Vận dụng học thuyết giá trị để xây dựng giải pháp phát triển nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp . Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt Nam ta là 1 trong những nước có nền kinh tế đang phát triển, tốc độ phát triển còn thấp. Cơ sở hạ tầng, trình độ quản lí, khoa học kĩ thuật vẫn chưa tương xúng với tiềm năng của quốc gia,...Hơn nữa tham ô tham nhũng, ô nhiễm môi trường,.. vẫn luôn là những vấn đề bức xúc chưa loại bỏ một cách triệt để được. Tuy vậy ta cũng không thể một sớm một chiều mà có thể khắc phục ngay được tất cả yếu điểm đó mà ta phải dần dần khắc phục mà phải xử lý một cách có hệ thống, bài bản. Mà trong đó, thì việc tập trung phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy, áp dụng học thuyết giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng. Chúng ta cần phải linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của sự phát triển kinh tế. Bài viết được trình bày với nội dung chủ yếu là việc áp dụng học thuyết giá trị vào lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam. Song do khuôn khổ có hạn nên chúng tôi không thể đề cập đến tất cả các khía cạnh của vấn đề, vì vậy chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến, đóng góp mang tính khoa học của thầy và các bạn để bài viết này được thêm phần hoàn thiện hơn. “ Vận dụng học thuyết giá trị để xây dựng giải pháp phát triển nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp “ MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ 1.1, CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1.2, NỘI DUNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀO PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM 2.1, ĐẶC ĐIỂM LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM 2.2, ÁP DỤNG LÝ THUYẾT ĐÃ NÊU VÀO THỰC TẾ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM CHƯƠNG 3: TỔNG KẾT CHUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ 1. Các khái niệm liên quan Giá trị của hàng hóa là một thuộc tính của hàng hóa, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hóa. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại hàng hóa này được trao đổi với một giá trị sử dụng khác, trên một cơ sở chung, cái chung đó là lao động (thời gian lao động và công sức lao động) được chứa đựng trong hàng hóa. Giá trị cá biệt là toàn bộ hao phí lao động mà một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tạo ra để tạo ra sản phẩm. Giá trị xã hội là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trông hàng hóa. Thời gian lao động xã hội cần thiết dùng để chỉ về khoảng thời gian lao động cần thiết phải tiêu tốn để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội ở thời điểm nào đó. Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kkinh tế chính trị MacLeenin chỉ về một đại lượng đo băng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian lao động xã hội cần thiết. 2. Nội dung học thuyết giá trị Học thuyết giá trị là học thuyết kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa trong mô hình kinh tế chính trị của Marx. Theo Marx, ở đâu có lưu thông trao đổi hàng hóa, ở đó có sự hiện diện của học thuyết giá trị. Nội dung cốt lõi của học thuyết giá trị Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa phải được tiến hàng trên cơ sở những hao phí lao động xã hội cần thiết nghĩa là trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hóa. Nội dung trên không phụ thuộc vào tính chất xã hội của quan hệ sản xuất. Nó có tính độc lập, không phụ thuộc vào chế độ chính trịxã hội. Trong lĩnh vực sản xuất,theo học thuyết giá trị: hao phí lao động của các chủ thể sản xuất phải nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Chẳng hạn: một hàng hóa A nào đó giá trị xã hội của nó là 10.000đ. Khi đó đòi hỏi mỗi người sản xuất phải bảo đảm hao phí lao động cá biệt phải nhỏ hơn hoặc bằng 10.000đ. Chỉ có như vậy, người sản xuất mới đủ bù đắp chi phí và có vốn hoặc có lãi. =>Học thuyết giá trị không hề có sự chiếu cố nào đối với bất kỳ chủ thể sản xuất kinh doanh nào. CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀO PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM 2.1, ĐẶC ĐIỂM LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM a, Những khó khăn: Về công nghiệp, srản xuất công nghiệp đang trên đà tăng trưởng, trong đó sản xuất của một số lĩnh vực then chốt đã có dấu hiệu phục hồi,đã ngày càng có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của đất nước, là nền tảng cơ bản của nền kinh tế Nhưng để phát triển được ,nó đã gặp rất nhiều khó khăn , những
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt Nam ta là 1 trong những nước có nền kinh tế đang phát triển, tốc độ phát triển còn thấp Cơ sở hạ tầng, trình độ quản lí, khoa học kĩ thuật vẫn chưa tương xúng với tiềm năng của quốc gia, Hơn nữa tham ô tham nhũng, ô nhiễm môi trường, vẫn luôn là những vấn đề bức xúc chưa loại bỏ một cách triệt để được Tuy vậy ta cũng không thể một sớm một chiều mà có thể khắc phục ngay được tất cả yếu điểm đó mà ta phải dần dần khắc phục mà phải xử lý một cách có hệ thống, bài bản Mà trong đó, thì việc tập trung phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu Chính vì vậy, áp dụng học thuyết giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng Chúng ta cần phải linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của
sự phát triển kinh tế Bài viết được trình bày với nội dung chủ yếu là việc áp dụng học thuyết giá trị vào lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam Song do khuôn khổ
có hạn nên chúng tôi không thể đề cập đến tất cả các khía cạnh của vấn đề, vì vậy chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến, đóng góp mang tính khoa học của thầy và các bạn để bài viết này được thêm phần hoàn thiện hơn
“ Vận dụng học thuyết giá trị để xây dựng giải pháp phát triển nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp “
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ
1.1, CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.2, NỘI DUNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ
CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀO PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM
2.1, ĐẶC ĐIỂM LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM
2.2, ÁP DỤNG LÝ THUYẾT ĐÃ NÊU VÀO THỰC TẾ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: TỔNG KẾT CHUNG
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ
1 Các khái niệm liên quan
-Giá trị của hàng hóa là một thuộc tính của hàng hóa, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hóa -Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại hàng hóa này được trao đổi với một giá trị sử dụng khác, trên một cơ sở chung, cái chung đó là lao động (thời gian lao động và công sức lao động) được chứa đựng trong hàng hóa
-Giá trị cá biệt là toàn bộ hao phí lao động mà một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tạo ra để tạo ra sản phẩm
-Giá trị xã hội là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trông hàng hóa
-Thời gian lao động xã hội cần thiết dùng để chỉ về khoảng thời gian lao động cần thiết phải tiêu tốn để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong
xã hội ở thời điểm nào đó
-Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kkinh tế chính trị Mac-Leenin chỉ về một đại lượng đo băng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian lao động xã hội cần thiết
2 Nội dung học thuyết giá trị
-Học thuyết giá trị là học thuyết kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa trong mô hình kinh tế chính trị của Marx Theo Marx, ở đâu có lưu thông trao đổi hàng hóa, ở đó có sự hiện diện của học thuyết giá trị
Nội dung cốt lõi của học thuyết giá trị
-Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa phải được tiến hàng trên cơ sở những hao phí lao động xã hội cần thiết nghĩa là trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hóa -Nội dung trên không phụ thuộc vào tính chất xã hội của quan hệ sản xuất Nó
có tính độc lập, không phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội
Trang 4-Trong lĩnh vực sản xuất,theo học thuyết giá trị: hao phí lao động của các chủ thể sản xuất phải nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Chẳng hạn: một hàng hóa A nào đó giá trị xã hội của nó là 10.000đ
Khi đó đòi hỏi mỗi người sản xuất phải bảo đảm hao phí lao động cá biệt phải nhỏ hơn hoặc bằng 10.000đ Chỉ có như vậy, người sản xuất mới đủ bù đắp chi phí và có vốn hoặc có lãi
=>Học thuyết giá trị không hề có sự chiếu cố nào đối với bất kỳ chủ thể sản xuất kinh doanh nào
Trang 5CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀO PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM
2.1, ĐẶC ĐIỂM LĨNH VỰC SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM
a, Những khó khăn:
Về công nghiệp, srản xuất công nghiệp đang trên đà tăng trưởng, trong
đó sản xuất của một số lĩnh vực then chốt đã có dấu hiệu phục hồi,đã ngày càng
có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế của đất nước, là nền tảng cơ bản của nền kinh tế Nhưng để phát triển được ,nó đã gặp rất nhiều khó khăn , những thách thức
Nhiều ngành công nghiệp trọng điểm vẫn chưa có sức bật mạnh mẽ, xứng đáng với tiềm năng của đất nước Phần lớn đều là những ngành sản xuất thô, có tính gia công cao và chưa mang lại nhiều gia trị gia tăng cho đất nước và thiếu những ngành công nghiệp mang tính nền tảng như công nghiệp hỗ trợ
Theo báo cáo mới đây của bộ công thương 2016, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,3%, đây là mức tăng thấp so với mức tăng 9,1% của cùng kỳ năm 2015.Nguyên nhân chủ yếu được nhận định là do khai thác dầu thô giảm; nhóm ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học, sản xuất thiết bị điện có xu hướng tăng chậm lại so với cùng kỳ năm 2015 Mot số dịch vụ hỗ trợ sản xuất như kho bãi, vận tải yếu tố bat lợi ,giá tang trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các nhóm hàng dệt may, da giầy có đơn hàng bất ổn ,nguồn lực đầu tư phát triển, nghiên cứu bổ sung phát triển trong kế hoạch đầu tư kinh doanh
Ngoài ra nước ta còn 1 số bộ phận tiểu thủ công nghiệp ,tuy mang lại mức thu nhập cho người dân nhưng hàng hoá sản phẩm chưa thực sự hiệu quả
Do là kinh doanh nhỏ lẻ nên vốn đầu tư chưa cao ,thương hiệu sản phẩm chưa được biết đến ,hệ thống kinh doanh mạng lưới chưa chặt chứ phù hợp Hơn thế nữa là chính sách khuyến khích phát triển mà các địa phương đưa ra chỉ mới dừng ở việc tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, khen thưởng, chứ chưa có các chính sách hỗ trợ thiết thực về vốn, dành quỹ đất, mặt bằng phù hợp cho việc sản xuất, kinh doanh Đó là chưa nói đến việc các cấp chính quyền còn chưa thực sự đồng hành cùng các doanh nghiệp và người lao động trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm Bởi vậy, nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh không muốn đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất, còn người lao động thì lo ngại về sự phát triển bền vững của nghề, nên chưa thực sự gắn
bó, bỏ hết tâm huyết và công sức ra làm nghề
Về nông nghiệp , những năm gần đây Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to
lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, là nguồn thu ngoại tệ và góp phần ổn định chính trị - xã hội.Sau 27 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã có những
Trang 6thành tựu đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước, trở thành lĩnh vực phát triển thành công nhất của nền kinh
tế Bất chấp những khó khăn về thị trường, thiên tai và dịch bệnh, nông nghiệp tăng trưởng duy trì ở mức tương đối khá Sản xuất nông nghiệp đã tạo ra nguồn cung lương thực thực phẩm dồi dào, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Nhờ vậy, giá nông sản tại Việt Nam, đặc biệt là giá lương thực được duy trì ở mức thấp, tạo chi phí lao động thấp, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài và đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.Bên cạnh đó, xuất khẩu nông sản tăng liên tục Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về các mặt hàng như: gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sản phẩm gỗ và các sản phẩm thủy sản.Chính vì thế lại tạo ra những thách thức càng cao cho ngành nông nghiệp Việt nam ca trong nước và ngoài nước
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể và đóng góp tích cực cho việc duy trì ổn định kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2010 - 2012, nhưng tăng trưởng nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (tăng diện tích đất, thâm dụng nước tưới để tăng vụ…) cùng mức sử dụng vật tư đầu vào cao nhưng hàm lượng đổi mới công nghệ và thể chế thấp Chất lượng tăng trưởng thấp được biểu hiện ở mức tổn thất sau thu hoạch cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, khả năng tạo giá trị mới thấp Vì vậy, sau một thời gian dài khởi sắc, tăng trưởng nông nghiệp đã bắt đầu chững trong thời gian gần đây, giảm từ 4,5% năm 1995
-2000 xuống còn 3,8% giai đoạn -2000 - 2005; rồi 3,4% giai đoạn 2006 - 2011 và chỉ còn 2,7% trong năm 2012
Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp diễn ra chậm, chưa thực sự phản ánh lợi thế so sánh và chưa đáp ứng triển vọng nhu cầu trong tương lai Trồng trọt vẫn chiếm trên 50% cơ cấu nội ngành nông nghiệp, trong đó lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng chính Tuy chiếm phần lớn diện tích cây trồng hàng năm nhưng hiệu quả kinh tế của cây lúa đem lại không cao, vì vậy đã xuất hiện tình trạng nông dân không thiết tha với đất lúa, không thâm canh tăng vụ nhất là ở đồng bằng sông Hồng Ngành thủy sản và ngành chăn nuôi phát triển nhanh, song thiếu bền vững…
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang xuất hiện thêm những khó khăn thậ chí còn lớn hơn Trong đó có thể kể đến như: khả năng tái sản xuất
mở rộng của nông dân giảm sút Nông nghiệp đang tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn Kinh tế thế giới và trong nước chưa thể nhanh chóng hồi phục trong năm nay và năm tới Các ngân hàng khó khăn vì nợ xấu, doanh nghiệp chậm tiếp cận nguồn vốn khiến lợi nhuận giảm phải cắt giảm sản xuất Kinh tế tăng trưởng chậm, nhu cầu tiêu dùng trên thị trường giảm làm giá nông sản giảm trong khi giá vật tư, nhiên liệu vẫn tăng Thứ hai, rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tăng An ninh sinh học đang trở thành vấn đề quan trọng Cùng với quá trình biến đổi khí hậu, tình trạng thiên tai trong tương lai sẽ diễn ra ngày càng tăng với nhiều diễn biến phức tạp hơn Tình trạng sạt lở, lũ lụt, ngập mặn,
Trang 7hạn hán tại một số vùng sẽ xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Các biểu hiện thời tiết cực đoan có nhiều khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực cho sản xuất nông nghiệp Thứ ba, ô nhiễm và nguy cơ gây suy thoái môi trường Tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam thời gian qua lạm dụng phân bón, hóa chất bảo vệ, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng… gây tác động xấu đến môi trường, làm tăng mức độ ô nhiễm và suy yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên Tính trạng ô nhiễm môi trường nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời sẽ mang lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng, đe dọa sản xuất trong nước và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường Đó là những khó khăn mà ngành nông nghiệp Việt nam đang gặp phải
Về ngành dịch vụ, khu vực dịch vụ được đánh giá là khu vực trọng điểm
cho sự phát triển kinh tế ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt ở nhóm nước phát triển, dịch vụ có thể đóng góp từ 70-80% GDP Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay ngành dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 40% GDP, được đánh giá là rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trước hết tăng trưởng chưa bền vững ,Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn -Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), trong 5 năm trở lại đây ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bình quân 7,49%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của toàn nền kinh tế (6,55%) Tốc độ tăng trưởng của ngành này được đánh giá là không ổn định, thường xuyên bị nhập siêu Trừ ngành vận tải, bưu điện, du lịch, các ngành dịch vụ chủ chốt gần đây đều tăng trưởng chậm lại: Dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng gặp nhiều khó khăn, dịch vụ tư vấn kinh doanh bất động sản sa sút, các dịch vụ nhà hàng, khách sạn giảm mạnh
Điều đáng quan ngại là hai ngành dịch vụ quan trọng tạo tiền đề cho việc nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là khoa học - công nghệ và hoạt động hành chính - dịch vụ hỗ trợ lại có tốc độ tăng trưởng thấp nhất (chỉ tăng trưởng khoảng 4,2-4,8%)
Ngoài ra mức độ lan tỏa của dịch vụ còn thấp Theo các chuyên gia, khi xét đến hiệu quả của một khu vực kinh tế, bên cạnh xét đến tốc độ tăng trưởng, đóng góp vào GDP của ngành đó, thì một yếu tố quan trọng cần xét đến là khả năng lan tỏa, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Các chuyên gia cho rằng, một ngành có thể phát triển tốt nhưng nếu không tạo ra sự thúc đẩy, lôi kéo được các ngành khác phát triển hoặc người dân, những thành phần trong xã hội không thể tiếp cận được với ngành đó thì sự phát triển của nó cũng không mang nhiều ý nghĩa
Ở khía cạnh này, chúng ta thấy điều đáng lo ngại là hệ số lan tỏa của hầu hết các nhóm ngành dịch vụ nước ta đều thấp hơn bình quân chung của nền kinh
tế và hệ số này hầu hết đều nhỏ hơn 1 - là mức không tốt đối với sự phát triển của các ngành nghề Điều đó thể hiện cơ cấu dịch vụ còn thiên về các dịch vụ
Trang 8truyền thống và tiêu dùng cuối cùng, chưa phát triển các ngành dịch vụ có khả năng lan tỏa và lôi kéo các ngành khác phát triển
b, Những thuận lợi:
Về công nghiệp: Nước ta có cơ cấu dân số trẻ do đó mà những người
trong độ tuổi lao động rất cao, hàng năm được bổ sung thêm một lực lượng khá hùng hậu Điều đó đã làm cho nguồn cung lao động của nước ta hết sức dồi dào Chất lượng lao động khống ngừng được nâng lên cả về mặt kĩ thuật lẫn trình độ văn hóa Nhìn chung giá nhân công lao động trong ngành dệt may của ta rẻ hơn
so với một số nước khác trên thế giới và khu vực Đây là một lợi thế rất lớn trong kho ngành dệt may của nước ta Giá nhân công dệt may ở Việt Nam hiện nay thuộc nhóm rẻ nhất thế giới , chỉ từ 0,3- 0,6 USD/giờ
Nước ta có vị trí địa lí vô cùng thuận lợi, nằm ở trung tâm Đông Nam Á
Là địa điểm giao nhận và chung chuyển hàng hóa thuận lợi Đặc biệt là hàng hóa dệt may Việt Nam nằm tren con đường chuyển giao công nghệ của ngành dệt may Đó là việc di chuyển công nghệ dệt may từ các nước NICs sang các nước Đông Nam Á và Nam Á Do đó chúng ta có cơ hội để kế thừa và phát triển các thành tựu, học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước
Ngành dệt may là một ngành truyền thống của nước ta Nguyên vật liệu của nó là sợi bông và vải Do đó nó co quan hệ mật thiết với các ngành nông nghiệp Mà điều kiện của nước ta hoàn toàn có thể cho phép phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành đó, thay thế cho việc nhập khẩu một phần lớn nguyên phụ liệu dệt may như hiện nay Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, là ngành mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh Chính phủ sẽ hỗ trợ tối đa về chính sách đẩy mạnh xuất khẩu, lao động, tài chính và thuế nhằm tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong sản xuất, xuất khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động
Ngành Công nghiệp điện tử ở Việt Nam rất có cơ hội để thu hút vốn đầu
tư từ các nước ngoài Chi phí cho lao động ở Việt Nam cũng tương đối thấp Cụ thể, chi phí hoạt động và giá thuê nhân công ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 so với Ấn
Độ và 1/2 so với Trung Quốc
Bên cạnh đó, với đa dạng tài nguyên khoáng sản quan trọng cần thiết để phát triển công nghiệp vật liệu điện tử như quặng sắt, đất hiếm, titan, rutin, barit, ilmenit… Việt Nam hoàn toàn có khả năng để trở thành nhà cung ứng nguyên vật liệu, hóa chất cho ngành Công nghiệp điện tử của các nước dưới hình thức khai thác nguyên liệu thô, thành phẩm hoặc bán thành phẩm với giá
rẻ Đặc biệt, với dân số trên 90 triệu người, Việt Nam cũng là một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng Chính phủ Việt Nam luôn khuyến khích và hỗ trợ các công ty nước ngoài đầu tư và hợp tác với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trang 9Công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế lao động đông và rẻ Bởi Việt Nam với dân số hơn 90 triệu dân, tỉ lệ dân số vàng chiếm 2/3 Bên cạnh lao động đông và rẻ, nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, những năm gần đây, Việt Nam có chính sách phát triển công nghiệp rất tốt, điển hình như chính sách thuế, đất đai, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư Giá năng lượng tại Việt Nam cũng rẻ hơn so với các nước trong khu vực và thế giới, đây là lợi thế rất quan trọng để nhà đầu tư tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam
Về Nông nghiệp: Việt Nam hiện đang có lợi thế rất lớn về đất đai và khí
hậu Chúng ta nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới, có thể trồng cây quanh năm Khác với các quốc gia nằm trong vùng khí hậu ôn đới, họ chỉ có thể trồng cây trong 6 tháng, việc điều khiển nhiệt độ thích hợp để trồng cây quanh năm là rất tốn kém Đặc biệt, Việt Nam có rất nhiều loại cây trồng phong phú và đa dạng
Có thể thấy, Việt Nam đang nắm giữ lợi thế rất lớn, các doanh nghiệp hoàn toàn
có thể tận dụng lợi thế này để phát triển
Lao động nông nghiệp nước ta dồi dào có khả năng học hỏi nhanh và sáng tạo ra những máy móc phục vụ sản xuất cùng với truyền thống và tập quán cần cù chịu khó của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo đã được tăng cường, dân chủ cơ sở được từng bước phát huy, vị thế giai cấp nông dân được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững tạo điều kiện để nông dân yên tâm sản xuất Nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, thể hiện qua các chính sách và các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp Chính sách xây dưng cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường nhất là thủy lợi, giao thông Trình độ khoa học kĩ thuật nông nghiệp, mức độ cơ giới hóa nông nghiệp từng bước được cải thiện: áp dụng khoa học kĩ thuật và trong sản xuất, cơ khí hóa nông nghiệp có bước tiến bộ Việc ứng dụng khoa học- công nghệ, thực hiện tốt công tác thủy lợi làm tiền đề để các giống lúa mới thích nghi phát triển, tạo đột phá về sản lượng nông sản
Nước ta sau gia nhập vào WTO nông nghiệp Việt Nam có ba cái được Thứ nhất, thị trường nông sản mở rộng, hàng hóa nông sản có thể bán trong nước và cho các nước thành viên khác Thứ hai, đàu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng mạnh đặc biệt là vào lĩnh vực nông nghiệp, nhờ vậy sẽ phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp Việt Nam Thứ ba là bà con nông dân sẽ có dịp tiếp cận khoa học kĩ thuật mới ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rộng hơn Quy mô thị trường trong nước ngày một rộng lớn hơn Do đó thị trường nội địacó khả năng sẽ trở thành nơi tiêu thụ được một lượng lớn các sản phẩm mà ngành nông nghiệp sản xuất ra Đặc biệt sau khi gia nhập WTO các sản phẩm nông ngiệp có cơ hội được tiếp cận với các thị trường Mĩ, Nhật, EU một cách thuận lợi hơn vì trước đây nông sản Việt Nam khó vào được các thị trường này
vì thuế cao và bị phân biệt đối xử
Trang 10Về dịch vụ: Ở Việt Nam, dịch vụ được chia làm 3 nhóm chính : đó là
dịch vụ kinh doanh, dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ công Về dịch vụ kinh doanh nước ta có lợi thế về lao động kỹ thật nghề và nguồn nhân lực khá dồi dào nên quan tâm phát triển những ngành dịch vụ phổ cập, không đòi hỏi nhiều lao động trí tuệ cao
Doanh nghiệp ít vốn sẽ có lợi thế trong kinh doanh dịch vụ hơn so với
kinh doanh hàng hoá Lợi thế về công nghệ đang thúc đẩy mạnh mẽ cho dịch
vụ phát triển Dĩ nhiên các ngành dịch vụ khác nhau thường sử dụng những công nghệ khác nhau nhưng đều chú trọng đến lợi thế của “mạng số các dịch vụ tích hợp” ISDN (Intergrated Services Digital Net- work) Đối với các hãng dịch
vụ, chuyển giao thông tin, công nghệ, vốn và con người cũng là một lợi thế
Nước ta có nhiều lợi thế để phát triển mạnh hơn nữa dịch vụ tiêu dùng Thứ nhất, Việt Nam có dân số trẻ chiếm tỷ lệ lớn Dân số Việt Nam được dự báo là sẽ tiếp tục tăng và đạt tới 100 triệu vào năm 2025, đó là con số hết sức thuận lợi cho kênh tài chính tiêu dùng
Thứ hai, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế có tốc độ phát triển ổn định ở khu vực Đông Nam Á Thời gian vừa qua, Chính phủ tiếp tục có nhiều nỗ lực cải thiện các thủ tục hành chính, thủ tục thuế quan, tạo những điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm phát triển tại Việt Nam, đồng thời cũng thúc đẩy tốt hơn công tác thu hút các nhà đầu tư mới
Nền kinh tế phát triển ổn định, kết hợp với yếu tố dân số trẻ có tỷ lệ lớn tập trung nhiều ở các khu vực thành thị ngày càng gia tăng nhu cầu mua sắm và tiêu dùng để cải thiện cuộc sống, sẽ là điều kiện thuận lợi cho vay tiêu dùng
Thời gian qua chính phủ đã từng bước đổi mới cơ chế quản lí đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ công Do hoạt động của các đơn vị cung ứng hoạt động công được chia thành 3 loại tương ứng với 3 dịch vụ công: dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích Cơ chế quản lí mới đã trao quyền tự chủ cho các đơn vị
c, Tổng kết về đặc điểm:
Về nông nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa