Đây là một để tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh và đã được cấp bằng Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đề tài có cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn xác đáng; cung cấp nhiều kiến thức khoa học trong gây nuôi và nhân giống loài gà rừng tai đỏ, một giống gà có giá trị kinh tế và sinh thái cao ở Việt Nam
Trang 1SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THANH HÓA
VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TỈNH
“Nghiên cứu thử nghiệm chăn nuôi gà rừng (Gallus gallus Spadiceus
Linnaeus) bán tự nhiên tại vùng đệm Vườn quốc gia Bến En”
Thanh Hóa, năm 2012
Trang 2Phần 1: MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gà rừng có tên khoa học là (Gallus gallus spadiceus Linnaeus) đây là một
loài hoang cầm rất phổ biến [7], sống trong nhiều kiểu rừng khác nhau, tuy nhiênsinh cảnh thích hợp nhất là rừng thứ sinh gần nương rẫy, hay rừng gỗ pha tre, nứa.Nguồn thức ăn của gà rừng phong phú rất thuận lợi trong việc phát triển số lượng,phù hợp với quy mô hộ gia đình và trang trại Thịt Gà rừng thơm ngon, bổ dưỡng
và được thị trường trong, ngoài nước ưa chuộng với nhu cầu ngày càng lớn.Nhưng cho đến nay, thịt Gà rừng chủ yếu được khai thác từ tự nhiên Vì vậy,trong tự nhiên mật độ, trữ lượng của chúng đã giảm sút nghiêm trọng
Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và bảo tồn có hiệu quả loài gà rừng trong
tự nhiên, gần đây đã có một số nơi thử nghiệm chăn nuôi gà rừng Tuy nhiên, việcchăn nuôi gà rừng chưa được chú trọng hoặc tự phát, nhỏ lẻ, cùng với việc thiếuhiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi: kỹ thuật kiến tạo chuồng trại phù hợp; thức ăn,bệnh tật đang gây ra những khó khăn rất lớn cho người chăn nuôi
Để chăn nuôi thành công loài gà rừng, cần thiết phải có những hiểu biết vềđặc điểm sinh học, sinh thái, kỹ thuật thiết kế chuồng trại, bệnh tật và cách phòngchống cũng như các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và nguồn thức ăn chăn nuôi phùhợp Đặc biệt là phải xây dựng được bản hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi là hếtsức cần thiết hiện nay
Nhận thức được những giá trị khoa học và thực tiễn trên về loài gà rừng,
Vườn quốc gia Bến En đã xây dựng và triển khai đề tài khoa học “Nghiên cứu thử nghiệm chăn nuôi gà rừng (Gallus gallus Spadiceus Linnaeus) bán tự nhiên tại vùng đệm Vườn quốc gia Bến En” nhằm từng bước bảo tồn, phát triển và khai
thác hợp lý các giá trị kinh tế mà loài gà rừng mang lại
Trang 3I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Theo các tài liệu lịch sử, loài người đã biết bắt các loài động vật hoang dã,thuần dưỡng chúng từ 4-5 nghìn năm trước công nguyên, đến nay chúng ta có mộttập đoàn các loài vật nuôi rất đa dạng với hàng ngàn loài và giống gia súc, giacầm, thủy sản, động vật cảnh Ngày nay, do nhu cầu ngày càng tăng về các sảnphẩm có nguồn gốc từ rừng nên việc nhân nuôi, thuần dưỡng các loài động vậthoang dã có xu hướng phát triển Theo Conway (1998), trên thế giới đang nuôikhoảng 500.000 động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho 3000 loài chim, thú,
bò sát, ếch nhái Mục đích của phần lớn các vườn động vật hiện nay là gây nuôicác quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục vụ thamquan giải trí và bảo tồn ĐDSH [2] Việc nghiên cứu trong các vườn động vật đangđược chú trọng Các nhà khoa học đang cố gắng tìm giải pháp tối ưu để nhângiống, phát triển số lượng Tuy nhiên, kỹ thuật nhân nuôi, sinh thái và tập tínhcũng như việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nuôi có hiệu quả động vật hoang dãcòn nhiều vấn đề cần giải quyết
Theo tổ chức Nông-Lương thế giới (FAO), nguồn gen động vật bao gồm cảđộng vật được thuần hóa, động vật hoang dã và nó đóng vai trò rất quan trọng đốivới loài người Năm 1980, một chiến lược bảo tồn giống vật nuôi được thực hiệntrên phạm vi toàn cầu, khu vực và từng quốc gia Nội dung đã được FAO và Cơquan bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) hợp tác xây dựng Chươngtrình đề ra 4 nội dung cơ bản chính [8]:
- Bảo tồn bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý
- Ngân hàng dữ liệu nguồn gen động vật
- Đào tạo nâng cao năng lực cho nguồn lực con người tham gia chương trình bảotồn
- Lưu giữ vật liệu di truyền
Về phương pháp bảo tồn, các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra 2 phương thức:
- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Là bảo tồn một loài nào đó ngay tại
môi trường sống tự nhiên của nó Để đạt được mục đích tái lập quần thể muốnbảo tồn, người ta bảo vệ khu vực sinh sống khỏi các tác động có hại từ con ngườihay các loài khác [8]
- Bảo tồn ngoại vi (ex-situ conservation): Là quá trình bảo tồn ở bên ngoài
môi trường sống tự nhiên của một loài nào đó Phương pháp này chuyển một phần
Trang 4quần thể từ nơi cư trú bị đe dọa đến một chỗ mới (khu sinh thái khác hay vườn thú, các trang trại bảo tồn…) Hình thức này cũng bao gồm cả việc duy trì, nuôi cấy, lưu trữ gen trong phòng thí nghiệm (giữ tinh trùng, trứng hoặc phôi) [8].
Việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các giống vật nuôi đã được dư luận,các nhà khoa học nhiều quốc gia quan tâm, chú ý từ nhiều thập kỷ qua Đã cónhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ các loài động vật quý hiếm khỏi sự tuyệtchủng Với sự ra đời của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi làQuỹ quốc tế về thiên nhiên (WWF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá LiênHiệp Quốc (UNESCO) và chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã
chứng tỏ điều đó Ngoài ra, nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở
nhiều khu vực sinh thái khác nhau, tại nhiều quốc gia trên khắp các châu lục Hiệpđịnh về cấm buôn bán các loài động vật quý hiếm đã được ký và thi hành có hiệu
quả Sách đỏ (Red book) đã được Uỷ ban các loài động vật sống sót (Species Suvival Commission của IUCN) xuất bản Nhờ đó nhiều loài động vật bị đe doạ
tuyệt chủng đã được bảo hộ, nhiều loài biến mất trong tự nhiên đã được khôi phục
và đưa trở lại môi trường sống của chúng [8]
Trong những năm 1970, châu Âu đứng trước nguy cơ một số giống vật nuôitruyền thống bị biến mất Một nhóm người có tâm huyết ở Anh đã thành lập nên
tổ chức các giống vật nuôi hiếm (Rare Breerss Suvival Trust), sau đó là Hiệp Hội
chăn nuôi Châu Âu (EAAP) Kết quả điều tra thống kê cho thấy có 240 giống vậtnuôi có nguy cơ bị biến mất Từ đó hầu hết các nước Châu Âu đều có chươngtrình bảo tồn vật nuôi
Khái niệm “Label Rouge” xuất xứ từ Pháp những năm đầu thập kỷ 60 vàngày nay phổ biến khắp thế giới dùng để chỉ Gà thả vườn chất lượng cao và cácloài gia cầm chăn thả khác Pháp là nuớc nuôi và tiêu thụ sản phẩm Gà “LabelRouge” nhiều nhất thế giới: Năm 1996 là 90 triệu con, sản xuất trên 133.000 tấnthịt sạch chất lượng cao, chiếm khoảng 20% sản lượng thịt gà và trên 10% tổng
sản lượng thịt gia cầm [16]
Theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998), công ty Kabir đã tạo ra 28dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu, trong đó có 13 dòng nổi tiếng đượcrất nhiều nước ưa chuộng Nhiều dòng có lông màu đỏ nhạt hoặc vàng, chân và damàu vàng; thịt chắc, đậm, thơm ngon, khả năng thích nghi cao, kháng bệnh tốt, ít
ảnh hưởng bởi các stress nên tỷ lệ sống cao, khả năng cho thịt tốt và phù hợp với nhiều phương thức nuôi[8].
Trang 5Đối với loài gà rừng (Galllus gallus) từ rất lâu loài người đã có ý thức thuần hoá và lai tạo ra nhiều các giống gà ngày nay (khoảng 150 giống gà khác nhau) Rất có thể gà rừng đã được con người thuần dưỡng để lấy thịt từ thời săn
bắt hái lượm Theo các tài liệu khảo cổ học trong thập niên 1980 và dựa vào các
di vật tìm được trong thung lũng Indus tức Pakistan ngày nay, giới khoa học cho
rằng, loài gà rừng đã được con người thuần dưỡng vào khoảng 4000 năm trước công
nguyên[8]
Trong cuốn “Origin of species” Darwin cũng từng khẳng định rằng tất cả
các giống gà trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Á Trong một
bài viết cho tập san National Geographic, W.G Solheim II nhận xét rằng Đông
Nam Á là nơi phát triển nền chăn nuôi đầu tiên trên trái đất Gần đây, có hai
nghiên cứu từ Nhật cho thấy giống gà Shamo, đây là một giống gà nòi được nuôi
chủ yếu cho thể thao đá gà có nguồn gốc từ Đông Dương và Miền Nam Trung
Quốc ngày nay[8]
Hiện nay với công nghệ sinh học hiện đại, việc nghiên cứu về gà rừng đã cónhững đột phá mới Các nhà nghiên cứu thuộc viện y tế quốc gia Mỹ tuyên bố đãhoàn thành giải mã gen gà rừng, tổ tiên của các loài gà nhà hiện nay Họ đã đặtbản đồ gen gà rừng và bản đồ gen của con người song song với nhau, để giúp các
nhà khoa học so sánh và hiểu được bộ máy sinh hoá của chính con người [16]
Những năm gần đây, dịch cúm gia cầm thường xuyên bùng phát tại Châu
Á, đã thôi thúc các nhà khoa học tìm hiểu sâu hơn về bộ gen gà rừng Các chuyêngia Nông nghiệp hy vọng rằng bản đồ gen của gà rừng là một cơ sở rất quan trọnggiúp họ định hướng, lai tạo để cải thiện được nhiều giống gia cầm, giúp điều tranguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng chống hiệu quả hơn về loại dịch bệnhnan y này
1.2 Ở Việt Nam
Hiện nay Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang nổi cộm lênhiện tượng suy thoái, mất dần tính đa dạng sinh học của các loài động vật Nhiềuloài động vật quí, có quá trình thích nghi lâu đời với điều kiện khí hậu ở nước tađang bị mai một, thậm chí tuyệt chủng Nước ta có khoảng 275 loài thú, 800 loàichim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2.470 loài cá, 5.500 loài côn trùng tínhđộc đáo của sự đa dạng sinh học này là rất cao Có 10% loài thú, chim và cá củathế giới tìm thấy ở Viêt Nam Ngày nay do việc tăng dân số cùng với tốc độ đô thịhoá, công nghiệp hoá làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến một
Trang 6tới 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng thê đang đứng trướcnguy cơ bị tiêu diệt Trong số 53 loài động vật quý hiếm đưa vào sách đỏ ViệtNam thì có 10 loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, 18 loài ở tình trạng nguy cấp,
22 loài thuộc diện hiếm, 3 loài thuộc loại thoát hiểm Sự tuyệt chủng này gần đây
xảy ra rất nhanh theo tốc độ phát triển của kinh tế thị trường và đô thị hoá [8]
Trong xu thế trên, sự mai một các loài vật nuôi và các loài hoang dã ở cácđịa phương trên toàn quốc đang ở mức trầm trọng Trước tình hình đó, nhà nước
ta đã có nhiều dự án nghiên cứu bảo tồn, phát triển nhiều loài động vật bản địa.Đây là các loài mang nhiều đặc điểm quý như khả năng chống chịu bệnh cao, ítđòi hỏi về chế độ ăn và chế độ chăm sóc cầu kỳ, nhưng lại cho tốc độ sinh trưởngtương đối nhanh, thịt rất thơm ngon và một số loài còn có thể nuôi làm vật cảnh.Trong việc khai thác và bảo vệ sự phong phú đa dạng các giống vật nuôi hiện nay,việc nghiên cứu, bảo tồn các giống gà hoang dã bản địa đang là vấn đề thiết thực
và cấp bách Tình hình bảo tồn quỹ gen vật nuôi trong nước hạn chế ở việc pháthiện các giống quý hiếm, việc bảo tồn và phát triển giống mới chỉ được quan tâm
ở các cơ sở giống quốc gia Các nghiên cứu bảo tồn giống do địa phương (cấptỉnh) thực hiện không nhiều
Đối với giống gà, năm 2002, nghiên cứu của Lê Văn Viễn, Pham Ngọc Uyểngóp phần khẳng định chất lượng của các giống gà địa phương cũng như tính ưu việtcủa các giống này, như: Thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam, khả năng tự kiếm
ăn tốt thích hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống và đặc biệt có sức đề khángcao với một số bệnh Đây là nguồn gen quý cần được đầu tư nghiên cứu và bảo tồn
[16].
Một thực trạng bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan trongcông tác bảo tồn giống ở nước ta nói chung và bảo tồn quỹ gen gà địa phương nóiriêng là tình trạng nguồn gen địa phương không bị tuyệt chủng mà bị lai tạp.Thựctrạng xói mòn nguồn gen được lý giải:
- Sự thiếu hoặc chưa quan tâm đúng mức của cơ quan chức năng do kinh phí hạnhẹp
- Người dân chưa ý thức được giá trị của giống địa phương, cũng như sựthờ ơ do hiệu quả kinh tế thấp mà con giống mang lại
Đánh giá một số nét của công tác bảo tồn giống vật nuôi ở nước ta chothấy: Giống địa phương quý hiếm đang trong nguy cơ bị lai tạp hoặc tuyệt chủng,trong khi đó dự án lớn của quốc gia phục vụ công tác bảo tồn giống không nhiều
và cuối cùng là muôn vàn khó khăn nảy sinh trong công tác bảo tồn Vì vậy, hơn
Trang 7ai hết, mỗi địa phương cần có chương trình hành động góp phần thu thập, bảo tồn
và phát triển giống vật nuôi địa phương nói chung và các giống gà rừng nói riêng
Nước ta hiện nay có 3 phân loài gà rừng, đó là: Gallus gallus gallus, Gallus gallus jabouillei và Gallus gallus spadiceus Phân biệt các phân loài này ở các điểm khác nhau theo tác giả Võ Quí (1971) thì phân loài G g gallus có da yếm tai màu trắng, lông cổ rất dài và có màu đỏ cam, còn phân loài G g jabouillei có
da yếm tai màu đỏ, lông cổ ngắn hơn và cũng có màu đỏ cam và G.g spadiceus da
yếm tai cũng màu đỏ, nhưng lông cổ khá dài và có màu đỏ thẫm [12]
Năm 1995 tác giả Trương Văn Lã - Viện sinh thái tài nguyên sinh vật đãbáo cáo về công trình nghiên cứu “Góp phần nghiên cứu nhóm chim trĩ và đặc
điểm sinh học, sinh thái của gà Rừng tai trắng (Gallus gallus gallus), Trĩ bạc (Lophura nycthemera nycthemera), Công (Pavo muticus imperator) và biện pháp
bảo vệ chúng” Lần đầu tiên tác giả đã công bố được những khám phá bước đầu vềtập tính, thức ăn, phân bố, cấu trúc đàn, sinh sản về phân loài gà rừng tai trắng [7]
Trong những năm gần đây, Vườn quốc gia Cúc Phương cũng đã tiến hànhnghiên cứu bước đầu về loài gà rừng: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học, khảnăng sinh sản để nhân nuôi và phát triển loài gà rừng và Nghiên cứu một số đặcđiểm sinh học và khả năng lai tạo gà lai giữa gà rừng với gà ri trong điều kiệnnuôi nhốt Tuy nhiên, các kết quả chưa được công bố do đang trong giai đoạnnghiên cứu
Nhìn chung, hiện nay các công trình nghiên cứu về gà rừng được tiến hànhkhông nhiều, một số nghiên cứu mới chỉ tập chung vào việc điều tra khảo sát,đánh giá phân loại và xác định khu hệ là chính, còn việc tìm hiểu sâu về tập tínhsinh thái và các đặc điểm sinh học còn rất hạn chế Đặc biệt là việc nghiên cứubảo tồn và phát triển nhằm khai thác các giá trị kinh tế về loài gà rừng thì vẫnchưa được chú trọng
II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 8Vườn Quốc gia Bến En được bao bọc phía Đông Nam là dãy núi Đầu Lợn;phía Đông Bắc là dãy núi đá chạy theo hướng từ Tây sang Đông, phía Tây- Nam
là dãy núi Đàm, núi Bao Cù và một phần núi Bao Khế, phía Tây Bắc là dông đồiChu -Bái Tinh, khu vực trung tâm là hồ sông Mực
2.1.3 Địa chất
Kết quả khảo sát địa chất Vườn quốc gia gồm các loại đá trầm tích chủ yếulà: Phiến thạch, sa thạch phân bố nhiều ở Bình Lương, Xuân Bình, Xuân Thái.Các trầm tích sinh hóa đá vôi ở núi Đàm, Bao Khế và cửa đập sông Mực
Nhiệt độ không khí cao nhất vào các tháng 6 7, trung bình từ 26,6 28,5oC có ngày lên tới 41,7oC Nhiệt độ không khí thấp nhất vào tháng 1- 2, trungbình 16,3oC- 17,2oC, có ngày xuống tới 3,1oC
Lượng mưa trung bình năm 1.796 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 4 đếntháng 10 (chiếm 90% lượng mưa cả năm) Từ tháng 11 đến tháng 3 năm saulượng mưa thấp (chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm)
- Độ ẩm không khí trung bình năm 86%, cao nhất vào tháng 2 đến tháng 4(88-90%), thấp nhất vào tháng 12 đến tháng 01 Lượng bốc hơi hàng năm là896mm, lượng bốc hơi cao nhất vào các tháng 5-6 và tháng 7
- Gió: Có hai loại là gió Đông Bắc và gió Tây Nam Gió Đông Bắc thổi từtháng 11 đến tháng 3 năm sau, những tháng đầu có tính chất khô lạnh, những
Trang 9tháng sau kéo theo mưa phùn và rét Gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 8 với tínhchất khô nóng, hàng năm có từ 19-22 ngày gió Tây Nam (còn gọi là gió Lào).
2.1.6 Thuỷ văn
Sông Mực là một chi lưu lớn của sông Yên nằm trọn trong VQG Bến En,toàn bộ thuỷ vực có 4 suối lớn:
- Suối Hậu dài hơn 16 km bắt nguồn từ núi Bao Cù và Bao Trè
- Suối Thổ dài hơn 20 km bắt nguồn từ núi Cọ
- Suối Cốc dài 11 km bắt nguồn từ núi Voi
- Suối Tây Tọn dài 15 km bắt nguồn từ dãy núi Tèo Heo-Roọc Khoan.Nhìn chung các sông suối trong vùng có nước quanh năm, lòng suối hẹp vàsâu, tốc độ dòng chảy mạnh về mùa mưa và giảm dần về mùa khô Hồ sông Mực
có dung tích biến động từ 250-400 triệu m3 nước, có nước quanh năm, diện tíchtrung bình 2.281 ha
2.1.7 Khu hệ thực vật.
Hệ thực vật Vườn Quốc gia Bến En thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanhđai thấp (UNESCO 1973; Trung 1978; Vidal 2000; Lan et al 2006; WCMC2004) Có 3 Hệ sinh thái chính là: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh trênnúi đất, hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi đá vôi và hệ sinh thái ao hồ (Đấtngập nước) Kết quả nghiên cứu năm 1997 – 2000 và nghiên cứu, điều tra bổ sung
từ năm 2003 – 2009 đã thống kê được ở Vườn quốc gia Bến En có 1.389 loài của
6 ngành thực vật thực vật bậc cao (có mạch) thuộc 902 chi, 196 họ Trong đó 29loài có trong danh lục đỏ IUCN 2007, 42 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam năm
2007 như: Lim xanh (Erythrophleum fordii Oliv), Gụ lau (Sindora tonchinensis Achev), Sao Hải Nam ( Hopea hainanensis Merr & Chun), Chò đãi (Annamocarya sinensis (Dode) J.F.Leroy).
Có 3 loài thực vật mới của Việt nam được phát hiện ở Bến En là: Xâm cánh
Bến En (Glyptoetalum sclerocarpum (Kurz) M.A Lawson), Đậu khấu Bến En (Myristica yunanensis Y.H Li) và Găng Bến En (Timonius arborea Elmer) Tuy
nhiên, đây mới là kết quả nghiên cứu bước đầu, cần có nghiên cứu đánh giá mộtcách toàn diện hơn Có thể khẳng định khu hệ thực vật Bến En có tính đa dạngcao trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
2.1.8 Khu hệ động vật.
Hệ động vật rừng ở Bến En rất phong phú và đa dạng, kết quả điều tra năm
2000 đã thống kê được ở Bến En có 1.005 loài động vật, trong đó: 91 loài thú,
Trang 10261 loài chim, 54 loài bò sát, 31 loài ếch nhái, 68 loài cá và 500 loài côn trùng(phát hiện mới 01 loài) Có 93 loài động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ ViệtNam như: Vượn đen má trắng, Khỉ mặt đỏ, Culy lớn, Culy nhỏ, Gà lôi, Gấu ngựa,Gấu chó
2.2 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
2.2.1 Dân tộc – dân số và lao động
- Dân tộc: Khu vực Vườn Quốc gia Bến En có 02 thị trấn, 12 xã, 7 đơn vịQuốc doanh và lực lượng vũ trang Có 4 dân tộc chính sinh sống, trong đó chủyếu là các dân tộc Kinh (chiếm 43%); Thái (chiếm 27,8%); Mường (chiếm16,8%) và Thổ (chiếm 12,2%), còn lại là dân tộc khác chỉ chiếm 0,2%
- Dân số và lao động: Theo kết quả điều tra năm 2010, trong vùng lõi vàvùng đệm Vườn Quốc gia có 9.557 hộ dân với tổng số dân là 42.852 người, số laođộng là 22.032 lao động Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 2,7% Trong vùng lõiVườn quốc gia Bến En hiện còn 9 thôn đang sinh sống, với dân số 1.660 người
- Tình hình phân bố dân cư: Dân cư tập trung đông ở các xã Xuân Khang,Xuân Bình, Hóa Quỳ, Xuân Thái Sự phân bố dân số giữa các xã không đồng đều,phần lớn tập trung dọc các trục đường giao thông dẫn đến tình trạng nhiều khuvực thiếu đất sản xuất, ngược lại một số khu vực lại không khai thác sử dụng hếtđất sản xuất Mậtt dộ dân số bình quân cho toàn khu vực vùng đệm 230người/km2, ở xã Xuân Khang mật độ dân số cao nhất (450 người/km2)
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Người dân trong khu Vực vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bến En
đa phần là hộ nghèo, thu nhập bình quân 6.500.000đ/người/năm Đặc biệt, toàn bộ
số thôn nằm trong vùng lõi của Vườn đều thuộc hộ nghèo và cận nghèo Các hoạtđộng chủ yếu là canh tác Nông Lâm nghiệp, hoạt động trồng trọt tập trung vàotrồng lúa nước và là hoạt động chính tạo ra nguồn lương thực cung cấp cho ngườidân, nhưng do năng suất không cao, không đảm bảo lương thực để đáp ứng chonhu cầu của người dân
- Trình độ dân trí thấp, nhận thức và sự hiểu biết về công tác bảo vệ môitrường thiên nhiên còn hạn chế Vì vậy, việc phát rừng làm nương rẫy, khaithác lâm sản, săn bắn, bẩy bắt chim, thú trái phép và chăn thả gia súc bừa bãivẫn còn xẩy ra, đây là những nhân tố gây áp lực lớn, đe dọa tài nguyên đa dạngsinh học Vườn quốc gia Bến En
Trang 11Nhìn chung, tập quán canh tác của nhân dân trong vùng còn lạc hậu, phụthuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất thấp Đời sống còn nhiều khó khăn cả vềvật chất lẫn tinh thần
III THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
3.1 Tên đề tài: “Nghiên cứu thử nghiệm chăn nuôi gà rừng (Gallus gallus
spadiceus) bán tự nhiên ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến En – Thanh Hóa”
3.2 Mục tiêu của đề tài
3.2.1 Mục tiêu chung
Góp phần phát triển nghề chăn nuôi động vật hoang dã, phát triển kinh tế
xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong chăn nuôi gà rừng;
- Xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gà rừng;
- Xác định được một số chỉ tiêu sinh sản trong lai tạo gà lai F1 từ gà trốngrừng và mái ri thuần chủng;
- Bước đầu xác định một số đặc điểm sinh học của dòng gà lai F1;
- Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong chăn nuôi
- 10 con giống gà trống rừng được thuần hóa
- 20 Mái gà ri vàng rơm thuần chủng
- 100 gà ri thương phẩm
- 140 gà hậu bị F1 sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nuôi nhốt
Trang 12- Bản hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gà rừng
- 03 báo cáo chuyên đề:
+ Thực trạng tình hình chăn nuôi gà rừng ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến
En, tỉnh Thanh Hoá
+ Một số đặc điểm sinh học cơ bản của gà rừng trong điều kiện nuôi bán tựnhiên ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến En
+ Hiệu quả kinh tế – xã hội, môi trường và dự báo nhu cầu sản phẩm củathị trường về gà rừng
- Đĩa VCD về tổ chức thực hiện đề tài
- Báo cáo khoa học tổng kết đề tài (Dạng văn bản, dạng đĩa mềm).
Phần 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu về gà rừng thuần chủng
- Nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi
+ Điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng chăn nuôi gà rừng ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hoá.
+ Tìm hiểu, học tập kinh nghiệm chăn nuôi gà rừng ở Vườn quốc gia Cúc phương.
+ Thiết kế, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gà rừng
- Theo dõi một số đặc điểm cơ bản về sinh học của gà rừng trong điều kiệnnuôi bán tự nhiên
+ Theo dõi về thức ăn
+ Theo dõi quá trình sinh trưởng
+ Theo dõi một số đặc điểm sinh sản.
+ Theo dõi các dạng bệnh tật thường gặp
+ Biện pháp chăm sóc
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường và dự báo nhu cầu sảnphẩm của thị trường
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gà rừng
2.1.2 Nghiên cứu lai tạo gà lai F1 giữa trống rừng và mái ri thuần chủng
Trang 13- Xác định một số chỉ tiêu sinh sản trong ghép đôi giữa trống rừng và mái rithuần chủng
- Xác định một số đặc điểm sinh học của dòng gà lai F1
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường trong chăn nuôi gà lai F1
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cách tiếp cận
Nhằm bảo tồn và khai thác loài Gà rừng một cách có hiệu quả, tận dụngtriệt để nguồn giống, nguồn thức ăn, nguồn vật tư sẳn có tại địa phương và ápdụng phương pháp chăn nuôi thông thường làm cơ sở để đánh giá hiệu quả, đápứng được nhu cầu thực tiễn
- Giai đoạn 1(2009 - 2011): Đề tài tiến hành chăn nuôi thử nghiệm gà rừng
và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi Kết quả nghiên cứu chăn nuôi thử nghiệmcho thấy, chăn nuôi gà rừng thuần chủng hiệu quả kinh tế thấp, chủ yếu chỉ cóhiệu quả về mặt khoa học và bảo tồn nguồn gen Để công tác chăn nuôi gà rừngvừa có hiệu quả về mặt khoa học và bảo tồn nhưng vẫn đạt được hiệu quả về kinh
tế cho người chăn nuôi, được sự đồng ý của Sở Khoa học và Công nghệ ThanhHóa tại Văn bản số 424/SKHCN ngày 26/8/2010, đề tài triển khai thực hiện giaiđoạn 2
- Giai đoạn 2: Thử nghiệm lai tạo giữa gà trống rừng và gà mái ri thuầnchủng để tạo ra con lai F1 kế thừa được các tính trạng quí, như: Chất lượng thịtthơm ngon, hình thái bên ngoài cơ bản giống với gà rừng, nhưng trọng lượng cơthể nặng hơn, khả năng đẻ trứng mắn như gà ri, có sức kháng bệnh cao và có thểchăn nuôi phát triển tốt trong điều kiện nuôi nhốt, đem lại hiệu quả kinh tế chongười chăn nuôi
2.2.2 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu
a Vật liệu nghiên cứu
- Địa điểm chăn nuôi thực nghiệm: Đề tài lựa chọn cơ sở chuồng trại tạiKhu chăn nuôi động vật bán hoang dã Vườn quốc gia Bến En để triển khai các lôthí nghiệm
- Việc đánh giá, xác định các chỉ tiêu sinh học của gà rừng, gà lai F1: Đề tàiphối hợp với các kỹ thuật viên, các chuyên gia về lâm học, sinh học, chăn nuôithú y của Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Cúc Phương, trường Đại họcHồng Đức, trường Đại học Lâm nghiệp
Trang 14- Máy móc, thiết bị chuyên dùng: Tận dụng máy móc thiết bị của đơn vị vàmua máy ấp trứng nhân tạo để thực hiện các nội dung nghiên cứu đã được phêduyệt.
b Đối tượng nghiên cứu
1 Gà rừng tai đỏ (Gallus gallus spadiceus): Giống gà đưa vào bố trí thí
nghiệm có nguồn gốc hoang dã, chúng sinh sống ở các khu rừng thứ sinh thuộcvùng đệm Vườn quốc Gia Bến En Theo dõi các chỉ tiêu sinh học từ thế hệ conđược ấp nở từ trứng bằng máy ấp nhân tạo Gà từ khi sinh cho đến khi trưởngthành đều được chăn nuôi, theo dõi và chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt
2 Gà ri vàng rơm được nhập về từ Trung tâm nghiên cứu gia cầm VạnPhúc - Hà Nội Gà mái được đề tài lựa chọn làm mái nền có tuổi đời thừ 14-15tháng, khoẻ mạnh và mầu lông vàng rơm là chủ đạo
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Theo dõi về một số đặc điểm về thức ăn, sinh trưởng của gà rừng: Đề tàixây dựng 01 lô thí nghiệm có dung lượng mẫu 10 cá thể/lôTN (05 trống và 05mái), gà được nuôi trong chuồng có diện tích 25m2
- Theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản trong lai tạo dòng con lai F1 dung lượngmẫu là 5 trống Gà rừng tai đỏ ghép với 20 mái Gà ri vàng rơm, được chia thành 5chuồng ghép đôi, diện tích mỗi chuồng 25m2
Trang 15- Theo dõi một số đặc điểm về thức ăn, sinh trưởng của gà lai F1: Đề tàixây dựng 01 lô thí nghiệm có dung lượng mẫu 10 cá thể/lôTN (05 trống và 05mái), gà được nuôi trong chuồng có diện tích 25m2.
* Các chỉ tiêu theo dõi
- Điều tra đánh giá thực trạng: Các chỉ tiêu điều tra (số hộ chăn nuôi, sốlượng gà, phương thức và tập quán, hiệu quả kinh tế và nhu cầu của thị trường )
- Quá trình sinh trưởng: Trọng lượng SS, 26TT, 52 TT
- Khả năng sinh sản: Mùa sinh sản, tuổi đạp mái của gà trống và đẻ lứa đầucủa gà mái Sản lượng trứng/mái/lứa và khoảng giữa hai lứa đẻ
- Các chỉ tiêu ấp nở bằng phương pháp nhân tạo: Tỷ lệ (trống mái sinh sản,trứng có phôi, nở, nuôi sống đến 4TT, 26TT và 52TT) Thời gian bảo quản và ấptrứng
- Thức ăn: Thức ăn tiêu tốn/ngày và cho 1kg tăng trọng
- Một số bệnh thường gặp và biện pháp điều trị: Bệnh nội khoa, bệnh sảnkhoa, bệnh ngoại khoa, bệnh ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm
- Theo dõi đặc điểm ngoại hình của gà lai F1 theo từng giai đoạn tuổi
hộ chăn nuôi
- Thiết kế, xây dựng chuồng trại chăn nuôi
+ Xác định vị trí chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp vềmùa đông, vị trí đặt ở nơi in tỉnh, ít người qua lại để không ảnh hưởng đến điềukiện sinh hoạt kiếm ăn của gà rừng
+ Kiến tạo không gian chuồng trại cho gà rừng phải đảm bảo có nơi trú ẩnkhi trời mưa bảo, nơi đẻ trứng và ấp nở, sân chơi và nơi cho ăn phù hợp
- Thức ăn chăn nuôi
+ Tên các loại thức ăn đươợc xác định dựa trên danh lục các loài động, thựcvật Việt nam
+ Tỷ lệ thức ăn và thức ăn ưa thích được xác định thông qua việc cân trước
và sau khi ăn
Trang 16+ Chi phí thức ăn trên một đơn vị sản phẩm được xác định bằng phươngpháp cân thông thường
- Quá trình sinh trưởng: Dùng phương pháp cân thông thường để xác địnhtrọng lượng ở các thời điểm ( Sơ sinh, 01 tháng tuổi, 6 tháng tuổi và 12 thángtuổi) và đánh giá khả năng tăng trọng
- Đặc điểm sinh sản: Dùng phương pháp theo dõi trực quan và ghi chépnhật ký
- Các dạng bệnh tật thông thường: Các bệnh thường gặp ở gà rừng đượcchẩn đoán, phòng trị và phân loại dựa trên triệu chứng lâm sàng và mổ khámnghiệm Cập nhật hàng ngày bằng nhật ký chăn nuôi
- Biện pháp chăm sóc
+ Áp dụng biện pháp cho ăn và vệ sinh thông thường: Cho ăn nhiều loạithức ăn khác nhau để xác định loại thức ăn phù hợp trong từng giai đoạn pháttriển, hàng ngày vệ sinh chuồng trại
+ Tim phòng vắc xin định kỳ để tránh dịch bệnh
+ Thường xuyên theo dõi các biểu hiện của gà để khám và chữa bệnh kịpthời
- Theo dõi đặc điểm ngoại hình của gà lai F1: Quan sát, ghi chép nhật ký
(Số liệu theo dõi ngoại nghiệp được cập nhật hàng ngày vào nhật ký chăn nuôi và các mẫu biểu biểu điều tra thu thập số liệu theo các nội dung nghiên cứu tại phụ biểu 09)
* Tổng giá trị hiện tại của chi phí CPV:
+ CPV cho biết tổng chi phí của dự án khi qui đổi về giá trị hiện tại tại thờiđiểm bắt đầu dự án;
+ Lãi suất r
* Giá trị hiện tại của dòng doanh thu BPV:
Trang 17BPV cho biết tổng doanh thu của dự án khi qui đổi về giá trị hiện tạitại thời điểm bắt đầu DA.
* Giá trị hiện tại của thu nhập thuần NPV:
+ NPV là giá trị hiện tại dòng lợi nhuận của dự án; trong đó
+ Trường hợp:
+ NPV > 0: Dự án có lãi;
+ NPV < 0: Dự án bị lỗ vốn;
+ NPV = 0: Dự án hoà vốn;
* Tỷ suất thu nhập so với chi phí BCR:
+ BCR cho biết tương quan giữa giá trị hiện tại của dòng doanh thu so vớigiá trị hiện tại của dòng chi phí
Trang 18Phần 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GÀ RỪNG
3.1.1 Nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi
3.1.1.1 Kết quả điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng chăn nuôi gà rừng ở vùng đệm Vườn quốc gia Bến En
a Thực trạng về số lượng gà rừng, số hộ nuôi gà rừng
Tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng về chăn nuôi gà rừng ở các nông hộ
ở 10 xã thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En trên địa bàn 02 huyện NhưThanh và Như Xuân, trong thời gian từ tháng 6-8/2009, với 200 hộ được điều tra(20 hộ/xã) Kết quả được tổng hợp tại bảng 01
Bảng 01: Số lượng gà rừng chăn nuôi tại các nông hộ thuộc vùng đệm
Vườn quốc gia Bến En
điều tra
Tình hình chăn nuôi gà rừng trong vùng đệm Vườn
Trang 19Từ bảng 01 cho thấy, trong vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En từ năm 2001– 2008 có 17 hộ dân đã từng nuôi thử gà rừng với số lượng là 39 con Tuy nhiên,
ở thời điểm tháng 8 năm 2009 không có hộ gia đình nào chăn nuôi gà rừng Xã cónhiều hộ gia đình nuôi thử gà rừng nhất là Xuân Thái (04 hộ) với 08 cá thể, có 02
xã người dân chưa từng nuôi gà rừng là Hải Long và Xuân Quỳ Số gà rừng (39con) được 17 hộ dân trong vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En nuôi đều có nguồngốc sưu tập được từ tự nhiên chưa qua thuần hóa Sau một thời gian nuôi đều bịchết do bỏ ăn, do vết thương ở phần đầu do húc đầu vào chuồng trại hoặc chếtkhông rõ nguyên nhân Đến thời điểm hiện tại số gà trên đã chết hết, không còn
hộ gia đình nào chăn nuôi gà rừng Hộ nuôi gà rừng sống được lâu nhất là 4 thángvới 02 cá thể (Ông Hà Văn Mão – xã Xuân Quỳ, Như Xuân), hộ nuôi có thời gianngắn nhất là 9-10 ngày sau khi sưu tầm được mẫu với 04 cá thể (Ông Lê VănĐông – xã Hải Vân, Như Thanh)
Như vậy, có thể khẳng định nhu cầu chăn nuôi gà rừng trong dân là rất lớn,tuy nhiên việc chăn nuôi gà rừng có nguồn gốc hoang dã chưa thành công, hoặcrất khó khăn trong một thời gian ngắn Thức ăn của gà rừng hoang dã cần phảiđược nghiên cứu sâu hơn để điều chỉnh thức ăn trong chăn nuôi cho phù hợp Bảntính của gà rừng rất hay hoảng sợ khi thấy người nên khi thiết kế chuồng trại phảichú ý về địa điểm đặt chuồng, bố trí không gian trong chuồng nuôi và hạn chếngười ra vào khu chăn nuôi
b Phương thức và tập quán chăn nuôi gà rừng của các nông hộ ở vùng đệm VQG Bến En
Kết quả điều tra thu thập thông tin về phương thức chăn nuôi của ngườidân, nguồn thức ăn và các chỉ tiêu về sinh sản của 17 hộ dân đã từng chăn nuôi gàrừng được tổng hợp qua bảng 02:
Bảng 02: Phương thức chăn nuôi và hiệu quả kinh tế
Số hộ chăn nuôi
Tập quán chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi Tình
hình sinh sản
Hiệu quả kinh tế
Ghi chú
Nuôi nhốt
Nuôi tự nhiên
SP nông nghiệp
SP công nghiệp
Khác
Trang 20- Thức ăn chủ yếu cho gà rừng của 17 hộ là các sản phẩm nông nghiệp như:lúa, gạo, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng… Ngoài ra còn có hộ bổ sung thêm các loạicôn trùng, giun, dế Không có hộ nào dùng thức ăn công nghiệp.
- Do thời gian nuôi ngắn (1- 4 tháng) nên chưa có các số liệu về sinh sản,tất cả các hộ gia đình đều chưa thấy gà rừng sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt
c Hiệu quả kinh tế trong công tác chăn nuôi gà rừng tại vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En
Tất cả các hộ gia đình chăn nuôi thử gà rừng (17 hộ) đều cho biết chưa thấy
có hiệu quả kinh tế Chưa thuần hóa được gà rừng, thời gian nuôi còn rất ngắn vàchưa thành bầy đàn nên chưa đánh giá được hiệu quả kinh tế
Nhìn chung, trong vùng đệm Vườn quốc gia Bến En các nông hộ đã triểnkhai nuôi thử gà rừng nhưng còn thiếu kinh nghiệm chăn nuôi: Chưa thuần hóađược gà rừng, chưa tìm được nguồn thức ăn, không gian sinh sống phù hợp với gàrừng Vì vậy, chăn nuôi chưa thành công và chưa đem lại hiệu quả kinh tế
Trang 213.1.1.2 Kết quả tìm hiểu, học tập kinh nghiệm chăn nuôi gà rừng tại Vườn quốc gia Cúc Phương – Ninh Bình
Để có cơ sở bước đầu triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu, tháng 8/2009chúng tôi đã thực hiện tìm hiểu, học tập kinh nghiệm mô hình chăn nuôi thửnghiệm gà rừng tại Vườn quốc gia Cúc Phương – Ninh Bình Thông qua việcquan sát thực tế, trao đổi kinh nghiệm công tác chăn nuôi gà rừng thử nghiệm tạiVườn Quốc gia Cúc Phương, đề tài đã thu thập được một số thông tin bước đầunhư sau:
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã - Vườn quốc gia Cúc Phương bắt đầutriển khai thử nghiệm nuôi gà rừng từ năm 2004, khởi đầu từ 6 quả trứng nhặtđược từ rừng đem về cho gà nhà ấp nở Đến tháng 8/2009 trung tâm đang nuôi thửnghiệm 35 cá thể gà rừng, trọng lượng trung bình khoảng 1kg/con
a Về phương thức chăn nuôi
Thực hiện chăn nuôi gà rừng theo phương thức bầy đàn, nuôi nhốt trongchuồng lớn (diện tích 200m2) và 6 chuồng nhỏ (6 - 9m2) dùng ghép đôi để đánhgiá về một số chỉ tiêu sinh sản của gà rừng, nhưng chưa có số liệu về sinh sảntrong điều kiện nuôi nhốt
Hình 01 Chuồng trại chăn nuôi gà rừng Vườn quốc gia Cúc Phương
b Về chuồng trại chăn nuôi
Chuồng nuôi tại Trung tâm cứu hộ có diện tích 200m2 Vật liệu làm chuồngbằng cột bê tông, cột thép, xây móng cao 30 - 50cm Xung quanh và mặt trên củachuồng được quây bằng lưới thép B40 và lưới mắt cáo, có 24m2 nhà lợp fibroximăng để làm nơi trú ẩn cho gà khi gặp trời gió bão và ngủ ban đêm, chuồngnuôi có cửa ra vào để cho ăn và cửa ra sân chơi Sân chơi được làm bằng nền cát,
Trang 22rải sỏi nhỏ và trồng một số bụi cây tạo môi trường tự nhiên Ngoài ra chuồng nuôicòn được bố trí thêm một số cây gỗ, gốc mục làm nơi cho gà đậu.
Xây dựng một số chuồng nuôi nhỏ có diện tích từ 6 - 9m2, dùng để ghép đôi
gà rừng theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản
c Thức ăn trong chăn nuôi
- Các loại thức ăn gồm các sản phẩm nông nghiệp như: lúa, gạo, ngô, đậutương, Ngoài ra còn cho ăn thêm cả cám công nghiệp và bổ sung thêm các loạivitamin và một số loại rau xanh
- Khẩu phần ăn: Gà rừng đã được thuần hóa ở Vườn Quốc gia Cúc Phươngkhẩu phần ăn trung bình từ 60 – 70 gam/kg trọng lượng/ngày đêm
Hình 02 Cho gà ăn và vệ sinh chuồng trại
d Kỹ thuật chăm sóc gà rừng
- Thời gian cho ăn:
+ Buổi sáng: từ 6 giờ – 7 giờ
+ Buổi chiều: từ 16 giờ – 17 giờ
- Nước uống:
Cho uống nước hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều, trong khu nuôi luôn
có nước sạch để gà uống
- Chuẩn bị ổ đẻ: Ổ bằng rổ tre được treo trên tường hoặc trong góc chuồng
có mái che, tổ được lót rơm, cỏ khô hoặc lá cây làm nơi đẻ trứng cho gà, tránhánh sáng chiếu trực tiếp vào ổ đẻ
e Bệnh tật và cách phòng chống
Một số chứng bệnh giống gà nhà như: Bệnh nấm phổi, Giun đũa, Giun kim,Sán lá, tụ huyết trùng, Newcatsle
Trang 23Cho đến nay, chưa có loại thuốc đặc hiệu nào để chữa các loại bệnh trên.
Do vậy, phòng bệnh là biện pháp tốt nhất Trước hết, không mua gà nhà đã bịnhiễm bệnh ở chợ về ăn thịt Vệ sinh chuồng trại bằng vôi bột, phun thuốc diệttrùng, đặc biệt là thời gian chuyển mùa Dùng thuốc Lasota nhỏ vào mũi và mắttheo định kỳ, đồng thời cho gà uống định kỳ thuốc Ricoecoocin và Corticoid đểphòng bệnh Newcatsle và tụ huyết trùng Thời gian điều trị mỗi đợt từ 3 – 5 ngày
f Thuần hoá gà rừng ở Cúc Phương
Gà rừng chủ yếu được thuần hoá từ việc ấp nở con non, ít khi được thuầnhoá từ con đã trưởng thành Nếu thuần hóa từ gà đã trưởng thành do điều kiệnsống và nguồn thức ăn thay đổi lớn so với trong tự nhiên, gà rừng thường bị chết
nhiều, rất khó thành công trong thời gian ngắn.
g Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà rừng
Kết quả chăn nuôi ở Cúc Phương cho thấy việc chăn nuôi gà rừng thuầnchủng chủ yếu chỉ có hiệu quả về mặt nghiên cứu khoa học và bảo tồn, hiệu quảkinh tế thấp Sau 6 năm nghiên cứu ở Vườn quốc gia Cúc phương mới thuần hoáđược hơn 35 cá thể gà rừng (thời điểm năm 2009)
h Bài học kinh nghiệm
- Chuồng trại: Nếu điều kiện cho phép, nên thiết kế chuồng trại rộng từ200-300m2, có thể nuôi được 50- 100 gà trưởng thành chuông nuôi tốt nhất là che2/3 chuồng nuôi để tránh mưa bão và nắng, gió Vì gà rừng ở ngoài hoang dã sứcchịu đựng tốt nhưng khi nuôi nhốt sức chịu đựng lại kém
- Thuần hóa gà rừng: Gà rừng đã lớn được sưu tập từ tự nhiên về rất khóthuần hóa do không phù hợp về thức ăn và sinh cảnh sống, phải tốn rất nhiều thờigian mới thuần hóa được và tỉ lệ thành công rất thấp Vì vậy, nên thuần hóa gàrừng từ việc ấp nở con non
- Về thức ăn cho gà rừng trong nuôi nhốt: Gà rừng đã được thuần hóa, thức
ăn chủ yếu bằng các sản phẩm nông nghiệp như lúa, gạo, ngô, lạc, đậu, vừng Tuy nhiên nên cho gà ăn thêm thêm cám tổng hợp và một số loại rau, củ, quả đểđảm bảo chất dinh dưỡng cho gà
- Thuốc phòng, trị bệnh: Chưa có loại thuốc đặc trị, phòng ngừa dịch bệnhcho gà rừng cũng như chưa có quy trình điều trị, do đó trong quá trình điều trịthường dùng các loại thuốc của gà nhà Vì vậy, thuốc dùng nhiều khi không có tácdụng hoặc gây chết gà rừng Cần tiếp tục nghiên cứu, theo dõi và thử nghiệm cácloại thuốc đặc trị bệnh cho gà rừng, nên dùng liều bằng 1/2 gà nhà để thử nghiệm
Trang 24- Về hiệu quả kinh tế: Chăn nuôi gà rừng chủ yếu chỉ có giá trị về mặt khoahọc và bảo tồn, ít có giá trị kinh tế
3.1.1.3 Thiết kế, xây dựng chuồng trại chăn nuôi
Chuồng trại trong chăn nuôi là khâu rất quan trọng, đặc biệt là loài gà rừng
có bản tính hoang dã rất cao và rất nhút nhát do đó yêu cầu về chuồng trại lại càngphải được quan tâm hơn Qua đợt học tập kinh nghiệm thăm quan mô hìnhchuồng trại chăn nuôi tại Vườn quốc gia Cúc Phương, căn cứ yêu cầu của đề tài
và kinh phí được phê duyệt, chủ nhiệm đề tài đã tiến hành thiết kế, xây dựngchuồng trại chăn nuôi gà rừng chưa qua thuần hóa, cụ thể như sau:
- Địa điểm xây dựng chuồng nuôi: Khu chăn nuôi động vật bán hoang dãVườn Quốc gia Bến En
Hình 03 Khu chăn nuôi và chuồng trại chăn nuôi
- Diện tích chuồng nuôi: 210m2 (14m x 15m), chiều cao 3m
- Kiến tạo không gian và bố trí sinh cảnh chuồng nuôi:
+ Nơi ăn + sân chơi: 10% diện tích chuồng nuôi
+ Nơi trú ẩn: 10% diện tích chuồng nuôi
+ Nơi ấp nở: 10% diện tích chuồng nuôi
+ Diện tích sinh cảnh gần với tự nhiên: 70% diện tích chuồng nuôi
- Vật liệu xây dựng: Vật liệu sẵn có tại địa phương như gỗ, tre, luồng, lácọ và cột thép, lưới thép B40 và lưới mắt cáo bao quanh chuồng nuôi
Chuồng trại cơ bản đáp ứng yêu cầu của đề tài và thuận tiện trong quá trìnhchăn nuôi, chăm sóc, bảo vệ Khu chăn nuôi động vật bán bán hoang dã Vườnquốc gia Bến En là khu vực cao ráo, dễ thoát nước, xa trục đường giao thôngchính và các khu vực đông dân cư Thiết kế theo hướng Đông Nam do đó mùaĐông giữ được ấm và mùa Hè thì tương đối mát mẻ Nền chuồng thuận tiện cho
Trang 25công tác vệ sinh phòng bệnh Hệ thống chuồng trại trong quá trình chăn nuôi gàrừng ấp nở từ trứng được phân thành 4 khu vực: khu ấp trứng nhân tạo, khu úm gà
sơ sinh, khu chăn nuôi gà hậu bị và sinh sản
- Khu ấp trứng nhân tạo: Đây là nơi tiến hành bảo quản trứng trước khi
ấp, ấp trứng và tiến hành phân loại gà sơ sinh Vì vậy yêu cầu nhà ấp phải là nơithoáng mát ít có sự biến động về nhiệt độ, bên trong có quạt thông thoáng và xungquanh trồng nhiều cây có bóng mát
Hình 04 Nhà ấp trứng và máy ấp trứng nhân tạo
Trứng gà trước khi ấp được thu nhặt từ khu vực gà sinh sản, sau khi phânloại những quả không đạt tiêu chuẩn (dập vỡ, dị dạng, bẩn ) trứng được đặt vàotrong các khay nhựa có kích thước (30 x 30cm, chứa được 30 quả/khay) và sau 5ngày trứng phải được đưa vào máy ấp
Sau khi gà mới sinh (từ 1-2 ngày) gà được phân loại, những gà con khoẻmạnh đạt tiêu chuẩn sẽ chuyển sang khu vực chuồng úm
- Khu úm gà sơ sinh: Khu vực này là nơi diễn ra quá trình úm gà từ sơ sinh
cho tới 1 tháng tuổi Gà mới nở ra chưa có khả năng điều tiết thân nhiệt, do đó
Trang 26phải có hệ thống chụp sưởi bằng bóng điện để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi
50 gà từ 1-30 ngày tuổi
- Khu nuôi gà hậu bị: Gà rừng sau khi kết thúc giai đoạn úm được chuyển
sang khu vực chuồng nuôi gà hậu bị, giai đoạn này gà đã có khả năng thích nghicao với sự thay đổi nhiệt độ và ẩm độ của môi trường Chuồng gà cũng được thiết
kế theo kiểu thông thoáng tự nhiên, 1/2 diện tích chuồng được lợp tôn, nền được
đổ cát vàng với chiều cao từ 20-25cm, xung quanh được bưng bằng lưới B40 vàbên trong ô chuồng được bố trí các cành cây vừa đủ để làm dàn đậu cho gà ngủ.Kích thước mỗi ô chuồng là 5m x 3m x 3m (dài x rộng x cao), có thể nuôi được từ15-25 gà hậu bị
Trang 27\
Hình 06 Chuồng nuôi gà sinh sản và gà hậu bị
- Chuồng nuôi gà sinh sản: Chuồng nuôi được thiết kế và xây dựng giống
chuồng nuôi gà hậu bị, chỉ có khác là mỗi góc ô chuồng được dựng nhiều cànhcây nhỏ để tạo khu vực yên tĩnh cho gà mái đẻ trứng Mỗi ô chuồng nôi có kíchthước 5m x 3m x 3m (dài x rộng x cao)
3.1.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cơ bản của gà rừng trong điều kiện nhuôi bán tự nhiên
3.1.2.1 Đặc điểm về thức ăn của gà rừng
a Danh lục các loại thức ăn thử nghiệm cho gà rừng trong chăn nuôi
Sau 01 năm theo dõi về thức ăn của gà rừng, nguồn thức ăn bằng các sảnphẩm từ nông nghiệp sẵn có tại địa phương, bổ sung thêm một số thức ăn độngvật và cám công nghiệp Các loại thức ăn thử nghiệm được tổng hợp tại bảng 03
Trong quá trình chăn nuôi, đã tiến hành cho ăn thử nghiệm 22 loại thức ănkhác nhau để theo dõi và tìm ra loại thức ăn phù hợp cho gà rừng trong điều kiệnnhuôi bán tự nhiên Kết quả cho thấy, hầu hết các loại thức ăn trên gà rừng đều có
sử dụng, tuy nhiên tỉ lệ tiêu thụ các loại thức ăn rất khác nhau Gà rừng thường sửdụng các loại thức ăn động vật trước, sau đó mới đến thức ăn là ngũ cốc và rauxanh
Bảng 03: Danh lục thức ăn thử nghiệm cho gà rừng
Trang 28Tªn ViÖt Nam Tªn khoa häc
Capitala L
Trang 29b Các loại thức ăn ưa thích của gà rừng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn đầu các sản phẩm nông nghiệpchưa qua chế biến đều tỏ ra không phù hợp với gà rừng, lượng thức ăn tiêu thụ rất
ít Ghi nhận được một số loại thức ăn ưa thích cho gà rừng gồm chủ yếu là cácloài động vật nhỏ và côn trùng như: Trứng kiến, mối, giun quế sau đó đến cámcông nghiệp, ngô hạt, gạo lật, đỗ tương
Các loại trứng kiến, trứng mối, giun đất là thức ăn gần gủi với gà rừngtrong tự nhiên nên gà rừng thường sử dụng trước, sau đó mới đến các loại thức ăn
là ngũ cốc và cám tổng hợp Trong chăn nuôi, thức ăn chủ yếu của gà rừng vẫn làngô hạt, gạo lật, cám công nghiệp (Proconco C20, C21, C25) và cám gạo tự nhiêntrộn với các loại rau xanh được băm nhỏ Hàng ngày lượng thức là ngô, gạo lật vàcám công nghiệp chiếm trên 90% lượng thức ăn tiêu thụ của gà rừng Các loạithức ăn trứng kiến, trứng mối, giun đất rất ưa thích với gà rừng nhưng thường khókiếm, do đó có thể nuôi giun quế để thay thế cho gà rừng ăn bổ sung 2 -3 lần/tuần,với lượng từ 5- 15ggam/cá thể tùy vào lứa tuổi
Hình 07 Thức ăn chăn nuôi
c Khẩu phần ăn và tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm trong chăn nuôi
Thức ăn của gà rừng trong chăn nuôi được tiến hành cân trước và sau khi
ăn đối với từng loại thức ăn khác nhau vào một thời điểm thích hợp trong ngày(thường là vào buổi sáng hàng ngày) Thức ăn thử nghiệm cho từng giai đoạncũng có khác nhau nhưng đều là thức ăn tổng hợp gồm các sản phẩm nông nghiệp(Ngô, gạo, cám gạo, đậu tương ), cám công nghiệp (C20, C21, C25), một số loạicôn trùng, rau xanh và bổ sung Vitamin (B1, B12, Bcomlex )
Trang 30Đề tài tiến hành đánh giá vào các giai đoạn gà nuôi được 1 tuần tuổi, 4 tuầntuổi (1 tháng tuổi), 26 tuần tuổi (6 tháng tuổi) và 52 tuần tuổi (1 năm tuổi).
Kết quả theo dõi thức ăn tiêu tốn và khả năng tăng trưởng của 10 cá thể gàrừng (5 trống, 5 mái) được tổng hợp tại bảng 04, chi tiết theo dõi thức ăn hàngngày tại phụ biểu 01
Bảng 04: Tiêu tốn thức trong chăn nuôi gà rừng từ sơ sinh đến 52 tuần tuổi
St
t Giai đoạn
Mẫu (con)
Tiêu tốn thức ăn Trọng lượng Tiêu tốn
thức ăn/đơn
vị trọng lượng
Tổng cộng
(gam)
Bình quân
(g/con/ngày)
Lượng tăng trưởng
(gam)
Tỉ lệ tăng trọng
Giai đoạn úm gà từ 1 -4 tuần tuổi, thức ăn tiêu tốn là 11,6 gam/con/ngày, tỉ
lệ tăng trưởng là 6,88 gam/con/ngày, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là 1,7kg
Giai đoạn từ 4 - 26 tuần tuổi, thức ăn tiêu tốn là 35,89 gam/con/ngày, tỉ lệtăng trọng là 4,36 gam/con/ngày, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là 8,2kg
Giai đoạn từ 26 - 52 tuần tuổi, thức ăn tiêu tốn là 38,29 gam/con/ngày, tỉ lệtăng trọng là 0,53 gam/con/ngày, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là 72,2kg
Tính đến giai đoạn gà rừng 1 năm tuổi thì tỉ lệ tăng trọng bình quân cho cả quá trìnhchăn nuôi là là 2,58 gam/con/ngày và chi phí thức ăn cho 1kg tăng trọng là 13,6kg
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở giai đoạn từ 1 – 4 tuần tuổi gà tăng trưởng trọnglượng nhanh nhất, đạt tỉ lệ tăng trọng 6,88 gam/con/ngày và tăng trưởng chậm nhất là giai
Trang 31đoạn gà từ 26 – 52 tuần tuổi, chỉ đạt tỉ lệ tăng trọng 0,53 gam/con/ngày Như vậy, ở giaiđoạn 26 – 52 tuần tuổi trọng lượng của gà rừng tăng trưởng chậm lại và dần đi vào ổn định.
Khẩu phần ăn của gà rừng: Ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của gà rừng khẩu
phần ăn cũng có sự khác nhau để phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của gà (Chi tiết khẩu phần ăn của gà rừng ở các giai đoạn tuổi được tổng hợp tại phụ biểu 08).
3.1.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của gà rừng
Qua 20 mẫu gà rừng từ khi sơ sinh đến 4 tuần tuổi (trong đó có 10 mẫu gàtrống và 10 mẫu là gà mái) và 10 mẫu gà rừng từ 26 đến 52 tuần tuổi (5 trống và 5mái) được cân trọng lượng và tổng hợp kết quả tại bảng 05, chi tiết tại phụ biểu
02, 03 Kết quả cho thấy, gà rừng là một loài gà tương đối nhỏ, con trống có trọng
lượng trung bình là 1.215 gam và con mái trọng lượng trung bình là 705 gam (chỉ tiêu này ở gà ri trống là 1800-2500 gam và mái là 1300-1800 gam) Đặc biệt là là
trọng lượng có sự khác biệt lớn giữa con trống và con mái khi chúng trưởngthành
Bảng 05: Trọng lượng gà rừng ở giai đoạn từ SS - 52 tuần tuổi
TT Sinh trưởng Mẫu Trọng lượng trung bình (gam)
Trang 32Hình 08 Gà rừng 4 ngày tuổi và 2 tháng tuổi
Trọng lượng sau 6 tháng con trống đạt 1.105,5 gam/con, con mái đạt 622,7gam/con Như vậy, ở giai đoạn phân biệt được con trống, mái (thường là sau 2tháng mới phân biệt rõ ràng) thì tỉ lệ tăng trưởng cũng bắt đầu chênh lệch nhau rõrệt giữa gà trống và gà mái Tăng trưởng trọng lượng bình quân trong giai đoạnnày đạt 4,36 gam/con/ngày
Giai đoạn gà từ 26 – 52 tuần tuổi tỉ lệ tăng trưởng trọng lượng rất chậm, bình quânchỉ đạt 0,53 gam/con/ngày Đến 52 tuần tuổi (1 năm tuổi) trọng lượng bình quân con trốngđạt 1.215,3 gam/con, con mái đạt 705,3 gam/con Như vậy, tăng trưởng về trọng lượng có
sự khác nhau rất lớn ở các giai đoạn sinh trưởng của gà rừng
Đề tài cũng thực hiện cân trọng lượng của 8 mẫu gà rừng (5 trống, 3 mái) ở thờiđiểm 78 tuần tuổi (18 tháng tuổi) thì trọng lượng bình quân gà rừng trống đạt: 1.240gam/con, gà mái đạt 708 gam/con Kết quả cho thấy, ở giai đoạn sau 52 tuần tuổi, trọnglượng của gà dần đi vào ổn định và tăng trưởng về trọng lượng không đáng kể
Sau một năm tuổi, tỉ lệ tăng trọng bình quân của gà rừng đạt 2,58 gam/con/ngày, tỉ
lệ tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm là 13,6kg thức ăn/1kg sản phẩm
Qua số liệu về trọng lượng cho thấy, gà rừng tuy được chăn nuôi trong môitrường nhân tạo khác xa so với môi trường hoang dã với thời gian tương đối dài,song chúng vẫn duy trì được sự ổn định di truyền về tính trạng trọng lượng, đây lànhững chỉ tiêu hết sức quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn gen loài gà rừng
Trang 33
Hình 09 Gà rừng 6 tháng tuổi và gà rừng 1 năm tuổi
3.1.2.3 Đặc điểm sinh sản của gà rừng
a Sản lượng trứng và mùa sinh sản hàng năm
Qua theo dõi quá trình đẻ trứng của 15 gà mái rừng không xác định tuổi (gàgốc sưu tập từ tự nhiên) và 5 mái 1 năm tuổi, ghi nhận sản lượng trứng gà rừng(gốc) không xác định tuổi là 168 quả/15mái/năm, đạt trung bình là 11,2quả/mái/năm, gà rừng 1 năm tuổi đạt 60 quả/5 mái sinh sản, trung bình đạt 12,0quả/mái/năm
Bảng 06: Mùa sinh sản của gà rừng hàng năm
TT Tuổi Mẫu (co)
quả/
mái/
năm
Số lượng
Trứng gà đẻ qua các tháng trong năm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Gà rừng trong chăn nuôi thường sinh sản từ 1 – 2 lần/năm, khoảng các giữa
Trang 34chưa thấy số lượng trứng/mái/đợt đẻ vượt trên 9 quả) Kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy gà rừng đẻ nhiều nhất là 2 đợt/năm, ghi nhận số lượng trứng đẻ nhiềunhất/mái/năm là 13 quả
Qua theo dõi về lý lịch và số liệu thể hiện tại bảng 06 thấy, gà rừng bắt đầu
đẻ quả trứng đầu tiên khi bước vào giai đoạn 37 tuần tuổi (9 tháng tuổi) và quá
trình sinh sản kéo dài cho đến khi gà bước sang năm thứ 2 và năm thứ 3 Gà rừng
trống bắt đầu phối giống thường trên 1 năm tuổi
b Trọng lượng và kích thước trứng gà rừng
Qua khảo sát 30 mẫu trứng gà rừng (tổng hợp tại bảng 07) cho thấy, trứng
gà rừng có kích thước tương đối nhỏ, đường kính lớn đạt 43,6 mm, đường kínhnhỏ chỉ đạt 33,6 mm, còn về trọng lượng trứng gà rừng đạt trung bình là 22,1gam/quả
c Tỉ lệ ấp nở và tỉ lệ nuôi sống gà rừng đến 1 năm tuổi
Trong chăn nuôi gà rừng thường không ấp nở tự nhiên, vì vậy để đánh giáđược các chỉ tiêu ấp nở đề tài đã tiến hành ấp nở nhân tạo, sử dụng qui trình ấptrứng gà nhân tạo trên máy ấp trứng gà tự động (SAT.2009) sử dụng nguồn điện
để cung cấp nhiệt và hơi nước cung cấp tự động Đàn gà được ghép tỷ lệ sinh sản
là 1 trống/3 mái, trứng gà rừng được thu nhặt hàng ngày và được bảo quản trong
môi trường thoáng mát, chu kỳ cho mỗi một lần ấp trứng là 21 ngày.
Bảng 08 Các chỉ tiêu ấp nở và tỉ lệ nuôi sống đến 52 tuần tuổi
TT Các chỉ tiêu Đơn
vị tính
Ngày 17.4.2009 Ngày 22.4.2009 Ngày 29.4.2009 Tổng
cộng (con)
Tỉ lệ bình quân (%)
Số lượng Tỉ lệ lượngSố Tỉ lệ lượngSố Tỉ lệ
-2 Tỷ lệ có phôi Quả 56 82,3 45 90,0 42 84,0 143 85,
1
3 Tỷ lệ nở Quả 43 76,8 35 77,8 33 78,6 111 77,
Trang 35Từ kết quả ở bảng 08 cho thấy, khâu bảo quản trứng và ấp nở trứng nhântạo rất quan trọng, từ 143 quả trứng có phôi chỉ ấp nở thành công được 111 quả và
số lượng gà khỏe mạnh là 101 con, như vậy tỉ lệ ấp nở chỉ đạt 77,6% Số lượng gà
bị chết trong quá trình chăn nuôi cũng rất lớn, tỉ lệ nuôi sống sau 1 tháng tuổi là89,1% (90/101 con), tỉ lệ nuôi sống sau 6 tháng tuổi là 54,5% (55/101 con) và tỉ lệnuôi sống đến khi gà trưởng thành sau 1 năm tuổi chỉ đạt 35,6% (36/101con).Nguyên nhân, gà rừng nuôi sống đến 1 năm tuổi đạt tỉ lệ rất thấp là do một số yếu
tố sau: Một là: Giai đoạn đầu gà rừng chưa quen với thức ăn chăn nuôi nên gàrừng thường ăn ít, lâu ngày dẫn đến gà gầy và yếu, khi gặp điều kiện bất lợi củathời tiết như gió bão, mưa to kéo dài hoặc thay đổi thời tiết đột ngột một số con bịchết do sức đề kháng yếu Hai là: Liều lượng vắc xin phòng bệnh cho gà rừngcũng có phần khác so với gà nhà nên khi dùng với liều lượng như gà nhà cũng gây
chết (liều lượng vắc xin phòng bệnh cho gà rừng thường thấp hơn gà nhà) Ba là:
Trong thời gian thực hiện đề tài có một số dịch bệnh như Bạch lỵ, tụ huyết trùng,đậu gà phát triển mạnh, nhưng công tác điều trị chưa đạt hiệu quả cao đã làm tỉ lệsống của gà rừng giảm đáng kể
Như vậy, có thể nói gà rừng thuần chủng được ấp nở từ trứng cũng rất khónuôi Tuy nhiên, việc ấp nở trứng gà rừng tương đối đơn giản và giống như gànhà, có thể ấp nở nhân tạo theo quy trình ấp trứng gà nhà
3.1.2.4 Đặc điểm bệnh tật của gà rừng trong chăn nuôi
Trong quá trình chăn nuôi và chăm sóc đàn gà rừng đề tài luôn tuân thủ
Trang 36sát trùng chuồng trại định kỳ 2 lần/tháng, đàn gà được phòng bệnh bằng vắc xinLasota và Newcastle là chủ yếu, các dạng bệnh luôn được chẩn đoán và điều trị
kịp thời và cập nhật thường xuyên (Chi tiết tại phụ biểu 07).
Qua thống kê từ năm 2009 đến năm 2011, chúng tôi chia thành các nhómbệnh tật mà gà rừng hay mắc phải như sau
- Nhóm bệnh nội khoa: Là những bệnh có triệu chứng và bệnh tích thể hiệnthể hiện ở đường tiêu hoá, hô hấp
- Nhóm bệnh ngoại khoa: Là nhóm bệnh do tác nhân cơ học gây ra (chấnthương, rách da, rách đầu, viêm ung nhọt )
- Nhóm bệnh sản khoa: Là những bệnh xuất hiện tại cơ quan sinh dục (viêmnhiễm đường sinh sản, đẻ khó, dập trứng )
- Nhóm bệnh ký sinh trùng: Là bệnh do nội, ngoại ký sinh trùng gây ra(giun, sán, ve, bọ chét, cầu trùng )
- Nhóm bệnh truyền nhiễm: Là những bệnh do virus, vi khuẩn gây ra cótính chất lây lan mạnh theo vùng (cúm gia cầm, Newcatstle, gumbro, bạch lỵ )
Bảng 09: Các dạng bệnh tật thường gặp trong chăn nuôi gà rừng
TT Năm Số lượng Bệnh
nội khoa
Bệnh ngoại khoa
Bệnh sản khoa
Bệnh ký sinh trùng
Bệnh truyền nhiễm
Trang 37bệnh ngoại khoa chiếm 21,4% (thường là do gà mổ cắn nhau, hay chấn thươngvùng da đầu khi tiến hành vây bắt để tách ghép đàn trong chăn nuôi) Nhóm bệnhnội khoa cũng thường gặp, chủ yếu là dạng bệnh phân xanh, phân trắng Đặc biệttrong suốt quá trình thực hiện đề tài hầu như không thấy xuất hiện nhóm bệnh sản
Hình 10: Khử trùng chuồng trại và cho gà uống vắc xin phòng bệnh
Nhìn chung, trong chăn nuôi gà rừng cũng mắc các bệnh phổ biến của gànhà và các bệnh nói chung của gia cầm Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về bệnh tậttrên loài gà rừng cần được quan tâm hơn, đặc biệt công tác vệ sinh, phòng bệnhnhằm hạn chế sự lây lan của các loại bệnh truyền nhiễm là một trong những biệnpháp quan trọng cần phải được tiến hành thường xuyên
3.1.3 Kỹ thuật chăn nuôi chăm sóc gà rừng
3.1.3.1 Yêu cầu chung về chuồng trại
- Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách
xa các trại chăn nuôi gia cầm, gia súc khác nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro dolây nhiễm chồng chéo
- Hướng chuồng thiết kế giữ được mùa Đông thì ấm, mùa Hè thoáng mát.Mái hiên có thể đua ra từ 1-1,2 mét để hạn chế mưa hắt Chuồng được ngăn chiacác ô bằng lưới mắt cáo hoặc bằng các phên tre, nứa có các lỗ đan rộng từ 2-4 cm.Xung quanh chân tường xây gạch cao 40 cm, nền đổ cát vàng dầy từ 20-25 cm
3.1.3.2 Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
Trước khi đưa gà vào nuôi dù qui mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọiđiều kiện vật chất kỹ thuật, như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng
Trang 38uống, chất độn chuồng trong giai đoạn úm gà con, tiêu độc khử trùng và chọnngười nuôi có kinh nghiệm về chăn nuôi.
- Chuồng trại: Chuồng nuôi phải để trống trước khi đưa gà vào nuôi từ
15-20 ngày và phải được xử lý theo đúng quy định về vệ sinh phòng dịch, tường, nềnđược quét vôi đặc nộng độ 40% Sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút NaOH 2%với liều 0,25lít/m2 hoặc bằng thuốc sát trùng Foocmol 3% phun 1-2 lần Trước khithả gà vào nuôi 1-2 ngày phun tẩy uế
- Máng ăn: Hai tuần đầu có thể dùng khay tôn (kích thước 50 x 100 x 2,5
cm) cho từ 50-100 gà con Từ tuần thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng dàihoặc máng tròn)
Hình 11 Máng ăn cho gà hậu bị và gà đã trưởng thành
- Máng uống: Thông thường dùng máng tròn (Gallon) gồm phần đáy và
thân lắp vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con1,5-2 lít; gà hậu bị, gà sinh sản 4-6 lít
- Chụp sưởi: Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết nhiệt do đó
phải có hệ thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khảnăng điều tiết được thân nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường Thường dùngnguồn là bóng điện nhiệt năng, tuỳ theo số lượng gà con mà bố trí hệ thống sưởicho hợp lý và hiệu quả kinh tế
- Rèm che: Dùng vải bạt hoặc có thể tận dụng bao tải khâu lại thành rèm
che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắtvào
- Thùng úm gà: Trong thời gian úm, để tập chung nguồn nhiệt tránh gió
lùa ta sử dụng thùng úm được đóng bằng cót ép ở phần đáy và xung quanh, phầnnắp có tấm đậy khung gỗ buộc lưới sắt mắt cáo Chiều cao thùng úm từ 50-60 cm,rộng 50 cm và dài 1-1,2 m Mỗi thùng như vậy có thể úm được từ 50- 60 gà con
Trang 39- Độn chuồng: Thường dùng chất độn chuồng là cát vàng và hàng tháng
dùng xẻng để đảo 1lần và hàng năm phải thay cát từ 1 - 2lần, tùy theo mức độ ônhiễm Gà rừng sinh trưởng chậm nên giai đoạn gà con được tính từ 1- 60 ngàytuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nôi tạng nhất là bộ máy tiêu hoá chưa hoànthiện, dạ dầy chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men tiêu hoá chưa đầy
đủ, gà rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo điều kiện tốt cho gàphát triển nhanh và khoẻ
3.1.3.3 Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh được thân nhiệt một cáchhoàn hảo, do đó các bệnh về hô hấp, tiêu hoá rất dễ phát sinh khi ẩm độ môitrường lên cao và ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởngcủa gà
Bảng 10: Yêu cầu nhiệt độ và độ ẩm.
Ngày tuổi Nhiệt độ trong thùng
úm ( 0 c)
Nhiệt độ chuồng nuôi ( 0 c)
Trong qúa trình nuôi phải chú ý quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ
để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Nếu thấy gà tập trung nhiều tại nguồn nhiệt,chen lấn chồng lên nhau là thùng úm không đủ nhiệt và gà bị lạnh Nếu gà tản xanguồn nhiệt, nháo nhác, kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phảiđiều chỉnh giảm nhiệt độ Khi đủ nhiệt, gà vận động ăn, uống bình thường, ngủnghỉ tản đều trong thùng úm
Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu tiên, sau 4-6 tuần giảmthời gian chiếu sáng (ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm mới thắp đèn điện)
3.1.3.4 Nước uống
Trang 40- Nước là nhu cầu đầu tiên của gà mới nở Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất
là pha thêm đường Glucoza 5 gam và Vitamin C 1 gam/lít nước uống vào nhữngngày đầu tiên, nhiệt độ nước tốt nhất là 18-21 0C
- Sử dụng máng nước tự động bằng nhựa 1 lít/50 gà con Vị trí đặt mángnước là góc của thùng úm
3.1.3.5 Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
- Gà mới nở cho uống nước trước 2-3 giờ thì mới cho ăn thức ăn, thườngcho ăn theo bữa Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tuỳ thuộc qui mô đàn đểtránh sự tranh giành thức ăn Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngàyđêm cho ăn từ 5-6 lượt để thức ăn luôn được mới thơm, hấp dẫn và tránh lãng phí
- Thức ăn nuôi gà được phối chế cân đối đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng chotừng giai đoạn phát triển Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụngthức ăn bổ sung động vật, thực vật, Bcomlex và Vitamin Không sử dụng nguyênliệu hôi mốc, hoặc bột cá mặn (hàm lượng muối cao), đậu tương phải rang chín
- Gà sinh sản có thể sử dụng thức thức ăn cám công nghiệp, hoặc cám tổnghợp (là cám công nghiệp kết hợp với cám tự nhiên)
Bảng 11: Chế độ nuôi dưỡng từ 1- 52 tuần tuổi.
- Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật
độ đàn nuôi Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật
độ càng thấp sẽ cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp
- 1 tuần tuổi mật độ 50 con/m2
- 2 - 4 tuần tuổi mật độ 25 con/m2
- 5 - 8 tuần tuổi mật độ 8-10 con/m2
- Trên 9 tuần tuổi mật độ 5-8 con/m2
3.1.3.7 Chế độ thông thoáng khí