Báo cáo này hướng dẫn phương pháp lựa chọn bố mẹ, kỹ thuật chăn nuôi gà rừng tai đỏ thuần chủng ở quy mô hàng hóa và có khả năng áp dụng cho nhiều đối tượng cũng như ở nhiều địa phương. Đây là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh đã được đánh giá cao và được cấp bằng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoan Lao động Việt Nam năm 2013.
Trang 1Phần 1 HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI GÀ RỪNG SINH SẢN
I GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG
- Gà rừng sinh sản về hình thái chúng đều có mỏ màu xám chì và mắt nâu
đen
- Con trống có mào đơn và hai tích màu cờ Viền cổ lông kiếm dài mầu đỏ lửa
Phần ức bụng lông mầu đen Lưng và cánh mầu đỏ thẫm, pha đen Gốc đuôi có túm
lông mầu trắng, lông đuôi dài mầu đen
- Con mái có viền cổ lông vàng nhạt, pha xám, điểm những nốt đen nâu hình
hạt dưa Phần ức bụng lông màu nâu Lưng và cánh mầu nâu xỉn Lông đuôi ngắn
mầu đen
Gà rừng giống sinh sản
- Vườn quốc gia Bến En sau 2 năm nghiên cứu và theo dõi gà rừng sinh sản
cho thấy như sau:
+ Tỷ lệ ghép trống, mái sinh sản: 1/4
+ Tỷ lệ trứng có phôi: 82,3-90,0%
- Tỷ lệ nở: 77,6%
- Tỷ lệ nuôi sống đến 4 tuần tuổi: 89,1%
- Thức ăn bình quân từ sơ sinh đến 26 tuần tuổi: 31,9 gam/con/ngày
- Thức ăn bình quân từ sơ sinh đến 52 tuần tuổi: 35,1 gam/con/ngày
- Tiêu tốn thức ăn cho 1kg trọng lượng cơ thể đến 1 năm tuổi: 13,6 kg
Trang 2- Trọng lượng bình quân đến 52 tuần tuổi: Gà trống: 1215 gam; gà mái
705gam
II KỸ THẬT CHĂN NUÔI
2.1 Giai đoạn gà từ 1-26 tuần tuổi
2.1.1 Yêu cầu chung về chuồng trại
- Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách
xa các trại chăn nuôi gia cầm, gia súc khác nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro do
lây nhiễm chồng chéo
- Hướng chuồng thiết kế giữ được mùa Đông thì ấm, mùa Hè thoáng mát
Mái hiên có thể đua ra từ 1-1,2 mét để hạn chế mưa hắt Chuồng được ngăn chia
các ô bằng lưới mắt cáo hoặc bằng các phên tre, nứa có các lỗ đan rộng từ 2-4 cm
Xung quanh chân tường xây gạch cao 40 cm, nền đổ cát vàng dầy từ 20-25 cm
Chuồng trại chăn nuôi 2.1.2 Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
rước khi đưa gà vào nuôi dù qui mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi điều
kiện vật chất kỹ thuật, như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng uống,
chất độn chuồng trong giai đoạn úm gà con, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi
có kinh nghiệm về chăn nuôi
Trang 3- Chuồng trại: Chuồng nuôi phải để trống trước khi đưa gà vào nuôi từ
15-20 ngày và phải được xử lý theo đúng quy định về vệ sinh phòng dịch, tường, nền
được quét vôi đặc nộng độ 40% Sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút NaOH 2%
với liều 0,25lít/m2 hoặc bằng thuốc sát trùng Foocmol 3% phun 1-2 lần Trước khi
thả gà vào nuôi 1-2 ngày phun tẩy uế
- Máng ăn: Hai tuần đầu có thể dùng khay tôn (kích thước 50 x 100 x 2,5
cm) cho từ 50-100 gà con Từ tuần thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng dài
hoặc máng tròn)
- Máng uống: Thông thường dùng máng tròn (Gallon) gồm phần đáy và
thân lắp vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con
1,5-2 lít; gà hậu bị, gà sinh sản 4-6 lít
Máng ăn cho gà hậu bị và gà đã trưởng thành
- Chụp sưởi: Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết nhiệt do đó
phải có hệ thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khả năng
điều tiết được thân nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường Thường dùng nguồn là
bóng điện nhiệt năng, tuỳ theo số lượng gà con mà bố trí hệ thống sưởi cho hợp lý
và hiệu quả kinh tế
- Rèm che: Dùng vải bạt hoặc có thể tận dụng bao tải khâu lại thành rèm
che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt
vào
- Thùng úm gà: Trong thời gian úm, để tập chung nguồn nhiệt tránh gió lùa
ta sử dụng thùng úm được đóng bằng cót ép ở phần đáy và xung quanh, phần nắp
có tấm đậy khung gỗ buộc lưới sắt mắt cáo Chiều cao thùng úm từ 50-60 cm,
rộng 50 cm và dài 1-1,2 m Mỗi thùng như vậy có thể úm được từ 50- 60 gà con
Trang 4Úm gà và thùng úm gà
- Độn chuồng: Thường dùng chất độn chuồng là cát vàng và hàng tháng
dùng xẻng để đảo 1lần và hàng năm phải thay cát từ 1 - 2lần, tùy theo mức độ ô
nhiễm Gà rừng sinh trưởng chậm nên giai đoạn gà con được tính từ 1- 60 ngày
tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nôi tạng nhất là bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện,
dạ dầy chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men tiêu hoá chưa đầy đủ, gà
rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo điều kiện tốt cho gà phát
triển nhanh và khoẻ
2.1.3 Chọn gà giống
- Chọn gà sơ sinh: Gà con phải nhanh nhẹn, mắt sáng, bụng gọn, chân mập
mạp, lông bông và có các viền nâu, đen chạy dọc theo cơ thể từ đầu cho tới đuôi,
trọng lượng 21-22 gram/con
- Chọn gà 4 tuần tuổi: Để có được những con gà sinh sản đạt tiêu chuẩn cần
lưu ý phần chọn lọc này rất quan trọng Những con mái được chọn làm giống sinh
sản phải có màu lông thuần nhất (cánh và lưng màu nâu xám), da chân màu xám
chì
2.1.4 Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
- Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh được thân nhiệt một cách
hoàn hảo, do đó các bệnh về hô hấp, tiêu hoá rất dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường
lên cao và ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà
Bảng 1 Yêu cầu nhiệt độ và độ ẩm.
Ngày tuổi Nhiệt độ trong thùng
úm (oC)
Nhiệt độ chuồng
nuôi(oC)
Trang 5Sau 28 ngày 26 18-21
- Trong quá trình nuôi phải chú ý quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ
để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Nếu thấy gà tập trung nhiều tại nguồn nhiệt,
chen lấn chồng lên nhau là thùng úm không đủ nhiệt và gà bị lạnh Nếu gà tản xa
nguồn nhiệt, nháo nhác, kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều
chỉnh giảm nhiệt độ Khi đủ nhiệt, gà vận động ăn, uống bình thường, ngủ nghỉ tản
đều trong thùng úm
- Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu tiên, sau 4-6 tuần giảm
thời gian chiếu sáng (ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm mới thắp đèn điện)
2.1.5 Nước uống
- Nước là nhu cầu đầu tiên của gà mới nở Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất
là pha thêm đường Glucoza 5 gram và Vitamin C 1 gram/lít nước uống vào những
ngày đầu tiên, nhiệt độ nước từ 18-21 0c
- Sử dụng máng nước tự động bằng nhựa 1 lít/50 gà con Vị trí đặt máng
nước là góc của thùng úm
2.1.6 Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
- Gà mới nở cho uống nước trước 2-3 giờ thì mới cho ăn thức ăn, thường
cho ăn theo bữa Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tuỳ thuộc qui mô đàn để
tránh sự tranh giành thức ăn Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngày
đêm cho ăn từ 5-8 lượt để thức ăn luôn được mới thơm, hấp dẫn và tránh lãng phí
- Thức ăn nuôi gà được phối chế cân đối đảm bảo nhu cầu dình dưỡng cho
từng giai đoạn phát triển Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụng
thức ăn bổ sung động vật, thực vật, khoáng vi lượng và Vitamin Không sử dụng
nguyên liệu hôi mốc, đỗ tương phải rang chín
- Gà sinh sản sử dụng thức thức ăn cám tổng hợp (kết hợp giữa thức ăn tự
nhiên và cám công nghiệp) Chế độ ăn qua từng giai đoạn tuổi như sau: Giai đoạn
1 tuần tuổi cho ăn bình quân 6 gam/con/ngày, giai đoạn 4 tuần tuổi cho ăn 11,6
gam/con/ngày, giai đoạn 26 tuần tuổi 35,9 gam/con/ngày
2.1.7 Mật độ
Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật độ
đàn nuôi Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ
càng thấp sẽ cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp Tuy nhiên, có
thể nuôi gà rừng ở các giai đoạn tuổi với mật độ như sau:
Trang 6- 1 tuần tuổi mật độ 50 con/m2.
- 2 - 4 tuần tuổi mật độ 25 con/m2
- 5 - 8 tuần tuổi mật độ 8-10 con/m2
- Trên 9 tuần tuổi mật độ 5-8 con/m2
2.1.8 Chế độ thông thoáng khí
Thùng úm gà con 1 ngày tuổi phải che chắn kỹ, đảm bảo ít có sự thay đổi
không khí Khoảng 3 ngày sau khi sự trao đổi chất của gà tăng lên cần phải thay
đổi không khí để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm phát sinh bệnh cầu trùng và hô hấp
2.1.9 Vệ sinh phòng bệnh
- Với phương châm phòng bệnh là chính do đó cần đảm bảo nghiêm ngặt
các biện pháp vệ sinh phòng bệnh phù hợp với tình hình dịch bệnh tại địa phương
Phải theo dõi quan sát đàn gà thường xuyên, như: Ăn, uống, ngủ, nghỉ, chất bài
tiết để phát hiện và xử lý nhanh chóng tất cả các dấu hiệu bất thường
- Trong ô chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi các động
vật khác như chó, mèo Định kỳ diệt trừ các loài gặm nhấm, chim hoang và côn
trùng khác
2.2 Giai đoạn gà > 26 tuần tuổi.
2.2.1 Chọn giống gà sinh sản và mật độ nuôi
- Chọn những gà mái lên đẻ có ngoại hình phát dục biểu hiện bằng độ bóng
của lông, mào, bụng mềm, xương chậu rộng
- Con trống là gà rừng thuần chủng, cần chọn những con mào thẳng đứng,
to, chân cao, hai cánh vững chắc úp gọn trên lưng, dáng đi hùng dũng
- Tỷ lệ ghép trống mái (1trống/4 mái)
- Thức ăn cần đảm bảo chất lượng tốt, nhu cầu hàng ngày như nuôi gà giai
đoạn 26 tuần tuổi nhưng bổ sung vào khẩu phần thêm 5% protein (bột cá nhạt hoặc
đỗ tương rang chín) và 5% bột sò nghiền nhỏ
- Nước uống: Phải đủ, sạch và thay nước ngày 2 lần và buổi sáng và chiều
- Cần định kỳ tẩy giun sán 4-5 tháng/lần
2.2.2 Ổ đẻ
Ổ đẻ của gà thường làm trên nền vào trong góc chuồng nuôi, số lượng phải
đủ, tốt nhất là 2 mái/ổ Khu vực ổ đẻ dùng cành cây che đậy để giảm ánh sáng
Trang 7chiếu vào, chất lót ổ đẻ phải bằng rơm, rạ hoặc các loại lá cây khô khác, nhưng
phải sạch sẽ và được thay thường xuyên 1tháng/lần
2.2.3.Thu nhặt trứng và bảo quản
- Tiến hành lấy trứng ấp khi gà đẻ được từ 1-2 tuần, thu nhặt trứng từ 2-3
lần/ngày để hạn chế dập vỡ và bẩn trứng
- Bảo quản trứng ở nơi thoáng mát sạch sẽ, nhiệt độ từ 15-180c, ẩm dộ 75%
Mùa Đông bảo quản được 7 ngày, mùa Hè nên bảo quản dưới 5 ngày
Chú ý: Khi thu nhặt trứng thấy bụi bẩn ta chỉ vệ sinh khô chứ không được
rửa trứng, vì vỏ trứng có một lớp keo mỏng để bảo vệ nếu ta rửa trứng thì lớp này
bị mất và vi khuẩn dễ dàng sâm nhập và làm hỏng trứng.
III KHẨU PHẦN THỨC ĂN
3.1 Giai đoạn từ 0- 4 tuần tuổi
3.2 Giai đoạn từ 4- 13 tuần tuổi
Trang 9Phần 2
HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI GÀ RỪNG THƯƠNG PHẨM
I KỸ THẬT CHĂN NUÔI
1.1.Yêu cầu chung về chuồng trại
- Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cácch
xa các trại chăn nuôi gia cầm, gia súc khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu
mức rủi ro do lây nhiễm chồng chéo
- Hướng chuồng thiết kế giữ được mùa Đông thì ấm, mùa Hè thoáng mát
Mái hiên có thể đua ra từ 1-1,2m để hạn chế mưa hắt Chuồng được ngăn chia các
ô bằng lưới mắt cáo hoặc bằng các phên tre, nứa có các lỗ đan rộng từ 2-4 cm
Xung quanh chân tường xây gạch cao 40 cm, nền đổ cát vàng dầy từ 15-25 cm
Mặt khác, chuồng nuôi phải đảm bảo thực hiện được các biện pháp vệ sinh thuận
lợi
1.2 Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
- Chước khi đưa gà vào nuôi dù qui mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi
điều kiện vật chất kỹ thuật, như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng
uống, chất độn chuồng trong giai đoạn úm gà con, tiêu độc khử trùng và chọn
người nuôi có kinh nghiệm
- Chuồng trại: Dụng dụ chăn nuôi phải được cọ rửa sạch sẽ, để trống
chuồng trước khi đưa gà vào nuôi 15-20 ngày và phải được sử lý theo đúng qui
định về vệ sinh phòng dịch, tường, nền được quét vôi đặc nộng độ 40% Sau đó để
khô phun tiêu độc bằng xút 2% (NaOH) với liều 0,25lít/m2 hoặc bằng các loại
thuốc sát trùng khác như Foocmol 3% phun 2-3 lần Trước khi thả gà vào nuôi 1-2
ngày phun tẩy uế lại lần nữa
- Máng ăn: Hai tuần đầu có thể dùng khay tôn (kích thước 100cm x 50cm x
2,5cm) cho từ 50-100 gà con Từ tuần thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng
dài hoặc máng tròn)
- Máng uống: Thông thường dùng máng tròn (Gallon) gồm phần đáy và
thân lắp vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con
1,5-2 lít, gà hậu bị 4-8 lít Có thể dùng máng uống dài tương đương với máng ăn
nhưng thiết diện nhỏ hơn
- Chụp sưởi: Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết nhiệt do đó
phải có hệ thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khả năng
Trang 10điều tiết được thân nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường, thường dùng nguồn là
bóng điện nhiệt năng, tuỳ theo số lượng gà con mà bố trí hệ thống sưởi cho hợp lý
và hiệu quả kinh tế
- Rèm che: Dùng vải bạt hoặc có thể tận dụng bao tải khâu lại thành rèm
che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt
vào
- Thùng úm gà: Trong thời gian úm, để tập trung nguồn nhiệt tránh gió lùa
ta sử dụng thùng úm được đóng bằng cót ép ở phần đáy và xung quanh, phần nắp
có tấm đậy khung gỗ buộc lưới sắt mắt cáo Chiều cao thùng úm từ 50-60 cm,
rộng 50 cm và dài 1-1,2 m Mỗi thùng như vậy có thể nuôi được 50-60 gà con
- Độn chuồng: Thường dùng chất độn chuồng là cát vàng, lớp cát này càng
dày càng tốt và hàng tháng dùng xẻng để đảo 1lần và hàng năm phải thay cát từ
1-2 lần tuỳ theo mức độ ô nhiễm Gà rừng thương phẩm sinh trưởng chậm nên giai
đoạn gà con được tính từ 1- 60 ngày tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nôi tạng
nhất là bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, dạ dầy chưa tiêu hoá được các loại thức
ăn xơ cứng, men tiêu hoá chưa đầy đủ, gà rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh
do đó phải tạo điều kiện tốt cho gà phát triển nhanh và khoẻ
2.3 Chọn gà giống
Gà con phải nhanh nhẹn, mắt sáng, bụng gọn, chân mập mạp, lông bông và
có các viền nâu, đen chạy dọc theo cơ thể từ đầu cho tới đuôi, trọng lượng 21-22
gam/con
2.4 Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
- Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh được thân nhiệt một cách
hoàn hảo, do đó các bệnh về hô hấp, tiêu hoá rất dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường
lên cao và ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà,
do đó yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ trong từng giai đoạn tuổi của gà cần điều chỉnh
theo yêu cầu sau:
Ngày tuổi Nhiệt độ trong thùng
úm (oC)
Nhiệt độ chuồngnuôi (oC)
Trang 11- Trong qúa trình nuôi phải chú ý quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ
để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Nếu thấy gà tập trung nhiều tại nguồn nhiệt,
chen lấn chồng lấn lên nhau là thùng úm không đủ nhiệt và gà bị lạnh Nếu gà tản
xa nguồn nhiệt, nháo nhác, kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải
điều chỉnh giảm nhiệt độ Khi đủ nhiệt, gà vận động ăn, uống bình thường, ngủ
nghỉ tản đều trong thùng úm
- Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu tiên, sau 4-6 tuần giảm
thời gian chiếu sáng (ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm mới thắp đèn điện)
2.5 Nước uống
- Nước là nhu cầu đầu tiên của gà mới nở Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất
là pha thêm đường Glucoza 5 gram và Vitamin C 1 gram/lít nước uống vào những
ngày đầu tiên, nhiệt độ nước tốt nhất là 18-21 oc
- Sử dụng máng nước tự động bằng nhựa 1 lít/50 gà con Vị trí đặt máng
nước là góc của thùng úm
2.6 Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
- Gà mới nở cho uống nước trước 2-3 giờ thì mới cho ăn thức ăn, thường
cho ăn theo bữa Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tùy thuộc qui mô đàn để
tránh sự tranh giành thức ăn Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngày
đêm cho ăn từ 5-8 lượt để thức ăn luôn được mới thơm, hấp dẫn và tránh lãng phí
- Thức ăn nuôi gà được phối chế cân đối đảm bảo nhu cầu dình dưỡng cho
từng giai đoạn phát triển Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụng
thức ăn bổ sung động vật, thực vật, khoáng vi lượng và Vitamin Không sử dụng
nguyên liệu hôi mốc, đỗ tương phải rang chín
- Gà thương phẩm sử dụng thức thức ăn cám tổng hợp (kết hợp giữa thức ăn
tự nhiên và cám công nghiệp) Chế độ ăn qua từng giai đoạn tuổi như sau:
+ Giai đoạn từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi thức ăn bình quân 6 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 1- 4 tuần tuổi thức ăn bình quân 11,6 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 4- 26 tuần tuổi thức ăn bình quân 35,9 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 26- 52 tuần tuổi thức ăn bình quân 38,3 gam/con/ngày
2.7 Mật độ
Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật độ
đàn nuôi Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ
càng thấp sẽ cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp
- 1 tuần tuổi mật độ 50 con/m2
Trang 12- 2 - 4 tuần tuổi mật độ 25 con/m2.
- 5 - 8 tuần tuổi mật độ 8-10 con/m2
- Trên 9 tuần tuổi mật độ 5-8 con/m2
2.8 Thông thoáng
Thùng úm gà con 1 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như
bằng không Khoảng 3 ngày sau khi sự chao đổi chất của gà tăng lên cần phải thay
đổi không khí để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm phát sinh bệnh cầu trùng và hô hấp
2.9 Vệ sinh phòng bệnh
- Với phương châm phòng bệnh là chính do đó cần đảm bảo nghiêm ngặt
các biện pháp vệ sinh phòng bệnh phù hợp với tình hình dịch tễ tại địa phương
Phải theo dõi quan sát đàn gà thường xuyên, như: Ăn, uống, ngủ, nghỉ, chất bài
tiết để phát hiện và sử lý nhanh chóng tất cả các dấu hiệu bất thường
- Trong ô chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi các động
vật khác Định kỳ diệt trừ các loài gặm nhấm, chim hoang và côn trùng
II KHẨU PHẦN THỨC ĂN
0-4 tuần tuổi 5-8 tuần tuổi 9 tuần đến giết thịt