Báo cáo này hướng dẫn phương pháp lựa chọn bố mẹ, kỹ thuật chăn nuôi gà rừng tai đỏ ở quy mô hàng hóa và có khả năng áp dụng cho nhiều đối tượng cũng như ở nhiều địa phương. Đây là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh đã được đánh giá cao và được cấp bằng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoan Lao động Việt Nam năm 2013.
Trang 1Phần I
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ RỪNG LAI
I GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG.
- Là thế hệ con lai F1 giữa gà Rừng tai đỏ với gà Ri vàng rơm, về hình thái chúng
đều có mỏ màu xám chì và mắt nâu đen
- Con trống có mào đơn và hai tích màu cờ Viền cổ lông kiếm dài mầu đỏ lửa Phần ức
bụng lông mầu đen, có con màu vàng Lưng và cánh mầu đỏ thẫm, pha đen, có con pha vàng.
Gốc đuôi có túm lông màu trắng, có một số con không có đặc điểm này, lông đuôi dài mầu
đen Da chân phần lớn mầu trắng ngà, một số con chân màu xám chì.
- Con mái có viền cổ lông vàng nhạt, pha xám, điểm những nốt đen nâu hình hạt
dưa Phần ức bụng lông màu nâu, có con màu vàng Lưng và cánh mầu nâu xỉn, có con màu
vàng pha nâu Lông đuôi ngắn màu đen Da chân phần lớn mầu xám chì, một số con chân
màu trắng ngà.
- Qua nghiên cứu lai tạo và chăn nuôi tại Vườn quốc gia Bến En gà lai có những đặc
điểm cụ thể như sau:
- Tỷ lệ nuôi sống sau 4 tuần tuổi đạt: 88,8%.
- Tỉ lệ nuôi sống từ 4 – 26 tuần tuổi đạt: 86,2%.
- Bình quân tỉ lệ nuôi sống tư sơ sinh đến 26 tuần tuổi đạt 75,8%
- Thức ăn bình quân từ sơ sinh đến 26 tuần tuổi: 32,6 gam/con/ngày.
- Tiêu tốn thức ăn cho 1kg trọng lượng cơ thể: 5,76 kg.
- Trọng lượng cơ thể bình quân đến 26 tuần tuổi: Gà trống đạt 1.290 gam, con mái
đạt 820 gam
II KỸ THẬT CHĂN NUÔI (giai đoạn từ SS – 26 tuần tuổi)
2.1 Yêu cầu chung về chuồng trại
- Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách xa các
trại chăn nuôi gia cầm, gia súc khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro do
lây nhiễm chồng chéo.
- Hướng chuồng thiết kế giữ được mùa Đông thì ấm, mùa Hè thoáng mát Mái hiên
có thể đua ra từ 1-1.2 mét để hạn chế mưa hắt Chuồng được ngăn chia giữa các ô bằng
lưới mắt cáo hoặc bằng các phên tre, nứa có các lỗ đan rộng từ 2-4 cm Xung quanh chân
tường xây gạch cao 40 cm, nền đổ cát vàng dầy từ 20-25 cm Mặt khác phải đảm bảo thực
hiện được các biện pháp vệ sinh san toàn sinh học.
2.2 Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
-Trước khi đưa gà vào nuôi dù qui mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi điều kiện
vật chất kỹ thuật, như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng uống, chất độn
Trang 2chuồng trong giai đoạn úm gà con, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi có kinh nghiệm
về chăn nuôi.
- Chuồng trại: Dụng dụ chăn nuôi phải được cọ rửa sạch sẽ, để trống chuồng trước
khi đưa gà vào nuôi 15-20 ngày và phải được sử lý theo đúng qui định về vệ sinh phòng
dịch, tường, nền được quét vôi đặc nộng độ 40% Sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút 2%
lần Trước khi thả gà vào nuôi 1-2 ngày phun tẩy uế lại lần nữa.
- Máng ăn: Hai tuần đầu có thể dùng mẹt tre hoặc khay tôn (kích thước 50 x 100 x
2.5 cm) cho từ 80-100 gà con Từ tuần thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng dài hoặc
máng tròn).
- Máng uống: Thông thường dùng máng tròn (Gallon) gồm phần đáy và thân lắp
vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con 1.5-2 lít, gà hậu bị,
sinh sản 4-8 lít Có thể dùng máng uống dài tương đương với máng ăn nhưng thiết diện nhỏ
hơn.
- Chụp sưởi: Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết nhiệt do đó phải có hệ
thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khả năng điều tiết được thân
nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường, thường dùng nguồn là bóng điện nhiệt năng, tuỳ
theo số lượng gà con mà bố trí hệ thống sưởi cho hợp lý và hiệu quả kinh tế.
- Rèm che: Dùng vải bạt, bạt dứa hoặc có thể tận dụng bao tải dứa khâu lại thành
rèm che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt vào.
- Thùng úm gà: Trong thời gian úm gột, để tập chung nguồn nhiệt tránh gió lùa ta
sử dụng thùng úm được đóng bằng cót ép ở phần đáy và xung quanh, phần nắp có tấm đậy
khung gỗ buộc lưới sắt mắt cáo Chiều cao thùng úm từ 50-60 cm, rộng 50 cm và dài 1-1.2
m Mỗi thùng như vậy có thể nuôi được 100 con gà.
- Độn chuồng: Thường dùng chất độn chuồng là cát vàng bê tông sạch Lưu ý lớp
cát này càng dày càng tốt và hàng tháng dùng xẻng để đảo 1lần và hàng năm phải thay cát
từ 1-2 lần tuỳ theo mức độ ô nhiễm gà Rừng lai sinh sản sinh trưởng chậm nên giai đoạn
gà con được tính từ 1- 60 ngày tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nôi tạng nhất là bộ máy
tiêu hoá chưa hoàn thiện, dạ dầy chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men tiêu hoá
chưa đầy đủ, gà rất nhậy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo điều kiện tốt cho gà
phát triển nhanh và khoẻ.
2.3 Chọn gà giống nuôi sinh sản
- Chọn gà sơ sinh: Gà con phải nhanh nhẹn, mắt sáng, bụng gọn, chân mập mạp,
lông bông và có các viền nâu, đen chạy dọc theo cơ thể từ đầu cho tới đuôi, trọng lượng
22-24 gram/con.
Trang 3- Chọn gà 4 tuần tuổi: Để có được những con gà lai sinh sản đạt tiêu chuẩn cần lưu ý
phần chọn lọc này rất quan trọng Những con mái được chọn làm giống sinh sản phải có
màu lông thuần nhất (cánh và lưng màu nâu xám), da chân màu xám chì.
2.4 Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
- Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh được thân nhiệt một cách hoàn hảo,
do đó các bệnh về hô hấp, tiêu hoá rất dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường lên cao và ảnh
hưởng trực tíêp đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà Yêu cầu cụ thể về
nhiệt độ và độ ẩm ở các giai đoạn tuổi, cụ thể như sau:
(0 0 c)
Nhiệt độ chuồng nuôi
(0 0 c)
Ẩm dộ tương đối
(%)
60-70
- Trong qua trình nuôi phải chú ý quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ để điều
chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Nếu thấy gà tập trung nhiều tại nguồn nhiệt, chen lấn chồng
lên nhau là thùng úm không đủ nhiệt và gà bị lạnh Nếu gà tản xa nguồn nhiệt, nháo nhác,
kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều chỉnh giảm nhiệt độ Khi đủ
nhiệt, gà vận động ăn, uống bình thường, ngủ nghỉ tản đều trong thùng úm.
- Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu tiên, sau 4-6 tuần giảm thời gian
2.5 Nước uống
- Nước là nhu cầu đầu tiên của gà mới nở Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất là pha
thêm đường Glucoza 5 gram và Vitamin C 1 gram/lít nước uống vào những ngày đầu tiên,
- Sử dụng máng nước tự động bằng nhựa 1 lít/50 gà con Vị trí đặt máng nước là góc
của thùng úm
2.6 Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
- Gà mới nở cho uống nước trước 2-3 giờ thì mới cho ăn thức ăn, thường cho ăn theo
bữa Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tuỳ thuộc qui mô đàn để tránh sự tranh giành
thức ăn Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngày đêm cho ăn từ 5-8 lượt để thức
ăn luôn được mới thơm, hấp dẫn và tránh lãng phí.
- Thức ăn nuôi gà được phối chế cân đối đảm bảo nhu cầu dình dưỡng cho từng giai
đoạn phát triển Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụng thức ăn bổ xung
động vật, thực vật, Premex khoáng vi lượng và Vitamin Không sử dụng nguyên liệu hôi
mốc, hoặc bột cá mặn, đỗ tương phải rang chín
- Gà lai F1 có thể sử dụng thức ăn là cám công nghiêp, thức ăn tự nhiên hoặc là cám
tổng hợp (kết hợp giữa thức ăn tự nhiên và cám công nghiệp theo tỷ lệ 1/1), tuy nhiên cần
Trang 4cho ăn bổ sung thêm các yếu tố khoáng vi lượng và vitamin Khẩu phần ăn bình quân cho
từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: 7 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 1 - 4 tuần tuổi: 15,2 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 4 - 26 tuần tuổi: 36,2 gam/con/ngày
2.7 Mật độ nuôi
- Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật độ đàn
nuôi Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ càng thấp sẽ
cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp.
2.8 Chuồng trại và độ thông thoáng.
Thùng úm gà con 1 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như bằng
không Khoảng 3 ngày sau khi sự trao đổi chất của gà tăng lên cần phải thay đổi không khí
để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm phát sinh bệnh cầu trùng và hô hấp.
2.9 Vệ sinh phòng bệnh.
- Với phương châm phòng bệnh là chính do đó cần đảm bảo nghiêm ngặt các biện
pháp vệ sinh phòng bệnh phù hợp với tình hình dịch tễ tại địa phương Phải theo dõi quan
sát đàn gà thường xuyên, như: Ăn, uống, ngủ, nghỉ, chất bài tiết để phát hiện và sử lý
nhanh tróng tất cả các dấu hiệu bất thường.
- Trong ô chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi các động vật khác
như chó, mèo Định kỳ diệt trừ các loài gặm nhấm, chim hoang và côn trùng khác.
III MỘT SỐ KHẨU PHẦN THỨC ĂN THAM KHẢO.
3.1 Giai đoạn từ 0- 4 tuần tuổi
3.2 Giai đoạn 5- 8 tuần tuổi
Trang 5Ngô 45.0
3.3 Giai đoạn 9- 16 tuần tuổi
3.4 Giai đoạn 17- 26 tuần tuổi
3.5 Giai đoạn gà đẻ > 26 tuần tuổi.
Phần 2
KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO GÀ RỪNG LAI
Trang 6I LỊCH DÙNG THUỐC VÀ VẮC XIN
1.1 Lịch dùng thuốc phòng bệnh
Ngày tuổi Thuốc dùng và cách sử dụng Liều lượng Phòng bệnh
Vitamin C và Bcomlex
5 gr/lít nước 1gr/lít nước
Phòng bệnh đường ruột,
hô hấp, tăng đề kháng
Tylosin
1gr/lít nước 0.5gr/lít nước
Tăng đề kháng, phòng bệnh CRD
thức ăn
Theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột
Multivitamin
1gr/lít nước 1gr/lít nước
Phòng cầu trùng
1.2 Lịch dùng vắc xin phòng bệnh
- Viêm PQTN – IB lần 1
- Bệnh Newcastle
- Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
giọt
- Đậu gà lần 1 chủng vào cánh
- Bệnh Gumboro
- Bệnh đậu gà
- Gumboro lần 1 nhỏ mũi, mắt 2-4 giọt.
- Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
- Bệnh Gumboro
0,2ml/con
- Bệnh Newcastle
II MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ LAI VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐIỀU TRỊ
2.1 Bệnh cầu trùng
2.1.1 Nguyên nhân
Bệnh cầu trùng do loại ký sinh trùng đơn bào gây ra, có nhiều loại cầu trùng
gây bệnh trên gia súc gia cầm, giống cầu trùng gây bệnh trên gà là Eimeria
Trang 7Có 11 loài Eimeria được phát hiện ở gà, trong đó có 5 loài gây thiệt hại đáng
kể là:
- E.acervulina ký sinh ở tá tràng hồi tràng
- E maxima và E.necatrix ký sinh ở phần giửa ruột và bao noãn hoàng
- E brunetti và E.tenella ký sinh ở vùng thấp hơn ở ruột non
- Cầu trùng có sức đề kháng cao với các chất sát trùng thông thường và điều
kiện ngoại cảnh Người ta thường sử dụng nhiệt độ cao để tiêu diệt cầu trùng
- Gà mắc bệnh do ăn phải kén hợp tử (oocysts) có trong phân của gà bệnh
hoặc gà khỏi bệnh thải ra môi trường ngoài
2.1.2 Triệu chứng
Gà tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc cầu trùng, nhưng tuổi hay bị bệnh nhất là
2 - 3 tuần tuổi
Gà trưởng thành hay bị bệnh ở thể mãn tính.Lúc đầu gà bỏ ăn, khát nước, lông
xù, thường ngồi trên hai chân, đi lại loạng choạng Phân loãng, lúc đầu có màu xanh,
sau đó có màu nâu có lẫn máu, đôi khi trong phân có nhiều máu Lỗ huyệt bẩn do
dính phân, cuối thời kỳ bệnh có thể bị liệt Bệnh ở thể cấp tính gà thường chết nhanh
sau 2 - 7 ngày, bệnh cũng có thể kéo dài, khỏi dần nhưng chậm
2.1.3 Bệnh tích
Mào, tích, cơ bắp nhợt nhạt Mổ khám nếu là cầu trùng manh tràng thì thấy
manh tràng ứ đầy máu, sưng to Nếu là cầu trùng ruột non thì tá tràng sưng to, ruột
phình to từng đoạn, niêm mạc tá tràng viêm, trên bề mặt thấy các ổ tròn xám
2.1.4 Phòng bệnh
Không để nền chuồng ẩm ướt, dọn sạch phân và thường xuyên trộn vào thức
ăn thuốc chống cầu trùng Thuốc phòng và chữa cầu trùng cần thay đổi theo từng
thời kỳ để tránh cầu trùng thích ứng với loại thuốc đó
2.1.5 Điều trị
Dùng một trong các loại thuốc sau để phòng và trị bệnh :
-Vicox toltra : 1ml/ 1 lít nước uống liên tục trong 2 ngày
- Vime Anticoc: 1g pha với 1 lít nước hoặc 5g trộn vào 4kg thức ăn dùng liên tục 5
ngày
Cần bổ sung thêm :
- Vimix Plus : 1g pha cho 1 lít nước dùng pha nước cho uống liên tục 3 - 5
ngày
- Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ liên tục 5 ngày
Trang 8- Khi gà bệnh cần bổ sung vitamin K, E, A và Selenium vào khẩu phần để làm
giảm mức độ chết của gà
2.2 Bệnh thương hàn
2.2.1 Nguyên nhân
Bệnh bạch lỵ gà là một bệnh nhiễm trùng truyền nhiễm do Samonella
pullorum gây nên, thường nhiễm cho gà con Đặc điểm của bệnh là gà ỉa phân trắng
đục như vôi, nên gọi là "bạch lỵ" Gà con mắc bệnh thường chết tới 70-80% Nếu
trong thức ăn lại thiếu vitamin, nhất là B1 sẽ gây chết tới 100% Nhiều vùng chăn
nuôi gà coi đây là một bệnh nguy hiểm, làm cản trở đến phát triển chăn nuôi Đối với
gà trưởng thành mắc bệnh bạch lỵ (phân trắng) gọi là bệnh thương hàn gà, do
Samonella gallinarum gây nên Gà mái đẻ mắc bệnh, trứng nở, gà con sẽ mang bệnh bạch
lỵ Vì vậy, trên thực tế hai bệnh này, coi như là một bệnh bạch lỵ do hai loại vi khuẩn
pullorum và gallinarum gây nên Từ đó, sự nhiễm trùng gây bệnh mang tính di
truyền là phương thức truyền bệnh phổ biến, mang tính truyền nhiễm dai dẳng, lưu
hành trong từng địa phương Gà là loại cảm thụ bệnh mạnh nhất, gà con mới nở vài
ngày tuổi thường mắc bệnh nhiều hơn cả Gà trưởng thành ít mắc và mắc ở thể mạn
tính, trở thành những ổ chứa vi khuẩn Gà tây, gà gô, vịt con, ngỗng con có thể mắc
bệnh này Gà trống khi giao phối với gà mái mắc bệnh sẽ truyền bệnh cho nhiều gà
mái khác
2.2.2 Triệu chứng
- Gà con mắc bệnh, đứng một chỗ, buồn rầu kêu "chiếp chiếp" liên tục, kém
ăn, đi lảo đảo, lông tơ khô, dựng đứng, mắt nhắm, niêm mạc mắt, mào, yếm đều nhợt
nhạt Phân lúc đầu xanh nhạt, sau trắng, đặc, cứng như vôi, có khi lẫn tia máu, phân
khô bao quanh và bịt chặt lỗ đít làm gà không ỉa được Kéo dài vài ngày thì chết,
nhiều khi còn thấy gà con biểu hiện đau, sưng khớp, què
- Gà trưởng thành, thường mắc chủ yếu ở thể mạn tính, gà mái sẽ đẻ thưa, sau
ngừng hẳn do buồng trứng bị viêm, nếu viêm nặng buồng trứng sẽ vỡ gây viêm
xoang bụng gà sẽ chết
2.2.3 Phòng bệnh
- Thường xuyên dọn vệ sinh, thay độn chuồng, dùng nước vôi 10% tiêu độc
- Máng ăn, máng uống, dùng xút 3% để rửa, sau dội lại bằng nước sôi
- Tiêu độc lò ấp hoặc phòng ấp, cần dùng formol và thuốc tím (MnO4K2) theo
tỷ lệ 2g formol và 1,5g thuốc tím, trộn vào nhau để hơi formol bay ra khử trùng cho
Trang 9một mét khối không khí Hoặc có thể để formol bốc hơi trong lò ấp mỗi tháng 1 lần kéo dài
từ 30-60 phút
- Kiểm tra máu gà mái để phát hiện bệnh, cứ 6 tháng một lần, nếu cần, gửi
máu gà mái trong đàn nghi có bệnh về phòng chẩn đoán thú y trung ương kiểm tra
Nếu có bệnh, tiêu diệt và vệ sinh tiêu độc chuồng trại, rồi mới nhập gà mái khác
2.2.4 Điều trị
Dùng một trong các loại thuốc sau:
- Chloramphenicol (Tyfomycine) pha nước tỷ lệ một phần vạn đến hai phần
vạn (từ 1/10.000 đến 2/10.000) cho gà con uống tự do trong một tuần
- Sulfamerazine (hoặc Sulfamethazine) cho uống tự do từ 1-2 ngày
- Tetracycline và Nitrofurazolidon, mỗi thứ 25g trộn trong 10kg thức ăn hỗn
hợp cho gà ăn tự do 5 ngày rồi nghỉ, mỗi tháng 1 lần Ngoài ra, còn nhiều thứ thuốc
khác như Neomycine, Ampicolifort đều có hiệu quả phòng và trị bệnh này, trước
khi sử dụng đọc kỹ lời chỉ dẫn ở nhãn thuốc
2.3 Bệnh Marek
2.3.1 Nguyên nhân
Bệnh do Herpesvirus gây ra, đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh của tế bào lâm
ba dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên và các cơ quan nội tạng, da,
cơ, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn cơ năng vận động và bại liệt Gà và gà tây,
gà sao đều mắc bệnh, nhất là gà con trên 6 tuần tuổi dễ mắc bệnh hơn Phổ biến nhất
là từ 8 - 24 tuần tuổi Đường lây lan chủ yếu là đường hô hấp và tiêu hoá
2.3.2 Triệu chứng
* Thể cấp tính : Xảy ra chủ yếu trên gà con 4 - 8 tuần tuổi, ít có triệu chứng
điển hình, chết đột ngột từ 20 - 80% Gà bệnh kém ăn, gầy còm, bại liệt chỉ thấy ở
cuối ổ dịch, bệnh có thể chuyển sang thể mãn tính Thể mãn tính Xảy ra ở gà từ 4 - 8
tháng ở thể thần kinh và thể mắt
* Thể thần kinh: Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ dần rồi đến toàn thân Đuôi gà rũ
xuống Gà bị liệt một chân hay cả 2 chân Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, gà mái
bệnh giảm đẻ, gà trống giảm khả năng đạp mái
* Thể mắt: Mắt lúc đầu bị viêm nhẹ, gà tỏ ra mẫn cảm với ánh sáng, chảy
nước mắt trong, dần dần bị viêm màng tiếp hợp, rồi viêm mống mắt, gà có thể bị mù
mắt
Sau 14 ngày nhiễm bệnh, sự suy giảm miễn dịch bắt đầu xuất hiện do virus tấn công
vào lách, tuyến ức và Fabricius Từ 5 đến 6 tuần sau khi bị nhiễm các khối u trong cơ
thể gà bắt đầu xuất hiện do nhiều tế bào lymphô T đã biến đổi thành tế bào ung thư
Trang 102.3.3 Bệnh tích
*Thể cấp tính: Chủ yếu hình thành khối u ở gan, lách thận, phổi, buồng trứng,
dịch hoàn, có 2 dạng khối u là Khối u tràn lan: Gan lách có khối u to hơn bình
thường, nhạt màu và bở Khối u hạt: Bề mặt cơ quan sần sùi với những hạt to nhỏ
không đều nhau Một số trường hợp có khối u ở dạ dày tuyến, thành ruột, cơ, da
Bệnh tích ở da thường không rõ, trong vài trường hợp tuyến lông có thể bị nhiễm gây
xuất huyết dưới da đùi gọi là "đùi đỏ Alabama"
*Thể mãn tính: Chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại
vi như: dây thần kinh cánh, hông, dây thần kinh xuất phát từ phần dưới của tuỷ sống,
như dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh sinh dục Ở một số trường hợp còn có
thấy tuỷ sống bị sưng to, cơ bị teo, mắt bị mù, con ngươi biến dạng
2.3.4 Phòng bệnh
Bệnh không có thuốc điều trị do đó việc áp dụng qui trình phòng bệnh bằng vệ
sinh, diệt trùng và tiêm phòng vắc xin cho gà lúc 1 ngày tuổi ngay tại phòng ấp là cần thiết
Chú ý: Tất cả các loại vắc xin phòng bệnh Marek đều phải dùng hết trong 2 giờ sau
khi pha, tốt nhất là 30 phút Để quá 2 giờ hoặc đông lạnh trở lại đều làm mất hiệu lực của vắc xin
2.4 Bệnh newcastle
2.4.1 Nguyên nhân
Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramyxovirus gây bệnh cho gà mọi lứa
tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá Bệnh lây lan
nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.Virus dễ bị diệt
bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường
mát Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá, do tiếp xúc gà bệnh
2.4.2 Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, có thể biến động từ 5 – 12 ngày
*Thể quá cấp tính:Thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ
sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh
*Thể cấp tính: Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43
0C, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, từ mũi chảy ra chất
nhớt Gà rối loạn tiêu hoá, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, khi dốc gà
ngược thấy có nước chảy ra có mùi chua khắm Vài ngày sau gà tiêu chảy phân có
màu nâu sẫm, trắng xanh hay trắng xám Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những
tia màu đỏ
Gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như ở gà giò Ở gà đẻ sản
lượng trứng giảm hoặc ngừng để hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày