính phủ đã ban hành Chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao động giai đoạn 2006-2010; Chương trình Quốc gia về An toàn lao động, vệ sinh lao động giai đoạn 2011-2015; Chương trình Quốc gia về An toàn lao động, vệ sinh lao động giai đoạn 2011-2015 với nhiều mục tiêu đã góp phần quan trọng trong việc làm giảm tần suất tai nạn lao động, làm chuyển biến nhận thức
về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động ở các cấp, các ngành, các doanh nghiệp
và đông đảo người dân, người lao động trong phạm vi cả nước
Tuy nhiên, sự thay đổi nhanh chóng của đất nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội
đã làm cho công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động chưa theo kịp với sự phát triển
và bộc lộ những hạn chế cần phải được thay đổi Chính sách hội nhập và thu hút đầu tư
đã kéo theo sự phát triển nhanh về khoa học, kỹ thuật; nhiều công nghệ sản xuất mới được hình thành hoặc thiết bị mới được du nhập; sự gia tăng nhanh chóng số lượng các
dự án và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã làm gia tăng các nguy cơ về an toàn lao động, vệ sinh lao động cả về phạm vi, tính chất, mức độ tác động, số vụ tai nạn lao động xảy ra vẫn ở mức độ cao, trong đó có nhiều vụ tai nạn lao
Trang 22Mặc dù với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc của các bộ ngành về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thời gian qua là rất tích cực, song những hạn chế, tồn tại hiện nay về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động không dễ khắc phục trong một sớm một chiều Do khó khăn chung của nền kinh tế, việc đầu tư cho công tác này còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu thực tế; trong khi đó, nguồn nhân lực để thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động từ Trung ương đến cơ sở thì còn quá ít về số lượng, yếu về chất lượng do không được đào tạo bài bản Với tình hình khó khăn về biên chế cán bộ quản lý Nhà nước hiện tại, rõ ràng để giải bài toán này không hề đơn giản Với tốc độ phát triển như hiện nay thì trong tương lai rất gần, chúng ta sẽ phải đối mặt với những thách thức ngày càng tăng về công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động và nếu không có các giải pháp hữu hiệu thì hậu quả của nó sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hội nhập và phát triển bền vững
1.4.2 Thực trạng công tác an toàn, quản lý an toàn trong thi công xây dựng công
Bộ phận ATVSLĐ Nhà thầu thi công
Bộ phận ATVSLĐ Cán bộ ATVSLĐ
Trang 23Ban Quản lý dự án: Ban quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ do chủ đầu tư giao và quyền hạn do chủ đầu tư ủy quyền Ban Quản lý dự án chịu trách nhiệm trước chủ đầu
tư, pháp luật theo nhiệm vụ được giao và quyền hạn được ủy quyền;
Tư vấn: Là tổ chức hoặc cá nhân hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực tư vấn xây dựng hoặc là các chuyên gia tư vấn có kiến thức rộng trong lĩnh vực xây dựng;
Trách nhiệm của Ban quản lý dự án và tư vấn với công tác an toàn, quản lý an toàn lao động:
Giám sát việc thực hiện của nhà thầu tuân thủ các biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn đã được phê duyệt, tuân thủ các quy phạm kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng
Thông báo cho chủ đầu tư những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến an toàn trong quá trình thi công để có các giải pháp xử lý và điều chỉnh biện pháp thi công cho phù hợp
Kiểm tra, báo cáo chủ đầu tư xử lý vi phạm, dừng thi công hoặc yêu cầu khắc phục khi nhà thầu thi công vi phạm các quy định về an toàn trên công trường
Nhà thầu thi công (thầu chính và thầu phụ): Là tổ chức hoặc cá nhân thực hiện công tác xây dựng Những tổ chức, cá nhân này có đủ năng lực và chuyên nghiệp trong hoạt động xây dựng; Lấy ví dụ minh họa về sơ đồ tổ chức về an toàn lao động của một số nhà thầu
Trang 24Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức của nhà thầu cơ điện Sigma [8]
Theo đó, Bộ phận an toàn chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban lãnh đạo công ty về các vấn đề liên quan đến an toàn lao động, quản lý an toàn lao động tại các dự án nhà thầu tham gia
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức công trường của Công ty cổ phần đầu tư Viễn Tin
Trang 25Bộ phận an toàn, vệ sinh lao động: Là bộ phận tham mưu, giúp việc cho người sử dụng lao động trong việc tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động
Mặc dù, được sự hỗ trợ từ các hướng dẫn, quy định của hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện công tác an toàn, quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, việc thực hiện công tác an toàn, quản lý an toàn trên các công trường xây dựng hiện nay vẫn chưa hiệu quả, tình trạng mất an toàn lao động, tai nan lao động vẫn xảy ra hàng ngày, hàng giờ Tai nạn lao động vẫn luôn là vấn đề nhức nhối trong công tác quản lý an toàn lao động nói riêng và quản lý dự án thi công xây dựng công trình nói chung
Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, ba năm gần đây nhất, ngành Xây dựng vẫn là ngành nghề xảy ra nhiều vụ tai nạn và nhiều vụ tai nạn có người chết nhất
Bảng 1-2 Tỉ lệ tai nạn lao động trong ngành xây dựng ba năm 2014, 2015, 2016 [9]
Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất vẫn là
- Ngã từ trên cao chiếm 22,8% tổng số vụ và 21,8% tổng số người chết;
- Điện giật chiếm 13,4% tổng số vụ và 12,5% tổng số người chết;
- Vật rơi, đổ sập chiếm 12,4% tổng số vụ và 15,3% tổng số người chết;
Nguyên nhân chủ yếu để xay ra tai nạn nạn lao đọng chết người là
Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 42,1%, cụ thể:
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 17,8% tổng số vụ;
Trang 26- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 8,4% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động hoặc huấn luyện an toàn lao động chưa đầy đủ cho người lao động chiếm 11,4% tổng số vụ;
- Do tổ chức lao động và điều kiện lao động chiếm 3% tổng số vụ;
- Do người sử dụng lao động không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động chiếm 1,5%
Nguyên nhân người lao động chiếm 17,3%, cụ thể:
- Người lao động bị nạn vi phạm quy trình quy chuẩn an toàn lao động chiếm 15,3% tổng số vụ;
- Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 2% tổng số vụ;
Còn lại 40,6% là những vụ tai nạn lao động xảy ra do các nguyên nhân khác
Một trong những nguyên nhân để xảy ra tình trạng mất an toàn lao động đó là các đơn
vị tham gia thi công không chấp hành nghiêm các quy định về an toàn kỹ thuật trong xây dựng, không thực hiện các biện pháp an toàn lao động như hồ sơ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Ý thức của công nhân còn kém và có tính chủ quan Bên cạnh
đó, sự buông lỏng quản lý của cơ quan quản lý về an toàn lao động tại các địa phương
ở khu vực xây dựng công trình cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho tai nạn lao động vẫn xảy ra Về cơ bản công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình còn tồn tại một số vấn đề như sau:
- Quản lý an toàn lao động còn lỏng lẻo, chưa được quan tâm chú trọng, các đơn vị thi công chưa thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật về bảo hộ lao động, công tác an toàn lao động tại các công trường còn nhiều sai sót, một số hình thức chỉ mang tính đối phó;
- Về tổ chức mặt bằng công trường xây dựng, hầu hết các công trình có thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng nhưng không niêm yết tại cổng chính của công trường theo quy định, không thực hiện theo thiết kế của mặt bằng thi công;
- An toàn sử dụng điện và chống ngã cao vẫn là các vấn đề thường trực ở các công trường xây dựng Các vi phạm như không nối đất vỏ các tủ điện, dây dẫn điện không
Trang 27treo mà dải dưới đất (kể cả trên bề mặt sàn đọng nước), không sử dụng ổ cắm chuyên dụng hoặc sử dụng thiết bị điện cầm tay nhưng không thực hiện đo cách điện trước khi đưa vào sử dụng Các công trình không lắp đặt đủ bộ phận ngăn ngã cao tại các mép sàn, hố thang máy, lỗ thông tầng, nhiều vị trí chỉ căng dây cáp hoặc dây nhựa, thiếu bảng cảnh báo khu vực nguy hiểm;
- Các công trường không trang bị đủ bảo hộ lao động cho công nhân, phổ biến là thiếu giầy, quần áo bảo hộ lao động (thường chỉ trang bị mũ);
- Việc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động của công nhân vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, thường là công nhân không sử dụng đủ trang thiết bị bảo hộ lao động được cấp như: giầy, mũ hoặc dây đeo an toàn; chưa tự giác trong sử dụng các phương tiện bảo
hộ bảo vệ cho bản thân;
Hình 1.4 Công nhân làm việc trên cao không trang bị bảo hộ
- Về phòng chống cháy nổ, hầu hết các công trình đã kiểm tra đều không có hoặc có nhưng không đầy đủ phương án phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cho công trường Việc
bố trí thiết bị chữa cháy cục bộ tại khu vực đang thực hiện những công việc dễ xảy ra cháy (thi công hàn, cắt, lắp đặt hệ thống lạnh…) vẫn chưa đầy đủ, nhiều công trình bố trí thiếu số lượng bình chữa cháy, tiêu lệnh chữa cháy tại những vị trí này;
- Quản lý sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn còn nhiều bất cập như: không kiểm tra, kiểm định theo định kỳ, thậm chí một số loại máy móc, thiết bị,
Trang 28phương tiện thi công không có kiểm định, không có xuất sứ và thiết bị phụ trợ kèm theo, một số thiết bị, máy móc có kiểm định nhưng đã hết hạn
- Không đảm bảo an toàn về môi trường làm việc cũng như kiểm tra định kỳ về sức khỏe, huấn luyện bổ sung kiến thức an toàn của người lao động trong quá trình thi công;
- Chế tài xử phạt các nhà thầu thi công trong việc không thực hiện đảm bảo an toàn lao động còn nhẹ Đặc biệt là chế tài xử phạt cá nhân vi phạm trong việc đảm bảo an toàn an lao động hầu như không có, hình thức xử phạt công nhân vi phạm mới chỉ dừng ở mức độ nhắc nhở, và yêu cầu thực hiện
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Qua “Chương I: Tổng quan về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng” tác giả đã giới thiệu những khái niệm cơ bản về công tác tổ chức an toàn lao động trong sản xuất nói chung và trong thi công xây dựng công trình nói riêng Với đặc thù môi trường làm việc nguy hiểm, ngành Xây dựng là ngành có tỉ lệ tai nạn lao động cao không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, các cơ quan ban ngành, các tổ chức lao động giành sự quan tâm rất lớn cho công tác tổ chức thực hiện an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề có thể giải quyết một sớm một chiều, tai nạn lao động trong xây dựng vẫn hàng ngày hàng giờ xảy ra gây rất nhiều thiệt hại cho toàn xã hội Chính
vì thế phải có sự phân tích nghiên cứu kỹ lưỡng, sự tham gia phối hợp của toàn thể bộ máy lao động thì công tác an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất
Trang 30CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở pháp lý về công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng
Trước đây, an toàn lao động là một bộ phận nằm trong chế định bảo hộ lao động Bảo
hộ lao động gồm 4 phần: Luật pháp bảo hộ lao động; Vệ sinh lao động; Kỹ thuật an toàn lao động và Kỹ thuật phòng chống cháy
Bảo hộ lao động luôn là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam Các quan điểm cơ bản đã được thể hiện trong sắc lệnh 29/SL ngày 12 tháng 3 năm 1947, trong Hiến pháp năm 1958; Hiến pháp năm 1992 và trong Bộ luật lao động năm 1994;
cụ thể là:
(1) Con người là vốn quý nhất của xã hội: Người lao động vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Bảo hộ lao động là một phần quan trọng, là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội: “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao động; trí óc mở mang cũng là nhờ lao động Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ loài người” (Hồ Chí Minh – Con người và vấn đề Chủ nghĩa
Xã hội – Nhà xuất bản Sự thật năm 1961)
(2) Bảo hộ lao động phải được thực hiện đồng thời với quá trình tổ chức lao động sản xuất: Ở đâu, khi nào có hoạt động sản xuất thì ở đó phải tổ chức công tác Bảo hộ lao động theo đúng phương châm “Bảo đảm an toàn để sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an
toàn lao động”
(3) Công tác Bảo hộ lao động phải thực hiện đầy đủ 3 tính chất: Khoa học kỹ thuật; luật pháp và quần chúng mới đạt hiệu quả cao
(4) Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm chính trong việc Bảo hộ lao động cho
người lao động: Nhà nước bảo vệ quyền được bảo hộ lao động của người lao động và
lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua pháp luật về Bảo hộ lao động
Trang 31Chỉ có đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai chủ thể trong quan hệ lao động mới nâng cao được nghĩa vụ của các bên trong công tác bảo đảm an toàn và
sức khỏe lao động
Từ những quan điểm trên của Đảng và Nhà nước, quản lý Nhà nước về công tác Bảo
hộ lao động, An toàn lao động được thực hiện thông qua hệ thống các văn bản pháp luật bao gồm: Tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật an toàn, tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động, quy phạm quản lý và các chế độ áp dụng
Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của Đất nước và hội nhập Quốc tế, công tác xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật về an toàn lao động nói riêng đã được các cấp ngành ngày càng quan tâm chú trọng
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn - vệ sinh lao động đã được xây dựng và ban hành như Luật Lao động; Luật An toàn, Vệ sinh lao động; các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật cũng đã được ban hành Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn lao động khá đầy đủ, quy định các quy chuẩn, quy phạm kỹ thuật và hướng dẫn chi tiết về các hoạt động, kiểm định, huấn luyện về công tác đảm bảo an toàn lao động, bên cạnh đó còn quy định về cả lứa tuổi cũng như các công việc phù hợp với lứa tuổi và danh mục các công việc có nguy cơ mất an toàn lao động cao, các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và các công việc đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp quy về an toàn lao động trong xây dựng công trình
2.1.1.1 Luật, Bộ luật
(1) Luật số 10/2012/QH13: Bộ luật Lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/06/2012
Quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người
sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quan hệ nhà nước về lao động
Trang 32Tại Chương IX của Bộ Luật này đã đề cập về quy định trách nhiệm của các cấp quản lý: Chính quyền; công đoàn; người sử dụng lao động; người lao động trong việc đảm bảo An toàn và vệ sinh lao động như sau:
Trách nhiệm của Chính phủ trong chương trình Quốc gia về An toàn và Vệ sinh lao động;
Trách nhiệm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong xây dựng chương trình Quốc gia về An toàn và Vệ sinh lao động;
Trách nhiệm và quyền hạn của người sử dụng lao động trong công tác đảm bảo An toàn và Vệ sinh lao động cho người lao động: Người sử dụng lao động phải trang bị phương tiện bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện lao động cho người lao động, đảm bảo không gian làm việc an toàn, kiêm tra, tu sửa nhà cửa, thiết bị, chăm lo sức khỏe cho người lao động, cấp cứu, điều trị cho những người bị tai nạn lao động và bồi thường cho người bị tai nạn lao động,…vv;
Trách nhiệm và quyền lợi của người lao động: Đáng chú ý là quyền từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng, đồng thời có trách nhiệm báo ngay với người phụ trách trực tiếp
(2) Luật số 84/2015/QH13: Luật An toàn, Vệ sinh Lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/06/2015
Quy định việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động
Luật An toàn, Vệ sinh Lao động được ban hành phù hợp với các quy định tại các công ước của ILO (International Labour Organization – Tổ chức lao động quốc tế) mà Việt Nam phê chuẩn, gia nhập Tại Công ước số 155 và Công ước số 187 của ILO đã quy định các nước thành viên phải chủ động các bước để tiến đến môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua chính sách hệ thống và chương trình quốc gia về an toàn,
vệ sinh lao động phù hợp
Trang 332.1.1.2 Nghị định
(1) Nghị định 45/2013/NĐ-CP ban hành ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động;
(2) Nghị định 59/2015/NĐ-CP ban hành ngày 18/06/2015 của Chính phủ về Quản lý
dự án đầu tư xây dựng;
Nghị định này đã quy định rõ về nhiệm vụ của các đơn vị tham gia vào dự án đầu tư xây dựng công trình (nhà thầu, chủ đầu tư, tư vấn giám sát…) cần thực hiện để đảm bảo an toàn lao động trong xây dựng công trình
(3) Nghị định 37/2016/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc;
(4) Nghị định 39/2016/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động
Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc; khai báo điều tra, thống
kế và báo cáo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động và sự
cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; an toàn, vệ sinh lao động đối với một số lao động đặc thù; an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất kinh doanh; quản lý nhà nước về an toàn lao động;
(5) Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động;
(6) Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ban hành ngày 14/04/2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Trang 34(6) Thông tư 14/2013/TT-BYT: về việc hướng dẫn khám sức khỏe;
(7) Thông tư 04/2014/TT-BLĐTBXH: về việc hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân;
(8) Thông tư 31/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc quy định chi tiết một số nội dung về an toàn điện;
(9) Thông tư 36/2014/TT-BCT: về việc quy định về huấn luyện kỹ thuật an toàn hóa chất và cấp Giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn hóa chất;
(10) Thông tư 04/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
(11) Thông tư 07/2016/TT-BLĐTBXH: Quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh;
(12) Thông tư 08/2016/TT-BLĐTBXH: Hướng dẫn việc thu thập, lưu trữ, tổng hợp, cung cấp, công bố, đánh giá về tình hình tai nạn lao động và sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng;
Trang 35(13) Thông tư 13/2016/TT-BLĐTXH: Ban hành Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động;
(14) Thông tư 41/2016/TT-BLĐTBXH quy định giá tối thiểu đối với dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt
về an toàn lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành; (15) Thông tư 53/2016/TT-BLĐTBXH danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Lao động - Thương binh và
(18) Thông tư 28/2016/TT-BYT: Hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp;
(19) Thông tư 15/2016/TT-BLĐTBXH Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành;
(20) Thông tư 54/2016/TT-BLĐTBXH Ban hành 30 quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
(21) Thông tư 29/2016/TT-BXD Ban hành quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn đối với cần trục tháp, máy vận thăng và sàn treo nâng người sử dụng trong thi công xây dựng;
(22) Thông tư 02/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn tổ chức Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động;
(23) Thông tư 04/2017/TT-BXD Quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình;
Trang 36(24) Thông tư 16/2017/TT-BLĐTBXH: Quy định chi tiết một số nội dung về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động;
(25) Thông tư 09/2017/TT-BCT quy định hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương;
(26) Thông tư 19/2017/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành; (27) Thông tư 10/2017/TT-BCT ban hành quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương;
(28) Thông tư số 11/2017/TT-BXD ban hành quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn đối với hệ thống cốp pha trượt; cần phân phối bê tông độc lập; máy khoan, máy ép cọc, đóng cọc sử dụng trong thi công xây dựng công trình;
(3) Chỉ thị số 03/CT-BXD ban hành ngày 11/11/2013 của Bộ Xây dựng về việc tăng cường quản lý chất lượng đảm bảo an toàn hệ thống giàn giáo sử dụng trong thi công xây dựng công trình;
(4) Chỉ thị số 01/2009/CT-BXD ban hành ngày 18/3/2009 về việc tăng cường chỉ đạo
và tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo An toàn và vệ sinh lao động trong ngành xây dựng;
Trang 37(5) Chỉ thị số 10/2008/CT-TTg ban hành ngày 14/3/2008 về việc tăng cường thực hiện công tác bảo hộ lao động và an toàn lao động;
2.1.1.5 Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn
Để đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ trong sản xuất, Nhà Nước đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn có liên quan đến An toàn và vệ sinh lao động Hệ thống các Tiêu chuẩn và Quy chuẩn này được trình bày dưới dạng các văn bản hướng dẫn, quy tắc, quy định cụ thể để đảm bảo về An toàn và vệ sinh lao động trong sản xuất, phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đã đề cập rất
cụ thể về các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất, quy định các tiêu chuẩn cho phép, quy định các thao tác, các biện pháp, các nội dung phải thực hiện khi tổ chức, tiến hành sản xuất, sử dụng, sửa chữa, bảo quản thiết bị máy và vật tư, v.v nhằm đề phòng, ngăn chặn tai nạn lao động, bệnh ghề nghiệp và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu có thể xảy ra
Có thể chia ra thành các nhóm với hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn trên, bao gồm: (1) Nhóm tiêu chuẩn cơ bản: Bao gồm các tiêu chuẩn đề cập tới các yêu tố nguy hiểm,
có hại trong quá trình lao động sản xuất, các tiêu chuẩn về an toàn lao động, các thuật ngữ, định nghĩa có liên quan tới an toàn điện; an toàn bức xạ, phóng xạ;
(2) Nhóm tiêu chuẩn về những yêu cầu chung và định mức những yếu tố nguy hiểm: Bao gồm các tiêu chuẩn về chiếu sáng, kỹ thuật chiếu sáng, an toàn về cháy, nổ, tiếng
ồn, rung động, không khí;
(3) Nhóm tiêu chuẩn về yêu cầu an toàn với thiết bị máy móc phục vụ thi công: Bao gồm các tiêu chuẩn đề cập về an toàn đối với thiết bị điện, thiết bị nâng hạ, máy gia công, thiết bị nén, máy thủy lực, ô tô, máy thi công…vv;
(4) Nhóm tiêu chuẩn về yêu cầu an toàn trong quá trình thi công: Bao gồm các tiêu chuẩn đề cập về vấn đề an toàn trong quá trình thi công điện, hàn điện, bốc dỡ, an toàn trong xây dựng…vv;
(5) Nhóm tiêu chuẩn về yêu cầu đối với các phương tiện bảo vệ các nhân
Trang 38(6) Các quy chuẩn Quốc gia: Riêng về lĩnh vực Xây dựng, một số yêu cầu chung về kỹ thuật an toàn được quy định theo quy chuẩn QCVN 18/2014/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong xây dựng;
Qua những tóm tắt về hệ thống văn bản pháp quy về An toàn lao động, nhận thấy Việt Nam là một trong số các nước có công tác quản lý an toàn lao động chặt chẽ với hệ thống văn bản pháp quy được ban hành khá chi tiết và đầy đủ
Trong thi công xây dựng công trình, ngoài việc thực hiện theo các văn bản pháp quy
về vấn đề đảm bảo an toàn lao động nói chung, an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình cũng có nhưng văn bản pháp quy được ban hành quy định rõ về loại hình, tính chất công việc, hướng dẫn chi tiết, đầy đủ các yêu cầu đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng công trình Có thể nêu tới:
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng Theo đó, Quản lý An toàn lao động là một trong sáu nội dung chính của Quản lý thi công xây dựng công trình (Điều 31 Mục 2) và quy định, yêu cầu về thực hiện biện pháp quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình với các chủ thể tham gia thi công trên công trình xây dựng (Điều 34 Mục 2)
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Theo đó, An toàn lao động là những tiêu chí
để quản lý chất lượng công trình và là nhiệm vụ cần thực hiện và được giám sát chặt chẽ của Chủ đầu tư, Nhà thầu thi công trong thi công xây dựng công trình (Điều 25, Điều 26 Chương IV của Nghị định)
Thông tư 04/2017/TT-BXD của Bộ Xây dựng ban hành ngày 30/03/2017 đã quy định, hướng dẫn chi tiết về trách nhiệm của các chủ thể tham gia thi công xây dựng với công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình;
Quy chuẩn Quốc gia QCVN 18/2014/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong xây dựng được ban hành kèm theo Thông tư 14/2014/TT-BXD ngày 05/09/2014 của Bộ Xây dựng đã quy định, hướng dẫn chi tiết đầy đủ các yêu cầu đảm bảo trong an toàn thi công xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng đô thị (gọi tắt là công trình xây dựng);
Trang 392.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng
(1) Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng công trình (Điều 4 Thông tư 04/2017/TT-BXD)
Trước khi khởi công xây dựng công trình, nhà thầu tổ chức lập, trình chủ đầu tư chấp thuận kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động Kế hoạch này được xem xét định kỳ hoặc đột xuất để điều chỉnh phù hợp với thực tế thi công trên công trường
Tổ chức bộ phận quản lý an toàn lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định 39/2016/NĐ-CP và tổ chức thực hiện kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động đối với phần việc do mình thực hiện
Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm kiểm tra công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình đối với các phần việc do nhà thầu phụ thực hiện Nhà thầu phụ có trách nhiệm thực hiện các quy định nêu tại điều này đối với phần việc do mình thực hiện
Tổ chức lập biện pháp thi công riêng, chi tiết đối với những công việc đặc thù, có nguy cơ mất an toàn lao động cao được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
về an toàn trong xây dựng công trình
Dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động và có biện pháp khắc phục để đảm bảo an toàn trước khi tiếp tục thi công
Trang 40 Khắc phục hậu quả tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động xảy ra trong quá trình thi công xây dựng công trình
Định kỳ hoặc đột xuất báo cáo chủ đầu tư về kết quả thực hiện công tác quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình theo quy định của hợp đồng xây dựng
Thực hiện các nội dung khác theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
(2) Trách nhiệm của chủ đầu tư (Điều 5 Thông tư 04/2017/TT-BXD)
Chấp thuận kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình do nhà thầu lập và tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch của nhà thầu
Phân công và thông báo nhiệm vụ, quyền hạn của người quản lý an toàn lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật Xây dựng tới các nhà thầu thi công xây dựng công trình
Tổ chức phối hợp giữa các nhà thầu để thực hiện quản lý an toàn lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình
Đình chỉ thi công khi phát hiện nhà thầu vi phạm các quy định về quản lý an toàn lao động làm xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động Yêu cầu nhà thầu khắc phục để đảm bảo an toàn lao động trước khi cho phép tiếp tục thi công
Chỉ đạo, phối hợp với nhà thầu thi công xây dựng xử lý, khắc phục hậu quả khi xảy
ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động; khai báo sự cố gây mất an toàn lao động; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, điều tra sự cố về máy, thiết bị, vật tư theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Thông tư này; tổ chức lập hồ sơ
xử lý sự cố về máy, thiết bị, vật tư theo quy định tại Điều 20 Thông tư này
Trường hợp chủ đầu tư thuê nhà thầu tư vấn quản lý dự án, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình, chủ đầu tư được quyền giao cho nhà thầu này thực hiện một hoặc một số trách nhiệm của chủ đầu tư theo quy định tại Điều này thông qua hợp đồng tư vấn xây dựng Chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát việc thực hiện hợp đồng tư vấn xây dựng, xử lý các vấn đề liên quan giữa nhà thầu tư vấn quản lý dự