Bò Khai là một loài cây Lâm đặc sản đa tác dụng, vừ có thể làm rau vừa có thể làm thuốc, đã được nhân dân và các thầy thuốc Việt Nam sử dụng từ rất lâu đời. Tuy nhiên đến nay chưa có những nghiên cứu chính thức, cần thiết để gây trồng và khai thác loài Bò Khai một cách hợp lý và khoa học. Thuyết minh đề tài là một bản mô tả kỹ thuật quan trọng để nghiên cứu và phát triển loài cây quý giá này của Việt Nam
Trang 1Biểu B1-2a-TMĐTCN THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 1
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài:
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học,
biện pháp kỹ thuật trồng, giải pháp bảo tồn,
khai thác và phát triển cây Bò khai
(Erythropalum scandens Blume) tại Vườn
Quốc gia Bến En, Thanh Hóa
1a Mã số (được cấp khi Hồ sơ
4 Tổng kinh phí thực hiện: 1.088,94 triệu đồng, trong đó:
- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học 988,94
- Từ nguồn tự có của tổ chức 15,0
5 Phương thức khoán chi:
Khoán đến sản phẩm cuối cùng Khoán từng phần, trong đó:
- Kinh phí khoán: … triệu đồng
- Kinh phí không khoán: … triệu đồng
6 Thuộc Chương trình (Ghi rõ tên chương trình, nếu có), Mã số:………
Thuộc dự án KH&CN
Độc lập
Khác
7 Lĩnh vực khoa học
Tự nhiên; Nông, lâm, ngư nghiệp;
Kỹ thuật và công nghệ; Y dược
8 Chủ nhiệm đề tài
1 Bản thuyết minh đề tài này dùng cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc 4 lĩnh vực khoa học nêu tại mục 7 của Thuyết minh Thuyết minh được trình bày và in trên khổ A4
Trang 2Họ và tên: Tống Văn Hoàng
Ngày, tháng, năm sinh: 01/10/1974 Giới tính: Nam / Nữ: Học hàm, học vị/ Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ
Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên Chức vụ: Giám đốc Trung tâmBảo tồn, Phát triển sinh vật và Dịch vụ môi trường rừng Bến En
Điện thoại:
Tổ chức: 02.373.983.719 Nhà riêng: …………Mobile: 0965.921.818Fax: 02.373.983.719 Email: vqgbe.snnptnt@thanhhoa.gov.vn
Địa chỉ tổ chức: Xã Hải Vân – huyện Như Thanh – Tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ nhà riêng: Số 107 đường Minh Không – Phố Đông Bắc Ga 2 – PhườngĐông Thọ - TP Thanh Hóa – Tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ tổ chức: Xã Hải Vân – huyện Như Thanh – Tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ nhà riêng: Thôn 8 - Đỉnh Tân – Xã Thiệu Phú – Huyện Thiệu Hóa
- Thanh Hóa.
10 Tổ chức chủ trì đề tài
Tên tổ chức chủ trì đề tài: Ban quản lý VQG Bến En
Điện thoại: 02.373.983.719 Fax: 02.373.983.719
Website: http://www.benennp.com.vn
Địa chỉ: Xã Hải Vân – huyện Như Thanh – Tỉnh Thanh Hóa
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Đặng Hữu Nghị
Số tài khoản: 110.6234
Kho bạc nhà nước/Ngân hàng: Kho bạc Nhà nước Như Thanh
Tên cơ quan chủ quản đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa
11 Các tổ chức phối hợp chính thực hiện đề tài (nếu có)
Trang 31 Tổ chức 1: Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung bộ.
Tên cơ quan chủ quản: Viện Dược liệu
Điện thoại: 02373 950.905 Fax: : 02373 950.905
Địa chỉ: Thành Trọng – P Quảng Thành – TP Thanh Hóa – tỉnh Thanh Hóa
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Lê Hùng Tiến
Số tài khoản: ………Ngân hàng: ………
2 Tổ chức 2: ……….
Tên cơ quan chủ quản ………
Điện thoại: ……… Fax: ………
Địa chỉ: ………
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: ………
Số tài khoản: ……… Ngân hàng: ………
12 Các cán bộ thực hiện đề tài
(Ghi những người có đóng góp khoa học và chủ trì thực hiện những nội dung
chính thuộc tổ chức và tổ chức phối hợp tham gia thực hiện đề tài, không quá
10 người kể cả chủ nhiệm đề tài Những thành viên tham gia khác lập danh sách theo mẫu này và gửi kèm theo hồ sơ khi đăng ký)
TT Họ và tên,
học hàm học vị
Tổ chức công tác
Nội dung, công việc chính tham gia
Thời gian làm việc cho đề tài
(Số tháng quyđổi2)
1
ThS.Tống Văn
Hoàng
VQG Bến En Chủ nhiệm đề tài, chỉ đạo
chung quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái; kỹ thuật gây trồng; chủ trì xây dựng thuyết minh, dự toán, bố trí các công thức thí nghiệm, xây dựng các báo cáo chuyên đề, hướng dẫn
kỹ thuật báo cáo tổng kết đề tài
24
2 KS Lê Thành
Đạt
VQG Bến En Thư ký đề tài, chuẩn bị tài
liệu, hiện trường cho các cuộc họp, kiểm tra hiện trường thực hiện đề tài; Thiết kế xây dựng
mô hình; Tham gia nghiên cứuđặc điểm sinh học, sinh thái;
kỹ thuật gây trồng, các báo cáochuyên đề, báo cáo tổng kết đềtài; chỉ đạo thực hiện các
24
2 Một (01) tháng quy đổi là tháng làm việc gồm 22 ngày, mỗi ngày làm việc gồm 8 tiếng
Trang 4nhiệm vụ nhân giống, trồng, chăm sóc, theo dõi số liệu, xử
lý số liệu của đề tài
3
KS Nguyễn
Đình Hiếu
VQG Bến En Tham gia xây dựng xây dựng
thuyết minh, dự toán các báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng kết đề tài
10
4
ThS Nguyễn
Quang Sỹ
VQG Bến En Điều tra hiện trạng, phân bố,
nghiên cứu đặc điểm sinh thái,sinh học và tham gia xây dựnghướng dẫn kỹ thuật gây trồng
Điều tra hiện trạng, phân bố, nghiên cứu đặc điểm sinh thái,sinh học và nhập số liệu đề tài
Điều tra hiện trạng, phân bố, nghiên cứu đặc điểm sinh thái,sinh học và chỉ đạo xây dựng
mô hình, các ô thí nghiệm nhân giống, gây trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế sản phẩm
Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái học và kiến thức bản địa về cây Bòkhai ở Vườn Quốc gia Bến En;
- Xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và trồng thương phẩm;
- Xây dựng được mô hình trồng cây Bò khai thuần loài và trồng xen;
- Đề xuất được biện pháp bảo tồn, khai thác và phát triển cây Bò khai
14 Tình trạng đề tài
Trang 5 Mới Kế tiếp hướng nghiên cứu của chính nhóm tác giả
Kế tiếp nghiên cứu của người khác
15 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài
15.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
15.1.1 Ngoài nước
15.1.1.1 Nghiên cứu về cây thuốc
Từ khi xuất hiện, con người đã biết quan tâm đến sức khỏe của mình Chính vìvậy, họ đã cố gắng tìm tòi, khám phá những loài cây có khả năng bồi bổ sức khỏe,chữa bệnh và kéo dài tuổi thọ Theo điều tra của các nhà thực vật học, các nhà dượcliệu học Cây thuốc được mọc hầu hết trong tự nhiên và rải rác khắp khu vực trên tráiđất Nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, trong
đó tập trung nhiều nhất ở các khu rừng nhiệt đới
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học các loài có sự phân bố khác nhau khá rõrệt theo đai khí hậu, tiểu khí hậu, kiểu rừng, trạng thái rừng… Đã có một số tác giả dàycông nghiên cứu về các loài cây thuốc vùng nhiệt đới và á nhiệt đới như A.Mauraeva-A.F.HammermaH (1974) F.Ibraghimov, V.Ibramghimova
Năm 1985, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống kê trên thế giới có khoảng30.000 đến 70.000 loài thực vật có thể dùng làm thuốc trực tiếp hoặc cung cấp nguyênliệu để sản xuất thuốc Trong đó, ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thựcvật có hoa được dùng làm thuốc Ở Ấn Độ 6.000 loài, ở Trung Quốc là 5.136 loài
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của Châu Âunghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm
ẩn rất nhiều giá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu vềthực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã
được kiểm chứng và đã in thành sách vào năm 1985 “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”, v.v.
Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy môtoàn quốc hoặc vùng lãnh thổ Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nướcđược sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn Điều tra, đánh giá nguồn tàinguyên cây thuốc được coi là có nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia
Lo ngại trước tình hình vốn tài nguyên cây thuốc, cùng những kinh nghiệm sửdụng cây thuốc của các cộng đồng đang bị mai một, nên ngay từ hội nghị lần thứ 40của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng 5 năm 1987 đã tái xác định những quan điểm
chính được đưa ra ở Hội nghị Alma – Ata từ năm 1979, là: “cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc”.
Tháng 3 năm 1988, tại Chiang Mai – Thái Lan, một số Tổ chức quốc tế (WHO,IUCN, WWF) đã phối hợp với Bộ Y tế - Chính phủ Hoàng gia Thái Lan tổ chức mộtHội thảo Quốc tế đầu tiên chuyên về bảo tồn cây thuốc Từ diễn đàn của Hội thảo này,
Trang 6một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định về tầm quan trọng và vai trò to lớn củacây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đồng thời, kêu gọi Liên HợpQuốc và các quốc gia thành viên cùng với các Tổ chức quốc tế khác cần có nhữnghành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc Bảo tồn cây thuốc chính là bảo tồn giá trị đadạng sinh học (ĐDSH), trong các nền văn hóa của mỗi quốc gia.
Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 1.500 vườn thực vật, đang lưu giữ vàtrồng trọt một lượng rất lớn các loài thực vật, ước chừng khoảng 80.000 loài trong điềukiện nhân tạo, mỗi vườn khoảng vài trăm đến hàng nghìn loài, trong đó có các loài câythuốc (Heywood, 1992) Vườn thực vật lớn nhất thế giới là Vườn Thực vật Hoàng giaAnh Quốc tại Kew lưu giữ khoảng 38.000 loài, trong đó bảo tồn rất nhiều loài câythuốc Vai trò quan trọng của các vườn thực vật trong việc bảo tồn đa dạng sinh học nóichung, cây thuốc nói riêng cũng đã được minh họa bởi việc mở rộng mạng lưới của 19vườn thực vật ở Mỹ với Trung tâm bảo tồn thực vật Tại đây ước tính có 3.000 taxonđặc hữu ở Mỹ bị đe dọa tuyệt chủng
Năm 1993 WHO, IUCN và WWF đã đưa ra một tài liệu hướng dẫn cho việc bảotồn cây thuốc Đây không phải là loại tài liệu về phương pháp nghiên cứu, nhưngnhững người biên soạn đã có chủ ý đề cập từ khâu điều tra nghiên cứu cho đến tiếnhành khai thác sử dụng, phát triển trồng thêm và quản lý cây thuốc, đều là những hoạtđộng có liên quan và phục vụ cho mục đích bảo tồn Tuy nhiên, để cho công tác bảotồn cây thuốc có hiệu quả, cần phải căn cứ vào tình hình của mỗi quốc gia, từ đó đưa racác giải pháp và chương trình hành động phù hợp [32]
15.1.1.2 Nghiên cứu về rau rừng
Bên cạnh các nghiên cứu về cây thuốc, nghiên cứu về rau rừng cũng đã đượcnhiều nước trên thế giới quan tâm Ban đầu là việc thuần hóa các loài sinh vật hoangdại, trong đó có các cây trồng làm rau ăn, ngày nay con người đã xây dựng nên hệthống tuyển chọn, nhân giống và lai tạo nhiều loài rau có nguồn gốc từ tự nhiên đểphục vụ cho nhu cầu của con người trên khắp thế giới
L.Clark, trong quá trình nghiên cứu ở lưu vực sông Công gô thuộc Cameroon,
đã kết luận:" Sự phát triển của rau rừng là một yếu tố đóng góp vào sự bảo tồn của hệsinh thái rừng" [29]
Falconer J và J.E.M Arnold (1989), khi nghiên cứu ở Ghana, đã nhận thấy:Rau rừng có vai trò cung cấp thực phẩm với hàm lượng dinh dưỡng cao, một số loàirau rừng còn có khẳ năng chữa bệnh,v.v đồng thời cũng chiếm gần 40% nguồn thunhập của các hộ gia đình [30]
Trong bài Giá trị của rừng mưa Amazon, đăng trên tạp chí Nature số 339(1989), các tác giả Charles, Gentry và Mendelsohn đã nhận định, rau rừng là một yếu
tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền rừng núi nhiệt đới [31]
Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học về rau rừng chưa được chú trọng, trongkhi đó chính phủ các nước cũng chưa có chính sách cho phát triển rau rừng, do đó việcnghiên cứu và phát triển rau rừng dù có lịch sử rất lâu đời nhưng vẫn còn nhiều vấn đề
Trang 7cần được quan tâm hơn trong thời gian tới.
15.1.1.3 Nghiên cứu về cây Bò khai
Theo các tài liệu đã được tiếp cận thì Bò khai (Erythropalum scandens Blume)
phân bố tự nhiên ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia và một số nơi khác ởĐông Nam Á, Nam Á Tuy nhiên, trong quá trình tra cứu chúng tôi chỉ tìm thấy mộtbài thuốc dùng chữa viêm gan, viên thận cấp, viêm niệu đạo, tiểu tiện không thông ởTrung Quốc với liều lượng sử dụng hàng ngày 12-14 gr sắc nước uống [10], [24]
15.1.2 Trong nước
15.1.2.1 Nghiên cứu về cây thuốc
Trong lịch sử, Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu, thống kê về các loài
cây thuốc Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn yếu” là cuốn sách
thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429 Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (vào thế kỷ
XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam,
trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật,
Năm 1760, Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác đã tổng kết kinh nghiệm trong
30 năm hành nghề y và biên soạn bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh, đây là một bộsách y học nổi tiếng với 28 tập, 66 quyển bao gồm lý, pháp, phương, dược và biệnchứng luận trị về nội khoa và ngoại khoa, sản phụ khoa, khoa nhi, cấp cứu đạo đức yhọc, vệ sinh phòng bệnh [22]
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, công tác sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốcnam, tổ chức điều tra cây thuốc và nghiên cứu thành phần hoá học của cây thuốc được
triển khai mạnh mẽ Trong số các công trình được công bố đáng chú ý bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” xuất bản năm 1962, gồm 6 tập Lần tái bản thứ 7
(1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần táibản thứ 14 (2015) Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợpgiữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại [15]
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình điều tra về cây thuốc và kinhnghiệm sử dụng của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các địa phương như Thái Nguyên,Nghệ An Kết quả điểu tra đã phát hiện có 135 loài cây được sử dụng làm thuốc ở TháiNguyên và 374 loài cây được sử dụng làm thuốc ở Nghệ An, trong đó có 9 loài mớiđược công bố lần đầu về tác dụng chữa bệnh và làm thuốc ở Việt Nam [11]
Năm 2005, Phạm Thanh Huyền và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Đặcđiểm hình thái giải phẫu ngũ gia bì hương và ngũ gia bì gai ở vùng Sa Pa - Lào Cai vàPhó Bảng - Hà Giang” Quá trình nghiên cứu đã thu thập được 85 phân loài với nhữngđặc điểm hình thái và giải phẫu khác nhau [9]
Năm 2009, Hoàng Quỳnh Hoa và Trần Công Khánh đã công bố kết quả nghiêncứu về “Đặc điểm thực vật của ba loài cây thuốc thuộc chi cườm rụng (Ehretia P Br.),
họ Vòi voi (Boraginaceae)” Kết quả nghiên cứu xác định: Ehretia acuminata R Br.
Có tên Việt Nam là Cườm rụng nhọn, Ehretia longiflora Benth et Champ là Cườm rụng hoa dài và Ehretia asperula Zoll et Mort là Xạ đen Kết quả nghiên cứu cũng
Trang 8chỉ rõ các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học và cách nhận biết cho từng loài cụ thể[5].
Năm 2015, Nguyễn Thanh Tùng, Vũ Thị Hòa và Đào Anh Hoàng đã công bốkết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái và vi học của cây Mồng tơi củ Kết quả nghiêncứu cây Mồng tơi củ thu hái tại Mường Lống - Kỳ Sơn - Nghệ An cho thấy: Mồng tơi
củ là cây dây leo, lâu năm, thân tròn, trên thân có nhiều mầm ở nách lá, chồi lên tạothành các “hành nhỏ” Về mặt vi học, đặc điểm nổi bật nhất là các bó hình nón ở viphẫu thân Ngoài ra, các tinh thể calci oxalat hình cầu gai được tìm thấy ở bột thân vàthân rễ, trong khi đó đám tế bào mô cứng hình chữ nhật ở bột thân và các hạt tinh bộtnhiều hình dạng được tìm thấy ở bột thân rễ Các đặc điểm trên là cơ sở dữ liệu để
tham khảo khi nhận biết loài Anredera cordifolia [23].
Cũng trong năm 2015, kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái và giải phẫu
của cây Đạm trúc diệp – thuộc họ Hòa thảo đã cho biết: Đạm trúc diệp là cây thân
thảo, rễ con phình lên thành củ, lá mọc cách, phiến lá hình mũi giáo hẹp, 2 mặt có lôngrải rác trên gân, gân lá hình cung Bột lá có mảnh biểu bì tạo thành tế bào hình lượnsóng và lỗ khí; mảnh mạch điểm, mảnh mạch xoắn [16]
Hoạt động nghiên cứu, bảo tồn cây thuốc cũng thu hút được sự quan tâm củanhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các tổ chức chuyên ngành, điển hìnhlà:
Dự án Bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền đã được Bộ Y tế giao cho Viện Dượcliệu chủ trì thực hiện từ năm 1997 Trải qua 12 năm thực hiện dự án, Viện Dược liệu đãthu thập hơn 500 loài cây thuốc, đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc Đặcbiệt là 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng tại: Vùng Sa Pa (8 vườn); khu vực VườnQuốc gia Bạch Mã (4 vườn); Yên Bái (2 vườn); Nghệ An (1 vườn); Hòa Bình (1vườn); Thanh Hóa (1 vườn); Lạng Sơn (4 vườn); Hà Giang (1 vườn); Vĩnh Phúc (1vườn); Hà Nội (1 vườn) Ngoài ra, còn tổ chức đào tạo, tập huấn và truyền thông chongười dân để nâng cao nhận thức về bảo tồn, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc nóichung và cây thuốc dân tộc nói riêng Đồng thời bảo tồn được tri thức bản địa về sửdụng các loài cây thuốc chữa bệnh của cộng đồng dân tộc Việt Nam [25]
Dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam”, tại xã Bình Dương (Vĩnh Tường,
Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môi trường toàn cầu tài trợ, đã: vận độngtrên 800 hộ xây dựng vườn thuốc gia đình, gieo trồng 70 loài cây thuốc có giá trị kinhtế; xây dựng mô hình trồng cây thuốc dưới tán cây; mô hình trồng xen cây thuốc vớicây ăn quả; xây dựng được một vườn bảo tồn cây thuốc Nam tại khu lưu niệm Bác Hồ(thôn Lạc Trung) Tổng diện tích cây thuốc năm 1999 là 20.366 m2, năm 2000 tăng hơngấp đôi, 43.896m2 Ngoài ra còn trồng xen ghép 8 loài cây thuốc có giá trị kinh tế như:Địa liền, Nghệ đen, Mã đề, Hoài Sơn, Cúc hoa, Bạch chỉ, Ngưu tất, Nhãn trên diện tích4.440m2,…[19]
Dự án "Vườn thuốc nam” do Hội Thanh niên Việt Nam tại Pháp tài trợ (tháng
2/2010) đã xây dựng, bảo tồn và phát triển mạng lưới vườn dược thảo, gồm những cây
Trang 9thuốc quý tại 5 xã của huyện A Lưới là: Bắc Sơn, Hồng Trung, Đông Sơn, Hồng Thái
và Hồng Thượng Vườn thuốc nam đã trở thành "tủ thuốc" chăm sóc sức khỏe ban đầu
hữu hiệu cho người dân ở đây, v.v [12]
15.1.2.2 Nghiên cứu về rau rừng
Tương tự như các quốc gia khác trên thế giới, việc nghiên cứu, thuần hóa raurừng ở Việt Nam xuất phát từ nhu cầu của cuôc sống và trong quá trình đấu tranh giảiphóng dân tộc Đi đầu trong việc nghiên cứu rau rừng là Tổng cục Hậu cần Quân độinhân dân Việt Nam, trên cơ sở kinh nghiệm dân gian và thực tế kháng chiến, Tổng cục
đã tổng hợp, biên soạn cuốn “Rau rừng” Cuốn sách đã mô tả 150 loài rau rừng, trongđó: 56 loài có thể sử dụng trực tiếp, 36 loài phải qua chế biến, 11 loài ăn quả, 10 loàilàm nước uống
Trong khuôn khổ dự án "Sử dụng các loài cây bản địa làm thực phẩm và thuốc ởmột số cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam" giai đoạn 1998 – 2003, các tác giảYoushitaka tanaka và Nguyễn Văn Kế đã cho xuất bản ấn phẩm “Edible wild plants ofVietnam - Những loài cây hoang dại có thể ăn được ở Việt Nam”, trong đó đã kể tên,
mô tả đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần và cách sử dụng của 130 loài thuộc 59
họ thực vật bậc cao ở Việt Nam [28]
Các tác giả Nguyễn Thị Minh Châu (2005), Lường Văn Bằng (2006), BùiQuang Dũng (2007) và Lương Thị Cẩm Chi (2008) đã tiến hành những nghiên cứu vềthành phần, dạng sống, bộ phận sử dụng và kiến thức bản địa của việc sử dụng câyrừng làm rau tại Quảng Ninh, Sơn La, Yên Bái và Nghệ An Kết quả nghiên cứu chothấy có sự khác nhau nhất định về thành phần loài rau rừng và kiến thức bản địa theotừng vùng cụ thể
Năm 2010, Nguyễn Thị Len đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và pháttriển một số loài rau rừng có giá trị tại tỉnh Lào Cai” Kết quả đề tài đã đánh giá đượchiện trạng sử dung các loài rau rừng tại địa phương, thử nghiệm gây trồng một số loài
có giá tri cao và đã cho thấy sự khả thi về khả năng phát triển của các loài rau rừng tạikhu vực này [14]
Việc đưa vào gây trồng các loài rau rừng cũng đã được một số địa phương quantâm, thực hiện, cụ thể:
Tính đến năm 2011, Công ty Sannamfood đã tuyển chọn và gieo trồng được gần
20 giống rau các loại, trong đó có một số giống rau rừng như: Tai voi, sau sau, bướmtrắng, lưỡi hổ, báng… tại Trang trại thuộc địa phận thôn Đồi Voi, xã Vân Hoà, Ba Vì,
Hà Nội
Năm 2014, Trung tâm Nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới - Vườn Quốc gia
Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) - đã tuyển chọn và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng và
chăm sóc đối với rau bầu đất, cần dại, lỗ bình trên diện tích 100 m2 Kết quả cho thấysau gần 1 tháng xuống giống là bắt đầu cho thu hoạch lứa đầu tiên, mỗi đợt thu hoạchsau cách nhau 15 ngày., mỗi tháng thu hoạch được khoảng 200 kg rau với giá bán30.000 đ/kg [13]
Trang 1015.1.2.3 Nghiên cứu về cây Bò khai
Bò khai (Erythropalum scandens Blume) đã được cộng đồng các dân tộc ở khu
vực miền núi phía Bắc sử dụng từ rất lâu nhưng đến những năm đầu của thế kỷ 21, loàicây này mới được các nhà khoa học trong nước quan tâm, nghiên cứu, trong đó có một
số công trình đáng chú ý như sau:
Trong sách “Cây cỏ Việt Nam – Tập 2” của Phạm Hoàng Hộ (2003) Bò khai
(Erythropalum scandens Blume) được giới thiệu với cái tên là Hồng trục, thuộc họ
Dương đầu (Olacaceae) Theo tài liệu này, Bò khai có thân tiểu mộc trườn; nhánh yếu,thòng; vỏ xanh xanh; lá có phiến bầu dục tròn dài, đáy tà tròn, một cặp gân từ đáy, mặtdưới mốc mốc, cuống phì ở hai đầu; tán phồng thưa; hoa nhỏ lưỡng phái, cánh hoa 5,
có rìa lông, đĩa mật to tròn hay hơi 5 cạnh, noãn sào hạ; phì quả hình xá lị, vàng hay
đỏ, dài 2cm, hột 1 [6] Cũng theo Phạm Hoàng Hộ, trong tác phẩm “Cây có vị thuốc ởViệt Nam” (2006), Bò khai có tác dụng lợi tiểu, trị đái rát, bệnh gan do vi siêu khuẩn[7]
Theo Dương Hữu Phùng (2003) Cây Bò khai có 2 lứa quả trong năm, lứa ñầu ra hoa tháng 6, chín tháng 8, kết quả gieo thử nghiệm hạt từ lứa quả này cho tỷ lệ mọc 47,5% Lứa quả thứ 2 của cây là ra hoa tháng 9, quả chín tháng
11, kết quả thử nghiệm gieo hạt của lứa quả này đạt tỷ lệ nảy mầm cao hơn (82,6%), sự chênh lệch này là do chất lượng hạt giống và thời vụ gieo ươm của lứa thứ
2 phù hợp hơn lứa thứ nhất [18] Tuy có hạt nhưng khả năng phát tán trong tự nhiêncủa cây Bò khai thấp do quả của loại cây này khi chín có mùi vị hấp dẫn một số loàichim, thú đến ăn và phá hại; đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiện rải rácvới số lượng hạn chế của cây Bò khai trong rừng mặc dù khả năng sinh trưởng của loàikhá tốt trong điều kiện không có tác động Ngoài khả năng nhân giống từ hạt, Bò khaicũng là loài cây có thể nhân giống bằng biện pháp vô tính Nếu chiết cành thì sauchừng 6 - 7 tháng có thể đem trồng Dương Hữu Phùng và Cộng sự (1999) [17] Về khảnăng giâm cành, thời vụ giâm có ảnh hưởng lớn đến thời gian ra rễ và tỷ lệ mọc củahom giâm Vụ giâm tháng 11 cho kết quả xuất vườn đạt tỷ lệ 83%, thời gian từ khigiâm ñến mọc là 24 ngày Vụ giâm tháng 01 chỉ cho tỷ lệ xuất vườn đạt 75,3%, thờigian từ khi giâm đến mọc là 36 ngày Các loại cành giâm khác nhau (bánh tẻ, trungbình, già) cũng cho kết quả khác nhau, loại cành trung bình và bánh tẻ cho tỷ lệ sốngcao (84,1 -85,2%), loại cành già chỉ đạt tỷ lệ sống là 56,2%
Năm 2003, Nhà xuất bản Kha học và Kỹ thuật phát hành công trình “Cây thuốc
và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập 1”, do tập thể tác giả của Viện Dược liệunghiên cứu, biên soạn Trong công trình này, Bò khai được giới thiệu dưới tên Dâyhương (Erythropalum scandens Blume), thuộc họ Dây hương (Erythropalaceae) Theocông trình này thì Bò khai là cây dây leo bằng tua cuốn, dài 5- 10m; khi non hơi cócạnh, vỏ màu lục xám; lá mọc so le, hình tim – tam giác, gốc bằng hay lõm, đầu nhọn,dài 9-16cm, rộng 6-11,5cm, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu xám mốc, có 3 gânchính, cuống lá dài 3,5cm, phình ở hai đầu và đôi khi hơi dính vào phía trong phiến lá;
Trang 11cụm hoa mọc thành ngù ở kẽ lá, lá bắc hình tam giác nhọn, hoa nhỏ, lưỡng tính; đàihình đấu, có 5 răng; tràng 5 cánh, nhẵn ở mặt ngoài, đầu có lông dạng mi; nhị 5, mọcđối diện với cánh hoa, chỉ nhị ngắn, bầu hạ, 1 ô; quả mọng hình trái xoan, mang 1 sẹo
ở đầu, màu vàng hay đỏ, chứa 1 hạt hình trứng, mùa quả tháng 4- 6 Bò khai có vị hơiđắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu Công dụng, ngoài làm rau ăn còndung làm thuốc chữa phù thận, đái vàng, đái rát; mỗi ngày dùng 20-40gr cây tươi rửasạch, giã nát, thêm nước, gạn uống, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với lá bong bong.Theo kinh nghiệm ở Bắc Thái, toàn cây sắc lấy nước uống chữa viêm gan siêu vi trùngđạt kết quả tốt; thân, cành tuốt bỏ lá, thái mỏng, phơi khô, ngâm rượu uống chữa sốt, têthấp [24]
Theo Trần Văn Dũng (2007) Cây rau Bò khai là cây không quá khó trồng, cóthể thích ứng tốt trong điều kiện trồng trọt tại Quảng Uyên Cao Bằng Cây Bò khai ưađất ẩm nhưng không chịu được úng ngập, thích hợp ñất nhiều mùn [2]
Theo tài liệu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam – Pha
II (2007), Bò khai còn có tên khác là rau hiến, khau hương, phắc hiến (Tày), Longchâu sói, Dây hương, là loài thực vật thuộc họ Dây hương Ngoài những đặc điểm hìnhthái và công dụng như công trình “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – TậpI” do Viện Dược liệu biên soạn, còn bổ sung thêm đặc điểm sinh học; kỹ thuật nhângiống, gây trồng; khai thác, chế biến và bảo quản và giá trị kinh tế, khoa học và bảotồn Theo tài liệu này, Bò khai thường mọc hoang ven rừng thứ sinh, rừng đang phụchồi,…tập trung nhiều ở ven các rừng mọc trên núi đá vôi, ở độ cao từ 0 – 1.000m Lúcnhỏ chịu bong, lớn lên ưa sáng, ưa ẩm, mọc nhanh, ra hoa tháng 4- 6, quả chin tháng 6– 10; Bò khai thường được nhân giống bằng hom, là cây dây leo do đó khi trồng nênlàm giá thể để cây có thể leo lên; thu hái Bò khai tập trung từ tháng 5 – 10, lá non vàngọn có thể nấu canh hoặc xào Bò khai có giá trị kinh tế cao, có giá trị làm thuốc và làloài thực vật đơn loài, đơn chi nên cần được bảo tồn [10]
Theo Tạ Minh Hoà (2005), Bò khai là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao,với các thành phần chủ yếu tính trong 100g lá non như sau: nước 78,8g; Protein 06g;Gluxit 6,1g; Xơ 7,5g; tro 1,6g; can xi 138mg; phốt pho 40,7 mg; ca-rô-ten 2,6mg;vitamin C 60mg Từ đó tác giả khuyến cáo cần xem Bò khai như là một loài cây lâmsản ngoài gỗ đa tác dụng, có thể phát triển nhằm xoá ñói giảm nghèo cho cộng đồngcác dân tộc địa phương ở phương các tỉnh miền núi phía Bắc [8]
Từ 01/2009 – 10/2010, Phạm Quang Thắng đã tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật gây trồng và phát triển rau Bò khai, rau Sắng tại Sơn
La”, sau gần 2 năm thực hiện, đề tài đã xây dựng được vườn ươm nhân giống rau Bò
khai, rau Sắng tại Khoa Nông - Lâm, Trường Đại học Tây Bắc, Thuận Châu - Sơn La,với quy mô diện tích 100 m2, sản xuất được 4.400 cây giống rau Bò khai, 3.200 câygiống rau Sắng; Xây dựng được 900 m2 mô hình trồng rau Bò khai, rau Sắng thươngphẩm trên đất vườn và 6800 m2 trên đất vườn đồi tại huyện Thuận Châu và Thành phốSơn La; Xây dựng 03 quy trình công nghệ: Quy trình nhân giống vô tính bằng giâm
Trang 12hom rau Bò khai; Quy trình nhân giống vô tính bằng giâm hom rau Sắng; Quy trìnhsản xuất rau Bò khai thương phẩm; Chuyển giao, tập huấn kỹ thuật cho 60 sinh viênTrường Đại học Tây Bắc, 100 lượt hộ nông dân của 2 huyện Thuận Châu và thành phốSơn La Kết quả nhân giống bằng phương pháp giâm hom có sử dụng chất kích thíchsinh trưởng của đề tài cho tỷ lệ đạt 65 – 85% tuỳ vào loại thuốc kích thích (IAA, IBA,NAA) và thời vụ giâm hom [21]
Trong bài “Giới thiệu về rau Bò khai và kỹ thuật gây trồng” (2010), tác giả TrầnNgọc Cường cho biết: Cây Bò khai có thể lấy hom để giâm từ gốc lên hết phần bánh tẻcủa cây mẹ 3 tuổi trở lên Cắt thân thành nhiều ñoạn hom, mỗi hom dài 20 -25cm, totrên 3mm, có từ 1-3 lóng gồm 2-4 mắt, cắt bỏ hết lá Giâm hom lên luống đã chuẩn bịtheo rạch sâu 10cm, rạch nọ cách rạch kia 30cm Làm giàn che và tưới đủ ẩm cho cây,sau 20-25 ngày hom ra rễ ở phía dưới và nảy chồi ở các đốt phía trên Trồng Bò khaidưới tán rừng trồng, nơi có cây che bóng phù trợ trên đất sau nương rẫy còn tốt, trồngdưới tán cây ăn quả trong các vườn nhà [1]
Theo Hoàng Văn Sâm (2011), tại hai tỉnh Điện Biên và Lào Cai có 254 loài
thuộc 174 chi 78 họ thực vật được người dân sử dụng làm rau rừng; trong giai đoạn 9tháng đầu mới trồng, Hoa Ban và Bò khai đều sinh trưởng tốt hơn ở các công thức thínghiệm có độ che sáng 50% nhưng ở những giai đoạn tiếp theo cây sinh trưởng tốt hơn
ở công thức thí nghiệm có độ che sáng 30%; khi tiến hành trồng thâm canh, Bò khai làloài cho năng suất cao nhất đạt hơn 9 tạ/ha/tháng, khi trồng xen dưới tán rừng năngsuất đạt xấp xỉ 4 tạ/ha/tháng; Bò khai có hàm lượng dinh dưỡng cao với lượng chất khôxấp xỉ 30%, vitamin C hơn 40mmg/100g, xenllulo trên 15%, hàm lượng đường và Ntổng số đều ở mức trên 1% [20]
Năm 2011, Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp Việt Nam
đã phối hợp với Viện nghiên cứu Rau quả Việt nam và các tổ chức của Ấn độ cùng thựchiện dự án phát triển cây rau Bò khai tại tỉnh Bắc Kạn trong khung dự án CoDI “Liên kết
để đa dạng hóa thu nhập từ cây trồng ít sử dụng” giai đoạn 2008-2011 Kết quả thực hiện
đã khẳng định cây Bò khai có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom, các thửnghiệm về chăm sóc sau trồng cũng cho kết quả tích cực [3]
Theo Nguyễn Chí Hiếu (2012), khi sử dụng ABT ở nồng độ 50ppm hom Bò khaicho tỷ lệ xuất vườn cao nhất, đạt 78,89%; tiếp đến là NAA 200ppm, đạt 75,56% và IBA50ppm, đạt 74,44% Hom bánh tẻ có tỷ lệ ra rễ, số rễ và số chồi cao hơn so với hom già
Tỷ lệ che sáng 50% cho năng suất cao nhất, tỷ lệ hóa gỗ thấp nhất Nghiên cứu cũng kếtluận mô hình trồng Bò khai trên đất núi đá vôi có năng suất cao hơn các mô hình trên đất
sa thạch xám bạc màu, các mô hình trồng xen Bò khai với các loài cây khác ở mật độ phùhợp cho năng suất cao hơn mô hình trồng thuần loài [4]
Năm 2013, VQG Bến En đã hoàn thành dự án “Điều tra bổ sung, lập danh lụcđông, thực vật rừng VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa”; kết quả điều tra cho thấy Bò khai
là một trong số 1.417 loài thực vật bản địa, đồng thời được xếp vào nhóm thực vậtdùng làm thực phẩm và làm thuốc [26] Đến năm 2016, trong khuôn khổ dự án “Bảo
Trang 13tồn và phát triển loài Vù hương (Cinnamomum balansae Lecomte) tại Vườn Quốc gia
Bến En, tỉnh Thanh Hoá”, VQG Bến En đã biên soạn tài liệu “Một số loài thực vật quýhiếm, có giá trị ở VQG Bến En” và được Nhà xuất bản Thanh Hóa phát hành trongcùng năm; trong tài liệu này Bò khai được giới thiệu như một loài thực vật đa tác dụng,vừa có thể làm rau vừa có thể làm thuốc nhưng hết sức tóm tắt nhằm mục đích giớithiệu một loài cây có tiềm năng được phân bố trong phạm vi của VQG Bến En để kêugọi nghiên cứu và phát triển trong tương lai [27]
15.1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Công tác nghiên cứu về cây thuốc và rau rừng đã được nhiểu quốc gia quan tâm,
có lịch sử lâu đời và đạt được những thành quả hết sức to lớn Xuất hiện nhiều côngtrình đồ sộ về đánh giá nguồn tài nguyên, phân bố, gây trồng và bảo tồn các loài câythuốc cũng như các loài rau rừng
Nghiên cứu về cây thuốc và rau rừng ở Việt Nam xuất phát từ nhu cầu thực tếcuộc sống, nhu cầu về thực phẩm trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và đãtiếp cận được với trình độ của khu vực cũng như trên thế giới Riêng đối với cây Bòkhai, mặc dù mới được quan tâm nhiều từ sau năm 2000, nhưng hiện cũng đã có nhiềunghiên cứu, song chủ yếu là:
+ Giới thiệu cây Bò khai như là một loài cây lâm sản ngoài gỗ mới
+ Là một loại rau cao cấp, có tiềm năng
+ Kỹ thuật gây trồng trong phạm vi hẹp, có tính địa phương
Mà chưa đi sâu vào những nghiên cứu về:
+ Đánh giá hiện trạng phân bố cây Bò khai trong tự nhiên
+ Mô tả đặc điểm sinh thái học
+ Chưa có nghiên cứu về tiêu chuẩn cây giống xuất vườn
+ Mới nghiên cứu bước đầu về chuyên canh, xen canh, chế độ chiếu sáng và chế
độ bón phân
+ Chưa có phương án bảo tồn và phát triển
Trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa, ngoài những hạn chế như trên, còn có nhữnghạn chế sau:
+ Cây Bò khai còn rất ít được biết tới và cũng chỉ có một bộ phận nhỏ ngườidân có sử dụng như là một loại rau hoặc loại dược liệu
+ Chưa có nghiên cứu chuyên sâu về sản xuất giống, gây trồng
+ Chưa có đánh giá về nhu cầu thị trường và kiến thức bản địa
Đây là những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục để bảo tồn, phát triển mộtloài thực vật quý, đa tác dụng, có nhiều tiềm năng trong việc tạo ra thu nhập cao và ổnđịnh cho đồng bào các dân tộc miền núi, đặc biệt là đồng bào sống ở vùng đệm các khurừng đặc dụng, hỗ trợ công tác xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng thành côngnông thôn mới ở địa phương
15.2 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu của đề tài
Trang 14Với kết quả nghiên cứu của các tác giả, có thể khẳng địnhBò khai
(Erythropalum scandens Blume), còn có tên khác là rau hiến, khau hương, phắc hiến
(Tày), Long châu sói, Dây hương, là loài thực vật thuộc họ Dây hương(Erythropalaceae) Thân tiểu mộc trườn, dài 5- 10m, leo bằng tua cuốn; khi non hơi cócạnh, vỏ màu lục xám; lá mọc so le, hình tim – tam giác, gốc bằng hay lõm, đầu nhọn,dài 9-16cm, rộng 6-11,5cm, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu xám mốc, có 3 gânchính, cuống lá dài 3,5cm, phình ở hai đầu và đôi khi hơi dính vào phía trong phiến lá;cụm hoa mọc thành ngù ở kẽ lá, lá bắc hình tam giác nhọn, hoa nhỏ, lưỡng tính; đàihình đấu, có 5 răng; tràng 5 cánh, nhẵn ở mặt ngoài, đầu có lông dạng mi; nhị 5, mọcđối diện với cánh hoa, chỉ nhị ngắn, bầu hạ, 1 ô; quả mọng hình trái xoan, mang 1 sẹo
ở đầu, màu vàng hay đỏ, chứa 1 hạt hình trứng, mùa quả tháng 4- 6 Cây thường mọchoang dại ở ven rừng thứ sinh, rừng đang phục hồi hoặc rừng nghèo bị tác động mạnhcủa kiểu rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Phân bố ở Nam Trung Quốc, Đông Nam
Á và Nam Á, tập trung nhiều ở ven rừng mọc trên núi đá vôi Bò khai có vị hơi đắng,tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu Bò khai là món ăn tiến vua của nhà Mạc khicát cứ tại vùng núi Đông Bắc, hiện tại ở Việt Nam, món ăn rau Bò khai rất được ưathích ở cả các đô thị lớn Ngoài làm rau ăn còn dung làm thuốc chữa phù thận, đáivàng, đái rát, sốt, tê thấp, viêm gan do siêu vi trùng
Vườn Quốc gia Bến En được thành lập năm 1992, có tổng diện tích tự nhiên là14.735ha, nằm trên địa bàn 2 huyện Như Thanh và Như Xuân, cách thành phố ThanhHóa 45km về phía Tây Nam Khu hệ động, thực vật Vườn Quốc gia Bến En rất đadạng và phong phú, với 1.530 loài động và 1.417 loài thực vật thuộc 6 ngành thực vậtbậc cao Trong 1.417 loài thực vật được phát hiện tại Vườn Quốc gia Bến En có 248loài, thuộc 200 chi, 94 họ có thể làm thuốc, chiếm tới 18,5% tổng số loài thực vật ởBến En
Do nhu cầu của thị trường, hầu hết các loài cây thuốc trong Vườn được khaithác tự phát ngoài tự nhiên và chưa được quản lý, nên số lượng và khu phân bố củachúng ngày càng suy giảm, một số loài cây thuốc quý, hiếm đang đứng trước nguy cơ
bị đe doạ cao như: Lá khôi tím, Hoằng đằng, Bò khai…
Theo Hoang Sam Van, Pieter Baas and Paul J A Keβler (2008), Bò khai là mộttrong 64 loài cây bản địa được người dân thường xuyên khai thác, sử dụng và là mộttrong 38 loài thực vật thường được khai thác cho mục đích thương mại tại Vườn Quốc
gia Bến En – Thanh Hóa Cùng với sự phát triển của xã hội, vấn đề sức khỏe ngày càng
được quan tâm nhiều hơn do đó xu hướng chọn các thực phẩm có giá trị làm thuốc,dạng “thực phẩm chức năng” đang phát triển mạnh Rau Bò khai vừa là loại rau đặcsản, vừa có công dụng làm thuốc nên sẽ là mặt hàng rất có triển vọng trong tương lai.Qua khảo sát sơ bộ cho thấy: Người dân chủ yếu thu hái Bò khai từ rừng tự nhiên đembán tại các chợ địa phương như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn với giá từ 60.000 –75.000 đ/kg, tại thị trường Thanh Hóa là 90.000 – 100.000 đồng/kg và luôn trong tìnhtrạng khan hiếm Sự khan hiếm của loài rau đặc sản này do nhiều nguyên nhân, chủ
Trang 15yếu nhất vẫn là do người dân chỉ khai thác trong rừng tự nhiên không bền vững (chặt
cả cành, cây; đào cả gốc, rễ để thu hái và làm thuốc) cùng với tập quán chăn thả gia
súc bừa bãi, …đã dẫn đến tình trạng khan hiếm, thậm chí có nguy cơ tận diệt, làm mất
đi nguồn gen rau bản địa có dược tính quý hiếm này Chính vì vậy, vấn đề quan trọng
và cấp thiết là phải tiến hành các nghiên cứu bảo tồn, phát triển loài cây này
Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu về Bò khai mới dừng lại ở một số nghiên cứu
để giới thiệu một loài rau tiềm năng Các nghiên cứu về nhân giống bằng hạt cho kếtquả khác nhau quá lớn, trong khi khả năng thu hái quả lại rất hạn chế, nghiên cứu nhângiống bằng hom tuy đạt được nhiều thành quả nhưng thường sử dụng hóa chất có giáthành cao, khó áp dụng vào sản xuất đại trà; các nghiên cứu về kiến thức bản địa, ảnhhưởng của yếu tố ánh sáng, thành phần ruột bầu trong quá trình nhân giống, kỹ thuậtgây trồng, thu hái, chế biến mới trong gia đoạn bước đầu và ở phạm vi hẹp; các nghiêncứu về hiện trạng và phân bố chỉ tập trung tại một số ít địa phương phía Bắc, chưa cónghiên cứu về thâm canh,… nên chưa có cơ sở để bảo tồn, phát triển và khai thác giátrị của Bò khai
Nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Bến En cho đến naycũng chỉ dừng lại ở danh sách thống kê số loài và bước đầu nghiên cứu kỹ thuật gâytrồng một số loài như: Chè vằng, Sâm cau Riêng về Bò khai thì chưa có một công trìnhnghiên cứu nào được tiến hành ở VQG Bến En nói riêng và trong tỉnh Thanh Hóa nóichung, cho đến thời điểm hiện tại
VQG Bến En được xác định là trọng điểm du lịch của tỉnh và UBND tỉnh đồng ýcho tập đoàn Mặt Trời (Sun group) được phép đầu tư để phát triển du lịch tại Quyếtđịnh số 3774/QĐ-UBND ngày 29/9/2016 về việc Chấp thuận chủ trương đầu tư Dự ánQuần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái kết hợp dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp Bến En.Trong tương lai gần, khi trở thành một khu du lịch quy mô lớn, khu vực VQG Bến Enrất cần có những sản phẩm đặc trưng mang tính riêng biệt, độc đáo và ẩm thực là mộttrong những sản phẩm hàng đầu để lại dấu ấn khó quên cho thực khách vì thế việc pháttriển những cánh đồng rau Bò khai sẽ tạo thêm điểm nhấn và có thêm một loại đặc sảnphục vụ nhu cầu của du khách
Xuất phát từ những lý do đó, trong khuôn khổ đê tài này chúng tôi tập trung đisâu vào nghiên cứu một số nội dung về: Hiện trạng phân bố và kiến thức bản địa, đặcđiểm sinh thái học, kỹ thuật nhân giống vô tính bằng việc sử dụng một số hóa chất giá rẻphổ biến trên thị trường, kỹ thuật gây trồng, xây dựng mô hình thâm canh và phương ánbảo tồn, phát triển cây Bò khai tại VQG Bến En
16 Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài
đã trích dẫn khi đánh giá tổng quan
(Tên công trình, tác giả, nơi và năm công bố, chỉ nêu những danh mục đã được trích dẫn để luận giải cho sự cần thiết nghiên cứu đề tài).
Tiếng Việt
1 Trần Ngọc Cường (2010), Giới thiệu về rau Bò khai và kỹ thuật gây trồng
http://hoilamnghiep-pto.com/vi/bvct/id94/RAU-BO-KHAI/
Trang 162 Trần Văn Dũng (2007), Giới thiệu về cây rau Bò khai, Tài liệu giới thiệu về mô hình tăng gia sản xuất của của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 601, Quân khu I
3 Trần Ngọc Hải (2008), Kỹ thuật trồng cây lâm sản ngoài gỗ, Tài liệu tập huấn
khuyến nông cho cán bộ kiểm lâm và khuyến lâm Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội
4 Nguyễn Chí Hiếu (2012), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ thuật trồng cây Bò khai (Erythropalum scanden blume) tại tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo luận án Tiến sỹ Đại học Thái Nguyên.
5 Hoàng Quỳnh Hoa và Trần Công Khánh, Đặc điểm thực vật của ba loài cây thuốc thuộc chi cườm rụng (Ehretia P Br.), họ Vòi voi (Boraginaceae), Tạp chí
Dược liệu, số 3/2009
6 Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam (Quyển II, Tái bản lần thứ 2) Nhà
xuất bản Trẻ
7 Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam Nhà xuất bản Trẻ.
8 Tạ Minh Hòa (2005), Bản tin Lâm sản ngoài gỗ vol 2, N0 3, Cổng thông tin dự
án Lâm đặc sản ngoài gỗ (LSNG)
9 Phạm Thanh Huyền và các cộng sự, Đặc điểm hình thái giải phẫu ngũ gia bì hương và ngũ gia bì gai ở vùng Sa Pa - Lào Cai và Phó Bảng - Hà Giang, Tạp
chí Dược liệu, số 4-2005
10 Triệu Việt Hùng và các cộng sự (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam Dự án hỗ
trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – Pha II
11 Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Thuận, Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm
sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Cao Lan xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, Tạp chí Dược liệu, số 4/2010.
12 Hội Thanh niên Việt Nam tại Pháp, 2010, Báo cáo dự án "Vườn thuốc nam tại 5
xã của huyện A Lưới – Thừa Thiên – Huế”
13 Http://hoinongdan.org.vn/sitepages/news/37/20546/san-xuat-rau-rung-hang-hoa
14 Nguyễn Thị Len (2010), Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài rau rừng
có giá trị tại tỉnh Lào Cai, Báo cáo kết quả đề tài.
15 Đỗ Tất Lợi (2015),“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, NXB Y học.
16 Hà Vân Oanh và cộng sự, Đặc điểm hình thái và giải phẫu của cây Đạm trúc diệp – thuộc họ Hòa thảo, Tạp chí Dược liệu, số 6/2015.
17 Dương Hữu Phùng (1999), Nghiên cứu khả năng nhân giống rau Bò khai, ngót rừng, gừng dại trong tự nhiên và trồng trọt tại gia đình, Báo cáo đề tài NCKH,
Trường ĐHNL Thái Nguyên
18 Dương Hữu Phùng, Triệu Văn Phú (2003), Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính cây Bò khai, ngót rừng, gừng dại tại Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Báo cáo đề tài NCKH, Trường ĐHNL Thái Nguyên.
19 Quỹ Môi trường toàn cầu, 1999, Báo cáo dự án “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam”, tại xã Bình Dương (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc).
Trang 1720 Hoàng Văn Sâm (2011), Nghiên cứu tuyển chọn và kỹ thuật trồng một số loài rau rừng có giá trị cao tại Điện Biên và Lào Cai, Chương trình nghiên cứu sinh
kế vùng cao
21 Phạm Quang Thắng (2010), Nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật gây trồng và phát triển rau Bò khai, rau Sắng tại Sơn La, Báo cáo đề tài NCKH, Trường ĐHNL
Thái Nguyên
22 Lê Hữu Trác, Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, Nxb Y học, 2008.
23 Nguyễn Thanh Tùng, Vũ Thị Hòa và Đào Anh Hoàng, Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vi học của cây Mồng tơi củ, Tạp chí Dược liệu, số 2/2015.
24 Viện Dược liệu (2003), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập 1.
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
25 Viện Dược liệu, 2010, Báo cáo Hội thảo Tổng kết 12 năm thực hiện dự án Bảo
tồn nguồn cây thuốc cổ truyền.
26 Vườn quốc gia Bến En (2013), Điều tra bổ sung, lập danh lục đông, thực vật rừng VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo kết quả dự án.
27 Vườn quốc gia Bến En (2016), Một số loài thực vật quý hiếm, có giá trị ở VQG Bến En Nhà xuất bản Thanh Hóa.
28 Youshitaka tanaka và Nguyễn Văn Kế (2003), Edible wild plants of Vietnam Những loài cây hoang dại có thể ăn được ở Việt Nam, Dự án "Sử dụng các loài
-cây bản địa làm thực phẩm và thuốc ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở ViệtNam" giai đoạn 1998 – 2003
32 WHO, IUCN và WWF, 1993, Giudeline on Conservation of Medicinal Plants.
17 Nội dung nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm của đề tài và phương án thực hiện
Nội dung 1: Tổ chức chuyến tham quan học tập kinh nghiệm sản xuất giống và xây dựng mô hình trồng Bò khai.
- Địa điểm: Tỉnh Thái Nguyên và Cao Bằng
- Thành phần: Lãnh đạo đơn vị chủ trì, cán bộ tham gia đề tài và một số hộdân vùng đệm
- Số lượng: 15 người dân; thời gian 05 ngày
- Viết báo cáo kết quả học tập kinh nghiệm sản xuất giống và xây dựng môhình trồng Bò khai
Nội dung 2: Điều tra hiện trang, đặc tính sinh vật học kiến thức bản địa
Trang 18về cây Bò khai tại VQG Bến En tỉnh Thanh Hóa.
- Điều tra phân bố của cây Bò khai trên tuyến.
- Đánh giá đặc tính sinh vật học, mô tả đặc điểm hình thái: Thân, lá, hoa,quả, rễ
- Theo dõi vật hậu
- Điều tra đất đai, thổ nhưỡng nơi có cây Bò khai phân bố tự nhiên
- Điều tra, phỏng vấn, thu thập thông tin về kiến thức bản địa của người dân vềcây Bò khai tại Vườn Quốc gia Bến En
- Tổ chức 01 Hội thảo về kiến thức bản địa, đặc điểm sinh thái của cây Bòkhai
- Tổng hợp xử lý số liệu điều tra
- Xây dựng báo cáo đánh giá đặc điểm sinh thái, kiến thức bản địa củangười dân về cây Bò khai (nơi xuất hiện, một số đặc điểm hình thái, sản lượng thuhái, cách bảo quản, chế biến, khả năng tiêu thụ ….) tại Vườn Quốc gia Bến En
Nội dung 3: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Bò Nội dung 3: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Bò khai tại Vườn Quốc gia Bến En.
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thuốc kích thích sinh trưởng và thời vụ đến quá trình nảy mầm của hom giống.
* Nghiên cứu hiệu quả một số loại thuốc kích thích sinh trưởng:
+ Hiệu quả của ABT đến khả năng ra rễ của hom: 03 công thức nồng độ.+ Hiệu quả của Chế phẩm giâm chiết Fitomix đến khả năng ra rễ của hom:
03 công thức nồng độ
+ Hiệu quả của Chế phẩm giâm chiết Bimix super roots đến khả năng ra rễcủa hom: 03 công thức nồng độ
* Ảnh hưởng của thời vụ nhân hom: 02 vụ, tháng 7 và tháng 11
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm: 03 công thức che sáng và 01 công thức đối chứng.
- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sự sinh trưởng của Bò khai ở giai đoạn vườn ươm: 03 công thức ruột bầu và 01 công thức đối chứng.
- Theo dõi các chỉ tiêu kỹ thuật của thí nghiệm
- Tổng hợp xử lý số liệu
- Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật nhân giống cây Bò khai bằng hom
Nội dung 4: Thực hiện nhân giống cây bò khai để triển khai mô hình
- Sản xuất 23.000 cây giống Bò khai để có 16.000 cây giống đủ tiêu chuẩnxuất vườn
- Theo dõi các chỉ tiêu kỹ thuật ở giai đoạn giâm hom và giai đoạn vườn ươm
- Viết báo cáo kết quả nhân giống cây Bò khai thực hiện mô hình
Trang 19Nội dung 5: Xây dựng mô hình thử nghiệm cây Bò khai tại Vườn quốc gia Bến En
- Xây dựng 02 mô hình: Trồng thuần loài và trồng xen canh với cây lâm nghiệphoặc cây ăn quả, mỗi mô hình 0,5 ha trong khu vực VQG Bến En
- Theo dõi sinh trưởng trên mô hình và đánh giá kết quả.
- Viết báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên môn: Kết quả mô hình sản xuấtthương phẩm cây Bò khai theo hướng thâm canh
- Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật trồng Bò khai thương phẩm
Nội dung 6: Tập huấn, chuyển giao kỹ thuật:
Tập huấn nhận biết, kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác và phát triểncây Bò khai
Nội dung 7: Đề xuất phương án chuyển giao kết quả và giải pháp bảo tồn, khai thác và phát triển tại Vườn quốc gia Bến En và những địa phương
có điều kiện tương tự.
Nội dung 8: Viết báo cáo tổng kết, nghiệm thu đề tài.
18 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Cách tiếp cận:
Hiện nay Bò khai ở khu vực VQG Bến En chỉ có trong tự nhiên, chưađược trồng trong vườn như các loài cây rau hoặc cây thuốc khác Với mục tiêunghiên cứu hiện trạng phân bố, một số đặc điểm sinh thái học, biện pháp kỹ
thuật trồng, giải pháp bảo tồn, khai thác và phát triển cây Bò khai kết hợp với
tình hình thực tế đề tài chọn cách tiếp cận như sau:
Sơ đồ tiếp cận của đề tài:
Tham khảo tài liệu có
liên quan và của VQG
Điều tra trên tuyến, OTC nghiên cứu quá trình nhân giống và gây trồng
Xử lý số liệu
Tổng hợp số liệu nghiên cứu
Xây dựng báo cáo chuyên
đề, hướng dẫn kỹ thuật
Trang 20Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
18.1 Phương pháp chung:
- Sử dụng phương pháp điều tra trên tuyến, điều tra trên ô tiêu chuẩn, mô
tả mẫu vật, điều tra nhanh nông thôn (PRA), phỏng vấn chuyên gia và cộngđồng, kết hợp với các tài liệu tham khảo và các tư liệu có liên quan trong quátrình điều tra, thu thập số liệu
- Bố trí thí nghiệm nhân giống, thử nghiệm gây trồng theo kiểu ngẫunhiên, mỗi thí ghiệm lặp lại 3 lần
- Sử dụng phương pháp phân tích phương sai để so sánh đánh giá kết quảthí nghiệm
18.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
18.2 1 Tổ chức chuyến tham quan học tập kinh nghiệm sản xuất giống và xây dựng mô hình trồng Bò khai.
- Tổ chức 01 đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm cho 15 người dân,
lãnh đạo đơn vị chủ trì và cán bộ tham gia đề tài trong thời gian 05 ngày
- Địa điểm: Tỉnh Thái Nguyên và Cao Bằng
18.2.2 Điều tra hiện trang, đặc tính sinh vật học kiến thức bản địa về cây Bò khai tại VQG Bến En tỉnh Thanh Hóa.
a Điều tra hiện trạng phân bố:
- Lập 10 tuyến điều tra điển hình, chiều dài mỗi tuyến 3 km đi qua cáctrạng thái rừng đặc trưng, điều tra hai bên tuyến, mỗi bên rộng 10m;
- Lập 10 Ô tiêu chuẩn trên 10 tuyến điều tra
+ Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra hiện trạng phân bố của BòKhai Kết quả điều tra được ghi vào biểu 01
Biểu 01 Biểu điều tra tuyến
Trang 21Số hiệu tuyến: Ngày điều tra: Người điều tra:
Tọa độ điểm đầu, cuối: Địa điểm: Khu vực: (Núi đất/đá)Trạng thái rừng: Loài cây: Bò khai
Dạngsinhcảnh
Vịtrímọc
Tọađộ
Độ caonơi mọc(m)
Độtànche
Sinhtrưởng
Vậthậu
+ Trên các OTC tiến hành thu thập số liệu về
1) Tổ thành loài cây gỗ: Cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 6cm trởlên đo các chỉ tiêu D1.3, Hvn, Dt, độ tàn che Kết quả ghi vào biểu 02
Biểu 02 Biểu điều tra tầng cây cao
Số hiệu tuyến: Ngày điều tra: Người điều tra:
Số hiệu OTC: Tọa độ: Địa điểm:
Trạng thái rừng: Vị trí: Địa hình:
Hướng dốc: Độ dốc: Hướng phơi:
TT Tên loài D1.3 (cm) Hvn(m) DT (m) Sinh trưởng Ghi chú
2) Cây tái sinh: Lập 5 ô dạng bản (ODB) kích thước 5x5 m (25 m2) ở 4góc và ở giữa ô tiêu chuẩn, điều tra tên loài, chiều cao theo 4 cấp, điều tra chấtlượng và nguồn gốc cây tái sinh Kết quả được ghi vào biểu 03
Biểu 03 Biểu điều tra cây tái sinh
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Người điều tra:
Số cây tái sinh Sinh
trưởng
Nguồngốc
Ghichú
<20cm
20-50cm
100cm
50->100cm
3) Điều tra cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng: Mô tả loài, % chephủ, chiều cao bình quân Kết quả được ghi vào biểu 04
Biểu 04 Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Người điều tra:
Hướng dốc: Độ dốc: Độ cao:
TT ODB Tên loài Chiều cao Độ che phủ (%) Sinh trưởng Ghi chú
Trang 22Hvn, được đo bằng thước đo cao có độ chính xác đến cm, D1,3 được đobằng thước kẹp kính có độ chính xác đến mm DT được đo bằng thước dây, có
độ chính xác đến cm
Chiều cao cây tái sinh, thực vật ngoại tầng được đo bằng thước đo caohoặc thước dây, tùy theo thực tế, độ chính xác đến cm
Tọa độ, độ cao được đo bằng GPS
Độ dốc, hướng dốc, hướng phơi được đo bằng la bàn cầm tay
b Đánh giá đặc tính sinh vật học:
- Quan sát 10 cây trên tuyến hoặc trong ô tiêu chuẩn, mô tả các đặc điểm:+ Thân: Mô tả hình dạng, màu sắc vỏ, cấu tạo vỏ, chiều cao hoặc độ dài
và các biểu hiện khác có thể quan sát bằng mắt thường
+ Lá, hoa, quả: Mô tả hình dạng, kích thước, cấu tạo bên ngoài, màu sắchoa, màu sắc quả khi non và khi chín,…
+ Rễ: Chọn 05 cây ở rừng tự nhiên và 10 cây ở mô hình sau khi trồng 24tháng: Đào gốc nhưng không để tổn thương bộ rễ, đo kích thước, đếm số rễ vàchụp ảnh để mô tả bộ rễ
- Theo dõi vật hậu: Chọn 30 cây trong rừng tự nhiên, đánh số thứ tự vàquan sát liên tục trong 24 tháng, mỗi tháng thu thập số liệu 01 lần Nội dungquan sát gồm: Thời gian rụng lá, nảy chồi, ra lá mới, ra hoa, kết quả và quả chíncủa Bò Khai
- Đánh giá đặc điểm đất đai: Lấy phẫu diện đất nơi loài có phân bố tựnhiên nhiều, phân bố trung bình và phân bố ở mức độ thấp để đánh giá :
+ Số lượng mẫu: 03 mẫu
+ Các chỉ tiêu phân tích: Dung trọng, tỷ trọng, PHKCl, Mùn, Độ ẩm, Ndt,Kdt, Pdt, Độ xốp
c) Điều tra, phỏng vấn, thu thập thông tin về kiến thức bản địa của ngườidân về cây Bò khai tại Vườn Quốc gia Bến En
- Đối tượng điều tra, thu thập thông tin: Các hộ nông dân (10 phiếu/thôn x 34
thôn = 340 phiếu)
18.2.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Bò khai tại Vườn Quốc gia Bến En.
a Yêu cầu chung:
+ Tiêu chuẩn hom: Hom bánh tẻ, không sâu bệnh
+ Phương pháp cắt hom: Vết cắt gọn, không để dập nát đầu cắt, cắt vátmột góc 600, để lại 2 lá, mỗi lá để ¼ - 1/3 diện tích lá ở phía cuống
+ Bảo quản, vận chuyển hom: Hom cắt được bỏ vào túi ni lông, buộc kínhoặc được bó trong vải sạch, ẩm, cho vào thùng giấy để vận chuyển đến nơigiâm hom
+ Phòng trừ sâu, bệnh: Hom được nhúng trong dung dịch sunfat đồng 5%
Trang 23trong thời gian 20 - 30 giây để xử lý nấm bệnh trước khi tiến hành các thínghiệm giâm hom.
+ Chế độ tưới nước trong quá trình giâm hom: Đặt chế độ phun sương tựđộng từ 3 – 4 giờ/1 lần, tùy thuộc vào tình hình ra rễ của hom giâm và thời tiếttrong ngày
+ Chế độ ánh sáng trong quá trình giâm hom: Luống giâm hom được làmkhung vòm và che bằng nilon trắng trong suốt thời gian giâm hom
+ Ra ngôi, vào bầu: Hom được đưa vào bầu dinh dưỡng khi có ít nhất 03rễ/hom (mỗi rễ dài 0,5 cm) Bầu cấy cây là bầu Polietylen, kích thước 9cm x 13
cm, có đáy
+ Cắt hom có độ dài 15-20cm (có ít nhất 3 mắt)
+ Giá thể giâm hom: 100% cát sông sạch
+ Mỗi công thức thí nghiệm giâm 30 hom, lặp lại 3 lần
+ CT 1: Xử lý hom giống bằng hóa chất ATB nồng độ 0,5%
+ CT 2: Xử lý hom giống bằng hóa chất ATB nồng độ 1,0%
+ CT 3: Xử lý hom giống bằng hóa chất ATB nồng độ 1,5%
+ CT 4: Xử lý hom giống bằng chế phẩm Fitomix
+ CT5: Xử lý hom giống bằng chế phẩm Fitomix pha loãng 2 lần
+ CT6: Xử lý hom giống bằng chế phẩm Fitomix pha loãng 5 lần
+ CT7: Xử lý hom giống bằng Chế phẩm giâm chiết Bimix super roots:Pha 20cc chế phẩm với 2 lít nước
+ CT8: Xử lý hom giống bằng Chế phẩm giâm chiết Bimix super roots:Pha 20cc chế phẩm với 3lít nước
+ CT9: Xử lý hom giống bằng Chế phẩm giâm chiết Bimix super roots:Pha 20cc chế phẩm với 5 lít nước
Theo dõi trong thời gian 45 ngày, 5 ngày thu thập số liệu 01 lần Các chỉtiêu theo dõi gồm: Thời gian rễ, tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ, chiều dài rễ và chấtlượng bộ rễ Kết quả theo dõi được ghi vào biểu 05
Biểu 05 Biểu điều tra kết quả giâm hom
Ngày điều tra: Người điều tra:
Công thức: Ngày giâm hom:
Trang 24hom
Môsẹo
Môsẹo
Sốchồi
Chiềudài
Sốrễ
Chiều dài
Sốchồi
Chiềudài
Sốrễ
Chiềudài
Chiều dài rễ được đo bằng thước học sinh, có độ chính xác đến mm, cácchỉ tiêu khác sử dụng phương pháp mục trắc
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm:
+ Các CT bố trí: Chế độ chiếu sáng: 25%, 50% và 75% và không che sáng (đối chứng)
+ Thời gian chiếu sáng: từ khi vào bầu đến khi xuất trồng.
+ Quy mô: 30 bầu/1 công thức x 4 công thức x 3 lần nhắc lại = 360 bầu + Thành phần ruột bầu gồm: 80% đất tầng B+ 18% phân chuồng hoai +2% phân vi sinh hữu cơ
+ Giàn che được theo công thức thí nghiệm của Nguyễn Hữu Thước,1964:
100)
(
)(
2 2
X a X
Trong đó: A%- Tỉ lệ cần che bóng
X- Khoảng giữa các nana- Bề rộng các nan(X+a)2- Diện tích cần che bóng
Khoảng cách giữa các nan của các công thức cụ thể là:
Che sáng 25%: 0,129mChe sáng 50%: 0,048mChe sáng 75%: 0,02 mDùng các nan cây luồng già có chiều rộng 2cm, giàn che có chiềucao là 1m, rộng hơn mép luống là 40cm Luống cây và giàn che được làmtheo hướng Đông – Tây để tránh nắng chéo vào buổi sáng và buổi chiều
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sự sinh trưởng của Bò khai ở giai đoạn vườn ươm:
Trang 25Từ khi bắt đầu vào bầu đến hết 5 tháng, hằng tháng theo dõi các chỉ tiêuHvn, D0 tình hình sinh trưởng và tỷ lệ sống của cây con ở các công thức D0 được
đo bằng thước kẹp Palme, Hvn được đo bằng thước kẻ có độ chính xác đến mm.Kết quả điều tra được ghi vào biểu 06
Biểu 06 Biểu điều tra sinh trưởng của cây con dưới các chế độ che
sáng/thành phần ruột bầu khác nhau
Công thức: Ngày vào bầu: Ngày đo:
Lần đo: Người đo:
Lần lặp TT cây D00 (cm) Hvn (cm) Chất lượng Ghi chú
18.2.4 Thực hiện nhân giống cây bò khai để triển khai mô hình.
Áp dụng kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Bò
khai tốt nhất để sản xuất 23.000 cây giống Bò khai (13.334 cây trồng chính + 2.667
cây trồng dặm (20%) = 16.000 cây Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn là 70%(70% x 16.000 cây = 22.860 cây)
18.2.5 Xây dựng mô hình thử nghiệm cây Bò khai tại Vườn Quốc gia Bến En.
18.2.5.1 Lựa chọn 02 mô hình:
- Chọn đất tương tự như đất ở khu vực có Bò khai phân bố tập trung,cách nguồn nước không quá 500m Tốt nhất là khu vực có tỷ lệ che sáng tựnhiên của các loài cây gỗ ≥ 50% đều trên toàn bộ diện tích, trường hợp không
có cây gỗ che sáng thì chọn nơi có thể thiết kế các giàn che sáng theo yêu cầu
- 01 mô hình trồng xen canh dưới tán cây gỗ, diện tích 0,5 ha
- 01 mô hình trồng thuần loài, diện tích 0,5 ha
- Chọn cây giống 5 tháng tuổi sinh trưởng tốt, không sâu, bệnh
- Mật độ trồng: 6.667 bụi/ha , khoảng cách 1m x 1,5 m, mỗi bụi trồng 02 cây, trồng dặm 20%
- Trồng tháng 2/2019
- Bón lót: 1kg phân chuồng hoai + 0,05 kg phân NPK(10-10-5+TE)/hố
- Chế độ chăm sóc: 03 tháng chăm sóc 01 lần Tổng số có 3 lần chăm sóctrong 10 tháng (từ tháng 3/2019 – 12/2020)
- Nội dung chăm sóc gồm: Phát dọn dây leo, bụi rậm; xáo xới quanh gốc,đường kính 0,6m; bón 0,5kg phân chuồng hoai và 0,025 kg phân NPK (20-20-15+TE)/gốc/lần