thực tế hiện nay, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn,nhất là lao động người dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cơ cấungành đào tạo chưa thật sự ph
Trang 1MỞ ĐẦU
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗiquốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớnnhư Việt Nam Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển củathị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tậndụng lợi thế để phát triển tiến kịp khu vực và thếgiới
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra được nhiềuchủ trương đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêucầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho ngườilao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sốngnhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chiến lược phát triểnkinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nêu rõ: “Thực hiện tốt các chính sách về laođộng, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhấtnăng lực của người lao động Bảo đảm quan hệ lao động hài hoà, cải thiện môitrường và điều kiện lao động Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm Nâng caochất lượng và hiệu quả hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách, ngườinghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hoá….” Nghị quyết Đại hội Đảngtoànquốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vựckinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu lao động, phát huy tính tích cực của người laođộng trong học nghề, tự tạo và tìm việclàm”
Do đó, dưới dự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và
sự nỗ lực vươn lên của nhân dân, trong những năm qua công tác dạy nghề, giảiquyết việc làm đã thu được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên so với yêu cầu
Trang 2thực tế hiện nay, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn,nhất là lao động người dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cơ cấungành đào tạo chưa thật sự phù hợp với thị trường lao động, chương trình đàotạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nên nhiều học sinh
đã qua đào tạo nghề vẫn gặp nhiều khó khăn để tìm được việc làm; nhiều emphải làm việc không phù hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo Bêncạnh đó, một bộ phận lớn các em học sinh chưa hiểu đúng và lực chọn nghề phùhợp với khả năng và điều kiện của mình, tỷ lệ thiếu việc làm, thất nghiệp của các
em còn khá cao…Vì vậy, đề tài “Giải quyết việc làm cho học sinh trường Trung Cấp Nghề Dân tộc nội trú An Giang hiện nay - Thực trạng và giải pháp” được chọn để làm tiểu luận tốt nghiệp, với hy vọng đưa ra những giải
pháp giúp học sinh trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú sau khi học xong tìmđược việc làm ổn định, phù hợp với ngành nghề được đàotạo
Trang 3CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẠY NGHỀ, VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.1 Dạy nghề (đào tạonghề)
1.1.1 Khái niệm
Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuấtcho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cảngười đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác.Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Những hoạt động cần cung cấp kiếnthức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trongphạm vi một nghề hoặc một nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạolại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyênsâu”
Luật dạy nghề đưa ra khái niệm như sau: “Dạy nghề là hoạt động dạy vàhọc nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngườihọc nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thànhkhoá học”
Như vây, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng vàthái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làmhoặc tự tạo việc làm
1.1.2 Phân loại đào tạo nghề
Căn cứ vào nghề đào tạo và người học gồm có đào tạo mới, đào tạo lại vàđào tạo nâng cao
Căn cứ vào thời gian đào tạo gồm có đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng, sơcấp nghề) và dài hạn (trung cấp nghề, cao đẳng nghề…)
Trang 41.2 Việclàm
1.2.1 Khái niệm
Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về việclàm Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lí thì ta có thể tómtắt khái niệm việc làm như sau:
Cụ thể:
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm Việc làmtrước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân.Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạtđộng lao động nhất định Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉnhững người hiện đang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia vàthu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là:người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ
Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cánhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xãhội Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộngđồng, của xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhấtđịnh phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việclàm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giảiquyết các vấn đề xã hội khác
Trang 5Tóm lại: Xét về phương diện kinh tế - xã hội có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừanhận.
- Dưới góc độ pháp lí
Ở Việt Nam, trong nền kinh tế hóa tập trung, Người lao động được coi là
có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các đơn
vị kinh tế quốc doanh và tập thể Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm
về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã cónhững thay đổi căn bản Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế
vào hoàn cảnh Việt Nam, bộ luật lao động đã quy định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
(Điều 13 Bộ luật lao động)
Nếu như trước đây, trong các văn bản pháp luật vấn đề việc làm chủ yếuđược đề cập ở góc độ cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao độngthì đây là lần đầu tiên khái niệm việc làm được ghi nhận trong văn bản pháp luậtquan trọng của nhà nước Theo đó, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: hoạtđộng tạo ra lao động + tạo ra thu nhập + hoạt động đó phải hợppháp
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc làm
Việc làm có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, nó khôngthể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyênsuốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội,
nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xãhội
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sốngbản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cánhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề củatừng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trungvào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ
Trang 6sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ).
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, làđầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nêntăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu
và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữaviệc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triểnbền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người laođộng
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên
xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác độngtích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việclàm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinhtrong xã hội , không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dầnhoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảođáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đờisống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người
có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhucầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không cóviệc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và lànguyên nhân của các tệ nạn xãhội
1.3 Giải quyết việclàm
1.3.1 Khái niệm
Giải quyết việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năngsẵn có của từng đơn vị, từng địa phương và của người lao động nhằm tạo ranhững công việc hợp lý, ổn định cho người lao động; những công việc đó phảiđemlạithunhậpđảmbảothỏamãncácnhucầuvậtchấtvàtinhthầnchobản
Trang 7thân người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động
1.3.2 Ý nghĩa của giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, lao động làngườidântộcthiểusố
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đạihoá (CNH-HĐH ).Trong đó CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụtrọng tâm Để góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề tạoviệc làm và giải quyết việc làm cho lao động cả nước nói chung và lao độngtrong nông nghiệp, nông thôn, lao động là người dân tộc thiểu số nói riêng có ýnghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay vì gópphần:
- Làm giảm lao động dư thừa và thời gian nhàn rổi đồng thời từng bướcnâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động
Do sức ép rất lớn phải giải quyết việc làm ở nông thôn bởi đất chật ngườiđông, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp, trong khi đó lao động ở nông thôn, laođộng là người dân tộc thiểu số dư thừa nhiều
Làm giảm áp lực thất nghiệp trong nền kinh tế vốn chưa có một sự pháttriển như ở nước ta
Áp lực việc làm và thu nhập đã tạo ra xu hướng di chuyển lao động tựphát từ nông thôn ra các thành thị và đến vùng nông thôn khác Sự di chuyển này
đã làm tăng tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực thành thị đồngthời phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp Do vậy cần phải nhanh chóng đẩymạnh vần đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn ở các địaphương
- Làm giảm bớt sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương,các vùng trong cả nước, đồng thời hạn chế và chấm dứt tình trạng du canh du cư,
di dân tựdo
Trang 8- Giải quyết việc làm tốt cho lao động nông thôn, lao động người dântộc thiểu số tạo ra tinh thần tích cực làm việc cho người lao động, đồng thời tạo
ra thu nhập ổn định cho họ, làm cho họ không nghĩ đến việc di chuyển lên các đôthị hoặc các vùng khác
- Nâng cao dân trí, công bằng xã hội
Thông qua các chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôntạo ra một khả năng tiếp thu những thành tựu và ứng dụng của khoa học kỹ thuật,nâng cao nhận thức người lao động, tạo ra mức thu nhập ổn định cho người laođộng góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa lao động nông thôn vàlao động thành thị
1.4 Mối quan hệ giữa dạy nghề và giải quyết việclàm
Đào tạo nghề tạo ra năng lực thực hiện cho người học Đào tạo để làmviệc, người lao động có năng lực thực hiện, cần phải có chổ làm việc để thựchiện năng lực đó Đào tạo nghề trở thành công cụ điều chỉnh sâu cơ cấu, chấtlượng của lực lượng lao động Việc làm tạo ra nhu cầu đào tạo, người lao độngmuốn có việc làm, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc làm đặt rayêu cầu cho đào tạo Đào tạo là mô phỏng yêu cầu và hoạt động của việc làm, do
đó có thể nói việc làm quy định nội dung đàotạo
Trong mối quan hệ gắn kết giữa đào tạo với sử dụng và giải quyết việclàm phải dựa trên cơ sở nhu cầu lao động trên thị trường lao động Đào tạo ai,đào tạo nghề gì, cấp trình độ gì phải do yêu cầu lao động thực tế quyết định
1.5 Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về dạy nghề giải quyết việclàm
1.5.1 Theo Văn kiện Đại hộiX
Văn kiện Đại hội X khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong nhữngchính sách xã hội cơ bản của quốc gia nhằm nhiều biện pháp như: Tăng 50% vốnđầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ lãi suất tín dụng, thực thi
Trang 9các dự án trồng rừng, dự án 327, dự án PAM và các chính sách giải quyết việclàm khác Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất,dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao dộng Khôi phục và phát triển các làngnghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp thanh niên và việc xuất khẩu lao động Hàng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, tận dụng số ngày công lao động chưadùng đến nhất là các địa bàn nông nghiệp, nông thôn”.
Phương hướng của Đảng và Nhà nước ta trong những năm tới về vấn đềdân số và việc làm được thực hiện trong Văn kiện Đại hội X của Đảng là: “Tiếptục giảm tốc độ tăng dân số, đến năm 2010 vào khoảng 1.1% đến 1.2%, sớm ổnđịnh dân cư một cách hợp lý ( 88-89 triệu người vào năm 2010) Giải quyết đồng
bộ, từng bước và có trọng điểm chất lượng dân số và phân bố dân cư”
Song song với vấn đề trên Đảng còn nhấn mạnh “Giải quyết việc làm làyếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế,lành mạnh xã hội, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúccủa nhân dân Dự báo đến năm 2010 nước ta có 56.8 triệu người ở độ tuổi laođộng, tăng gần 11 triệu người so với năm 2000 Do vậy, để giải quyết vấn đề cơbản người lao động được làm việc phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi chomọi thành phần kinh tế phát triển, đầu tư rộng rãi cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh Đẩy mạnh xuất khẩu lao động Xây dựng và thực hiện chặt chẽ cơchế, chính sách đồng bộ về đào tạo nguồn lao động Thúc đẩy quá trình chuyểndịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinhtế”
1.5.2 Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ IX xác định phươnghướng và nhiệm vụ phát triển từ năm 2010 – 2015 về dạy nghề và việc làm nhưsau:
Tạo bước chuyển biến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Tạoviệc làm đi đôi với giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo; làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trang 10Tập trung giải quyết các vấn đề về lao động và việc làm, nâng cao chấtlượng đào tạo nghề Có cơ chế chính sách để khuyến khích, huy động nhiềunguồn lực đầu tư vào hoạt động dạy nghề, tạo việc làm.
Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội; có giải pháp giảmnghèo bền vững, giải quyết tốt các vấn đề về lao động, việc làm, chăm lo các đốitượng chính sách và người có công; thực hiện bình đẳng giới vì sự tiến bộ củaphụ nữ; làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em
1.5.3 Một số văn bản nhà nước về dạy nghề và giải quyết việclàm
Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta đã
có nhiều chương trình giải quyết việc làm cụ thể
- Nghị quyết của hội đồng bộ trưởng số 120 – HĐBT ngày 11/04/1992
về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những nămtới
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày27/11/2009 về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Theochương trình này, từ nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao độngnông thôn mỗi năm Đây là chương trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao độngnông thôn trong những nămtới
- Quyết định số 2442/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Ủyban nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Đề án “Đào tạo nghề cho laođộng nông thôn tỉnh An Giang đến năm2020”
- Quyết định số 29/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủban về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồngbào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Longgiai đoạn2013-2015
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ DÂN TỘC NỘI TRÚ
TỈNH AN GIANG
2.1 Đặc điểmchung
2.1.1 Đặc điểm các dân tộc trên địa bàn tỉnh AnGiang
Tính đến năm 2011 dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người, mật độ dân số
608 người/km² Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực Đồng bằng sông CửuLong Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17%tổng dân số toàn tỉnh Trongđó:
Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng
số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; Trong đó có16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộcKhmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, sốcòn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn Hầu hếtđồng bào dân tộc Khmer theo đạo Phật, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bàodân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ởCampuchia Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chănnuôi gia đình và làm thuê mướn theo thờivụ
Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng sốngười dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trungkhá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở cáchuyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành Hầu hết đồng bào Chăm theo đạoHồi Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ côngtruyền thống
Trang 12Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng sốngười dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh Đại bộ phận sống ởthành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trongvùng và nhiều nước trên thế giới Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáoĐại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian Một bộ phận lớn kinh doanhthương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định,thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.
2.1.2 Đặc điểm huyện Tri Tôn
Tri Tôn là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớtnhất tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên 52 km về phía Tây, cách HàTiên - Kiên Giang 83 km, cách Châu Đốc 44 km, cách núi Cấm 7 km
Phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn; phía tây giáp TịnhBiên; phía tây nam giáp Campuchia; phía nam giáp tỉnh Kiên Giang
Diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm74,48%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 8,89%, còn lại là đất ở và đất chuyêndùng Địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với nhiều kênh mươnglớn nhỏ ngang dọc
Địa hình này mang đậm nét của vùng đồng bằng kênh rạch nhưng có xenlẫn nhiều đồi núi với điểm cao nhất là đỉnh núi Cô Tô 614m (so với mặt nướcbiển), khu vực đồng bằng có độ cao dao động từ 0.8m -2.2m Bao bọc chungquanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồngbằng tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên
Dân số trung bình (năm 2011) là 132.720 người Thành phần dân tộc baogồm Kinh, Hoa, Khmer Trong đó, người Khmer chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 34,02% (45.149 người) trên tổng dân số toàn Huyện
Trang 13Nguồn nước ở Tri Tôn khá khan hiếm, chủ yếu là nước giếng và nướcmáy Hiện trên địa bàn huyện Tri Tôn có trên 400 giếng khoan và hơn 3.000giếng đào phục vụ nước sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Dễ dàng nhận thấy đặc điểm tự nhiên, dân cư, dân tộc của Huyện đã ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm củaHuyện
2.1.3 Đặc điểm Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnhAnGiang
TrườngTrungCấpNghềDânTộcNộiTrúAnGiangđượcthànhlậpnăm 2010 (tiền thân
là Trung Tâm Dạy Nghề Huyện Tri Tôn) trên địa bànHuyệnTriTônvớinhiệmvụchínhlàdạynghềchocáchọcsinhlàngườidântộcthiểusốtrên địa bàn tỉnh An Giang và miền Tây Nam Bộ
Với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân tộc, dân cư trên địa bàn cũng
đã nói lên được hơn 80% học sinh Trường trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnh
An Giang là người dân tộc Khmer – có đời sống kinh tế tương đối khókhăn.Tổng số cán bộ, giáo viên trong Trường là 68 người Trong đó, cán bộ,nhân viên là 15 người, giáo viên dạy nghề 53 người Ban giám hiệu 3 người.Đảng viên 28 người Đa số các giáo viên tại trường là giáo viên trẻ, nhiều nhiệttình, tâm huyết với nghề và có mặt bằng trình độ chung tốt (đại học), đáp ứngđược nhu cầu dạy và học tạiTrường
Tổng số học sinh (đang học chính quy tại Trường) là 559 em Trong đó, dântộc kinh là 92 em (16,4%); dân tộc khmer là 466 em (83,6%); Có 351 học sinhnam và 208 học sinh nữ Tất cả các em học sinh là người dân tộc Khmer học tạiTrường đều được hưởng chính sách học bổng theo quy định của Nhà nước, được
ở ký túc xá của Trường và được cấp học phẩm hàng quý Bên cạnh đó là 1 con
số không nhỏ các học sinh được trường đào tạo ở các lớp nghề ngắn hạn NhìnchungđasốhọcsinhnàycũngđềulàngườiKhmernghèonênkhihọccáclớp